.
*
Ngô Thế Vinh sinh năm 1941 tại Thanh Hóa. Trong khoàng 1963-1966, ông là chủ bút tờ Tình Thương của trường Đại Học Y khoa Sai-Gon. Tốt nghiệp bác sĩ năm 1968, làm Quân Y trong Lực Lượng Đặc Biệt, và Biệt Cách Dù. Sang Mỹ tu nghiệp, rồi trở về làm tại trường Quân Y. Sau 1975 bị tù 3 năm, về làm tại trường Vật Lý trị liệu. Khoảng 1983, ông sang Mỹ, là bác sĩ thường trú tại bệnh viện Đại Học New York, hiện làm việc tại một bệnh viện Nam California.
TÁC PHẨM
-Mây Bão (1963)
-Bóng Đêm (1964)
-Gió Mùa (1965)
-Vòng Đai Xanh (1971), Văn Nghệ, USA tái bản 1987.
-Mặt Trận SàGòn. Văn Nghệ, 1996.
-Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng. Văn Nghệ, CA, USA. 2000 .
Một số tác phẩm của ông đã được dịch ra Anh ngữ như :
- Vòng Đai Xanh (The Green Belt ) do Nha Trang và William L. Pensinger, Raleigh, NC: Ivy House Publishing Group, 2004,
- Mặt Trận Sài Gòn ( The Battle of Saigon ) US: Xlibris Corporation, 2005).
Ở đây, chúng tôi chú trọng đến Vòng Đai Xanh và Mặt Trận Sài Gòn là hai tác phẩm đã làm tác giả nổi danh Nổi danh vì tác giả nói thẳng, nói thực, và nổi danh vì vụ án của ông. Hai tác phẩm này thuộc về chủ đề chiến tranh, đồng thời chỉ trích các phe lâm chiến. Nên nhớ lúc này chính quyền Ngô đình Diệm đã không tồn tại, sinh viên và Phật giáo tiếp tục tranh đấu, đồng thời cộng sản và các tay cơ hội chủ nghĩa trong đó phần lớn là những kẻ đã theo Diệm, Nhu và Thiệu nay trở cờ cũng hoạt động ráo riết. Tạp chí Trình Bày và Thái Độ là trung tâm của nhóm này. Một số sinh viên Y khoa , bác sĩ quân y, và y khoa hoạt động cho cộng sản. Con trai Trần Thúc Linh , sinh viên y khoa, thân cộng sản, bị cảnh sát bắt và dường như bị tra tấn mà chết tại Đại Học Y Khoa hay y tự tử?. Trong lúc này, quân Mỹ tham chiến, mặt trận cao nguyên bùng nổ. Các địa danh Dakto, Chuprong, Pleime là những điểm nóng. Cùng lúc này phong trào Fultro bùng lên đòi tự trị. Năm 1971, tác giả được giải thưởng toàn quốc về Vòng Đai Xanh, nhưng sau đó phải ra tòa vì bài ký sự Mặt Trận Sài Gòn. Tác giả bị phạt 100.000 đồng và 1 đồng danh dự cho bộ Nội vụ. Tòa án và chính quyền không muốn trừng phạt ông, nhưng cũng không thể im lặng, để cho bọn ''phản chiến'' và cộng sản tự do đánh phá, họ chỉ '' giơ cao đánh sẽ'' không như chính quyền cộng sản.
Sau 1975, đa số bỏ nước mà đi vì sợ cộng sản, còn ông, ông ''chọn ở lại'' (Mặt Trận Sai Gòn, Nguyễn Mạnh Trinh nói chuyện với Ngô Thế Vinh, 185). Như vậy, ông là người can đảm, và đã có giấc mơ hồng cho một tương lai mới. Nhưng rồi ông lại bỏ đi sang Mỹ. Châu Tâm Luân, Trương Như Tảng, Nguyễn Văn Hảo rồi cũng đi mặc dầu họ và ông có điểm khác nhau.
I. VÒNG ĐAI XANH
Tập tiểu thuyết này được viết ra khi tác giả phục vụ tại một đơn vị Biệt Cách Dù tại vùng Tây nguyên trong khoảng 1968, và được giải thưởng toàn quốc 1971. Tiểu thuyết này khác hẳn với các bộ khác là nói về cuộc chiến tranh xảy ra tại các bản thôn người thiểu số . Hay nói rõ hơn, tác phẩm này viết về mối liên lệ giữa người Thượng với quốc gia, cộng sản và Mỹ. Theo lời giới thiệu ở trang bìa sách, đây là một cuộc chiến tranh mà người ta đã bỏ quên.
Vòng Đai Xanh đề cập đến một cuộc chiến tranh bị lãng quên giữa một cuộc chiến tranh Việt Nam được nhắc nhở nhiều nhất trong lịch sử báo chí Mỹ. Theo Ngô Thế Vinh , ông viết Vòng Đai Xanh có mục đích chống lại quyển Green Beret của Robin Moore có nội dung ca ngợi những chiến sĩ Mũ Xanh LLĐB Hoa Kỳ, còn lại là sự xuyên tạc và hạ giá người Việt cùng sự kỳ thị tệ hại của các sắc dân Kinh Thượng ở cao nguyên ( Mặt Trận SaiGòn, 10).
Nhưng đọc kỹ, chúng ta không khỏi thắc mắc. Quân cộng sản giết 600 người Thượng, ông chỉ nói sơ qua về tội ác Cộng sản. Dường như ông muốn nhấn mạnh kết tội người Mỹ nhằm mắt làm ngơ:
Có thể do Tacelosky bỏ rơi người Thượng để chứng tỏ sự bất lực của quân chính phủ với bọn Thượng tranh đấu khác. . . chính Tacelosky thí 600 mạng để chứng tỏ một điều: hạnh phúc và an ninh của người Thượng chỉ có thể bảo đảm hữu hiệu bởi những người lính Mũ Xanh Mỹ (92).
Kết tội một người, một tập thể như vậy là không đúng. Phải có một ban điều tra vụ này trước khi kết luận mặc dù đây là tiểu thuyết. Tại một nơi kia, cộng quân pháo kích làm hư hại một ngôi chùa. Vị sư trưởng làm đơn kiện vị tỉnh trưởng, bắt phải bồi thường. Tại sao cộng sản phá lại không bắt cộng sản bồi thường? Có thể ông sư là cộng sản nằm vùng, muốn gây khó khăn cho phe quốc gia. Cũng có thể ông bị cộng sản hăm dọa phải hành động theo lệnh chúng. Còn Ngô Thế Vinh thì sao?
Ta thấy ông có dụng ý chính trị, kết tội người Mỹ độc đoán và có óc thực dân. Khi người Mỹ đến Việt Nam, họ đặt căn cứ tại Tây nguyên, và họ đã hành động như ''đây là một cuộc chiến tranh của họ. Một cuộc chiến được nuôi dưỡng và giải quyết theo quan điểm quyền lợi nước Mỹ (13).
Thứ hai là ông chỉ trích Mỹ gây chia rẽ Kinh Thượng. Cộng sản gây căm thù giai cấp, một số người Mỹ có óc thực dân đã gây căm thù chủng tộc, khiến người Thượng oán thù người Kinh.
Thứ ba là kết tội Mỹ xâm lược thế giới, mưu đồ lập vòng đai xanh khắp thế giới. Họ muốn biến Cao Nguyện tự trị rồi biến thành tiểu bang Mỹ (35, 65-66). Tác giả đã nhiều lần chứng minh lính Mũ Xanh đã giúp quân chính phủ đồng minh , đồng thời giúp quân phiến loạn chống phủ hợp pháp như tại Á Căn Đinh, Miến Điện (127, 129, 170). Ông trung tá phòng Năm tố cáo vị mục sư Denman khả kính kia đứng đầu chủ trương sách động tại cao nguyên.
Bọn chúng lộ liễu lắm, mua chuộc mời bọn lãnh tụ Thượng tới nhà nói thẳng với họ là chính người Việt dù cộng sản hay không cũng tìm cách tiêu diệt dân thiểu số, bởI vậy chỉ còn một cách là đi tới cùng con đường ly khai của họ ( 64).
Chính nhân sĩ Nay Ry cho biết phe ly khai đòi hỏi một màu cờ, một quân đội riêng biệt, một quốc gia Đông Sơn ly khai (60). Ông cho thấy phe tranh đấu người Thượng đã viết đơn gửi tổng thống Mỹ, và đòi văn kiện khác có bảo đảm của tòa đại sứ Mỹ mới chịu ra thương thuyết với chính phủ '(35).
Nội dung tác phẩm còn hướng về người Việt. Viên trung tá phòng Năm tố cáo một tướng máy bay làm thủ tướng, vênh vang tuyên bố :
Khi hòa bình trở lại chỉ cần hai giờ để dẹp tan lũ phiến loạn Thượng, một lực lượng ly khai mà ông coi là không đáng kể (64).
Một sĩ quan cho rằng tướng Trị không đủ sức đương đầu với cộng sản và Mỹ. Tác giả tố cáo tướng Trị
'' mất quyền kiểm soát bà vợ, ông tướng cũng bị chìm đắm vào nhiều vụ lem lấm, từ những chiếm hữu đất đai cho tới các vụ tham nhũng về kế hoạch mở mang An Khê (96).
Tác giả nói với Klux, một giáo sư Đức về viện trợ Mỹ: ''ảnh hưởng của đồng tiền viện trợ không tới được xa'' (124)
Tác giả cũng kết tội những trí thức đội lốt Thiên chúa giáo, 'liên lạc với cộng sản'' (111) ,''làm lợi cho cộng sản'' như Hoàng Thái Trung, cũng là người trong nhóm Trình Bày mà ông quen biết, luôn lên tiếng '' bài Mỹ và bôi nhọ chủ nghĩa quốc gia'' (104). Ông chỉ trích các sinh viên do ''cộng sản giật dây''. . tự coi là ''công thần cách mạng nóng nảy và kiêu căng''(106).
Cuối cùng, người Mỹ bàn giao trại Daksut cho Việt Nam, '' là một phần trong kế hoạch rút quân danh dự được mệnh danh là Việt Nam hóa cuộc chiến'' (177). Cả hai phía người Kinh và người Thượng ''đều tự cảm thấy không có lợi lộc gì để tiếp tục cái trò chơi nhiều máu và nước mắt đó'' (175).
Kết thúc bi đát. Tác giả bị tai nạn nghề nghiệp phải nằm bệnh viện sáu tháng. Davis bị trúng đạn vào đầu mà chết. (175). Rồi Mỹ rút khỏi Việt Nam. Hickey nói:
Điều tệ hại là chúng ta -- người Mỹ, đã cư xử với họ một cách đáng hổ thẹn khi có dấu hiệu rõ ràng cuộc chiến tranh đã bị thua. Chúng ta chỉ biết đứng dậy, rời bỏ cao nguyên trong hỗn loạn, bỏ rơi lại những người bạn tốt nhất của chúng ta'' (iii).
Nói chung, tác phẩm này nhắm chống Mỹ và Việt Nam là chính.
II. MẶT TRẬN Ở SÀI-GÒN
Tập truyện ngắn này gồm 12 truyện ngắn, gồm những truyện viết trước và sau 1975.
Nhan đề là Mặt Trận Ở Sài Gòn nhưng phần lớn là các trận chiến xảy ra tại Cao nguyên và miền Trung. Một số truyện viết sau 1975 tại Việt Nam và tại Mỹ. Giống như Phan Nhật Nam, ông mô tả các trận chiến rất sôi động.. Trong tập này, Mặt trận ở Sai- Gòn là truyện đầu, được dùng làm nhan đề cho toàn tập. Truyện này mở đầu kể việc chuyển quân về Sai Gòn. Đó là chuyện hồi mậu thân (1968) , và chuyện cách đó tám tháng. Phần chính là kể về mặt trận Cao nguyên gồm các địa danh Dakto, Chuprong, Pleime, Đức Cơ. ..Trận chiến xảy ra ác liệt:
Chỉ riêng vùng Ngok Tobas, hàng tiểu đoàn quân chính phủ đã bị xóa tên. Và riêng phía địch quân , mới chỉ ở ngọn đồi 1007 - tức là căn cứ hỏa lực 7, con số ba ngàn xác phanh thây cũng chẳng phải là một ước tính lạc quan quá đáng như truyền thống đài phát thanh chính phủ. Đó là chưa kể mức sát hại của hàng trăm ngàn tấn bom do B.52 đêm ngày đổ dọc theo các ngả đường mòn xâm nhập. Và ở mùa mưa năm nay, cũng là đầu tiên trong chiến cuộc Việt Nam, và của cả thế giới, không lực Mỹ đã phải sử dụng thứ bom ''Demolition Mark'' khổng lồ 15 ngàn cân Anh với sức tàn phá của một trái nguyên tử cỡ nhỏ, để hư vô hóa hy vọng chiến thắng của địch quân (16)
Ông nói đến sự can đảm của các sĩ quan, và binh sĩ Việt Nam:
Người đầu tiên phải được tôi kể là tới là đại úy Thỏa, người chỉ huy trực tiếp ngọn đòi 1007, vóc người nhỏ nhắn, da đen sạm với vẻ mặt rắn đanh lại, đày nét phong sương gian khổ. Ông và một tiểu đoàn Biệt kích quân phải chịu đựng suốt ba mươi ngày dưới hầm sâu, trong những công sự phòng thủ dưới những cơn mưa pháo kích và nhiều đợt tấn công biển người của địch quân.. . . Kế đến cũng không thể không nhắc tới thiếu tá Bính, một phi công trẻ tuổi hào hoa nhưng vô cùng gan dạ. Trong suốt cuộc hánh quân, ông đích thân chỉ huy phi đoàn 215 trực thăng, đã yểm trợ hữu hiệu các đơn vị Biệt động quân và Nhảy Dù trong các giai đoạn phản công và tái chiếm căn cứ Hỏa lực 7. Mặc dù lưới đạn phòng không của địch dày đặc từ dưới đất, và các chiến hữu vẫn thực hiện ngày đêm hàng trăm phi xuất tải quân, và tiếp tế, đáp cả trên những hố bom mớI thả ngay giữa lòng địch quân còn nóng hổi. . .(18).
Ông cho biết hình ảnh kinh hoàng về chiến địa:
hơi thối nồng nặc, chồng chất những tử thi hai bên.Xác của những người bạn bị oanh kích lầm với thứ hỏa tiễn mũi tên xóa tan cả mặt mùi. Xác của người phi công đưọc trực thăng móc ở rừng ra, héo rũ trên dây treo như cách người ta câu về những con thú (21).
Đoạn kết của truyện này nói rõ quan điểm chính trị của tác giả và đây mớI là chủ tâm của Ngô Thế Vinh.. Ông cho rằng cuộc chiến ở Cao nguyên, miền Trung và các nơi khác không quan trọng. Vấn đề chính là ở Sài Gòn, phải cải cách xã hội tại Sài Gòn:
Từ ba mươi năm nay, đã và đang có quá nhiều anh hùng của chiến tranh trong khi lại quá thiếu vắng những chiến sĩ xã hội. Văy phải lựa chọn chiến trường nào? Rằng không phải chỉ ở chốn xa xôi biên cương mà đích thực chiến trườnhg thách đố của họ phải là Sài Gòn (25).
Từ thời xưa, các nhà xã hội học và triết gia đã nghĩ đến việc cải cách xã hội, nâng cao đời sống dân nghèo. Khổng tử chính là một nhà xã hội học, một nhà cách mạng vì Ngài chủ trương thế giới đại đồng và lo an sinh, phúc lợi cho nhân dân. Sau đó, Á Âu kim cổ nhiều triết gia đã chú trọng vấn đề này. Nhưng đó là vấn đề khó khăn, ai cũng thận trọng chứ không phải họ ngu hay mù lòa trước hố sâu xã hội. Marx cho rằng giai cấp tư bản đã bóc lột người vô sản, chỉ có giai cấp vô sản, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới giải quyết rốt ráo bất công xã hội và đem lại phát triển cho thế giới. Nhưng cuối cùng, chủ nghĩa cộng sản đã thất bại dù họ đã giết hết giai cấp tư bản, phong kiến và bắt nhân dân trong nước phải làm nô lệ cho cộng sản. Diệt giai cầp cũ thì giai cấp mới lại hình thành, hình thành từ trong chế độ cộng sản, tàn ác hơn phong kiến, và tư bản. Khẩu hiệu giải phóng giai cấp và công bằng xã hội đã mê hoặc nhiều người. Cuối cùng họ được gì? Chẳng qua là họ đem thân xác phục vụ cho tư sản đỏ. Ngoài ra, một vấn đề khác, chúng ta là nhược quốc, không thoát khỏi sự chi phối của ngoại bang. Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm đều là con cờ của ngoại bang. Và cải cách xã hội sao được khi còn cộng sản phá hoại?
Một số truyện viết về Sài Gòn sau 1975 và cảm nghĩ của ông. Dường như trong tập này, ông viết truyện ngắn kém, ông viết theo kiều tùy bút.. Trong Cựu Kim Sơn chưa hề giã biệt nói về chuyến đi Mỹ đến Cựu Kim sơn, và thuật lại Sài Gòn trong 30-4-1975, và chỉ trích ''nền văn hóa tham nhũng lâu đời' của Mỹ khi một số người Mỹ '' ra giá cho những tấm vé'' máy bay ra khỏi Việt Nam (88-89), và đoạn cuối là việc của một nhân vật ngày đầu đến Mỹ định cư. Ở đây ông cũng chỉ trích Mỹ, phê phán về ''thuế'' ở Mỹ. Sao ông chỉ trích thuế? Nước nào mà chẳng thu thuế nhân dân!
Giấc Mơ Kim Đồng thì ông viết lung tung. Ông ca tụng truyện Tây Bắc của Tô Hoài và cho đó là '' một câu chuyện đơn sơ cảm động'' (67), và ông khen ngợi Kim Đồng. Đến đây ta thấy ông sai lầm hoàn toàn. Ông tỏ ra thích thú các truyện cộng sản. Kim Đồng cũng như Lê Văn Tám là người giả, việc giả, và hàng giả. Bắt buộc hoặc dụ dỗ nhi đồng vào chiến tranh là một tội ác chứ không phải là một giấc mơ đẹp. Cộng sản rất tàn ác với dân thiểu số miền Bắc, họ đã thực thi chính sách giết người, phá rừng, đốn gỗ lấy tiền bỏ túi. Ngay cả gia đình Chu Văn Tấn cũng chết thảm thương dưới bàn tay cộng sản.
Ngô Thế Vinh như một con bướm tàng hình, lúc ở cụm hoa này, lúc xuất hiện ở chòm hoa khác. Lúc thì ông chỉ trích Mỹ và Việt Nam cộng hòa, khi thì ông công kích Cộng sản. Đâu là điểm? Đâu là diện? Hoặc ông là con người bất mãn tứ phương, tả xung hữu đột giữa trận tiền? Đâu là bản lai diện mục của ông? Và trong tương lai ông về đâu?
====
Văn Hóa Việt Nam (Vietnamese Culture)
Labels
- A. SOLZHENITSYN * QUẦN ĐẢO NGỤC TÙ (15)
- A. SOLZHENITSYN * TẦNG ĐẦU ĐỊA NGỤC (6)
- ALAIN BESANCON * TAI HỌA CỦA THẾ KỶ (3)
- ANTHONY GIĐENS * MARX TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI (1)
- BÙI NGỌC TÂN.* TRUYỆN KỂ NĂM 2000 (61)
- BÙI NGỌC TẤN * MỘT THỜI ĐỂ MẤT (9)
- BẢO NINH * NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (8)
- CHINESE HISTORY (14)
- ERNEST VAN DEN HAAG * CHỦ NGHĨA MARX (1)
- GIÁO DỤC (13)
- HENRY MILLER * CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO (7)
- HENRY MILLER * THỜI CỦA NHỮNG KẺ GIẾT NGƯỜI (3)
- HOÀNG VĂN HOAN (11)
- HỒ HỮU TƯỜNG * KỂ CHUYỆN (3)
- HỒ HỮU TƯỜNG * TRẦM TƯ CỦA MỘT TÊN TỘI TỬ HÌNH (2)
- HỒ TUẤN HÙNG * HỒ CHÍ MINH SINH BÌNH KHẢO (1)
- KARL MARX * TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN (5)
- KARL MARX * COMMUNIST MANIFESTO (2)
- KARL POPPER * BIỆN CHỨNG PHÁP (2)
- LÃ QUÝ BA *HỒI KÝ (11)
- LẠI NGUYÊN ÂN * TƯ LIỆU THẢO LUẬN THƠ VIỆT BẮC (15)
- MAI THẢO * CHUYẾN TÀU TRÊN SÔNG HỒNG (5)
- MAI THẢO * MƯA NÚI (3)
- MIKHAIL MAGID * CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ (4)
- MILOVAN DJILAS * GIAI CẤP MỚI (10)
- MILOVAN DJILAS * NÓI CHUYỆN VỚI STALIN (28)
- NADEGDA KUZNETSOVA * NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ (1)
- NGUYÊN KIEN GIANG * SUY TƯ 90 (36)
- NGUYÊN SA * MỘT BÔNG HỒNG CHO VĂN NGHỆ (2)
- NGUYỄN KHOA ĐĂNG * NƯỚC MẮT MỘT THỜI (15)
- NGUYỄN THIÊN - THỤ * CỘNG SẢN LUẬN (16)
- NHÃ CA * ĐÊM NGHE TIẾNG ĐẠI BÁC (3)
- NHẬT HOA KHANH * GẶP TỐ HỮU (5)
- NORMAN BARRY * KINH TẾ TRIẾT HỌC CHXH (2)
- PHÁP BẢO ĐÀN KINH * TUYÊN HÓA (10)
- PHÙNG GIA LỘC (1)
- PHÙNG QUÁN * BA PHÚT SỰ THẬT (9)
- RICHARD PIPES * CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN (7)
- SIMON S. MONTEFIORE * QUAI VẬT KARL MARX (1)
- SIÊU HÌNH (21)
- STÉPHANE COURTOISE ET AL * MẬT THƯ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN (22)
- SƠN TRUNG THƯ TRANG (1)
- SƠN TRUNG * CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (44)
- SƠN TRUNG * EM NHƯ MỘT NU HỒNG (3)
- SƠN TRUNG * MỘT TRỜI TUYẾT TRẮNG (1)
- SƠN TRUNG * NHÀ TÙ CỘNG SẢN (111)
- SƠN TRUNG * NHỮNG CON CÁO ĐỎ (45)
- SƠN TRUNG * RAU SAM NGOÀI VƯỜN (19)
- SƠN TRUNG * SÂN TRƯỜNG PHƯỢNG ĐỎ (18)
- SƠN TRUNG * SƠN TRUNG VĂN TẬP (15)
- SƠN TRUNG * THƯ TỊCH NHÀ TÙ CỘNG SẢN (1)
- SƠN TRUNG * THƯ TỊCH CHIẾN TRANH VIỆT NAM 2 (1)
- SƠN TRUNG * THƯ TỊCH CHIẾN TRANH VIỆT NAM I (1)
- SƠN TRUNG * THƯ TỊCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM (1)
- SƠN TRUNG * THƯ TỊCH NHÂN VĂN GIAI PHẨM (1)
- SƠN TRUNG * THƯ TỊCH VƯỢT BIÊN (1)
- SƠN TRUNG * TUYÊN TẬP THƠ SƠN TRUNG (3)
- SƠN TRUNG * TÀI LIỆU CHIẾN TRANH VIỆT NAM (93)
- SƠN TRUNG * TÀI LIỆU VƯỢT BIÊN (55)
- SƠN TRUNG * YÊU EM MÀU ÁO TRẮNG (4)
- SƠN TRUNG VĂN TẬP (1)
- SƠN TRUNG VĂN TẬP * SỬ HỌC (12)
- SƠN TRUNG VĂN TẬP * TRIẾT HỌC (9)
- SƠN TRUNG VĂN TẬP * VĂN HÓA GIÁO DỤC (9)
- SƠN TRUNG VĂN TẬP * ĐẠO (5)
- THANH TÂM TUYỀN * TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC (2)
- THANH TẬM TUYÊN * LIÊN ĐÊM TÌM THẤY MẶT TRỜI (2)
- THIỀN CĂN BẢN * THÍCH THANH TỪ DỊCH (7)
- THIỀN SƯ MUJU * GÓP NHẶT CÁT ĐÁ (8)
- THƠ MỚI (17)
- tr (1)
- TRIỀU ĐẨU * NHỮNG THIÊN ĐƯỜNG LỠ (3)
- TRIỆU TỬ DƯƠNG * HỒI KÝ (1)
- TRẦN XUÂN BÁCH * CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1)
- TRẦN ĐỘ * MỘT CÁI NHÍN TRỞ LẠI (3)
- TRẦN ĐỘ * NHẬT KÝ RỒNG RẮN (6)
- TÔ HOÀI * BA NGƯỜI KHÁC (7)
- TÔN PHƯỢNG MINH * TRIỆU TỬ DƯƠNG (7)
- VĂN HỌC HIỆN ÐẠI (19)
- VŨ KHẮC KHOAN * MƠ HƯƠNG CẢNG (4)
- VỤ ÁN NHÂN VĂN GIAI PHẨM (286)
- ĐỒNG MÔNG CHỈ QUÁN * THICH ĐÔN HẬU (3)
- ĐỖ LONG VÂN * NGUỒN NƯỚC ẨN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG (4)
- ĐỖ LONG VÂN * VÔ KY GIỮA CHÚNG TA (1)
Cùng tác giả
Tuesday, October 7, 2008
HOÀNG KHỞI PHONG và HAI NGƯỜI ĐỘI MŨ
*
Tên thật tác giä là Nguyễn Vinh Hiển, sinh năm 1943 tại Hải Dương, định cư tại Hoa Kỳ từ 1975. Chủ nhiệm tạp chí Văn Học, Hoa Kỳ (1989-1992).
Tác phÄm đã xuÃt bän :
Thơ
• Mặt Trời Lên ( ñại Nam Văn Hiến 1967)
• Phục Hồi Quyền Chức Làm Người (1970)
Truyrện
• Trong Hoàn Cảnh Khác (t1972)
• Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng chung với Hoàng Chính Nghĩa, Bố Cái,1978)
• Ngày N + (hồi kš, Văn Nghệ 1988)
• Thư Không Người NhÆn ( Tân Thư &Thời Văn 1991)
Hai người đội mũ (1996) là một truyện ngắn, viết về hai thương phế binh, một chàng đội mũ lưỡi trai, một chàng đội mũ tai bèo. Hai chàng cùng trú ngụ tại nghĩa trang đường Nguyễn Kim, Sài Gòn và cùng gặp nhau, chuyện trò với nhau. Chiến tranh là phi lý, là bất công, là lừa dối tàn nhẫn. Trong cuộc chiến Việt Nam, phe quốc gia thất bại, tan nhà nát cửa, phải làm thân nô lệ đã đành, mà anh chiến binh cộng sản cũng trở thành phế nhân trong khi bao tư bản đỏ sống huy hoàng. Anh thương binh cộng sản bị mù mắt, ra khỏi bệnh viện được ban Quân quản cho ở một chỗ tạm nuôi cơm ngày hai bữa. Một số thương binh bỏ ra ngoài ăn xin vì cơm trong trại quá tệ. . . Anh nhập cuộc với họ. . . Một hôm trong lúc anh vắng mặt. . .toàn thể thương binh trong trại được đưa lên xe tống về ngoài Bắc hết.. . . Nhiều năm nay, anh đầu đường xó chợ, Anh tưởng rằng đã hy sinh một phần thân thể cho chiến thắng sau cùng thì anh phải được đãi ngộ đền buì xứng đáng với phần thân thể anh bỏ lại nơi chiến trường. Mãy năm gần đây. . . anh bị công an áo vàng xua đuổi như những con chó ghẻ. Khi chiến tranh đã tàn, thì cái mũ tai bèo và một vài huân chương đeo trên ngực, làm cho anh đưọc nể nagng phần nào. . .Thế rồi càng ngày, mọi chuyện càng tồi tệ hơn. Tiền tháng dành cho một thương binh chỉ ăn thôi cũng không đủ.
Tác giả đã đưa một giải pháp: cả hai là nạn nhân của chiến tranh, cả hai muốn cộng tác để sinh tồn:
Tôi với anh bạn cùng cần sống Hợp lực lại thì dễ hơn là lầm lũi một mình.
Cả hai hợp tác bằng cách anh mũ lưỡi trai hát, anh mũ tai bèo đánh đàn. Đó là một dự định. Trong thực tế, cả hai đã hợp tác bằng cách sống chung hòa bình.
Lưỡi trai và Tai bèo bây giờ ở chung trong một cái nhà mồ, nhường một cái nhà mồ cho một gia đình mới đi kinh tế về.. Không ở chung cũng chẳng được nào vì ban ngày cả hai đi kiếm ăn, cần phải có một người trông nhà, không sẽ bị người khác chiếm chỗ.
Người nào cũng thích chủ nghĩa nhân đạo và thích đoàn kết, xóa tan hận thù. Đa số nhân dân ta yêu chuộng hòa bình nhưng cộng sản thì không bao giờ muốn hòa bình. Nhưng từ bao lâu , con người đã nhân danh công bằng, tự do, dân chủ mà tàn sát con người. Quan điểm của Hoàng Khởi Phong là nhân đạo nhưng đi sâu vào thực tế Việt Nam, chúng ta không khỏi thấy nhũng điều chua chát. Biết bao giờ người Việt Nam mới trở lại quân bình, Bắc Nam mới thực sự thống nhất? Phải có ngày đó nhưng bây giờ thỉ chưa. Người cộng sản muốn một mình cai trị quốc gia, đất nước là của riêng đảng cộng sản, không bao giờ cộng sản san sẻ quyền hành cho nhân dân, cho nên đừng nghĩ đến hòa hợp, đoàn kết dân tộc, tự do, và đa dảng. Cộng sản muốn bóp cổ nhân dân, không cho nhân dân có tự do, cho nên không bao giờ có sự hòa hợp, hòa bình. Hòa bình thật sự là khi hết cộng sản, có tự do bầu cử, có hiến pháp công nhận quyền tự do của nhân dân. Những lời nói hòa hợp hòa giải chỉ là đầu môi chót lỡi cũng như Hồ Chí Minh trước đây hô hào ''Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết!'' nhưng liền lúc đó ông cho bộ hạ giết bao lãnh tụ tôn giáo, chính trị và các đảng viên các đảng phái quốc gia. Chúng ta không thể tin các lãnh tụ cộng sản, và cũng khó tin ở một số cựu chiến binh cộng sản dù họ nay đứng đối lập hay bỏ ra nước ngoài bởi vì vi trùng cộng sản đã ăn sâu tâm can tì phế họ.
Chúng ta yêu nước Việt Nam nhưng Việt Nam có ba hạng người.
*Hạng thứ nhất là cộng sản gộc
*Hạng thứ hai là đảng viên cộng sản hay dân chúng theo ý thức cộng sản
*Hạng thứ ba là dân chúng tiến bộ, sáng suốt thấy rõ dã tâm của cộng sản.
1. Hạng thứ nhất là cộng sản gộc
Họ nay thành tư bản đỏ, có vốn hàng triệu, hàng tỷ đô la Mỹ. Hạng này muốn ngồi mãi để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ sẵn sàng bỏ lương tâm, đạo lý và lý tưởng cộng sản mà họ đã tuyên truyền lúc trước. Bao lâu nay họ trộm tài sản nhân dân, tham nhũng, hối lộ, và bán nước cho Trung Quốc để cầu sự bảo hộ của Trung Quốc. Họ đã đem dân đen đi bán khắp nơi trên thế giới, để cho nam thì thành nô lệ, còn phụ nữ thì thành gái giang hồ. Cộng sản chủ trương độc tài, độc đảng để bè đảng của họ một mình hưởng lợi., không bao giờ chia phần cho nhân dân, mà trái lại là bóc lột nhân dân, cướp tài sản nhân dân và tài sản nhân dân. Vụ Dân Oan ở Hà Nội, Sai Gon và Hâu Giang là những minh chứng cho lỏng gian tham và phản quốc của cộng sản. Võ Văn Kiệt và bọn trung ương đảng dã đưa ra nghị quyết đánh phá hải ngoại. Bao nhiêu sư sải, linh mục quốc doanh hoặc bọn công an cộng sản giả danh người tu hành để kêu gọi về nguồn, cứu trợ, hòa hợp hòa giải cũng chỉ là để vơ vét tiền bạc ở hải ngọai đem vê dâng cho chủ nhân của chúng. Trong khi Hòa thượng Thích Quảng Đô, hòa thượng Thích Huyền Quang , linh mục Nguyễn Văn Lý bị giam cầm thì lại có một số tu sĩ lại được ra ngoại quốc là tại sao? Họ chính là nhũng chính là nhũng tay sai cộng sản ra ngoài để thực hiện việc thu tiền bạc cho cộng sản và tuyên truyền cho những việc lừa đảo đối trá của họ.
2. Hạng thứ hai là cán bộ hoặc dân chúng bị nọc độc cộng sản tuyên truyền .
Bọn này căm thù chính thể quốc gia và người quốc gia. Hạng này còn khinh miệt người quốc gia vì họ cho là họ là đỉnh cao trí tuệ, bách chiến bách thắng. Hạng này gồm những người dân hay đảng viên, trong đó có những thi văn sĩ như Dương Thu Hương, Vũ Thư Hiên. Dương Thu Hương kết tội biệt kích cộng hòa giết hại phụ nữ miền Bắc. Khi vào trong Nam bà ca tụng chủ trương kinh tế mới của cộng sản, và mai mỉa những phụ nữ son phấn, những người làm nghề sơn móng tay. . . Nay bà đã sang Pháp, và khi về Việt Nam, chắc bà cũng thấy Việt Nam bây giờ ăn mặc như thế nào. Và nếu bà sang Trung Quốc hoặc độc tin tức quôc tế thì bây giờ các nhà tư bản đỏ cũng ham các kiểu cách thời trang, thích vàng ngọc, châu báu, còn đàn ông thí thích những của hàng Âu châu tại Hoa Lục với màn ''nhất dạ đế vương''. Không biết sau bao năm mở cửa và bao lượt ra ngoại quốc, bà có bớt lòng căm thù người quốc gia, bọn tư sản, bọn Mỹ ngụy? Cha con Vũ Thư Hiên bị cộng sản bắt giam, và ông tố cáo Hồ Chí Minh làm bao việc gian ác, trong đó có vụ giết hai chị em Nông Thị Xuân nhưng Vũ Thư Hiên vẫn cho rằng Hồ chí Minh là người tốt, Đảng Đại Việt , Quốc Dân đảng là kẻ thù, và chủ nghĩa cộng sản vẫn có ý nghĩa nhân bản. Về phía nhân dân miền Bắc, khi họ đào thoát sang Hồng Kông lại tổ chức kỹ niệm ba mươi tháng tư và đánh người Nam tại đây? Tại sao từ bỏ ngục tù cộng sản mà lại kỷ niệm chiến thắng Mỹ? Phải chăng họ chỉ là những gián điệp của cộng sản gửi ra nước ngoài, hoặc họ chỉ là những kẻ đi ra nước ngoài vì kinh tế chứ không vì ý thức hệ chính trị. Nói lên điều này chúng ta phải nhìn vào thực tại chứ không phải mơ mộng hay tung sa mù như Hoàng Khởi Phong và bao nhiêu kẻ khác. Không phải riêng Hoàng khởi Phong, miền Nam cũng có nhiều người hiền lành và thông minh sau 1975 đã chủ trương hòa hợp, hòa giải, cùng anh em thân thích miền Bắc lập hợp tác xã để kinh doanh, và nhờ anh em cán bộ ngoài đó đứng tên mua nhà cửa. Không đầy vài tháng các anh em miền Nam mới thấy rõ việc hòa hợp hòa giải với anh em miền Bắc là một điều phiêu du vì tiền bạc và nhà cửa đều mất sạch. Nhiều người đi ra nước ngoài trước 30-4-75 nên không hiểu cộng sản trong đó có Hoàng KhởI Phong..
3. Hạng dân chúng tiến bộ. Hạng này cũng là nạn nhân cộng sản và cũng có liên hệ anh em, bạn bè với người quốc gia thì may ra có thể hòa họp hòa giải. Nhưng thông cảm và hòa hợp 30%, 40% , 60% hay 80%? Chỉ có thực tế mớI trả lời vấn đề này.
Có lẽ Hoàng Khởi Phong quá lạc quan mà cũng quá bí quan. Ông lạc quan khi ông chủ trương hòa hợp hòa giải, nhưng ông bi quan khi viết về thân phận người phế binh cộng sản. Có lẽ một vài người phế binh cộng sản phải ăn xin, nhưng đa số thì không đến nỗi. Cộng sản là một tổ chừc Mafia. Họ lợi dụng người chiến binh khi mạnh khỏe, và khi người chiến binh què cụt hay chết đi, họ cũng lợi dụng đưọc.Tại Sài gòn, sau 30-4, có những đoàn xe bộ đội trùm kín xe, chở nặng, trên xe các thương binh trí đại liên đứng thủ. Vùng Tân Sơn Nhất là giang sơn của phe bộ đội, mặc tình mở sóng bài, chiếu phim sex, và bia ôm, càfé ôm, công an không dám động chạm đến. Nơi đây, các thương phế binh được tận dụng. Xe lửa Việt Nam trong khoảng 1975- 1995 là phương tiện chuyên chở hàng hoá của thương phế binh đỏ, dọc ngang tung hoành, không ai dám đương cự. Như vậy thì phe bộ đội cũng ngon lành, công an là tỷ phú thì bộ đội cũng triệu phú hay chuẩn tỷ phú chảng phải chơi! Công an ăn ở thành phố, kiểm soát ngân hàng, các rạp hát, các nhà hàng, các quán cà phê , tiệm phở, còn bộ đội thì lấy núi rừng làm vương quốc riêng của họ, họ đốn gỗ xuất cảng, buôn lậu qua biên giới cũng ngon lành lắm! Có gì hiểm nguy thì đưa mấy thương phế binh lãnh đạn là xong! Dẫu sao, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quân đội là anh hùng, thì thương phế binh cũng là anh hùng chưa đến nỗi là ăn mày! Vả đa số anh hùng thường tự hào trí tuệ và bách chiến bách thắng, e không coi thằng phế binh ngụy là bạn đâu! Sự kết đoàn, sự hòa hợp của Hoàng Khởi Phong trên lý thuyết có thể là tốt nhưng đàng sau là gì? Viên thuốc bọc đường ngọt ngào là thần được hay thuốc độc? Theo kinh nghiệm thực tế thì đó là thuốc độc sản xuất từ một công ty mạo hóa.
====
Tên thật tác giä là Nguyễn Vinh Hiển, sinh năm 1943 tại Hải Dương, định cư tại Hoa Kỳ từ 1975. Chủ nhiệm tạp chí Văn Học, Hoa Kỳ (1989-1992).
Tác phÄm đã xuÃt bän :
Thơ
• Mặt Trời Lên ( ñại Nam Văn Hiến 1967)
• Phục Hồi Quyền Chức Làm Người (1970)
Truyrện
• Trong Hoàn Cảnh Khác (t1972)
• Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng chung với Hoàng Chính Nghĩa, Bố Cái,1978)
• Ngày N + (hồi kš, Văn Nghệ 1988)
• Thư Không Người NhÆn ( Tân Thư &Thời Văn 1991)
Hai người đội mũ (1996) là một truyện ngắn, viết về hai thương phế binh, một chàng đội mũ lưỡi trai, một chàng đội mũ tai bèo. Hai chàng cùng trú ngụ tại nghĩa trang đường Nguyễn Kim, Sài Gòn và cùng gặp nhau, chuyện trò với nhau. Chiến tranh là phi lý, là bất công, là lừa dối tàn nhẫn. Trong cuộc chiến Việt Nam, phe quốc gia thất bại, tan nhà nát cửa, phải làm thân nô lệ đã đành, mà anh chiến binh cộng sản cũng trở thành phế nhân trong khi bao tư bản đỏ sống huy hoàng. Anh thương binh cộng sản bị mù mắt, ra khỏi bệnh viện được ban Quân quản cho ở một chỗ tạm nuôi cơm ngày hai bữa. Một số thương binh bỏ ra ngoài ăn xin vì cơm trong trại quá tệ. . . Anh nhập cuộc với họ. . . Một hôm trong lúc anh vắng mặt. . .toàn thể thương binh trong trại được đưa lên xe tống về ngoài Bắc hết.. . . Nhiều năm nay, anh đầu đường xó chợ, Anh tưởng rằng đã hy sinh một phần thân thể cho chiến thắng sau cùng thì anh phải được đãi ngộ đền buì xứng đáng với phần thân thể anh bỏ lại nơi chiến trường. Mãy năm gần đây. . . anh bị công an áo vàng xua đuổi như những con chó ghẻ. Khi chiến tranh đã tàn, thì cái mũ tai bèo và một vài huân chương đeo trên ngực, làm cho anh đưọc nể nagng phần nào. . .Thế rồi càng ngày, mọi chuyện càng tồi tệ hơn. Tiền tháng dành cho một thương binh chỉ ăn thôi cũng không đủ.
Tác giả đã đưa một giải pháp: cả hai là nạn nhân của chiến tranh, cả hai muốn cộng tác để sinh tồn:
Tôi với anh bạn cùng cần sống Hợp lực lại thì dễ hơn là lầm lũi một mình.
Cả hai hợp tác bằng cách anh mũ lưỡi trai hát, anh mũ tai bèo đánh đàn. Đó là một dự định. Trong thực tế, cả hai đã hợp tác bằng cách sống chung hòa bình.
Lưỡi trai và Tai bèo bây giờ ở chung trong một cái nhà mồ, nhường một cái nhà mồ cho một gia đình mới đi kinh tế về.. Không ở chung cũng chẳng được nào vì ban ngày cả hai đi kiếm ăn, cần phải có một người trông nhà, không sẽ bị người khác chiếm chỗ.
Người nào cũng thích chủ nghĩa nhân đạo và thích đoàn kết, xóa tan hận thù. Đa số nhân dân ta yêu chuộng hòa bình nhưng cộng sản thì không bao giờ muốn hòa bình. Nhưng từ bao lâu , con người đã nhân danh công bằng, tự do, dân chủ mà tàn sát con người. Quan điểm của Hoàng Khởi Phong là nhân đạo nhưng đi sâu vào thực tế Việt Nam, chúng ta không khỏi thấy nhũng điều chua chát. Biết bao giờ người Việt Nam mới trở lại quân bình, Bắc Nam mới thực sự thống nhất? Phải có ngày đó nhưng bây giờ thỉ chưa. Người cộng sản muốn một mình cai trị quốc gia, đất nước là của riêng đảng cộng sản, không bao giờ cộng sản san sẻ quyền hành cho nhân dân, cho nên đừng nghĩ đến hòa hợp, đoàn kết dân tộc, tự do, và đa dảng. Cộng sản muốn bóp cổ nhân dân, không cho nhân dân có tự do, cho nên không bao giờ có sự hòa hợp, hòa bình. Hòa bình thật sự là khi hết cộng sản, có tự do bầu cử, có hiến pháp công nhận quyền tự do của nhân dân. Những lời nói hòa hợp hòa giải chỉ là đầu môi chót lỡi cũng như Hồ Chí Minh trước đây hô hào ''Đoàn kết! Đoàn kết! Đại đoàn kết!'' nhưng liền lúc đó ông cho bộ hạ giết bao lãnh tụ tôn giáo, chính trị và các đảng viên các đảng phái quốc gia. Chúng ta không thể tin các lãnh tụ cộng sản, và cũng khó tin ở một số cựu chiến binh cộng sản dù họ nay đứng đối lập hay bỏ ra nước ngoài bởi vì vi trùng cộng sản đã ăn sâu tâm can tì phế họ.
Chúng ta yêu nước Việt Nam nhưng Việt Nam có ba hạng người.
*Hạng thứ nhất là cộng sản gộc
*Hạng thứ hai là đảng viên cộng sản hay dân chúng theo ý thức cộng sản
*Hạng thứ ba là dân chúng tiến bộ, sáng suốt thấy rõ dã tâm của cộng sản.
1. Hạng thứ nhất là cộng sản gộc
Họ nay thành tư bản đỏ, có vốn hàng triệu, hàng tỷ đô la Mỹ. Hạng này muốn ngồi mãi để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ sẵn sàng bỏ lương tâm, đạo lý và lý tưởng cộng sản mà họ đã tuyên truyền lúc trước. Bao lâu nay họ trộm tài sản nhân dân, tham nhũng, hối lộ, và bán nước cho Trung Quốc để cầu sự bảo hộ của Trung Quốc. Họ đã đem dân đen đi bán khắp nơi trên thế giới, để cho nam thì thành nô lệ, còn phụ nữ thì thành gái giang hồ. Cộng sản chủ trương độc tài, độc đảng để bè đảng của họ một mình hưởng lợi., không bao giờ chia phần cho nhân dân, mà trái lại là bóc lột nhân dân, cướp tài sản nhân dân và tài sản nhân dân. Vụ Dân Oan ở Hà Nội, Sai Gon và Hâu Giang là những minh chứng cho lỏng gian tham và phản quốc của cộng sản. Võ Văn Kiệt và bọn trung ương đảng dã đưa ra nghị quyết đánh phá hải ngoại. Bao nhiêu sư sải, linh mục quốc doanh hoặc bọn công an cộng sản giả danh người tu hành để kêu gọi về nguồn, cứu trợ, hòa hợp hòa giải cũng chỉ là để vơ vét tiền bạc ở hải ngọai đem vê dâng cho chủ nhân của chúng. Trong khi Hòa thượng Thích Quảng Đô, hòa thượng Thích Huyền Quang , linh mục Nguyễn Văn Lý bị giam cầm thì lại có một số tu sĩ lại được ra ngoại quốc là tại sao? Họ chính là nhũng chính là nhũng tay sai cộng sản ra ngoài để thực hiện việc thu tiền bạc cho cộng sản và tuyên truyền cho những việc lừa đảo đối trá của họ.
2. Hạng thứ hai là cán bộ hoặc dân chúng bị nọc độc cộng sản tuyên truyền .
Bọn này căm thù chính thể quốc gia và người quốc gia. Hạng này còn khinh miệt người quốc gia vì họ cho là họ là đỉnh cao trí tuệ, bách chiến bách thắng. Hạng này gồm những người dân hay đảng viên, trong đó có những thi văn sĩ như Dương Thu Hương, Vũ Thư Hiên. Dương Thu Hương kết tội biệt kích cộng hòa giết hại phụ nữ miền Bắc. Khi vào trong Nam bà ca tụng chủ trương kinh tế mới của cộng sản, và mai mỉa những phụ nữ son phấn, những người làm nghề sơn móng tay. . . Nay bà đã sang Pháp, và khi về Việt Nam, chắc bà cũng thấy Việt Nam bây giờ ăn mặc như thế nào. Và nếu bà sang Trung Quốc hoặc độc tin tức quôc tế thì bây giờ các nhà tư bản đỏ cũng ham các kiểu cách thời trang, thích vàng ngọc, châu báu, còn đàn ông thí thích những của hàng Âu châu tại Hoa Lục với màn ''nhất dạ đế vương''. Không biết sau bao năm mở cửa và bao lượt ra ngoại quốc, bà có bớt lòng căm thù người quốc gia, bọn tư sản, bọn Mỹ ngụy? Cha con Vũ Thư Hiên bị cộng sản bắt giam, và ông tố cáo Hồ Chí Minh làm bao việc gian ác, trong đó có vụ giết hai chị em Nông Thị Xuân nhưng Vũ Thư Hiên vẫn cho rằng Hồ chí Minh là người tốt, Đảng Đại Việt , Quốc Dân đảng là kẻ thù, và chủ nghĩa cộng sản vẫn có ý nghĩa nhân bản. Về phía nhân dân miền Bắc, khi họ đào thoát sang Hồng Kông lại tổ chức kỹ niệm ba mươi tháng tư và đánh người Nam tại đây? Tại sao từ bỏ ngục tù cộng sản mà lại kỷ niệm chiến thắng Mỹ? Phải chăng họ chỉ là những gián điệp của cộng sản gửi ra nước ngoài, hoặc họ chỉ là những kẻ đi ra nước ngoài vì kinh tế chứ không vì ý thức hệ chính trị. Nói lên điều này chúng ta phải nhìn vào thực tại chứ không phải mơ mộng hay tung sa mù như Hoàng Khởi Phong và bao nhiêu kẻ khác. Không phải riêng Hoàng khởi Phong, miền Nam cũng có nhiều người hiền lành và thông minh sau 1975 đã chủ trương hòa hợp, hòa giải, cùng anh em thân thích miền Bắc lập hợp tác xã để kinh doanh, và nhờ anh em cán bộ ngoài đó đứng tên mua nhà cửa. Không đầy vài tháng các anh em miền Nam mới thấy rõ việc hòa hợp hòa giải với anh em miền Bắc là một điều phiêu du vì tiền bạc và nhà cửa đều mất sạch. Nhiều người đi ra nước ngoài trước 30-4-75 nên không hiểu cộng sản trong đó có Hoàng KhởI Phong..
3. Hạng dân chúng tiến bộ. Hạng này cũng là nạn nhân cộng sản và cũng có liên hệ anh em, bạn bè với người quốc gia thì may ra có thể hòa họp hòa giải. Nhưng thông cảm và hòa hợp 30%, 40% , 60% hay 80%? Chỉ có thực tế mớI trả lời vấn đề này.
Có lẽ Hoàng Khởi Phong quá lạc quan mà cũng quá bí quan. Ông lạc quan khi ông chủ trương hòa hợp hòa giải, nhưng ông bi quan khi viết về thân phận người phế binh cộng sản. Có lẽ một vài người phế binh cộng sản phải ăn xin, nhưng đa số thì không đến nỗi. Cộng sản là một tổ chừc Mafia. Họ lợi dụng người chiến binh khi mạnh khỏe, và khi người chiến binh què cụt hay chết đi, họ cũng lợi dụng đưọc.Tại Sài gòn, sau 30-4, có những đoàn xe bộ đội trùm kín xe, chở nặng, trên xe các thương binh trí đại liên đứng thủ. Vùng Tân Sơn Nhất là giang sơn của phe bộ đội, mặc tình mở sóng bài, chiếu phim sex, và bia ôm, càfé ôm, công an không dám động chạm đến. Nơi đây, các thương phế binh được tận dụng. Xe lửa Việt Nam trong khoảng 1975- 1995 là phương tiện chuyên chở hàng hoá của thương phế binh đỏ, dọc ngang tung hoành, không ai dám đương cự. Như vậy thì phe bộ đội cũng ngon lành, công an là tỷ phú thì bộ đội cũng triệu phú hay chuẩn tỷ phú chảng phải chơi! Công an ăn ở thành phố, kiểm soát ngân hàng, các rạp hát, các nhà hàng, các quán cà phê , tiệm phở, còn bộ đội thì lấy núi rừng làm vương quốc riêng của họ, họ đốn gỗ xuất cảng, buôn lậu qua biên giới cũng ngon lành lắm! Có gì hiểm nguy thì đưa mấy thương phế binh lãnh đạn là xong! Dẫu sao, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, quân đội là anh hùng, thì thương phế binh cũng là anh hùng chưa đến nỗi là ăn mày! Vả đa số anh hùng thường tự hào trí tuệ và bách chiến bách thắng, e không coi thằng phế binh ngụy là bạn đâu! Sự kết đoàn, sự hòa hợp của Hoàng Khởi Phong trên lý thuyết có thể là tốt nhưng đàng sau là gì? Viên thuốc bọc đường ngọt ngào là thần được hay thuốc độc? Theo kinh nghiệm thực tế thì đó là thuốc độc sản xuất từ một công ty mạo hóa.
====
.“MẶT THẬT” CỦA BÙI TÍN
*
Quyển Mặt Thật của Bùi Tín ra đời năm 1994 đã đuợc nhiều người đón đọc. Thật vậy quyển sách này đã vạch ra những sai lầm, và tội ác của cộng sản làm cho người ta thấy rõ hơn, nghe rõ hơn và biết nhiều hơn về những xấu xa, tệ hại của cộng sản. Sự thực, những điều đó người quốc gia chúng ta đã nói từ lâu rồi. Nay đưọc miệng một người cộng sản cỡ Bùi Tín nói ra thì không gì quý hơn!
Tác phẩm của Bùi Tín đã là một bản cáo trạng về chủ nghĩa cộng sản. Ông đã trình bày nhiều điểm:
1- Phê bình chủ nghĩa Mac Lê : sai lầm của chủ nghĩa Mac. Bản báo cáo mật của Khrutchev tố cáo Stalin trong đại hi 1956 của Cộng đảng Liên Xô(tr.15-39). Bản tố cáo này cho chúng ta thấy năm 1934, đại hi 17 của Cng đảng Liên Xô đã bầu ra 139 ủy viên trung ương chính thức và dự khuyết thì trong hai năm 1937 và 1938 đã có 98 người bị tống giam và xử bắn vì là kẻ thù của nhân dân...và trong số 1956 đại biểu dự đại hội đảng lần 17, sau đó có 1.108 đại biểu bị bắt và khép tội phản cách mạng.(tr.30)
- Bệnh tôn sùng cá nhân, nịnh hót: Cộng sản Việt Nam hết ca tụng Stalin đến ca tụng Mao (tr.24-69). Bùi Tín viết :
Tinh thần sùng bái Stalin một cách mù quáng không phải chỉ có ở nhà thơ Tố Hữu. Nó luôn còn rất nặng ở ngay trong bộ chánh trị và ban chấp hành trung ương hiện tại. ..Sùng bái mặt trời phương Đông,? nể sợ thiên triều Bắc kinh, ông Hồ đã truyền cho những người lãnh đạo khác ở quanh ông, cho cả đảng cộng sản một thái độ thụ động vô lý, mất hết khả năng phản kháng và tự vệ.(tr.31, 39)
- Sai lầm trong cải cách ruộng đất và cải tạo thương nghiệp( tr.72-88). Bùi Tín đã nêu lên hậu quả của nó là tiêu diệt kinh tế nước nhà, tiêu diệt những con người khôn ngoan, tài giỏi trong kinh t ế, khoa học. Ông cho rằng cộng sản thành công trong việc phá hoại bởI vì phá hoại rất nhanh, rất dễ, còn xây dựng một quốc gia, một nền kinh tế, một lớp người thì rất khó, rất lâu. Ông nhận định rất đúng vì chủ trương chuyên chính tàn bạo của cộng sản:
Những người cổ súy đãu tranh giai cấp một cách cực đoan, sùng bái bạolực,khẩu súng, mang tư tưởng phá phách, diệt trừ.. rõ ràng không có khả năng để xây dựng nên một xã hội gồm những người tốt và đẹp..(tr.80)
- Mâu thuẫn giữa Lê Duẫn và Võ Nguyên Giáp ( tr. 187-193)
- Cộng sản bóp nghẹt tự do của nhân, đàn áp văn nghệ sĩ như vụ Nhân Văn, Giai Phẩm, tình hình các nhà văn dưới chế độ cộng sản như Chế Lan Viên, Nguyên Hồng, Lê Đạt, Trần Dần, Dương Thu Hương.. (tr.131-172). Bùi Tín cho đó là do cơ chế : Theo tôi, nguồn gốc mọi sai lầm ,thảm họa, bất công là do cơ chế. Đó là bộ máy, từ những học thuyết ngoại lai. Con ngườI đều là nạn nhân của cơ chế sai lầm, của cỗ máy nghiề n ấy.(tr.163)
Bùi Tín đã nói rõ tâm trạng của các văn nghệ sĩ thời đó là sợ hãi:
'Vì sợ nên phải giấu kín lòng mình.Vì sợ nên đành phải dối trá.Vì sợ nên phải đóng kịch' (tr.136)
- Cộng sản khủng bố những chiến sĩ dân chủ như Hà Xuận Tụ, Tuệ Sĩ, Nguyễn Đan Quế. . ( tr.150-159).
- Việc cộng sản trở mặt với những kẻ đã cộng tác với chúng như Trương Đình Du, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín. (tr.215-222)
- Cộng sản mắc lừa Võ Đại Tôn (tr.244-250)
-Giai cấp đặc quyề n đặc lợi tại Việ t Nam (tr.258-287) Có lẽ phần này rất đáng ta để ý vì ông đã phân tích rất kỹ.
+Đặc quyền thứ nhất là bắt cấp dưới tuân phục tuyệt đối (tr.260).
+Đặc quyền thứ hai là hưởng thụ những sản phẩm đặc biệt, tại những cửa hàng đặc biệt, trong khi dân chúng đói khổ, túng thiế u mọi thứ.(tr.261)
+Đặc quy ền thứ ba là đuợc cấp nhà cửa cao rộng trong khi quần chúng không có nơi cư trú, sống lang thang đầu đường xó chợ. Bọn cán bộ đuợc mua nhà giá rẻ, vài lượng vàng tượng trưng rồi bán cho ngoại quốc với giá hai, ba trăm cây vàng. ( tr.273-278).
+Đặc quyền thứ tư là xuất ngoại- dân chúng không có quyền xuất ngoại. Họ tranh nhau đi công tác nước ngoài đi buôn lậu, chuyển tài sản ra ngoại quốc(tr.278-295)
+Và đặc quyền thứ năm là sử dụng phưong tiện giao thông tối ưu trong đó vợ con cán bộ cao cấp đuợc đi bằng máy bay để đi nghỉ mát Đồ Sơn, vào Saigon buôn bán hay đi Đà Lạt nghỉ hè.(tr.269-270)
Trên đây, chúng tôi đã trình bày những ưu điểm của Bùi Tín. Tiếp theo, chúng tôi xin nói lên một vài điểm sai lầm của tác giả.
1. Về Hồ Chí Minh.
Bùi Tín cho rằng những lời của phe quốc gia chỉ trích Hồ Chí Minh là cực đoan. Ông cho ông là người khách quan,công bằng (tr.91) Ông cho rằng ông Hồ là một con người, không phải là một vị thánh, nên có ưu điểm, khuyết điểm, có thể có sai lầm là đ ều tự nhiên và tất yếu.(tr.91)
Lẽ tất nhiên chúng tôi xem ông Hồ là một con người, chứ không là một vị thánh. Con người có xấu có tốt ( dĩ nhiên) nhưng khốn nỗi, chúng tôi không thấy ông Hồ có cái tốt nào, mà toàn là xấu xa bậc nhất. Tội ác của Ông Hồ thất là 'trúc Nam sơn không kể hết tội ác, nước Đông hải không rửa sạch vết nhơ!
Ông Hồ có bán Phan Bi Châu không ? Ông Hồ có mạo danh trong Ngục Trung Nhật Ký không? Ông Hồ có giả danh Trần Dân Tiên không ? Ông Hồ có chủ trương giết hại Quốc dân đảng , Đại Việt không? Chúng ta không thấy họ Bùi lên tiếng để làm sáng tỏ lịch sử. Ông bênh vực ông Hồ nào là hy sinh tranh đãu, sống giản dị, dựa vào Liên Cô, Trung quốc nhưng không nô lệ.(tr.91)
Nhưng chính ông, ông đã tố ông Hồ giả tên Trần Dân Tiên để ca tụng mình, bắt dân phải gọi ông là bác, bắt các bô lão phải gọi ông là cha già dân tộc Và trong đoạn trước, họ Bùi đã nói về thái độ của Hồ Chí Minh đối với Nga Tàu nhất là trong cải cách ruộng đất, ông Hồ cúi đầu trước các chỉ thị của Trung quốc(tr.63-87). Ông lại còn chạy tội cho ông Hồ
Ông Hồ không mặn mà lắm với cải cách ruộng đất. . .Hồi ấy ông muốn để chậm lại công cuộc cải cách ruộng đất kháng chiến thắng lợi rồi hãy hay (tr.69). Ông cho là do Trường Chinh theo đuôi Mao(tr.71).
Như chúng ta đã biết, đã là cộng sản thì phải giết hại nhà giàu. Đó là quy luật, là lập trường công nông, là chính sách chuyên chánh vô sản. Đã leo lên ghế chủ tịch Đảng thì ắt là đã tu luyện thành quỷ, thành tinh! Ông Hồ là tay sai của quốc tế cộng sản, làm sao ông dám trái lệnh. Và dù đánh trước hay đánh sau, máu người vô tội vẫn phải đổ, đổ thật nhiều cho thỏa thú tính của lũ ác ôn. Cộng sản là tai họa của nhân loại, bọn cng sản là ti nhân của thiên hạ. Từ đông sang tây hễ là cộng sản dù lớn dù bé đều là ác ôn. Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh. . .đều là một lũ dã man tàn bạo, không thể bênh vực, không thể giảm khinh. Chúng ta phải đưa chúng ra tòa án quốc tế dù chúng đã chết tan thây! Nhất là sau vụ Nông Thị Xuân, vụ nhượng đất cho Trung Quốc, rõ ràng Hồ Chì Minh và đảng cộng sản là một lũ bán nước, hại d ân.
2. Về Marx.
Dường như Bùi Tín mâu thuẫn. Ông bênh vực Marx cho rằng Marx là một triết gia, cho đến nay vẫn đuợc quần chúng mến phục, người ta không phá tượng đài của ông như tượng đài của Lenin, Stalin (tr.19). Ông mỉa mai người Việt hải ngoại là chẳng hiểu gì Marx. Ông viết m ột cách cao ngạo và trịch thượng như giọng điệu của bọn cộng sản cao cấp khi vào Sài gòn :
Có một cách đối xử với chủ nghĩa Mac rất thịnh hành trên không ít sách báo tiếng Việt ở hải ngoại. Đó là chửi bới, phỉ báng, vứt bỏ cả gói bằng tất cả chữ nghĩa thô tục nhất, và gọi Mac là thằng già chữa hoang với người ở, đáng chặt đầu đáng đào mả để băm vằm cho hả giận. . . Phần lớn những người ấy không hiểu gì về ni dung chủ nghĩa Mac. Họ chống theo cảm tính. Họ cũng đáng thương hơn đáng ghét. (tr.18-19)
Ông ca tụng sức nghĩ, sức viết của Mac rất lớn lao, các trường đại học đều giảng về Mac. Sự thực tại các trường đại học tư bản người ta có nói đến Mac trong chính trị hay kinh tế học nhưng không phải là khen mà là để nêu lên một thứ chủ trương thô thiển, sai lầm. Có thể trong giới đại học cũng có một vài kẻ điên trăm phần trăm như triết gia Trần Đức Thảo hoặc điên 50% như triết gia J.Paul Sartre!
Ở phần sau, ông nêu lên ba khuyết điểm lớn của Mac. Sai lầm thứ nhất là duy vật lịch sử. (tr.20), sai lầm thứ hai của Mac là nôn nóng nhận định rằng chủ nghĩa đế quốc là sự phát triển tột đỉnh của chủ nghĩa tư bản,và cuối cùng là Mac đề cao bạo lực và chuyên chính vô sản.( tr. 20-22)
Thật vậy, Mac thiển cận và chủ quan khi cho rằng con người đi từ cộng sản nguyên thủy lên chủ nghĩa xã h ội không sai chạy. Sự thực ngày nay chế độ quân chủ vẫn còn, và nhiều nơi con người vẫn sống trong tình trạng bộ lạc thời nguyên thủy. Cứ nhìn người thượng đóng khố xuống buôn bán với người kinh là ta thấy rằng nay vẫn còn những xã h ội thô sơ tồn tại bên xã hội văn minh, chúng không thay thế nhau, tiêu diệt nhau như Mac đã nghĩ! Và cho đến nay, cộng sản chủ nghĩa đã bành trướng rồi tàn lụi ở Liên Xô, Đông Âu, còn Mỹ, Anh, Pháp họ đâu có tiến lên xã hội chủ nghĩa đâu! Cần gì phải mất hai năm đọc sách tại thư viện Pháp mới hiểu điều này?
Còn về điểm hai, chủ nghĩa đế quốc thịnh rồi suy. Những đế quốc La Mã, Nga... đã tan rã. Chủ nghĩa tư bản đã trở thành thực dân , đế quốc nhưng kinh tế của họ lại không bị diệt vong đúng như chính tác giả đã nhận định.(tr.21)
Còn diểm thứ ba quan trọng nhất. Chính ông cũng cho đó là sai lầm thì còn trách cứ ai đây ? Đặc điểm của chủ nghĩa cộng sản là bạo lực và vô sản chuyên chính. Họ học từ đâu ? Từ Mac. Quốc gia suy vong, đất nước thống khổ, thế giới chìm đám trong khói lửa là do chủ trương của Mac? Mac có tội không hỡi ông Thành Tín? Thưa ông, trong Phật giáo, ý nghiệp quan trong hơn thân nghiệp, mình nghĩ ác, dạy người làm ác tội nặng hơn người thi hành quan điểm của mình!
3. Về tương lai của Việt Nam
Ông có lý rằng trong nước và ngoài nước lực lượng dân chủ đang lên với những người cộng sản thức tỉnh như Nguyễn Xuân Tụ, Nguyễn Kiến Giang, Hoàng Minh Chánh.. .Nhưng khi ông đề cập đến cộng đồng hải ngoại thì khiến cho chúng tôi suy nghĩ.
Ông đề nghị cng đồng hải ngoại cần dứt khoát từ bỏ các kiểu hoạt động bạo lực, phá hoại bằng súng đạn, chât nổ, xâm phạm cu ộc sống làm ăn của đồng bào lương thiện (tr.338)
Ý kiến của ông làm chúng tôi ngạc nhiên. Việc ném lựu đạn , giật mìn, phá cầu.. là hành đng của cộng sản, chưa một tổ chức quốc gia nào đã làm như vậy từ trước tới nay. Đó là việc của ông và các đồng chí của ông trước 1975!! Việc đem quân về của Hoàng Cơ Minh là một việc làm quá sớm, trong đó có yếu tố cộng sản.. Tuy nhiên khi tình thế cần thiết như là khi dân chúng vùng lên chống cộng bằng vũ lực, tại sao chúng ta không tiếp tay? Lẽ nào ông muốn cho nhân dân ngồi yên để cộng sản đè đầu cỡi cổ hoài?
Ông cũng như một số “Việt kiều yêu nước”, một số cộng sản trá hình” đã kêu gọi gửi tiền về Việt Nam để ủng h ộ thiếu nhi, thương binh, bảo tồn di tích lịch sử! (tr.338-339). Tội nghiệp nhất là thiếu nhi đã bị người ta lợi dụng quá nhiều chính như ông cũng đã nói : Người ta nói phá hủy nghĩa trang Mạc Đinh Chi để làm cung thiếu nhi( nay chẳng thấy đâu) nhưng thực tế là trả thù người chết, đồng thời là để lấy vàng của các xác chết (tr.214). Ông còn bảo đảm với chúng ta :
Không lo rằng tiền quyên góp sẽ vào túi tham nhũng vì các quỹ ấy đều có cơ quan quản trị đặt đại diện ở trong nước cùng điều phối tận cơ sở.(tr.339)
Cứ gửi tiền về là c ộng sản đã có lợi rồi vì họ in tiền giấy lấy đô -la thật!
Ai làm việc trong ban quản trị đây ? Đảng viên hay không đảng viên ? Quần chúng làm sao nhận tiền nước ngoài ? M ột việc cứu trợ nạn lụt đã là khó khăn cụ thể. Các sư trong Phật giáo Thống Nhất đi cứu trợ nhưng cộng sản không cho cứu trợ, không cho liên lạc với quần chúng, cộng sản đòi đ ộc quyền giữ hàng hóa, độc quyền cứu trợ, và quần chúng nhận đưọc tiền hay không lại là việc khác! Nhận được tiền rồi dân chúng được giữ bao nhiêu hay phải nộp lại cho đảng trong tình trạng đất nước khó khăn? Ôi! Ông bạn ơi, việc đời không dễ , và dân chúng ở hải ngoại không ngu quá đâu!
Theo Bùi tiên sinh, dân Việt Nam cứ bình tĩnh:
-Duy trì phát triển kinh tế.
-Duy trì mở rnangg và đổi mới pháp luật.
-Đừng đòi tự do báo chí, cứ từ từ rồi đảng sẽ chấp thuận vì họ đã trót hứa đổi mớI!(tr.342-344)
Nói tóm lại, đừng tranh đãu gì cả, từ từ rồi cộng sản sẽ chấp nhận dân chủ đa nguyên. Đa nguyên nhưng chỉ một đảng phái duy nhất là cái Tập Hợp Dân chủ (tr.345). Đa nguyên này là đa nguyên có cộng sản với một triệu quân đi, một triệu cảnh sát, công an và một triệu đảng viên đang ngồi trên đầu trên cổ nhân dân!
Theo kinh nghiệm Việt Nam, các báo chí tung những tin tức bí mật không phải là họ có xương đồng da sắt mà là đuợc cấp trên cho phép bật mí. Những tin tức ông họ Bùi đưa ra thì cả Việt Nam và thế giớI đều biết rồi. Ông tỏ vẻ chống đối cộng sản nhưng ông không có cái dứt khoát của Nguyễn Hộ là từ bỏ đảng. Ông không thóa mạ ông Hồ, đem thâm cung bí sử của Cộng đảng nói cho nhân dân biết như tác giả Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội.
Đọc Mặt Thât, chúng ta có thể thấy công tác của Bùi Tín ở hải ngoại ngoài những công tác mật, ông còn có nhiệm vụ công khai
- Bênh vực cho Mac và ông Hồ chừng nào hay chừng nấy.
- Vận đ ộng đồng bào hải ngoại gửi tiền về làm giàu cho cộng sản.
- Kêu gọi đồng bào hải ngoại và trong nước nên nằm yên, duy trì tình trạng cũ, đừng bạo động, hãy tranh đãu ôn hòa dưới lá cờ của đảng.
- Vận động một chính phủ Liên Hiệp theo kiểu Kampuchia nếu tình hình bắt buộc để cộng sản có thể làm bình phong mà tồn tại lâu dài.
===
Quyển Mặt Thật của Bùi Tín ra đời năm 1994 đã đuợc nhiều người đón đọc. Thật vậy quyển sách này đã vạch ra những sai lầm, và tội ác của cộng sản làm cho người ta thấy rõ hơn, nghe rõ hơn và biết nhiều hơn về những xấu xa, tệ hại của cộng sản. Sự thực, những điều đó người quốc gia chúng ta đã nói từ lâu rồi. Nay đưọc miệng một người cộng sản cỡ Bùi Tín nói ra thì không gì quý hơn!
Tác phẩm của Bùi Tín đã là một bản cáo trạng về chủ nghĩa cộng sản. Ông đã trình bày nhiều điểm:
1- Phê bình chủ nghĩa Mac Lê : sai lầm của chủ nghĩa Mac. Bản báo cáo mật của Khrutchev tố cáo Stalin trong đại hi 1956 của Cộng đảng Liên Xô(tr.15-39). Bản tố cáo này cho chúng ta thấy năm 1934, đại hi 17 của Cng đảng Liên Xô đã bầu ra 139 ủy viên trung ương chính thức và dự khuyết thì trong hai năm 1937 và 1938 đã có 98 người bị tống giam và xử bắn vì là kẻ thù của nhân dân...và trong số 1956 đại biểu dự đại hội đảng lần 17, sau đó có 1.108 đại biểu bị bắt và khép tội phản cách mạng.(tr.30)
- Bệnh tôn sùng cá nhân, nịnh hót: Cộng sản Việt Nam hết ca tụng Stalin đến ca tụng Mao (tr.24-69). Bùi Tín viết :
Tinh thần sùng bái Stalin một cách mù quáng không phải chỉ có ở nhà thơ Tố Hữu. Nó luôn còn rất nặng ở ngay trong bộ chánh trị và ban chấp hành trung ương hiện tại. ..Sùng bái mặt trời phương Đông,? nể sợ thiên triều Bắc kinh, ông Hồ đã truyền cho những người lãnh đạo khác ở quanh ông, cho cả đảng cộng sản một thái độ thụ động vô lý, mất hết khả năng phản kháng và tự vệ.(tr.31, 39)
- Sai lầm trong cải cách ruộng đất và cải tạo thương nghiệp( tr.72-88). Bùi Tín đã nêu lên hậu quả của nó là tiêu diệt kinh tế nước nhà, tiêu diệt những con người khôn ngoan, tài giỏi trong kinh t ế, khoa học. Ông cho rằng cộng sản thành công trong việc phá hoại bởI vì phá hoại rất nhanh, rất dễ, còn xây dựng một quốc gia, một nền kinh tế, một lớp người thì rất khó, rất lâu. Ông nhận định rất đúng vì chủ trương chuyên chính tàn bạo của cộng sản:
Những người cổ súy đãu tranh giai cấp một cách cực đoan, sùng bái bạolực,khẩu súng, mang tư tưởng phá phách, diệt trừ.. rõ ràng không có khả năng để xây dựng nên một xã hội gồm những người tốt và đẹp..(tr.80)
- Mâu thuẫn giữa Lê Duẫn và Võ Nguyên Giáp ( tr. 187-193)
- Cộng sản bóp nghẹt tự do của nhân, đàn áp văn nghệ sĩ như vụ Nhân Văn, Giai Phẩm, tình hình các nhà văn dưới chế độ cộng sản như Chế Lan Viên, Nguyên Hồng, Lê Đạt, Trần Dần, Dương Thu Hương.. (tr.131-172). Bùi Tín cho đó là do cơ chế : Theo tôi, nguồn gốc mọi sai lầm ,thảm họa, bất công là do cơ chế. Đó là bộ máy, từ những học thuyết ngoại lai. Con ngườI đều là nạn nhân của cơ chế sai lầm, của cỗ máy nghiề n ấy.(tr.163)
Bùi Tín đã nói rõ tâm trạng của các văn nghệ sĩ thời đó là sợ hãi:
'Vì sợ nên phải giấu kín lòng mình.Vì sợ nên đành phải dối trá.Vì sợ nên phải đóng kịch' (tr.136)
- Cộng sản khủng bố những chiến sĩ dân chủ như Hà Xuận Tụ, Tuệ Sĩ, Nguyễn Đan Quế. . ( tr.150-159).
- Việc cộng sản trở mặt với những kẻ đã cộng tác với chúng như Trương Đình Du, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín. (tr.215-222)
- Cộng sản mắc lừa Võ Đại Tôn (tr.244-250)
-Giai cấp đặc quyề n đặc lợi tại Việ t Nam (tr.258-287) Có lẽ phần này rất đáng ta để ý vì ông đã phân tích rất kỹ.
+Đặc quyền thứ nhất là bắt cấp dưới tuân phục tuyệt đối (tr.260).
+Đặc quyền thứ hai là hưởng thụ những sản phẩm đặc biệt, tại những cửa hàng đặc biệt, trong khi dân chúng đói khổ, túng thiế u mọi thứ.(tr.261)
+Đặc quy ền thứ ba là đuợc cấp nhà cửa cao rộng trong khi quần chúng không có nơi cư trú, sống lang thang đầu đường xó chợ. Bọn cán bộ đuợc mua nhà giá rẻ, vài lượng vàng tượng trưng rồi bán cho ngoại quốc với giá hai, ba trăm cây vàng. ( tr.273-278).
+Đặc quyền thứ tư là xuất ngoại- dân chúng không có quyền xuất ngoại. Họ tranh nhau đi công tác nước ngoài đi buôn lậu, chuyển tài sản ra ngoại quốc(tr.278-295)
+Và đặc quyền thứ năm là sử dụng phưong tiện giao thông tối ưu trong đó vợ con cán bộ cao cấp đuợc đi bằng máy bay để đi nghỉ mát Đồ Sơn, vào Saigon buôn bán hay đi Đà Lạt nghỉ hè.(tr.269-270)
Trên đây, chúng tôi đã trình bày những ưu điểm của Bùi Tín. Tiếp theo, chúng tôi xin nói lên một vài điểm sai lầm của tác giả.
1. Về Hồ Chí Minh.
Bùi Tín cho rằng những lời của phe quốc gia chỉ trích Hồ Chí Minh là cực đoan. Ông cho ông là người khách quan,công bằng (tr.91) Ông cho rằng ông Hồ là một con người, không phải là một vị thánh, nên có ưu điểm, khuyết điểm, có thể có sai lầm là đ ều tự nhiên và tất yếu.(tr.91)
Lẽ tất nhiên chúng tôi xem ông Hồ là một con người, chứ không là một vị thánh. Con người có xấu có tốt ( dĩ nhiên) nhưng khốn nỗi, chúng tôi không thấy ông Hồ có cái tốt nào, mà toàn là xấu xa bậc nhất. Tội ác của Ông Hồ thất là 'trúc Nam sơn không kể hết tội ác, nước Đông hải không rửa sạch vết nhơ!
Ông Hồ có bán Phan Bi Châu không ? Ông Hồ có mạo danh trong Ngục Trung Nhật Ký không? Ông Hồ có giả danh Trần Dân Tiên không ? Ông Hồ có chủ trương giết hại Quốc dân đảng , Đại Việt không? Chúng ta không thấy họ Bùi lên tiếng để làm sáng tỏ lịch sử. Ông bênh vực ông Hồ nào là hy sinh tranh đãu, sống giản dị, dựa vào Liên Cô, Trung quốc nhưng không nô lệ.(tr.91)
Nhưng chính ông, ông đã tố ông Hồ giả tên Trần Dân Tiên để ca tụng mình, bắt dân phải gọi ông là bác, bắt các bô lão phải gọi ông là cha già dân tộc Và trong đoạn trước, họ Bùi đã nói về thái độ của Hồ Chí Minh đối với Nga Tàu nhất là trong cải cách ruộng đất, ông Hồ cúi đầu trước các chỉ thị của Trung quốc(tr.63-87). Ông lại còn chạy tội cho ông Hồ
Ông Hồ không mặn mà lắm với cải cách ruộng đất. . .Hồi ấy ông muốn để chậm lại công cuộc cải cách ruộng đất kháng chiến thắng lợi rồi hãy hay (tr.69). Ông cho là do Trường Chinh theo đuôi Mao(tr.71).
Như chúng ta đã biết, đã là cộng sản thì phải giết hại nhà giàu. Đó là quy luật, là lập trường công nông, là chính sách chuyên chánh vô sản. Đã leo lên ghế chủ tịch Đảng thì ắt là đã tu luyện thành quỷ, thành tinh! Ông Hồ là tay sai của quốc tế cộng sản, làm sao ông dám trái lệnh. Và dù đánh trước hay đánh sau, máu người vô tội vẫn phải đổ, đổ thật nhiều cho thỏa thú tính của lũ ác ôn. Cộng sản là tai họa của nhân loại, bọn cng sản là ti nhân của thiên hạ. Từ đông sang tây hễ là cộng sản dù lớn dù bé đều là ác ôn. Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh. . .đều là một lũ dã man tàn bạo, không thể bênh vực, không thể giảm khinh. Chúng ta phải đưa chúng ra tòa án quốc tế dù chúng đã chết tan thây! Nhất là sau vụ Nông Thị Xuân, vụ nhượng đất cho Trung Quốc, rõ ràng Hồ Chì Minh và đảng cộng sản là một lũ bán nước, hại d ân.
2. Về Marx.
Dường như Bùi Tín mâu thuẫn. Ông bênh vực Marx cho rằng Marx là một triết gia, cho đến nay vẫn đuợc quần chúng mến phục, người ta không phá tượng đài của ông như tượng đài của Lenin, Stalin (tr.19). Ông mỉa mai người Việt hải ngoại là chẳng hiểu gì Marx. Ông viết m ột cách cao ngạo và trịch thượng như giọng điệu của bọn cộng sản cao cấp khi vào Sài gòn :
Có một cách đối xử với chủ nghĩa Mac rất thịnh hành trên không ít sách báo tiếng Việt ở hải ngoại. Đó là chửi bới, phỉ báng, vứt bỏ cả gói bằng tất cả chữ nghĩa thô tục nhất, và gọi Mac là thằng già chữa hoang với người ở, đáng chặt đầu đáng đào mả để băm vằm cho hả giận. . . Phần lớn những người ấy không hiểu gì về ni dung chủ nghĩa Mac. Họ chống theo cảm tính. Họ cũng đáng thương hơn đáng ghét. (tr.18-19)
Ông ca tụng sức nghĩ, sức viết của Mac rất lớn lao, các trường đại học đều giảng về Mac. Sự thực tại các trường đại học tư bản người ta có nói đến Mac trong chính trị hay kinh tế học nhưng không phải là khen mà là để nêu lên một thứ chủ trương thô thiển, sai lầm. Có thể trong giới đại học cũng có một vài kẻ điên trăm phần trăm như triết gia Trần Đức Thảo hoặc điên 50% như triết gia J.Paul Sartre!
Ở phần sau, ông nêu lên ba khuyết điểm lớn của Mac. Sai lầm thứ nhất là duy vật lịch sử. (tr.20), sai lầm thứ hai của Mac là nôn nóng nhận định rằng chủ nghĩa đế quốc là sự phát triển tột đỉnh của chủ nghĩa tư bản,và cuối cùng là Mac đề cao bạo lực và chuyên chính vô sản.( tr. 20-22)
Thật vậy, Mac thiển cận và chủ quan khi cho rằng con người đi từ cộng sản nguyên thủy lên chủ nghĩa xã h ội không sai chạy. Sự thực ngày nay chế độ quân chủ vẫn còn, và nhiều nơi con người vẫn sống trong tình trạng bộ lạc thời nguyên thủy. Cứ nhìn người thượng đóng khố xuống buôn bán với người kinh là ta thấy rằng nay vẫn còn những xã h ội thô sơ tồn tại bên xã hội văn minh, chúng không thay thế nhau, tiêu diệt nhau như Mac đã nghĩ! Và cho đến nay, cộng sản chủ nghĩa đã bành trướng rồi tàn lụi ở Liên Xô, Đông Âu, còn Mỹ, Anh, Pháp họ đâu có tiến lên xã hội chủ nghĩa đâu! Cần gì phải mất hai năm đọc sách tại thư viện Pháp mới hiểu điều này?
Còn về điểm hai, chủ nghĩa đế quốc thịnh rồi suy. Những đế quốc La Mã, Nga... đã tan rã. Chủ nghĩa tư bản đã trở thành thực dân , đế quốc nhưng kinh tế của họ lại không bị diệt vong đúng như chính tác giả đã nhận định.(tr.21)
Còn diểm thứ ba quan trọng nhất. Chính ông cũng cho đó là sai lầm thì còn trách cứ ai đây ? Đặc điểm của chủ nghĩa cộng sản là bạo lực và vô sản chuyên chính. Họ học từ đâu ? Từ Mac. Quốc gia suy vong, đất nước thống khổ, thế giới chìm đám trong khói lửa là do chủ trương của Mac? Mac có tội không hỡi ông Thành Tín? Thưa ông, trong Phật giáo, ý nghiệp quan trong hơn thân nghiệp, mình nghĩ ác, dạy người làm ác tội nặng hơn người thi hành quan điểm của mình!
3. Về tương lai của Việt Nam
Ông có lý rằng trong nước và ngoài nước lực lượng dân chủ đang lên với những người cộng sản thức tỉnh như Nguyễn Xuân Tụ, Nguyễn Kiến Giang, Hoàng Minh Chánh.. .Nhưng khi ông đề cập đến cộng đồng hải ngoại thì khiến cho chúng tôi suy nghĩ.
Ông đề nghị cng đồng hải ngoại cần dứt khoát từ bỏ các kiểu hoạt động bạo lực, phá hoại bằng súng đạn, chât nổ, xâm phạm cu ộc sống làm ăn của đồng bào lương thiện (tr.338)
Ý kiến của ông làm chúng tôi ngạc nhiên. Việc ném lựu đạn , giật mìn, phá cầu.. là hành đng của cộng sản, chưa một tổ chức quốc gia nào đã làm như vậy từ trước tới nay. Đó là việc của ông và các đồng chí của ông trước 1975!! Việc đem quân về của Hoàng Cơ Minh là một việc làm quá sớm, trong đó có yếu tố cộng sản.. Tuy nhiên khi tình thế cần thiết như là khi dân chúng vùng lên chống cộng bằng vũ lực, tại sao chúng ta không tiếp tay? Lẽ nào ông muốn cho nhân dân ngồi yên để cộng sản đè đầu cỡi cổ hoài?
Ông cũng như một số “Việt kiều yêu nước”, một số cộng sản trá hình” đã kêu gọi gửi tiền về Việt Nam để ủng h ộ thiếu nhi, thương binh, bảo tồn di tích lịch sử! (tr.338-339). Tội nghiệp nhất là thiếu nhi đã bị người ta lợi dụng quá nhiều chính như ông cũng đã nói : Người ta nói phá hủy nghĩa trang Mạc Đinh Chi để làm cung thiếu nhi( nay chẳng thấy đâu) nhưng thực tế là trả thù người chết, đồng thời là để lấy vàng của các xác chết (tr.214). Ông còn bảo đảm với chúng ta :
Không lo rằng tiền quyên góp sẽ vào túi tham nhũng vì các quỹ ấy đều có cơ quan quản trị đặt đại diện ở trong nước cùng điều phối tận cơ sở.(tr.339)
Cứ gửi tiền về là c ộng sản đã có lợi rồi vì họ in tiền giấy lấy đô -la thật!
Ai làm việc trong ban quản trị đây ? Đảng viên hay không đảng viên ? Quần chúng làm sao nhận tiền nước ngoài ? M ột việc cứu trợ nạn lụt đã là khó khăn cụ thể. Các sư trong Phật giáo Thống Nhất đi cứu trợ nhưng cộng sản không cho cứu trợ, không cho liên lạc với quần chúng, cộng sản đòi đ ộc quyền giữ hàng hóa, độc quyền cứu trợ, và quần chúng nhận đưọc tiền hay không lại là việc khác! Nhận được tiền rồi dân chúng được giữ bao nhiêu hay phải nộp lại cho đảng trong tình trạng đất nước khó khăn? Ôi! Ông bạn ơi, việc đời không dễ , và dân chúng ở hải ngoại không ngu quá đâu!
Theo Bùi tiên sinh, dân Việt Nam cứ bình tĩnh:
-Duy trì phát triển kinh tế.
-Duy trì mở rnangg và đổi mới pháp luật.
-Đừng đòi tự do báo chí, cứ từ từ rồi đảng sẽ chấp thuận vì họ đã trót hứa đổi mớI!(tr.342-344)
Nói tóm lại, đừng tranh đãu gì cả, từ từ rồi cộng sản sẽ chấp nhận dân chủ đa nguyên. Đa nguyên nhưng chỉ một đảng phái duy nhất là cái Tập Hợp Dân chủ (tr.345). Đa nguyên này là đa nguyên có cộng sản với một triệu quân đi, một triệu cảnh sát, công an và một triệu đảng viên đang ngồi trên đầu trên cổ nhân dân!
Theo kinh nghiệm Việt Nam, các báo chí tung những tin tức bí mật không phải là họ có xương đồng da sắt mà là đuợc cấp trên cho phép bật mí. Những tin tức ông họ Bùi đưa ra thì cả Việt Nam và thế giớI đều biết rồi. Ông tỏ vẻ chống đối cộng sản nhưng ông không có cái dứt khoát của Nguyễn Hộ là từ bỏ đảng. Ông không thóa mạ ông Hồ, đem thâm cung bí sử của Cộng đảng nói cho nhân dân biết như tác giả Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội.
Đọc Mặt Thât, chúng ta có thể thấy công tác của Bùi Tín ở hải ngoại ngoài những công tác mật, ông còn có nhiệm vụ công khai
- Bênh vực cho Mac và ông Hồ chừng nào hay chừng nấy.
- Vận đ ộng đồng bào hải ngoại gửi tiền về làm giàu cho cộng sản.
- Kêu gọi đồng bào hải ngoại và trong nước nên nằm yên, duy trì tình trạng cũ, đừng bạo động, hãy tranh đãu ôn hòa dưới lá cờ của đảng.
- Vận động một chính phủ Liên Hiệp theo kiểu Kampuchia nếu tình hình bắt buộc để cộng sản có thể làm bình phong mà tồn tại lâu dài.
===
ĐẶC TÍNH VĂN HỌC ĐỜI NGUYỄN
*
Nhà Nguyễn là vương triều cuối cùng của Việt Nam, và văn học đời Nguyễn là một nền văn học rất lớn của nền văn học Việt Nam, bao gồm văn ïchương chữ Hán và văn chương chữ Nôm. Nhà Nguyễn tồn tại 133 năm (1802-1945), nhưng thực tế, văn học cổ điển đã ngưng lại năm 1919 vào khoa thi Hội cuối cùng, để sau đó văn học quốc ngữ và ngôn ngữ, văn tự Pháp thay thế địa vị chủ yếu trong giáo dục và hành chánh Việt Nam. Như vậy, văn học cổ điển đời Nguyễn tồn tại hơn một trăm năm nhưng đã đào tạo được một số tác giả đông đảo và xây dựng được một số tác phẩm phong phú bằng hoặc hơn văn học đời Lê đã trường trị gần 400 năm.
Văn học cổ điển đời Nguyễn có nhiều sắc thái đặc biệt. Tuy nhiên ở trong bài khảơ cứu này, chúng tôi chỉ trình bày một vài nét chính yếu, một vài nét tiêu biểu của văn học đời Nguyễn như trữ tình, lãng mạn, hiện thực, chiến đấu và trào phúng.
I.TRỮ TÌNH
Thi ca trữ tình VIệt Nam đã khởi phát từ đời Lê. Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi là một bài thơ ca tụng cảnh nhàn nhưng âm điệu và nghệ thuật trữ tình đã lên cao bậc nhất thời đại.Đến cuối đời Lê, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán, Ai Tư Vãn nối nhau tạo thành một không gian màu tím ngát của buồn thương, than khóc cho mình và thân phận con người. Tính chất trữ tình càng phát triển mạnh trong văn học đời Nguyễn. Không ai có thể phủ nhận thiên tài Nguyễn Du trong Văn tế Thập Loại Chúng sinh, Long Thành Cầm giả ca mang màu sắc nhân bản. TựÏ Tình Khúc của Cao Bá Nhạ và Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm của Đinh Nhật Thận là tâm trạng tuyệt vọng và đau khổ thật sự của hai tù nhân.
Chúng ta còn phải kể đến Nguyễn Khuyến với bài khóc bạn là một áng văn chương tuyệt diệu cả Hán và quốc âm.
已矣楊 大年
雲樹心懸懸
回憶登科後
與君晨夕聯
相敬且相愛
遭逢如宿緣
輓同年雲享進士楊上書
Dĩ hỉ Dương đại niên,
Vân thụ tâm huyền huyền.
Hồi ức đăng khoa hậu
Dữ quân thần tịch liên
Tương kính thả tương ái
Tao phùng như túc duyên.. .
(Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư)
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lỏng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau,
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời
( Khóc bạn)
Trước nay, dường như rất itù thi nhân nói về tình gia thất. Ở đời Nguyễn, tình chị em, anh em, tình bác cháu, nhất là tình vợ chồng đã có những sằc thái nổi bật. Trương Đang Quế là một tấm gương trung hậu. Ộng luôn nghï đến anh em chi em là những người đã lo lắng cho ông khi ông ra Huế thi cử:
始我出門時
爲我求學力
妻爲縫其衣
姊爲贈其食
臨行送我門
時時好安息
(長安遊)
Thủy ngã xuất môn thì
Vị ngã cầu học lực
Thê vị phùng kỳ y
Tỷ vị tặng kỳ thực
Lâm hành tống ngã moan
Thời thời hảo an tức
(Trường An du)
Lần đẩu ra khỏi nhà,
Vì học phải đi xa,
Quần áo vợ may sắm
Lương thực chị cho ta.
Chị tiễn ta ra ngõ
Chúc thuận buồm xuôi gió.
( Đi Trường An.- Nguyễn Thiên Thụ dịch, các bài thơ sau nếu do Nguyễn Thiên Thụ dịch thì sẽ không ghi tên dịch giả )
Phan Thanh Giản hai vai gánh nặng. Ông lo việc nước, ông nặng tình nhà. Ông nhớ ngày ra kinh dự thí, cả nhà quan tâm, lo lắng:
親姑年七十
老病起凭牀
聞我來吿別
無言摧衷腸
中表有二兄
聚首最相愛
弟去莫復問
舅叔我分內
新婦纔七日
代我具餐食
今我事遠遊
井臼乃之職
家別
. . . Thân cô niên thất thập
Lão bệnh khởi bằng sàng
Văn ngã lai cáo biệt
Vô ngôn tồi trung tràng
Trung biếu hữu nhị huynh
Tụ thủ tối tương ái.
Đệ khứ mạc phục vấn
Cửu thúc ngã phận nội
Tân phụ tài thất nhật,
Đại ngã cụ xan thực,
Kim ngã sự viễn du
Tỉnh cửu nãi chi chức .( Gia biệt)
Cô già tuổi bảy mươi
Đau ốm nằm liệt giường.
Nghe cháu đến cáo biệt,
Không nói lòng xót thương!
Trong họ có hai anh,
Đối đãi rất chân thành.
Việc săn sóc cậu mợ,
Em đi, xin nhờ có anh.
Vợ cưới được bảy bữa
Lo nấu nướng suốt ngày
Nay ta phải đi vắng
Mọi việc cậy nàng thay. . .
(Giã nhà - .- Nguyễn Thiên Thụ dịch)
Nghệ thuật và tình cảm của các tác giả miền Nam như Trịnh Hoài Đức, Phan Thanh Giản hoặc người Trung như Trương Đăng Quế rất chất phác, thành thật.
Một bước trưởng thành của thi ca đời Nguyễn là lối hát ả đào. Đây là một hình thức xướng ca có nguồn gốc từ đời Lê nhưng đến đời Nguyễn thành một phong trào, một phong thái văn nghệ mà nội dung là thi nhạc trữ tình, trong đó cũng có phần lãng mạn và tinh thần Lão Trang.
II. LÃNG MẠN
Lãng mạn là một khuynh hướng mạnh mẽ trong văn chương Việt Nam, đã thể hiện trong ca dao Việt Nam. Trong thi ca của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông chúng ta đã thấy phảng phất nỗi nhớ thương về những giai nhân. Đến đời Nguyễn, tình yêu thầm lặng, kín đáo vẫn là những đóa hoa ướp thơm trang văn học.
Thơ Trịnh Hoài Đức mang tính cách lãng mạn của Đường thi:
鏡中美人
英華嫌外露
寶鏡隱嬋媛
冰玉春心照
菱花綵袖翻
月宮奔羿婦
銀漢渡天孫
塵海徑遷變
紅顏愛永存
KÍNH TRUNG MỸ NHÂN
Anh hoa hiềm ngoại lộ,
Bửu kính ẩn thuyền viên.
Băng ngọc xuân tâm chiếu
Lăng hoa thái tụ phiên
Nguyệt cung bôn Nghệ phụ
Ngân hán độ Thiên tôn
Trần hải kinh thiên biến,
Hồng nhai ái vĩnh tồn
MỸ NHÂN TRONG GƯƠNG
Hoa đẹp lộ ra ngoài
Người đẹp trong gương cười.
Lòng xuân băng ngọc hiện
Áo gấm hoa lăng tươi
Chị Hằng ở nguyệt điện,
Chức nữ qua Ngân hà
Bể trần nhiều biến chuyển,
Hồng nhan muốn đẹp hoài
( Nguyễn Thiên Thụ dịch, các bài sau cũng vậy)
Trương Đăng Quế cũng một thời lãng mạn. Bài thơ sau nay viết về một giai nhân:
推粧
香奩此日花前探
桂樹何時月裏攀
細問素娥寂無語
依依清影近人間
THÔI TRANG
Hương liêm thử nhật hoa tiền thám,
Quế thụ hà thời nguyệt lý phan?
Tế vấn tố nga tịch vô ngữ
Y y thanh ảnh cận nhân gian.
GIỤC TRANG ĐIỂM
Ngày ấy thăm hoa, tráp ngát hương
Bao giờ vin quế ở cung Hằng?
Tố Nga nghe hỏi mà không đáp,
Hình ảnh rạng ngời khắp thế gian.
Qua thơ của Tuy Lý Vương, ta thấy Ngài như vương mắc một mối tình sầu:
雨脚如麻夜復密
漫漫癡雲四野黑
燈昏欲蕊螢亂飛
幽衾潑水粟生肌
埯卷起座有所思
我思乃在勾曲之陽
(湘水湄)
Vũ cước như ma dạ phục mật,
Mạn mạn si văn tứ dã hắc,
Đăng hôn dục nhụy, huỳnh loạn phi,
U khâm bát thủy, túc sinh ky.
Yêm quyển khởi tọa, hữu sở ty,
Ngã ty nãi tại câu khúc chi dương.
(Tương thủy mi )
Mưa như sợi chỉ, đêm mênh mông,
Mây đen kịt che tối ruộng đồng.
Đèn leo lét, đóm bay tứ tung.
Chân như tẩm nước, da mọc ốc,
Xềp sách ngồi dậy, lòng vấn vương
Vấn vương đôi bờ sông Tương. . .
(Bờ sông Tương)
感君有情情能癡
嗟我有心心自知
相逢且託巫陽夢
莫向人間訴別離
(夜座吟)
. . . Cảm quân hữu tình, tình năng si,
Ta ngã hữu tâm, tâm tự tri
Tương phùng thả thác Vu dưong mộng,
Mạc hướng nhận gian tố biệt ly.
(Dạ tọa ngâm)
. . . Thương nàng có tình, tình tha thiết
Thương ta có lòng, lòng tự biết
Chỉ được gặp nhau trong giấc mơ
Trần thế xin đừng nói ly biệt
( Ban đêm ngồi ngâm)
Những tác giả và tác phẩm kể trên cũng thuộc trào lưu lãng mạn nhưng mà là lãng mạn cổ điển, tình yêu kín đáo như những trang Đường thi. Lãng main thật sự phải kể Phạm Thái là một kiện tướng. Ông đã sống rất thực trong cuộc chiến đấu cô đơn và mối tình tuyệt vọng cùng kết thúc bi thảm. Tình yêu của ông và Trương Quỳnh Như đã nở hoa, thành những bài thơ và ngưng đọng thành truyện tình Sơ Kính Tân Trang mà nội dung như là Roméo và Juliette của Việt Nam. Phạm Thái và Trương Quỳnh Như là hai tác giả lãng mạn ở cuối Lê đầu Nguyễn. Phạm Thái đã yêu Trương Quỳnh Như và gửi thơ cho nàng bày tỏ tình yêu:
Từ chốn thiềm cung trộm dấu hương,
Dễ xui tao khách mối sầu vương.
Gió thông réo rắt dong đàn oán,
Trăng hạnh chênh vênh rạng bóng dương.
Nếu đã tình duyên dun dủi phận,
Thì xin ân ái vẹn nên đường.
Phong lưu đôi lứa đà ai dễ,
Bụi tục chi cho bợn lóa gương.
Trương Quỳnh Như cũng đã gửi thư cho chàng:
TIỄN ÔNG CHIÊU LỲ VỀ QUÊ
Sắt đá lòng này đã biết chưa?
Se duyên nay mượn gió cung Đằng.
Vườn đào sực thấy oanh đưa tín,
Dặm liễu ai xui yến cách chừng.
Vàng ngọc nếu chăng cùng một ước,
Nước non thề đã có hai vầng.
Ai sang cây hỏi tri âm với,
Chớ phụ cầm thư đợi dưới trăng.
Tiểu thuyết ái tình Việt Nam đã ra đời vào triều Lê với Phan Trần, Hoa Tiên. Sau đó, Truyện KIều, Lục Vân Tiên ra đời, mang một sắc thái mới cho văn học đời Nguyễn. Nhưng đó là những bản sao truyện tình Trung Quốc. Sơ Kính Tân Trang mới là tác phẩm hoàn toàn Việt Nam. Phạm Thái sinh trưởng tại Việt Nam nếu ông sinh tại Anh, Pháp, có lẽ ông đã trở thành thủy tổ của trường phái lãng mạn Tây phương.
III. HIỆN THỰC
Văn chương hiện thực là văn chương nói về những sự thực trong xã hội, cho nên trước nay người ta cũng gọi là truyện xã hội, nói về bất công xã hội. Nguyễn Thiếp đời Lê là người tiên phong về khuynh hướng này trong bài nói về cảnh dân chúng đói khổ vì lụt lội ở Bắc.
Đời Nguyễn, khuynh hướng xã hội ra đời mạnh mẽ với Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương. Là những trí thức, là bậc vương giả, họ đã đi sát nông dân, hiểu rõ đời sống quần chúng. Đó là căn bản tính thiện, bác ái, từ bi, và nhân nghĩa của Nho gia, Phật gia, khác với đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Marx.
Cao Bá Quát viết Đạo phùng ngạ phu để nói bất hạnh của con người trong vấn đề cơm áo.
家貧藝醫卜
我來走長安
長安無病人
群醫如邱山
零丁望歸路
(道逢餓夫)
Gia bần nghệ y bốc
Ngã lai tẩu Trường An,
Trường An vô bệnh nhân,
Quần y như khâu sơn.
Linh đinh vọng quy lộ. .
( Đạo phùng ngạ phu)
Nhà nghèo làm nghề thuốc,
Lên kinh đô kiếm sống.
Kinh thành không bệnh nhân,
Thầy thuốc ế cả đống
Phải trở về từng đàn. . .
( Giữa đường gặp người đói)
Tùng Thiện vương là cành vàng lá ngọc nhưng ngài hiểu thấu dân tình. Tấm lịnh ngài th ương cäm với nổi khổ của dân nghèo và những bất công xã hộI qua các bài Bần gia và Lưu dân thán.
貧家
辛苦貧家子
年年寒復饑
枵腹蔬替飯
凍骨火為衣
遍地猶兵甲
旻天且疾威
朱門樂何事
夜飮達朝暉
BẦN GIA
Tân khổ bần gia tử
Niên niên hàn phục cơ
Hiểu trường sơ thế phạn,
Đống cốtt hỏa vi y.
Biển địa do binh giáp.
Mãn thiên thả tật oai,
Chu môn lạc hà sự
Dạ ẩm đạt triều huy.
NHÀ NGHÈO
Con nhà nghèo khổ đau
Quanh năm rét lại đói,
Bụng rỗng phải ăn rau.
Lấy lửa thay chăn gối.
Khắp đất là gươm đao,
Đầy trời là họa hại.
Vui vẻ thay nhà giàu,
Yến tiệc suốt đêm thâu.
Tuy lý vương lên tiếng tố cáo quan lai tham nhũng làm dân chúng khốn khổ:
土車謡
車轢轆轢轆.
土多折軸
不畏折軸
唯恐土覆
車一輪
人一身
愼勿遲延官場嗔
我亦父母之子王之臣
THỔ XA DAO
Xa lịch lộc! Lịch lộc!
Thồ đa chiết trục
Bất úy chiết trục
Duy khủng thổ phúc
Xa nhất luân
Nhân nhất thân
Thận vật trì diên, quan trường sân.
Ngã diệc phụ mẫu chi tử, vương chi thần.
BÀI CA XE CHỞ ĐẤT
Lộc cộc, lục cục,
Chở đất nhiều, xe gãy trục,
Gãy trục, chẳng sợ
Chỉ sợ xe đổ
Xe một cổ,
Người một thân.
Làm chậm trễ
Quan rầy la.
Ta là con của mẹ cha
Cũng là thần tử vua ta đương triều!
IV.TRANH ĐẤU
Năm 1862, thực dân Pháp đã bộc lộ dã tâm xâm chiếm nước ta. Một số rất it ra làm tay sai cho Pháp như Trương Vinh Ký, Trương Minh Ký, Tôn Thọ Tường, Trần Bá Lộc nhưng tuyệt đại đa số nhân dân trong đó có các nho sĩ yêu nước đã đứng lên tranh đấu cho độc lập Tổ quốc. Một số đã cầm quân đánh giặc, tham gia khởi nghĩa chống Pháp như Phan Đình Phùng, Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Thông, một số hoạt động chính trị vận động Duy Tân, Đông Du như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thức Kháng, Ngô Đức Kế. Một số bất cộng tác, hoạt động theo tinh thần bất bạo động như Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Lâm. . .Lớp này ngã xuống, lớp sau tiến lên. Các bậc trí thức đời Nguyễn đã đem xương máu tranh đấu cho độc lập Việt Nam, họ đã nêu cao tinh thần bất khuất của sĩ phu Việt Nam.
Mở đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp của triều đình, Nguyễn Thông đã tố cáo thực dân Pháp xâm lăng và ông đã bày tỏ nỗi đau đớn khi nghe tin Nam kÿ rơi vào tay Pháp:
書懷示營田副使裴伯昌
牛渚無端作戰場
卄年江海醉爲鄕
同來故郡唯君在
慣觸危機笑我狂
朝論空聞談五利
雲帆何日下重洋
只今燕趙悲哥客
熱血填應旅鬓霜
THƯ HOÀI THỊ DINH ĐIỀN PHÓ SỨ BÙI BÁ XƯƠNG
Ngưu chữ vô đoan tác chiến trường
Trấp niên giang hải túy vi hương.
Đồng lai cố quận duy quân tại,
Quán xúc nguy cơ tiếu ngã cuồng.
Triều luận không văn đàm ngã lợi,
Vân phàm hà nhật hạ trùng dương?
Chỉ kim Yên Triệu bi ca khách,
Nhiệt huyết điền ưng lữ mấn sương
Huỳnh Thúc Kháng dịch:
Bến Nghé gây nên cuộc chiến trường,
Làng say mấy lúc lại qua thường.
Cùng về xứ cũ người càng khoẻ
Chạm mãi cơn nguy, tớ muốn cuồng.
Chầu chợ đồn rầm mối lợi lớn,
Biển khơi bao thuở cánh buồm giương?
Chỉ lưa ca khúc người Yên Triệu.
Lòng nóng sôi lòng tóc nhuộm sương.
Cùng lúc này, Nguyễn Đình Chiểu ra sức tán dưong tinh thần hy sinh anh dũng của cha con nhà họ Phan, và ca tụng tinh thần của nghĩa quân như Trương Công Định, và nghĩa quân Cần Giuộc. Đoạn sau nay viết về tinh thần chiến đấu của nghĩa quân:
Trên cật một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; Trong tay cắp moat ngọn tầm vông, nào đơi sắm dao tu, nón gõ. . .
Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ,trống giục, đạp rào bước tới, coi giặc cũng như không; Nào sợ thằng tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như không có. . ( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Phan Bội Châu là một nhà cách mạng và là một văn hào yêu nước. Tác phẩm của ông là một kho tàng vĩ đại. Chúng tôi xin nêu lên một vài tác phẩm của Sào Nam Phan tiên sinh: -Bình Tây Thu Bắc (1883); -Song Tuất Lục (1886);- Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (1903);- Khuyến Quốc Dân Du Học Văn (1905);-Việt Nam Vong Quốc Sử (1905);--Việt Nam Nghĩa Liệt Sử (1907);-Ngục Trung Thư; -Tự Phán. . .
Tất cả thi ca của ông đều nhằm vài việc giải phóng dân tộc. Thơ ông đã được dịch quốc ngữ truyền bá trong Đông Kinh nghĩa Thục và khắùp nước. Bài thơ sau nay do Phan Bội Châu viết ngày mồng hai tháng giêng năm ất tị (1905) lên đường sang Nhật Bản:
生爲男子要希奇
肯許乾坤自轉移
於百年中須有我
有千載下車無誰
江山死矣生圖汭
賢聖寥然誦亦痴
願欲長風東海去
千重白浪一齊飛
Sinh vi nam tử yếu hy kỳ,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.
Ư bách niên trung tu hữu ngã
Hữu thiên tải hạ cánh vô thùy.
Giang sơn tử hỷ sanh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.
Nguyện dục trường phong Đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Khác thường bay nhảy mới là trai,
Chẳng chịu vần xoay mặc ýtrời.
Trong cuộc trăm năm đành có tớ
Rồi sau muôn thuở há không ai.
Non sông đã mất, mình khôn sống,
Hiền thánh đâu còn, học cũng hoải.
Đông hải xông pha nương cánh gió,
Nghìn làn sóng bạc múa ngoài khơi!
( Ngục Trung Thư. Đào Trinh Nhất dịch)
Trong Hải Ngoại Huyết Thư, Phan Bội Châu làm nhiều bài văn thơ kêu gọi canh tân và chống Pháp:
腥風馥鼻唉劍挾之無忴
忿氣闐胸罔棍雄而交屬
皇天后土其監予心不乎
會黨昆徒其聽予言 不乎
Tình phong phốc tị, ai kiếm hiệp chi vô linh
Phẫn khí điền hung, võng côn hùng chi giao chúc.
Hoàng thiên hậu thổ ký giám dư tâm phủ hồ?
Hội đảng côn đồ, kỳ thỉnh dư ngôn phủ hồ?
Gió tanh sống mũi khó ưa
Gươm sao cắp nách mà ngơ cho đành.
Hòn máu uất, chất quanh đầy ruột
Anh em ôi, xin tuốt gươm ra
Có trời, có đất có ta,
Đồng tâm thế ấy mới là đồng tâm!
(Lê Đại dịch)
Phan Bội Châu là một văn hào, một nhà cách mạng chân chính của Việt Nam.
V. TRÀO PHÚNG
Tinh thần trào phúng xuất hiện đời Nguyễn với Hồ Xuân Hương cười cợt nhân thế với nghệ thuật tượng trưng mà đậm đà nhất là biểu tượng cái giống. Nụ cười của Hồ Xuân Hương bắt nguồn từ cái dâm và tục của người Việt Nam trong kho tàng tiếu lâm. Sau đó, khi thực dân xâm chiếm nước ta, nghệ thuật trào phúng nhắm vào thực dân, bọn tay sai và hủ tục gây ra do chế độ thực dân và chính quyền tạo ra những sân khấu mới và những tên hề mới. Đại biểu cho trào lưu này là Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Huỳnh Mẫn Đạt, Kỳ Đồng, Nguyễn Thiện Kế. . . .Trào phúng ở nay là vũ khí chống lại bất công và thối nát của xã hội và chống bọn thực dân xâm lược.
Nguyễn Khuyến đã chỉ trích bọn quan lại thời Pháp thuộc:
吾惟嗜飮食
雨非吾能為
神今且如 此
於民復奚疑
(禱雨)
Ngô duy thị ẩm thực
Vũ phi ngô năng vị
Thần kim thả như thử
Ư dân phục hề nghi
( Đảo vũ)
Ta chỉ biết ăn uống,
Ta không biết làm mưa
Bao nhiêu thần bây giờ
Chỉ làm khổ dân chúng ( Cầu mưa)
Ông mượn lời vợ người phường chèo để chỉ trích vua quan thời Pháp:
俳優皇帝且不惧.
何況爾為俳優官
(優婦詞 )
Bài ưu hoàng đế thã bất cụ
Hà huống nhĩ vi bài ưu quan
( Ưu phu từ)
Vua chèo còn chẳng ra chi
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề
( Nguyễn Khuyến dịch)
Trần Tế Xương lả một nhà thơ xuất sắc. Ông đem cái nghèo, cái thi hỏng của ông làm đề tài châm biếm. Ông cũng chỉ trích xã hội của ông gồm những quan lại và nho sĩ thời Phàp cai trị đất Bắc:
THẾ CŨNG ĐÒI THI
Cử nhân cậu ấm Kỷ
Tú tài con Đô Mỹ
Thi thế cũng đòi thi
Ơi khỉ ơi là khỉ!
LẮM QUAN
Ở phố hàng Song thực lắm quan,
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang.
Chồng chung, vợ chạ kìa cô Bố,
Đậïu lạy quan xin nọ chú Hàn!
Văn chương cổ điển đời Nguyễn rất phong phú, trong đó các văn nhân, các vua, các quan lại đã tích cựïc đóng góp cho văn học. Nổi bật nhất Siêu, Quát, Tùng Tuy. Thời này khác các đời trước là ai cũng có thi tập lẫn văn tập. Văn xuôi, văn bình luận đã ra đời khá nhiều. Công cuộc nghiên cứu sử học rất vĩ đãi. Trong mấy chục năm trời, các văn thần Quốc Sử quán như Phan Thanh Giản, Trương Đăng Quế, Nguyễn Thông, Cao Xuân Dục đã biên khảo nhiều bộ sử có giá trị như Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Thực Lục, Quốc Triều Chánh Biên. . .
Lối hát ả đào là một nghệ thuật mớI, kết hợp thi ca và nhạc. Loại Anh hùng ca đã có từ xưa, nay lại ra đời, phản chiếu trung thành lịch sử nước nhà trong giai đoạn đen tối với Nguyễn Nhược Thị, Nguyễn Văn Giai.Văn chương triều Nguyễn mang tính cách bi và hùng mà con người và sự nghiệp của Nguyễn Du, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu và Phan Bội Châu là những khuôn mặt rạng ngời trong lịch sử dân tộc và lịch sử văn học triều Nguyễn. Các vua quan, văn nhân, thi sĩ đời Nguyễn đã sáng tác, nghiên cứu và tranh đấu anh dũng cho văn học, nghệ thuật và độc lập Việt Nam. Lịch sử muôn đời sẽ công quên công ơn và sự đóng góp lớn lao của họ.
SOME CHARACTERESTICS OF
VIETNAMESE LITERATURE UNDER
THE NGUYEN DYNASTY ( 1802-1945)
by NGUYỄN THIÊN-THỤ
Under the Nguyễn dynasty, Vietnam had two writing systems: the Sino Vietnamese and the Nom. Although the Nguyen dynasty lasted 133 years, its literature last 117 years, because the year 1919 marked the end of its fate. From this year, French colonialists cancelled the old Vietnamese education and built a new one with French and Quốc Ngữ, a kind of Romanized Vietnamese.
Vietnamese literature under the Nguyen dynasty is a great literature because of a great number of famous authors and famous works. This literature also has some characteristics such as lyricism, romanticism, realism, combat, and satire.
I. LYRICISM
Lyricism was a traditional tendency in Vietnamese literature. In the Le dynasty, Chinh Phu Ngâm (Song of a Soldier's Wife ) by Đặng Trần Côn (1710-1745), Cung Oán Ngâm Khúc ( A Plaint Inside the Royal Harem) by Nguyễn Gia Thiều (1741-1798)
and Ai Tư Vãn (Lamentation) by Queen Ngọc Hân (1771-1804) were the most famous lyric poems. In the Nguyễn dynasty, Nguyễn Du (1765-1820) wrote Văn tế thập loại chúng sinh ( Calling All Wandering Souls) which was a well known lyric poem based on Vietnamese belief and Buddhist influence:
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,
Bóng hào quang cứu khổ độ u,
Rắp hòa tứ hải quần chu,
Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyển pháp luân tam giới thập phương.
May Buddha rescue you from life and death
And ferry you to his Pure Land of Bliss!
Let his effulgent light dispel such gloom
As clouds the mind in ignorance and sin!
The over all fours seas his peace shall reign
To soothe all griefs and purge all hatred off.
May Buddha's power send the Wheel of the Law,
Through all three realms, through all cardinal points
(Transl. by Huynh Sanh Thông)
Nguyễn Khuyến (1835- 1909) wrote Khóc Dương Khuê ( Lamentation ) in both Chinese and Nôm, and this long poem is a poetic creation. Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm ( Nostalgy ) by Đinh Nhật Thận (1815- 1866), and Tư Tình Khúc ( Expression) by Cao Bá Nha (19th century)ï are the great works of two prisoners.
Giấc thanh dạ cơn say ,cơn tỉnh,
Ngày lưu niên, khi lạnh khi nồng.
Phần du nẻo Bắc ngừng trông,
Nước non cách mấy mươi trùng xa xa.
Câu lữ cảm lệ hòa nét mực,
Chữ gia tình thấm tắt lòng son (Tự Tình khúc)
At night, I can not sleep well,
In the exile, I am not happy.
I always look toward the North,
Where my home is
It is far away by mountains and rivers
In the foreign country,
I miss my family
I sadly write about my nostalgia
( Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
II. ROMANCISM
Romanticism is a traditional tendency in Vietnamese literature. In the Le dynasty, Phan Trần,
( Story of Phan and Trần), Hoa Tiên ( Flowered Stationery) were the famous love stories. In the Nguyen dynasty, there were a lot of love stories appeared, but Truyên Kiều (The Tale of Kieu ) by Nguyễn Du and Lục Vân Tiên by Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) were the most popular works. Some Vietnamese stories such as The Tale of Kieu, Nhị Độ Mai, ( Plumtrees Blooming Twice ) are derived from the Chinese sources, but Sơ Kinh Tân Trang ( The Comb and the Mirror ) by Phạm Thái ( 1777-1813 )was written in 1804. It is an autobiographical work, disguised account of the love affair between the author and lady Trương Quỳnh Như. Lục Vân Tiên by Nguyễn Đình Chiểu is also an autobiographical work of the author, a student, who became a blind, and lost his fiancée .
In Vietnamese poetry under the Nguyễn dynasty, we can see a number of romantic poems. Nguyễn Văn Siêu (1799- 1872) wrote a short poem:
落花辰節又逢君
何辰雲水各天涯
腸斷春風萬里賒
萍梗此囬疑夢寐
忽添驚淚落如花
Meeting you when flowers are falling
In the horizon, how long have we been wandering?
In foreign country, the spring wind makes me sad
I think that we are dreaming.
Suddenly my tears drop as flowers falling!
Tùng Thiện Vương (1819-1870) was also a romantic poet. He expressed love and sadness of a young woman:
落花辰節又逢君
何辰雲水各天涯
腸斷春風萬里賒
萍梗此囬疑夢寐
忽添驚淚落如花
FROM THE DAY YOU GO
When you leave,
I did not weave
My soul, like the moon each night
It decreases its light
III. REALISM
Realism in Vietnamese literature began in the Lê dynasty with an poem entitled Phù Thạch phùng lão ngư ( An old fisherman on the Phù Thạch river ) by Nguyễn Thiếp (1723-1804). In the Nguyễn dynasty, this movement developed with Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý vương. By influence of human love and compassion of Confucianism and Buddhism, many poets paid attention to the reality and life of poor people. Cao Bá Quát (1809- 1853) reported news from the North of Vietnam where had been in trouble time: people were killed and houses were burn by the robbers and the revolters:
怪事怪事不忍聞
自畫殺人全家去
軍吏過者顧之他
鄊里藏匿不敢語
語者十人無一生
家家灰盡成飛絮. . .
(人自北寧來言北寧事感作)
It is very strange to hear that news
They killed a whole family by day
Officials and soldiers were indifferent,
The village authorities did not dare to say!
Who speak truthfully will be killed
A lot of houses became ashes to fly away!. . .
( News from Bắc Ninh province, transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
Although Tùng Thiện Vương was a king's relative, he took interest in poor people:
貧家
辛苦貧家子
年年寒復饑
枵腹蔬替飯
凍骨火為衣
遍地猶兵甲
旻天且疾威
朱門樂何事
夜飮達朝暉
Poor people
Poor people are unhappy
Every year cold and hungry,
They eat vegetables when
their stomachs are empty.
Fire instead of clothes in winter,
Land is full of swords
And sky disaster
Rich people are happy
Every night party and party.
IV PATRIOTISM
In 1859 the French colonialists began occupy Vietnam. Vietnamese people, especially the scholars struggled against them. A numbers of writers and poets became the generals or leaders of the revolutionary movements such as Phan Đình Phùng, Nguyễn Hữu Huân, Trương Công Định, Nguyễn Thiện Thuật and Phan Bội Châu. This war also created a new movement in literature that was the resistant literature, revolutionary literature, or patriotic literature.
Nguyễn Thông (1827- 1884) was a combatant. In 1859, the French occupied Gia Định, he followed general Tôn Thất Hiệp to fight French colonialists. In 1881, he became Chief of Education and a Chief of Agriculture of Binh Thuân province.
He was a patriot. Most of his poems expressed his love of country:
書懷示營田副使裴伯昌
牛渚無端作戰場
卄年江海醉爲鄕
同來故郡唯君在
慣觸危機笑我狂
朝論空聞談五利
雲帆何日下重洋
只今燕趙悲哥客
熱血填應旅鬓霜
LETTER TO MY FRIEND BÙI BÁ XƯƠNG
Saigon becomes a battle field,
I have been drinking.
In my countrymen, only you are still living.
Experiencing danger, I become mad.
Everywhere they discussed about negotiating.
I want to steer a cloud boat to the southern sea.
I am a stranger who lost his country and very sad.
My head became white, but my heart is burning.
Nguyễn Đình Chiểu recounted a scenery when the French attacked Gia Định:
CHẠY GIẶC
Tan chợ vừa nghe tiếng súng tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ chó lăng xăng chạy,
Mất ổ bay chim dáo dác bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh khói nhuốm màu mây.
Hởi trang dẹp loạn rày đâu vắng?
Nỡ để dân đen mắc nạn này!
AVOIDING the FRENCH INVADERS
After the market hour, the French troops fired,
In a minute, every thing changed and we failed.
The dogs quitted home and ran on the way,
Lost their nests, the frightened birds flied away.
In Bến Nghé, property became bubbles in a day
In Đồng Nai, houses were burnt to ashes quickly
Where were you? The heroes?
Why didn't you save our country?
Nguyễn Đình Chiểu praised the heroes such as Phan Thanh Giản, Phan Tòng, Trương Công Định., especially the peasants in Cần Giuộc in the fight on december, 14, 1861:
Bữa thấy bòng bong trắng lớp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khòi đen sì, muốn ra cắn cổ.. .
Nào sợ thằng tây bắn đạn to, đạn nhỏ, xô cửa xông vào, liều mình như không có. . . .
Chẳng thà thác đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; Chẳng hơn còn chịu tiếng hàng tây, ở với man di rất khổ. . .( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Seeing black French ships with white bubbles in the river, our men wanted to kill them all. . .
They didn't care of French guns, and considered their lives were nothing. . .
They wanted to die heroically like their brave ancestors, rather than to surrender the barbarians.
( Lamentation- Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
Phan Bội Châu (1867-1940 ), Phan Chu Trinh
( 1872- 1926), and Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) were the leaders of the Vietnamese Movement of Reform ( Phong trào Duy Tân ). Phan Bội Châu was a prominent revolutionist and a scholar, he wrote a lot of works in order to appeal to his compatriots to revolt against the French colonialism. The follwing poem was written in 1905 when he was on the way to Japan:
生爲男子要希奇
肯許乾坤自轉移
於百年中須有我
有千載下竟無誰
江山死矣生途芮
賢聖寥然誦亦痴
願欲長風東海去
千重白浪一齊飛 (獄中書)
I am a man, I have to achieve great success,
I try to save my country.
In this life, I have to fulfill my duty
In future, many people will continue my business.
If there is no more nation, my life will be useless.
There is no more saint, why I still study?
I will travel the stormy sea
Although thousand waves are in angry.
( Letter From the Prison- Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
In Hải Ngoại Huyết Thư ( Blood Letter From the Oversea) , he accused the French colonialism, and called on the people to join him in the struggle to free Vietnam.
腥風馥鼻唉劍挾之無忴
忿氣闐胸罔棍雄而交屬
皇天后土其監予心不乎
會黨昆徒其聽予言 不乎
I hate bad smelling,
I can not take a sword with no intention
In my heart, my anger is rising
My friends, draw your weapons,
In the Heaven and earth, we stand
And hold together with hand in hand.
(Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
V.SATIRISM
In oral literature , there are many humorous stories whereas in Sino Vietnamese and Nôm literatures, we have no a laughing. In the Nguyễn dynasty, a number of satirical poems appeared in Sino Vietnamese and in Nôm literatures. Hồ Xuân Hương, Nguyễn Văn Lạc, Kỳ Đồng , Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Thiện Kế were the prominent satirists.
When some poets focused on the individuals just for fun, the others aimed to criticise society, especially society under the French domination. Satire in this case is the weapon to struggle against our enemies.
Nguyễn Khuyến wrote many patriotic poems, he also composed a lot of satirical poems. A lot of his satirical poems criticized people and mandarins who followed the French invaders, became their tools, and their servants. His satirical poems were also his patriotic poems. He criticized Bastille Day, the French celebrated on 14 July in Hanoi:
Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo
Khen ai khéo vẽ trị vui thề
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!
(Hội Tây)
Relying on their strength, many women swing
Eager for money, on the grease pillars,
some men try climbing
Who displayed these games?
It is not a joy, but a shame.
( A French Festival- Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
He criticized the education and examination under the French domination which caused corruption in the administration and bad habits in society. He described the paper dolls featuring the scholars with a doctor degree in the Mid Autumn Festival in Hà nội:
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh aấy m ới h ời!
Ghế tréo , l ọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!
(Tiến sĩ giấy)
His body with court dress is very light,
And the price of his fame is not high.
He is great in his throne with blue parasol,
Is this a real doctor? No, it is a toy for the child.
( An unreal doctor)
Trần Tế Xương (1870-1907) was a greatest satirical poet. His poverty and his failure in examination were his poetry subjects. He criticized himself and he attacked his society, a new society corrupted by French colonialists and servants.
He satirized a chief police in Ha nam province:
Hà Nam danh giá nhất ông cò,
Trơng thấy ai ai chẳng dám ho.
(Ông Cò )
A chief of police is a very important person
in Hanam province
Seeing him, everybody keep silent by fright.
(Mr. French Police officer)
He criticized the corrupted exam of his time:
Cử nhân cậu Ấm Kỷ,
Tú tài con đô Mỹ.
Thi thế cũng đòi thi,
Ôi ! khỉ ôi là khỉ! (Thế cũng đòi thi)
Uncle Kỷ passed his licentiate
Đô Mĩ ' s son got baccalaureate.
How can they pass?
What a monkey tricks!
( What an exam !- Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
The Nguyễn dynasty had a number of great authors and works. The National History Institute
( Quốc Sử Quàn) with Phan Thanh Giản, Trương Đăng Quế, Nguyễn Thông, Vũ Xuân Cẩõn, Nguyễn Trọng Hơp, after many years of research, completed their great works such as:
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục,
Đại Nam Thục Lục,
Đại Nam Liệt Truyện
Đại Nam Nhất Thống Chi. . .,
There were many famous authors The Kings, generals mandarins and scholars were writers or poets. Each writer wrote both poetry and prose, in both Chinese and Nôm. Before the French domination, Vietnam was a peaceful country, therefore the majority of works were the love stories, lyrical poems, and realist works. But after the French occupied Vietnam, the combat literature and the revolutionary literature developed so much. Besides the patriotic literature, satirical literature became a kind of weapon to attack the French colonialists. We can conclude that Vietnamese literature under the Nguyễn dynasty expressed love of country, love of peace, and the struggle of Vietnamese people against the French invaders. The Vietnamese intellectuals were the vanguard force in politics, in culture and in military. They died on battle field, in the prison, or were executed on ground, but their works and their names still exist in the heart of Vietnamese people. History of Vietnamese literature was written by tears and blood of Vietnamese people through many centuries of building and protecting their country.
===
Nhà Nguyễn là vương triều cuối cùng của Việt Nam, và văn học đời Nguyễn là một nền văn học rất lớn của nền văn học Việt Nam, bao gồm văn ïchương chữ Hán và văn chương chữ Nôm. Nhà Nguyễn tồn tại 133 năm (1802-1945), nhưng thực tế, văn học cổ điển đã ngưng lại năm 1919 vào khoa thi Hội cuối cùng, để sau đó văn học quốc ngữ và ngôn ngữ, văn tự Pháp thay thế địa vị chủ yếu trong giáo dục và hành chánh Việt Nam. Như vậy, văn học cổ điển đời Nguyễn tồn tại hơn một trăm năm nhưng đã đào tạo được một số tác giả đông đảo và xây dựng được một số tác phẩm phong phú bằng hoặc hơn văn học đời Lê đã trường trị gần 400 năm.
Văn học cổ điển đời Nguyễn có nhiều sắc thái đặc biệt. Tuy nhiên ở trong bài khảơ cứu này, chúng tôi chỉ trình bày một vài nét chính yếu, một vài nét tiêu biểu của văn học đời Nguyễn như trữ tình, lãng mạn, hiện thực, chiến đấu và trào phúng.
I.TRỮ TÌNH
Thi ca trữ tình VIệt Nam đã khởi phát từ đời Lê. Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi là một bài thơ ca tụng cảnh nhàn nhưng âm điệu và nghệ thuật trữ tình đã lên cao bậc nhất thời đại.Đến cuối đời Lê, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán, Ai Tư Vãn nối nhau tạo thành một không gian màu tím ngát của buồn thương, than khóc cho mình và thân phận con người. Tính chất trữ tình càng phát triển mạnh trong văn học đời Nguyễn. Không ai có thể phủ nhận thiên tài Nguyễn Du trong Văn tế Thập Loại Chúng sinh, Long Thành Cầm giả ca mang màu sắc nhân bản. TựÏ Tình Khúc của Cao Bá Nhạ và Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm của Đinh Nhật Thận là tâm trạng tuyệt vọng và đau khổ thật sự của hai tù nhân.
Chúng ta còn phải kể đến Nguyễn Khuyến với bài khóc bạn là một áng văn chương tuyệt diệu cả Hán và quốc âm.
已矣楊 大年
雲樹心懸懸
回憶登科後
與君晨夕聯
相敬且相愛
遭逢如宿緣
輓同年雲享進士楊上書
Dĩ hỉ Dương đại niên,
Vân thụ tâm huyền huyền.
Hồi ức đăng khoa hậu
Dữ quân thần tịch liên
Tương kính thả tương ái
Tao phùng như túc duyên.. .
(Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương Thượng thư)
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lỏng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau,
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời
( Khóc bạn)
Trước nay, dường như rất itù thi nhân nói về tình gia thất. Ở đời Nguyễn, tình chị em, anh em, tình bác cháu, nhất là tình vợ chồng đã có những sằc thái nổi bật. Trương Đang Quế là một tấm gương trung hậu. Ộng luôn nghï đến anh em chi em là những người đã lo lắng cho ông khi ông ra Huế thi cử:
始我出門時
爲我求學力
妻爲縫其衣
姊爲贈其食
臨行送我門
時時好安息
(長安遊)
Thủy ngã xuất môn thì
Vị ngã cầu học lực
Thê vị phùng kỳ y
Tỷ vị tặng kỳ thực
Lâm hành tống ngã moan
Thời thời hảo an tức
(Trường An du)
Lần đẩu ra khỏi nhà,
Vì học phải đi xa,
Quần áo vợ may sắm
Lương thực chị cho ta.
Chị tiễn ta ra ngõ
Chúc thuận buồm xuôi gió.
( Đi Trường An.- Nguyễn Thiên Thụ dịch, các bài thơ sau nếu do Nguyễn Thiên Thụ dịch thì sẽ không ghi tên dịch giả )
Phan Thanh Giản hai vai gánh nặng. Ông lo việc nước, ông nặng tình nhà. Ông nhớ ngày ra kinh dự thí, cả nhà quan tâm, lo lắng:
親姑年七十
老病起凭牀
聞我來吿別
無言摧衷腸
中表有二兄
聚首最相愛
弟去莫復問
舅叔我分內
新婦纔七日
代我具餐食
今我事遠遊
井臼乃之職
家別
. . . Thân cô niên thất thập
Lão bệnh khởi bằng sàng
Văn ngã lai cáo biệt
Vô ngôn tồi trung tràng
Trung biếu hữu nhị huynh
Tụ thủ tối tương ái.
Đệ khứ mạc phục vấn
Cửu thúc ngã phận nội
Tân phụ tài thất nhật,
Đại ngã cụ xan thực,
Kim ngã sự viễn du
Tỉnh cửu nãi chi chức .( Gia biệt)
Cô già tuổi bảy mươi
Đau ốm nằm liệt giường.
Nghe cháu đến cáo biệt,
Không nói lòng xót thương!
Trong họ có hai anh,
Đối đãi rất chân thành.
Việc săn sóc cậu mợ,
Em đi, xin nhờ có anh.
Vợ cưới được bảy bữa
Lo nấu nướng suốt ngày
Nay ta phải đi vắng
Mọi việc cậy nàng thay. . .
(Giã nhà - .- Nguyễn Thiên Thụ dịch)
Nghệ thuật và tình cảm của các tác giả miền Nam như Trịnh Hoài Đức, Phan Thanh Giản hoặc người Trung như Trương Đăng Quế rất chất phác, thành thật.
Một bước trưởng thành của thi ca đời Nguyễn là lối hát ả đào. Đây là một hình thức xướng ca có nguồn gốc từ đời Lê nhưng đến đời Nguyễn thành một phong trào, một phong thái văn nghệ mà nội dung là thi nhạc trữ tình, trong đó cũng có phần lãng mạn và tinh thần Lão Trang.
II. LÃNG MẠN
Lãng mạn là một khuynh hướng mạnh mẽ trong văn chương Việt Nam, đã thể hiện trong ca dao Việt Nam. Trong thi ca của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông chúng ta đã thấy phảng phất nỗi nhớ thương về những giai nhân. Đến đời Nguyễn, tình yêu thầm lặng, kín đáo vẫn là những đóa hoa ướp thơm trang văn học.
Thơ Trịnh Hoài Đức mang tính cách lãng mạn của Đường thi:
鏡中美人
英華嫌外露
寶鏡隱嬋媛
冰玉春心照
菱花綵袖翻
月宮奔羿婦
銀漢渡天孫
塵海徑遷變
紅顏愛永存
KÍNH TRUNG MỸ NHÂN
Anh hoa hiềm ngoại lộ,
Bửu kính ẩn thuyền viên.
Băng ngọc xuân tâm chiếu
Lăng hoa thái tụ phiên
Nguyệt cung bôn Nghệ phụ
Ngân hán độ Thiên tôn
Trần hải kinh thiên biến,
Hồng nhai ái vĩnh tồn
MỸ NHÂN TRONG GƯƠNG
Hoa đẹp lộ ra ngoài
Người đẹp trong gương cười.
Lòng xuân băng ngọc hiện
Áo gấm hoa lăng tươi
Chị Hằng ở nguyệt điện,
Chức nữ qua Ngân hà
Bể trần nhiều biến chuyển,
Hồng nhan muốn đẹp hoài
( Nguyễn Thiên Thụ dịch, các bài sau cũng vậy)
Trương Đăng Quế cũng một thời lãng mạn. Bài thơ sau nay viết về một giai nhân:
推粧
香奩此日花前探
桂樹何時月裏攀
細問素娥寂無語
依依清影近人間
THÔI TRANG
Hương liêm thử nhật hoa tiền thám,
Quế thụ hà thời nguyệt lý phan?
Tế vấn tố nga tịch vô ngữ
Y y thanh ảnh cận nhân gian.
GIỤC TRANG ĐIỂM
Ngày ấy thăm hoa, tráp ngát hương
Bao giờ vin quế ở cung Hằng?
Tố Nga nghe hỏi mà không đáp,
Hình ảnh rạng ngời khắp thế gian.
Qua thơ của Tuy Lý Vương, ta thấy Ngài như vương mắc một mối tình sầu:
雨脚如麻夜復密
漫漫癡雲四野黑
燈昏欲蕊螢亂飛
幽衾潑水粟生肌
埯卷起座有所思
我思乃在勾曲之陽
(湘水湄)
Vũ cước như ma dạ phục mật,
Mạn mạn si văn tứ dã hắc,
Đăng hôn dục nhụy, huỳnh loạn phi,
U khâm bát thủy, túc sinh ky.
Yêm quyển khởi tọa, hữu sở ty,
Ngã ty nãi tại câu khúc chi dương.
(Tương thủy mi )
Mưa như sợi chỉ, đêm mênh mông,
Mây đen kịt che tối ruộng đồng.
Đèn leo lét, đóm bay tứ tung.
Chân như tẩm nước, da mọc ốc,
Xềp sách ngồi dậy, lòng vấn vương
Vấn vương đôi bờ sông Tương. . .
(Bờ sông Tương)
感君有情情能癡
嗟我有心心自知
相逢且託巫陽夢
莫向人間訴別離
(夜座吟)
. . . Cảm quân hữu tình, tình năng si,
Ta ngã hữu tâm, tâm tự tri
Tương phùng thả thác Vu dưong mộng,
Mạc hướng nhận gian tố biệt ly.
(Dạ tọa ngâm)
. . . Thương nàng có tình, tình tha thiết
Thương ta có lòng, lòng tự biết
Chỉ được gặp nhau trong giấc mơ
Trần thế xin đừng nói ly biệt
( Ban đêm ngồi ngâm)
Những tác giả và tác phẩm kể trên cũng thuộc trào lưu lãng mạn nhưng mà là lãng mạn cổ điển, tình yêu kín đáo như những trang Đường thi. Lãng main thật sự phải kể Phạm Thái là một kiện tướng. Ông đã sống rất thực trong cuộc chiến đấu cô đơn và mối tình tuyệt vọng cùng kết thúc bi thảm. Tình yêu của ông và Trương Quỳnh Như đã nở hoa, thành những bài thơ và ngưng đọng thành truyện tình Sơ Kính Tân Trang mà nội dung như là Roméo và Juliette của Việt Nam. Phạm Thái và Trương Quỳnh Như là hai tác giả lãng mạn ở cuối Lê đầu Nguyễn. Phạm Thái đã yêu Trương Quỳnh Như và gửi thơ cho nàng bày tỏ tình yêu:
Từ chốn thiềm cung trộm dấu hương,
Dễ xui tao khách mối sầu vương.
Gió thông réo rắt dong đàn oán,
Trăng hạnh chênh vênh rạng bóng dương.
Nếu đã tình duyên dun dủi phận,
Thì xin ân ái vẹn nên đường.
Phong lưu đôi lứa đà ai dễ,
Bụi tục chi cho bợn lóa gương.
Trương Quỳnh Như cũng đã gửi thư cho chàng:
TIỄN ÔNG CHIÊU LỲ VỀ QUÊ
Sắt đá lòng này đã biết chưa?
Se duyên nay mượn gió cung Đằng.
Vườn đào sực thấy oanh đưa tín,
Dặm liễu ai xui yến cách chừng.
Vàng ngọc nếu chăng cùng một ước,
Nước non thề đã có hai vầng.
Ai sang cây hỏi tri âm với,
Chớ phụ cầm thư đợi dưới trăng.
Tiểu thuyết ái tình Việt Nam đã ra đời vào triều Lê với Phan Trần, Hoa Tiên. Sau đó, Truyện KIều, Lục Vân Tiên ra đời, mang một sắc thái mới cho văn học đời Nguyễn. Nhưng đó là những bản sao truyện tình Trung Quốc. Sơ Kính Tân Trang mới là tác phẩm hoàn toàn Việt Nam. Phạm Thái sinh trưởng tại Việt Nam nếu ông sinh tại Anh, Pháp, có lẽ ông đã trở thành thủy tổ của trường phái lãng mạn Tây phương.
III. HIỆN THỰC
Văn chương hiện thực là văn chương nói về những sự thực trong xã hội, cho nên trước nay người ta cũng gọi là truyện xã hội, nói về bất công xã hội. Nguyễn Thiếp đời Lê là người tiên phong về khuynh hướng này trong bài nói về cảnh dân chúng đói khổ vì lụt lội ở Bắc.
Đời Nguyễn, khuynh hướng xã hội ra đời mạnh mẽ với Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương. Là những trí thức, là bậc vương giả, họ đã đi sát nông dân, hiểu rõ đời sống quần chúng. Đó là căn bản tính thiện, bác ái, từ bi, và nhân nghĩa của Nho gia, Phật gia, khác với đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Marx.
Cao Bá Quát viết Đạo phùng ngạ phu để nói bất hạnh của con người trong vấn đề cơm áo.
家貧藝醫卜
我來走長安
長安無病人
群醫如邱山
零丁望歸路
(道逢餓夫)
Gia bần nghệ y bốc
Ngã lai tẩu Trường An,
Trường An vô bệnh nhân,
Quần y như khâu sơn.
Linh đinh vọng quy lộ. .
( Đạo phùng ngạ phu)
Nhà nghèo làm nghề thuốc,
Lên kinh đô kiếm sống.
Kinh thành không bệnh nhân,
Thầy thuốc ế cả đống
Phải trở về từng đàn. . .
( Giữa đường gặp người đói)
Tùng Thiện vương là cành vàng lá ngọc nhưng ngài hiểu thấu dân tình. Tấm lịnh ngài th ương cäm với nổi khổ của dân nghèo và những bất công xã hộI qua các bài Bần gia và Lưu dân thán.
貧家
辛苦貧家子
年年寒復饑
枵腹蔬替飯
凍骨火為衣
遍地猶兵甲
旻天且疾威
朱門樂何事
夜飮達朝暉
BẦN GIA
Tân khổ bần gia tử
Niên niên hàn phục cơ
Hiểu trường sơ thế phạn,
Đống cốtt hỏa vi y.
Biển địa do binh giáp.
Mãn thiên thả tật oai,
Chu môn lạc hà sự
Dạ ẩm đạt triều huy.
NHÀ NGHÈO
Con nhà nghèo khổ đau
Quanh năm rét lại đói,
Bụng rỗng phải ăn rau.
Lấy lửa thay chăn gối.
Khắp đất là gươm đao,
Đầy trời là họa hại.
Vui vẻ thay nhà giàu,
Yến tiệc suốt đêm thâu.
Tuy lý vương lên tiếng tố cáo quan lai tham nhũng làm dân chúng khốn khổ:
土車謡
車轢轆轢轆.
土多折軸
不畏折軸
唯恐土覆
車一輪
人一身
愼勿遲延官場嗔
我亦父母之子王之臣
THỔ XA DAO
Xa lịch lộc! Lịch lộc!
Thồ đa chiết trục
Bất úy chiết trục
Duy khủng thổ phúc
Xa nhất luân
Nhân nhất thân
Thận vật trì diên, quan trường sân.
Ngã diệc phụ mẫu chi tử, vương chi thần.
BÀI CA XE CHỞ ĐẤT
Lộc cộc, lục cục,
Chở đất nhiều, xe gãy trục,
Gãy trục, chẳng sợ
Chỉ sợ xe đổ
Xe một cổ,
Người một thân.
Làm chậm trễ
Quan rầy la.
Ta là con của mẹ cha
Cũng là thần tử vua ta đương triều!
IV.TRANH ĐẤU
Năm 1862, thực dân Pháp đã bộc lộ dã tâm xâm chiếm nước ta. Một số rất it ra làm tay sai cho Pháp như Trương Vinh Ký, Trương Minh Ký, Tôn Thọ Tường, Trần Bá Lộc nhưng tuyệt đại đa số nhân dân trong đó có các nho sĩ yêu nước đã đứng lên tranh đấu cho độc lập Tổ quốc. Một số đã cầm quân đánh giặc, tham gia khởi nghĩa chống Pháp như Phan Đình Phùng, Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Thông, một số hoạt động chính trị vận động Duy Tân, Đông Du như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thức Kháng, Ngô Đức Kế. Một số bất cộng tác, hoạt động theo tinh thần bất bạo động như Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Lâm. . .Lớp này ngã xuống, lớp sau tiến lên. Các bậc trí thức đời Nguyễn đã đem xương máu tranh đấu cho độc lập Việt Nam, họ đã nêu cao tinh thần bất khuất của sĩ phu Việt Nam.
Mở đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp của triều đình, Nguyễn Thông đã tố cáo thực dân Pháp xâm lăng và ông đã bày tỏ nỗi đau đớn khi nghe tin Nam kÿ rơi vào tay Pháp:
書懷示營田副使裴伯昌
牛渚無端作戰場
卄年江海醉爲鄕
同來故郡唯君在
慣觸危機笑我狂
朝論空聞談五利
雲帆何日下重洋
只今燕趙悲哥客
熱血填應旅鬓霜
THƯ HOÀI THỊ DINH ĐIỀN PHÓ SỨ BÙI BÁ XƯƠNG
Ngưu chữ vô đoan tác chiến trường
Trấp niên giang hải túy vi hương.
Đồng lai cố quận duy quân tại,
Quán xúc nguy cơ tiếu ngã cuồng.
Triều luận không văn đàm ngã lợi,
Vân phàm hà nhật hạ trùng dương?
Chỉ kim Yên Triệu bi ca khách,
Nhiệt huyết điền ưng lữ mấn sương
Huỳnh Thúc Kháng dịch:
Bến Nghé gây nên cuộc chiến trường,
Làng say mấy lúc lại qua thường.
Cùng về xứ cũ người càng khoẻ
Chạm mãi cơn nguy, tớ muốn cuồng.
Chầu chợ đồn rầm mối lợi lớn,
Biển khơi bao thuở cánh buồm giương?
Chỉ lưa ca khúc người Yên Triệu.
Lòng nóng sôi lòng tóc nhuộm sương.
Cùng lúc này, Nguyễn Đình Chiểu ra sức tán dưong tinh thần hy sinh anh dũng của cha con nhà họ Phan, và ca tụng tinh thần của nghĩa quân như Trương Công Định, và nghĩa quân Cần Giuộc. Đoạn sau nay viết về tinh thần chiến đấu của nghĩa quân:
Trên cật một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; Trong tay cắp moat ngọn tầm vông, nào đơi sắm dao tu, nón gõ. . .
Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ,trống giục, đạp rào bước tới, coi giặc cũng như không; Nào sợ thằng tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như không có. . ( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Phan Bội Châu là một nhà cách mạng và là một văn hào yêu nước. Tác phẩm của ông là một kho tàng vĩ đại. Chúng tôi xin nêu lên một vài tác phẩm của Sào Nam Phan tiên sinh: -Bình Tây Thu Bắc (1883); -Song Tuất Lục (1886);- Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (1903);- Khuyến Quốc Dân Du Học Văn (1905);-Việt Nam Vong Quốc Sử (1905);--Việt Nam Nghĩa Liệt Sử (1907);-Ngục Trung Thư; -Tự Phán. . .
Tất cả thi ca của ông đều nhằm vài việc giải phóng dân tộc. Thơ ông đã được dịch quốc ngữ truyền bá trong Đông Kinh nghĩa Thục và khắùp nước. Bài thơ sau nay do Phan Bội Châu viết ngày mồng hai tháng giêng năm ất tị (1905) lên đường sang Nhật Bản:
生爲男子要希奇
肯許乾坤自轉移
於百年中須有我
有千載下車無誰
江山死矣生圖汭
賢聖寥然誦亦痴
願欲長風東海去
千重白浪一齊飛
Sinh vi nam tử yếu hy kỳ,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.
Ư bách niên trung tu hữu ngã
Hữu thiên tải hạ cánh vô thùy.
Giang sơn tử hỷ sanh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.
Nguyện dục trường phong Đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Khác thường bay nhảy mới là trai,
Chẳng chịu vần xoay mặc ýtrời.
Trong cuộc trăm năm đành có tớ
Rồi sau muôn thuở há không ai.
Non sông đã mất, mình khôn sống,
Hiền thánh đâu còn, học cũng hoải.
Đông hải xông pha nương cánh gió,
Nghìn làn sóng bạc múa ngoài khơi!
( Ngục Trung Thư. Đào Trinh Nhất dịch)
Trong Hải Ngoại Huyết Thư, Phan Bội Châu làm nhiều bài văn thơ kêu gọi canh tân và chống Pháp:
腥風馥鼻唉劍挾之無忴
忿氣闐胸罔棍雄而交屬
皇天后土其監予心不乎
會黨昆徒其聽予言 不乎
Tình phong phốc tị, ai kiếm hiệp chi vô linh
Phẫn khí điền hung, võng côn hùng chi giao chúc.
Hoàng thiên hậu thổ ký giám dư tâm phủ hồ?
Hội đảng côn đồ, kỳ thỉnh dư ngôn phủ hồ?
Gió tanh sống mũi khó ưa
Gươm sao cắp nách mà ngơ cho đành.
Hòn máu uất, chất quanh đầy ruột
Anh em ôi, xin tuốt gươm ra
Có trời, có đất có ta,
Đồng tâm thế ấy mới là đồng tâm!
(Lê Đại dịch)
Phan Bội Châu là một văn hào, một nhà cách mạng chân chính của Việt Nam.
V. TRÀO PHÚNG
Tinh thần trào phúng xuất hiện đời Nguyễn với Hồ Xuân Hương cười cợt nhân thế với nghệ thuật tượng trưng mà đậm đà nhất là biểu tượng cái giống. Nụ cười của Hồ Xuân Hương bắt nguồn từ cái dâm và tục của người Việt Nam trong kho tàng tiếu lâm. Sau đó, khi thực dân xâm chiếm nước ta, nghệ thuật trào phúng nhắm vào thực dân, bọn tay sai và hủ tục gây ra do chế độ thực dân và chính quyền tạo ra những sân khấu mới và những tên hề mới. Đại biểu cho trào lưu này là Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Huỳnh Mẫn Đạt, Kỳ Đồng, Nguyễn Thiện Kế. . . .Trào phúng ở nay là vũ khí chống lại bất công và thối nát của xã hội và chống bọn thực dân xâm lược.
Nguyễn Khuyến đã chỉ trích bọn quan lại thời Pháp thuộc:
吾惟嗜飮食
雨非吾能為
神今且如 此
於民復奚疑
(禱雨)
Ngô duy thị ẩm thực
Vũ phi ngô năng vị
Thần kim thả như thử
Ư dân phục hề nghi
( Đảo vũ)
Ta chỉ biết ăn uống,
Ta không biết làm mưa
Bao nhiêu thần bây giờ
Chỉ làm khổ dân chúng ( Cầu mưa)
Ông mượn lời vợ người phường chèo để chỉ trích vua quan thời Pháp:
俳優皇帝且不惧.
何況爾為俳優官
(優婦詞 )
Bài ưu hoàng đế thã bất cụ
Hà huống nhĩ vi bài ưu quan
( Ưu phu từ)
Vua chèo còn chẳng ra chi
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề
( Nguyễn Khuyến dịch)
Trần Tế Xương lả một nhà thơ xuất sắc. Ông đem cái nghèo, cái thi hỏng của ông làm đề tài châm biếm. Ông cũng chỉ trích xã hội của ông gồm những quan lại và nho sĩ thời Phàp cai trị đất Bắc:
THẾ CŨNG ĐÒI THI
Cử nhân cậu ấm Kỷ
Tú tài con Đô Mỹ
Thi thế cũng đòi thi
Ơi khỉ ơi là khỉ!
LẮM QUAN
Ở phố hàng Song thực lắm quan,
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang.
Chồng chung, vợ chạ kìa cô Bố,
Đậïu lạy quan xin nọ chú Hàn!
Văn chương cổ điển đời Nguyễn rất phong phú, trong đó các văn nhân, các vua, các quan lại đã tích cựïc đóng góp cho văn học. Nổi bật nhất Siêu, Quát, Tùng Tuy. Thời này khác các đời trước là ai cũng có thi tập lẫn văn tập. Văn xuôi, văn bình luận đã ra đời khá nhiều. Công cuộc nghiên cứu sử học rất vĩ đãi. Trong mấy chục năm trời, các văn thần Quốc Sử quán như Phan Thanh Giản, Trương Đăng Quế, Nguyễn Thông, Cao Xuân Dục đã biên khảo nhiều bộ sử có giá trị như Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Thực Lục, Quốc Triều Chánh Biên. . .
Lối hát ả đào là một nghệ thuật mớI, kết hợp thi ca và nhạc. Loại Anh hùng ca đã có từ xưa, nay lại ra đời, phản chiếu trung thành lịch sử nước nhà trong giai đoạn đen tối với Nguyễn Nhược Thị, Nguyễn Văn Giai.Văn chương triều Nguyễn mang tính cách bi và hùng mà con người và sự nghiệp của Nguyễn Du, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu và Phan Bội Châu là những khuôn mặt rạng ngời trong lịch sử dân tộc và lịch sử văn học triều Nguyễn. Các vua quan, văn nhân, thi sĩ đời Nguyễn đã sáng tác, nghiên cứu và tranh đấu anh dũng cho văn học, nghệ thuật và độc lập Việt Nam. Lịch sử muôn đời sẽ công quên công ơn và sự đóng góp lớn lao của họ.
SOME CHARACTERESTICS OF
VIETNAMESE LITERATURE UNDER
THE NGUYEN DYNASTY ( 1802-1945)
by NGUYỄN THIÊN-THỤ
Under the Nguyễn dynasty, Vietnam had two writing systems: the Sino Vietnamese and the Nom. Although the Nguyen dynasty lasted 133 years, its literature last 117 years, because the year 1919 marked the end of its fate. From this year, French colonialists cancelled the old Vietnamese education and built a new one with French and Quốc Ngữ, a kind of Romanized Vietnamese.
Vietnamese literature under the Nguyen dynasty is a great literature because of a great number of famous authors and famous works. This literature also has some characteristics such as lyricism, romanticism, realism, combat, and satire.
I. LYRICISM
Lyricism was a traditional tendency in Vietnamese literature. In the Le dynasty, Chinh Phu Ngâm (Song of a Soldier's Wife ) by Đặng Trần Côn (1710-1745), Cung Oán Ngâm Khúc ( A Plaint Inside the Royal Harem) by Nguyễn Gia Thiều (1741-1798)
and Ai Tư Vãn (Lamentation) by Queen Ngọc Hân (1771-1804) were the most famous lyric poems. In the Nguyễn dynasty, Nguyễn Du (1765-1820) wrote Văn tế thập loại chúng sinh ( Calling All Wandering Souls) which was a well known lyric poem based on Vietnamese belief and Buddhist influence:
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,
Bóng hào quang cứu khổ độ u,
Rắp hòa tứ hải quần chu,
Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyển pháp luân tam giới thập phương.
May Buddha rescue you from life and death
And ferry you to his Pure Land of Bliss!
Let his effulgent light dispel such gloom
As clouds the mind in ignorance and sin!
The over all fours seas his peace shall reign
To soothe all griefs and purge all hatred off.
May Buddha's power send the Wheel of the Law,
Through all three realms, through all cardinal points
(Transl. by Huynh Sanh Thông)
Nguyễn Khuyến (1835- 1909) wrote Khóc Dương Khuê ( Lamentation ) in both Chinese and Nôm, and this long poem is a poetic creation. Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm ( Nostalgy ) by Đinh Nhật Thận (1815- 1866), and Tư Tình Khúc ( Expression) by Cao Bá Nha (19th century)ï are the great works of two prisoners.
Giấc thanh dạ cơn say ,cơn tỉnh,
Ngày lưu niên, khi lạnh khi nồng.
Phần du nẻo Bắc ngừng trông,
Nước non cách mấy mươi trùng xa xa.
Câu lữ cảm lệ hòa nét mực,
Chữ gia tình thấm tắt lòng son (Tự Tình khúc)
At night, I can not sleep well,
In the exile, I am not happy.
I always look toward the North,
Where my home is
It is far away by mountains and rivers
In the foreign country,
I miss my family
I sadly write about my nostalgia
( Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
II. ROMANCISM
Romanticism is a traditional tendency in Vietnamese literature. In the Le dynasty, Phan Trần,
( Story of Phan and Trần), Hoa Tiên ( Flowered Stationery) were the famous love stories. In the Nguyen dynasty, there were a lot of love stories appeared, but Truyên Kiều (The Tale of Kieu ) by Nguyễn Du and Lục Vân Tiên by Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) were the most popular works. Some Vietnamese stories such as The Tale of Kieu, Nhị Độ Mai, ( Plumtrees Blooming Twice ) are derived from the Chinese sources, but Sơ Kinh Tân Trang ( The Comb and the Mirror ) by Phạm Thái ( 1777-1813 )was written in 1804. It is an autobiographical work, disguised account of the love affair between the author and lady Trương Quỳnh Như. Lục Vân Tiên by Nguyễn Đình Chiểu is also an autobiographical work of the author, a student, who became a blind, and lost his fiancée .
In Vietnamese poetry under the Nguyễn dynasty, we can see a number of romantic poems. Nguyễn Văn Siêu (1799- 1872) wrote a short poem:
落花辰節又逢君
何辰雲水各天涯
腸斷春風萬里賒
萍梗此囬疑夢寐
忽添驚淚落如花
Meeting you when flowers are falling
In the horizon, how long have we been wandering?
In foreign country, the spring wind makes me sad
I think that we are dreaming.
Suddenly my tears drop as flowers falling!
Tùng Thiện Vương (1819-1870) was also a romantic poet. He expressed love and sadness of a young woman:
落花辰節又逢君
何辰雲水各天涯
腸斷春風萬里賒
萍梗此囬疑夢寐
忽添驚淚落如花
FROM THE DAY YOU GO
When you leave,
I did not weave
My soul, like the moon each night
It decreases its light
III. REALISM
Realism in Vietnamese literature began in the Lê dynasty with an poem entitled Phù Thạch phùng lão ngư ( An old fisherman on the Phù Thạch river ) by Nguyễn Thiếp (1723-1804). In the Nguyễn dynasty, this movement developed with Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý vương. By influence of human love and compassion of Confucianism and Buddhism, many poets paid attention to the reality and life of poor people. Cao Bá Quát (1809- 1853) reported news from the North of Vietnam where had been in trouble time: people were killed and houses were burn by the robbers and the revolters:
怪事怪事不忍聞
自畫殺人全家去
軍吏過者顧之他
鄊里藏匿不敢語
語者十人無一生
家家灰盡成飛絮. . .
(人自北寧來言北寧事感作)
It is very strange to hear that news
They killed a whole family by day
Officials and soldiers were indifferent,
The village authorities did not dare to say!
Who speak truthfully will be killed
A lot of houses became ashes to fly away!. . .
( News from Bắc Ninh province, transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
Although Tùng Thiện Vương was a king's relative, he took interest in poor people:
貧家
辛苦貧家子
年年寒復饑
枵腹蔬替飯
凍骨火為衣
遍地猶兵甲
旻天且疾威
朱門樂何事
夜飮達朝暉
Poor people
Poor people are unhappy
Every year cold and hungry,
They eat vegetables when
their stomachs are empty.
Fire instead of clothes in winter,
Land is full of swords
And sky disaster
Rich people are happy
Every night party and party.
IV PATRIOTISM
In 1859 the French colonialists began occupy Vietnam. Vietnamese people, especially the scholars struggled against them. A numbers of writers and poets became the generals or leaders of the revolutionary movements such as Phan Đình Phùng, Nguyễn Hữu Huân, Trương Công Định, Nguyễn Thiện Thuật and Phan Bội Châu. This war also created a new movement in literature that was the resistant literature, revolutionary literature, or patriotic literature.
Nguyễn Thông (1827- 1884) was a combatant. In 1859, the French occupied Gia Định, he followed general Tôn Thất Hiệp to fight French colonialists. In 1881, he became Chief of Education and a Chief of Agriculture of Binh Thuân province.
He was a patriot. Most of his poems expressed his love of country:
書懷示營田副使裴伯昌
牛渚無端作戰場
卄年江海醉爲鄕
同來故郡唯君在
慣觸危機笑我狂
朝論空聞談五利
雲帆何日下重洋
只今燕趙悲哥客
熱血填應旅鬓霜
LETTER TO MY FRIEND BÙI BÁ XƯƠNG
Saigon becomes a battle field,
I have been drinking.
In my countrymen, only you are still living.
Experiencing danger, I become mad.
Everywhere they discussed about negotiating.
I want to steer a cloud boat to the southern sea.
I am a stranger who lost his country and very sad.
My head became white, but my heart is burning.
Nguyễn Đình Chiểu recounted a scenery when the French attacked Gia Định:
CHẠY GIẶC
Tan chợ vừa nghe tiếng súng tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ chó lăng xăng chạy,
Mất ổ bay chim dáo dác bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh khói nhuốm màu mây.
Hởi trang dẹp loạn rày đâu vắng?
Nỡ để dân đen mắc nạn này!
AVOIDING the FRENCH INVADERS
After the market hour, the French troops fired,
In a minute, every thing changed and we failed.
The dogs quitted home and ran on the way,
Lost their nests, the frightened birds flied away.
In Bến Nghé, property became bubbles in a day
In Đồng Nai, houses were burnt to ashes quickly
Where were you? The heroes?
Why didn't you save our country?
Nguyễn Đình Chiểu praised the heroes such as Phan Thanh Giản, Phan Tòng, Trương Công Định., especially the peasants in Cần Giuộc in the fight on december, 14, 1861:
Bữa thấy bòng bong trắng lớp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khòi đen sì, muốn ra cắn cổ.. .
Nào sợ thằng tây bắn đạn to, đạn nhỏ, xô cửa xông vào, liều mình như không có. . . .
Chẳng thà thác đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; Chẳng hơn còn chịu tiếng hàng tây, ở với man di rất khổ. . .( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Seeing black French ships with white bubbles in the river, our men wanted to kill them all. . .
They didn't care of French guns, and considered their lives were nothing. . .
They wanted to die heroically like their brave ancestors, rather than to surrender the barbarians.
( Lamentation- Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
Phan Bội Châu (1867-1940 ), Phan Chu Trinh
( 1872- 1926), and Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) were the leaders of the Vietnamese Movement of Reform ( Phong trào Duy Tân ). Phan Bội Châu was a prominent revolutionist and a scholar, he wrote a lot of works in order to appeal to his compatriots to revolt against the French colonialism. The follwing poem was written in 1905 when he was on the way to Japan:
生爲男子要希奇
肯許乾坤自轉移
於百年中須有我
有千載下竟無誰
江山死矣生途芮
賢聖寥然誦亦痴
願欲長風東海去
千重白浪一齊飛 (獄中書)
I am a man, I have to achieve great success,
I try to save my country.
In this life, I have to fulfill my duty
In future, many people will continue my business.
If there is no more nation, my life will be useless.
There is no more saint, why I still study?
I will travel the stormy sea
Although thousand waves are in angry.
( Letter From the Prison- Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
In Hải Ngoại Huyết Thư ( Blood Letter From the Oversea) , he accused the French colonialism, and called on the people to join him in the struggle to free Vietnam.
腥風馥鼻唉劍挾之無忴
忿氣闐胸罔棍雄而交屬
皇天后土其監予心不乎
會黨昆徒其聽予言 不乎
I hate bad smelling,
I can not take a sword with no intention
In my heart, my anger is rising
My friends, draw your weapons,
In the Heaven and earth, we stand
And hold together with hand in hand.
(Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
V.SATIRISM
In oral literature , there are many humorous stories whereas in Sino Vietnamese and Nôm literatures, we have no a laughing. In the Nguyễn dynasty, a number of satirical poems appeared in Sino Vietnamese and in Nôm literatures. Hồ Xuân Hương, Nguyễn Văn Lạc, Kỳ Đồng , Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Thiện Kế were the prominent satirists.
When some poets focused on the individuals just for fun, the others aimed to criticise society, especially society under the French domination. Satire in this case is the weapon to struggle against our enemies.
Nguyễn Khuyến wrote many patriotic poems, he also composed a lot of satirical poems. A lot of his satirical poems criticized people and mandarins who followed the French invaders, became their tools, and their servants. His satirical poems were also his patriotic poems. He criticized Bastille Day, the French celebrated on 14 July in Hanoi:
Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo
Khen ai khéo vẽ trị vui thề
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!
(Hội Tây)
Relying on their strength, many women swing
Eager for money, on the grease pillars,
some men try climbing
Who displayed these games?
It is not a joy, but a shame.
( A French Festival- Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
He criticized the education and examination under the French domination which caused corruption in the administration and bad habits in society. He described the paper dolls featuring the scholars with a doctor degree in the Mid Autumn Festival in Hà nội:
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh aấy m ới h ời!
Ghế tréo , l ọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!
(Tiến sĩ giấy)
His body with court dress is very light,
And the price of his fame is not high.
He is great in his throne with blue parasol,
Is this a real doctor? No, it is a toy for the child.
( An unreal doctor)
Trần Tế Xương (1870-1907) was a greatest satirical poet. His poverty and his failure in examination were his poetry subjects. He criticized himself and he attacked his society, a new society corrupted by French colonialists and servants.
He satirized a chief police in Ha nam province:
Hà Nam danh giá nhất ông cò,
Trơng thấy ai ai chẳng dám ho.
(Ông Cò )
A chief of police is a very important person
in Hanam province
Seeing him, everybody keep silent by fright.
(Mr. French Police officer)
He criticized the corrupted exam of his time:
Cử nhân cậu Ấm Kỷ,
Tú tài con đô Mỹ.
Thi thế cũng đòi thi,
Ôi ! khỉ ôi là khỉ! (Thế cũng đòi thi)
Uncle Kỷ passed his licentiate
Đô Mĩ ' s son got baccalaureate.
How can they pass?
What a monkey tricks!
( What an exam !- Transl. by Nguyễn Thiên Thụ)
The Nguyễn dynasty had a number of great authors and works. The National History Institute
( Quốc Sử Quàn) with Phan Thanh Giản, Trương Đăng Quế, Nguyễn Thông, Vũ Xuân Cẩõn, Nguyễn Trọng Hơp, after many years of research, completed their great works such as:
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục,
Đại Nam Thục Lục,
Đại Nam Liệt Truyện
Đại Nam Nhất Thống Chi. . .,
There were many famous authors The Kings, generals mandarins and scholars were writers or poets. Each writer wrote both poetry and prose, in both Chinese and Nôm. Before the French domination, Vietnam was a peaceful country, therefore the majority of works were the love stories, lyrical poems, and realist works. But after the French occupied Vietnam, the combat literature and the revolutionary literature developed so much. Besides the patriotic literature, satirical literature became a kind of weapon to attack the French colonialists. We can conclude that Vietnamese literature under the Nguyễn dynasty expressed love of country, love of peace, and the struggle of Vietnamese people against the French invaders. The Vietnamese intellectuals were the vanguard force in politics, in culture and in military. They died on battle field, in the prison, or were executed on ground, but their works and their names still exist in the heart of Vietnamese people. History of Vietnamese literature was written by tears and blood of Vietnamese people through many centuries of building and protecting their country.
===
TƯ TƯỞNG ĐÔNG PHƯƠNG TRONG VĂN HỌC TÂY PHƯƠNG
Một đôi khi đọc một số tác phẩm văn học tây phương, tôi rất thích thú và cảm thấy nó rất gần gũi, mang những nét rất Đông phương. Tôi không đề cập đến các truyện dài, tôi chỉ đề cập đến một số truyện ngắn mà tôi thích thú vì tôi chỉ muốn phát biểu ý nghĩ của mình một cách ngắn gọn. Tôi biết khi đọc qua đề tài này, nhiều vị sẽ bĩu môi cho ràng đông phương là đông phương, tây phương là tây phương, làm gì có chuyện tây phương giống đông phương!
Tôi biết một số vị khó tính nhưng tôi vẫn muốn phát biểu ý nghĩ của tôi ...
====
1.CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG ( The Last Leaf ) của O. Henry ( 1862-1910) Mỹ
Một thiếu nữ lâm bệnh nặng, phải nằm trong bệnh viện. Bên cạnh cửa sổ là cây tường vi đang rụng dần , rụng dần những chiếc lá vàng úa . Nàng đếm từng chiếc lá còn lại. Nàng nghĩ rằng linh hồn nàng sẽ giã từ nhân thế khi chiếc lá cuối cùng rơi ! Người họa sĩ già ở trong bệnh viện khi nghe câu chuyện này đã dầm tuyết lạnh, đang đêm bí mật vẽ lên thân cây một chiếc lá. Khi nhìn thấy chiếc lá cuối cùng vẫn tồn tại, người thiếu nữ lấy lại lòng tin, trở nên mạnh khỏe. Còn người nghệ sĩ già vì dầm tuyết lạnh , bệnh trở nặng, chết hai ngày sau đó.
Câu chuyện mang đầy tình người. Người nghệ sĩ già là con người nghệ sĩ, và cũng là con người thánh thiện. Ông đã làm việc thiện, đã quên mình để cứu người. Ông đã thực hiện đức từ bi của Phật giáo, tính nhân ái của Nho giáo, lòng bác ái của Thiên chúa giáo. và tình huynh đệ của Hồi giáo ... Ai bảo ngưòi tây phương không chú trọng đến tính chất giáo dục ,
tính chất đạo lý trong văn học ? Và ai dám bảo quan niệm" văn dĩ tái đạo" là cổ hủ ?
Câu chuyện này cũng nói lên tác dụng của tâm. Phái duy vật cho ràng vật chất có trước, tinh thần có sau, vật chất chỉ đạo tinh thần. Phái duy tâm chủ trương tinh thần có trước, tinh thần chỉ đạo vật chất.
Phật giáo theo duy tâm phái. Phật giáo cho rằng tâm quan trọng hơn cả, mọi vật trên thế gian tồn tại là do tâm nhận thức:
Tam giới duy tâm,
Vạn pháp duy thức."
三界惟心
萬法惟識
Tâm là chủ động,
Hướng dẫn mọi lãnh vực
Lời nói và việc làm
Theo tâm chịu khổ cực
Như xe theo đường mòn. "(1)
Hai vị sư đứng trước sân chùa thấy gió rung cây phướn . Một vị nói : " phướn động " . Vị kia cãi : "Gió động". Vị sư trưởng trong chùa bước ra nói : "tâm động".
Thật vậy, vì tâm động cho nên chúng ta mới thấy gió lay, phướn động.
Chúng ta có nhiều trạng thái tâm lý. Chúng ta có tâm thiện, tâm ác, tâm bi quan,. tâm lạc quan. . .Tâm cô gái động và bi quan cho nên cô mới đặt ra mối tương quan giữa chiếc lá và linh hồn cô ! Đó là một mối tương quan sai lầm. Nhưng khốn nỗi nó lại đóng vai quyết định cho đời sống của cô. Nhiều bệnh nhân cương quyết chiến đãu với tử thần và họ đã thành công. Trái lại, nếu bệnh nhân buông xuôi thì cái chết đến rất dễ dàng. Trong y khoa, trong giáo dục , trong tình yêu ... tâm lý đóng một vai trò quan trọng. Người họa sĩ là một thấy thuốc rất gỉỏi, đã dùng tâm lý trị liệu mà cứu cô gái !
2. CÂY THÔNG GIÁNG SINH của H.C. Andersen ( 1805-1876) Đan Mạch.
Một cây thông nhỏ thấy cứ đến gần ngày giáng sinh, các chú thợ rừng đốn những cây thông đem về thành phố . Cây thông nhỏ mong ước một ngày sẽ được về thành phố , sẽ được chưng bày rực rỡ trong đêm giáng sinh. Khi cây thông lớn lên, nó được một nhóm thợ rừng mang về thành phố, được bán cho một nhà giàu, được trang hoàng lộng lẫy ở phòng khách. Nhưng qua ngày giáng sinh, cây thông bị quăng ra đường... .
Truyện này có lẽ lấy từ Ngụ ngôn của La Fontaine, truyện " Con Chuột biến thành thiếu nữ " (Souris métamorphosée en Fille). Một con chuột gặp nạn, được các thần linh cứu và cho biến thành một thiếu nữ 15 tuổi. Các thần linh muốn thiếu nữ phải lấy chồng. Nàng nói rằng nàng muốn lấy một người chồng có uy quyền nhất thiên hạ. Các thần linh bảo nàng nên lấy Mặt Trời. Nhưng nàng bảo Mặt trời bị Mây che. Mây được gọi đến nhưng nàng bảo Mây bị Gió cuốn đi. Gió được mời tới nhưng Gió bảo Gió thua Núi, Gió bị Núi chặn lại. Thần linh truyền Gió đến, gả nàng song Núi thưa Núi thua Chuột vì Chuột đào hang trong Núi..
Cây thông cũng như Chuột là những kẻ tham lam, " đứng núi này trông núi nọ", " được voi đòi tiên".
Phật giáo cho ràng con ngườì đau khổ vì Tham ,Sân, Si. Tham đứng đầu. Tham dục, Tham Ái khiến cho ta hành động để chiếm đoạt. Có hành động chính đáng, có hành động bất lương. Có hành động đưa đến thành công, có hành động đưa đến thất bại. Thành công thì vui vẻ, không thành công thì buồn khổ. Được thì hân hoan, mất thì buồn bã.
Hạnh phúc chỉ huy hoàng khi ở ngoài tầm tay. Hạnh phúc nằm trong bàn tay sẽ trở thành nhàm chán. Bãy giờ ta lại đi tìm một thứ hạnh phúc khác. Cứ thể mãi, con người trôi nổi từ đau khổ này sang đau khổ khác. Phật giáo đề ra diệt khổ. Nho giáo thì nói đến tri túc.
Nguyễn Công Trứ nói :
"Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc, "
( Biết đủ thì đủ, chờ đủ , biết bao giờ đủ ? )
Trong kho tàng văn học Việt Nam có nhiều truyện nói về lòng tham như truyện " Ăn một quả, trả một cục vàng"," Hũ vàng hóa rắn".
Câu truyện sau đây cũng nói về lòng tham.
Một thiếu nữ ngồi khóc một mình trên bờ suối. Bụt hiện lên bảo : " Tại sao con khóc ? ".Thiếu nữ thưa rằng mình quá xấu xí nên tủi thân mà khóc. Bụt bèn nói : " Con hãy xuống suối trước mặt hụp xuống một lần và chỉ một lần mà thôi."
Thiếu nữ bèn xuống suối hụp lặn một lần thì thấy quả nhiên mình mẫy, tóc tai trở nên xinh đẹp lạ thường. Quên lời Bụt dặn, nàng bèn xuống suối hụp thêm lần nữa để cho đẹp thêm. Không ngờ lần này cả người mọc lông, lại thêm chiếc đuôi dài. Nàng xấu hổ quá, chạy lên núi.
Vì thế, dân gian có câu :
Tham quá hóa khỉ "
Tham thì thâm,
Bụt đã bảo thầm,
Rằng chớ có tham !"
3. Truyện BA ẨN SĨ ( The Three Hermites ) của Léon Tolstoy (1828-1910) Nga
Một vị giám mục đến thăm một hòn đảo xa xăm. Ngài gặp ba ông già rất hiền lành, tin tưởng Thượng đế nhưng họ không hề biết kinh kệ và nghi thức tế lễ. Vị giám mục dạy họ đủ thứ. Khi vị giám mục lên thuyền trở về bỗng thấy ba ông già chạy đuổi theo thuyền trên biển cả. Họ thưa rằng họ quên hết kinh kệ và nghi thức tôn giáo, họ xin ngài dạy lại. cho họ. Vị giám mục sững sờ vì ba vị ấy đã là ba vị thánh có phép lạ . Ngài bảo họ cứ theo lề lối cũ cũng được...
Tôn giáo nào cũng đề cao những vị tu sĩ, coi họ là người thay chúa, thay thần linh... . Đạo thờ cúng tổ tiên là một đạo không có tu sĩ, vì ai cũng là kẻ thờ phụng tổ tiên, cha mẹ mình. Đức Phật đặt ra bốn hạng đệ tử : tu sĩ nam, tu sĩ nữ, cư sĩ nam, cư sĩ nữ. Nếu phân chia một cách khác, có hai hạng đệ tử : hạng xuất gia và hạng tại gia. Đức Phật gọi hạng xuât gia là" trưởng tử của Như Lai" . Và đức Phật đã coi các vị xuất gia thuộc loại ruộng tốt nhất trong ba loại ruộng:
-Ruộng hạng nhất ( nhất đẳng điền ) : tỳ kheo
-Ruộng hạng nhì ( nhị đẳng điền ) : cư sĩ
-Ruộng hạng ba ( tam đẳng điền ) : bà la môn (2)
Thực ra đó chỉ là sự phân chia theo chiếc áo, theo hình thức trần gian. Đức Phật có sự phân chia khác, theo đạo hạnh. Xuất gia mà phạm giới sao bằng tại gia mà giữ giới ? Chính đức Phật cũng nói:
" Không phải mang đại y mà tâm tham dục được đoạn diệt."(3)
Đức Phật lại nói :
Người tại gia hay xuât gia, này các tỳ kheo, theo tà hạnh, do vì tà hạnh, người ấy không phải là người phát huy chánh lý, pháp thiện.. . Ngưòi tại gia hay xuât gia theo chánh hạnh, này các tỳ kheo, do vì chánh hạnh và nhân chánh hạnh, vị ấy là người phát triển chánh lý, pháp và thiện.. ."(4)
Sau này, Đại thừa phát triển đã có quan điểm mới. Kinh Duy Ma Cật cho rằng cư sĩ Duy Ma Cật là cao hơn Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp.... Kinh Hoa Nghiêm cho rằng nhiều cư sĩ như Minh Trí, Bửu Kế, Phổ Nhẫn là cao minh hơn các vị xuất gia ở cõi trời và cõi người.
Lục tổ Huệ Năng cũng nói :
"Muốn tu hành thì ở nhà cũng được, hà tất ở chùa"(5)
Người Việt Nam có óc thực tiễn, chú trọng tâm chứ không chú trọng hình thức. Cái quan trọng là đạo hạnh. Không có đạo hạnh thì dù đầu tròn áo vuông, dù tụng kinh kệ hay, gõ mõ giỏi, cũng chẳng đi đến đâu. Trái lại, với một tâm thiện, không tham, không sân, không si rất đủ tư cách để lên Niết Bàn, cho dù không thuộc một câu kinh, không biết ngồi thiền, không biết tụng niệm.
Quan điểm thực dụng đó được diễn tả qua ca dao, tục ngữ :
" Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối"
"Tu đâu bằng tu tại gia,
Thờ cha, kính mẹ ấy là chân tu"
Thứ nhất thì tu tại gia,
Thứ nhì tại chợ, thứ ba tại chùa"
Nhiều truyện cổ Việt Nam cũng có tư duy giống truyện " Ba ẩn sĩ" của Leon Tolstoy. Sau đây là truyện " Ông bình vôi" :
Một sư cụ tại chùa nọ đạo cao đức trọng, được dân chúng kính nể. Trong vùng có một tên trộm, một hôm giả khóc lóc, xin vào chùa thí phát quy y. Sư cụ tội nghiệp, bèn cho vào chùa nương náu. Nửa đêm, tên trộm lấy chuông khánh, đồ đạc trong chùa rồi trốn đi..Ít lâu sau, lương tâm cắn rứt, tên trộm trở lại chùa, xin thí phát quy y.
Sư cụ bị lừa một lần nên không tin tên trộm. Sư nói :" Nếu anh thành tâm sám hối, anh hãy leo lên cây cau nhảy xuống thì sẽ thành Phật."
Tên trộm thành tâm sám hối cho nên tin lời sư cụ leo lên cây cau nhảy xuống. Lúc bấy giờ Phật ở trên cao nhìn thấy, hiểu tấm lòng thành thực của tên trộm, cho nên độ anh ta về tây phương cực lạc. Thấy vậy, sư cụ rất bực tức. Nghĩ mình tu hành trọn đời mà không thành Phật, trong khi tên trộm lại thành Phật. Sư cụ bèn leo lên cây cau nhảy xuống, không ngờ rớt xuống , đầu bể, hóa thành cái bình vôi.
Truyện này cũng như truyện " Ba ẩn sĩ " cho chúng ta thấy rằng không phải căn cứ vào chiếc áo nhà tu, không phải căn cứ vào số năm đi tu mà thành đạo, mà thành bậc thánh , mà lên thiên đường. Cái đáng căn cứ là tâm, là chữ thiện. Đi tu mà còn tham dục, còn oán hờn, ghen tị thì không bằng một người thường sống lương thiện, một tên cướp buông đao , một tên trộm thành tâm sám hối.. .
Tại sao một số tác phẩm văn học Tây phương lại mang sắc thái luân lý và triết lý Đông Phương như thế ? Có nhiều lý do:
1. Văn học là tài sản chung của nhân loại. Văn học của các quốc gia, các đại dưong có những sắc thái riêng nhưng cũng có những sắc thái chung. Nét chung đó là chân, thiện, mỹ.. .Truyện Tấm Cám ( Cô Bé Lọ Lem ) là tác phẩm chung của môt số quốc gia Đông lẫn Tây.. .
2. Từ lâu , người châu Âu đã chịu ảnh hưởng của Á Châu (Trung Đông, Ấn Độ,Trung Hoa..)
Thơ Ngụ ngôn của La Fontaine có nguồn gốc Ấn Độ, Trung Á...
3.Một số văn gia đã chịu ảnh hưởng Phật giáo : Leon Tolstoy.
-----
CHÚ THÍCH:
1.Pháp Cú
2.Tương Ưng IV, Thuyết pháp, Minh Châu
dịch,tr.315-316.
3.Trung bộ I, Mã Ấp kinh,tr.282B
4.Tương Ưng V,tr.20.
5.Pháp Bảo Đàn Kinh.
====
Tôi biết một số vị khó tính nhưng tôi vẫn muốn phát biểu ý nghĩ của tôi ...
====
1.CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG ( The Last Leaf ) của O. Henry ( 1862-1910) Mỹ
Một thiếu nữ lâm bệnh nặng, phải nằm trong bệnh viện. Bên cạnh cửa sổ là cây tường vi đang rụng dần , rụng dần những chiếc lá vàng úa . Nàng đếm từng chiếc lá còn lại. Nàng nghĩ rằng linh hồn nàng sẽ giã từ nhân thế khi chiếc lá cuối cùng rơi ! Người họa sĩ già ở trong bệnh viện khi nghe câu chuyện này đã dầm tuyết lạnh, đang đêm bí mật vẽ lên thân cây một chiếc lá. Khi nhìn thấy chiếc lá cuối cùng vẫn tồn tại, người thiếu nữ lấy lại lòng tin, trở nên mạnh khỏe. Còn người nghệ sĩ già vì dầm tuyết lạnh , bệnh trở nặng, chết hai ngày sau đó.
Câu chuyện mang đầy tình người. Người nghệ sĩ già là con người nghệ sĩ, và cũng là con người thánh thiện. Ông đã làm việc thiện, đã quên mình để cứu người. Ông đã thực hiện đức từ bi của Phật giáo, tính nhân ái của Nho giáo, lòng bác ái của Thiên chúa giáo. và tình huynh đệ của Hồi giáo ... Ai bảo ngưòi tây phương không chú trọng đến tính chất giáo dục ,
tính chất đạo lý trong văn học ? Và ai dám bảo quan niệm" văn dĩ tái đạo" là cổ hủ ?
Câu chuyện này cũng nói lên tác dụng của tâm. Phái duy vật cho ràng vật chất có trước, tinh thần có sau, vật chất chỉ đạo tinh thần. Phái duy tâm chủ trương tinh thần có trước, tinh thần chỉ đạo vật chất.
Phật giáo theo duy tâm phái. Phật giáo cho rằng tâm quan trọng hơn cả, mọi vật trên thế gian tồn tại là do tâm nhận thức:
Tam giới duy tâm,
Vạn pháp duy thức."
三界惟心
萬法惟識
Tâm là chủ động,
Hướng dẫn mọi lãnh vực
Lời nói và việc làm
Theo tâm chịu khổ cực
Như xe theo đường mòn. "(1)
Hai vị sư đứng trước sân chùa thấy gió rung cây phướn . Một vị nói : " phướn động " . Vị kia cãi : "Gió động". Vị sư trưởng trong chùa bước ra nói : "tâm động".
Thật vậy, vì tâm động cho nên chúng ta mới thấy gió lay, phướn động.
Chúng ta có nhiều trạng thái tâm lý. Chúng ta có tâm thiện, tâm ác, tâm bi quan,. tâm lạc quan. . .Tâm cô gái động và bi quan cho nên cô mới đặt ra mối tương quan giữa chiếc lá và linh hồn cô ! Đó là một mối tương quan sai lầm. Nhưng khốn nỗi nó lại đóng vai quyết định cho đời sống của cô. Nhiều bệnh nhân cương quyết chiến đãu với tử thần và họ đã thành công. Trái lại, nếu bệnh nhân buông xuôi thì cái chết đến rất dễ dàng. Trong y khoa, trong giáo dục , trong tình yêu ... tâm lý đóng một vai trò quan trọng. Người họa sĩ là một thấy thuốc rất gỉỏi, đã dùng tâm lý trị liệu mà cứu cô gái !
2. CÂY THÔNG GIÁNG SINH của H.C. Andersen ( 1805-1876) Đan Mạch.
Một cây thông nhỏ thấy cứ đến gần ngày giáng sinh, các chú thợ rừng đốn những cây thông đem về thành phố . Cây thông nhỏ mong ước một ngày sẽ được về thành phố , sẽ được chưng bày rực rỡ trong đêm giáng sinh. Khi cây thông lớn lên, nó được một nhóm thợ rừng mang về thành phố, được bán cho một nhà giàu, được trang hoàng lộng lẫy ở phòng khách. Nhưng qua ngày giáng sinh, cây thông bị quăng ra đường... .
Truyện này có lẽ lấy từ Ngụ ngôn của La Fontaine, truyện " Con Chuột biến thành thiếu nữ " (Souris métamorphosée en Fille). Một con chuột gặp nạn, được các thần linh cứu và cho biến thành một thiếu nữ 15 tuổi. Các thần linh muốn thiếu nữ phải lấy chồng. Nàng nói rằng nàng muốn lấy một người chồng có uy quyền nhất thiên hạ. Các thần linh bảo nàng nên lấy Mặt Trời. Nhưng nàng bảo Mặt trời bị Mây che. Mây được gọi đến nhưng nàng bảo Mây bị Gió cuốn đi. Gió được mời tới nhưng Gió bảo Gió thua Núi, Gió bị Núi chặn lại. Thần linh truyền Gió đến, gả nàng song Núi thưa Núi thua Chuột vì Chuột đào hang trong Núi..
Cây thông cũng như Chuột là những kẻ tham lam, " đứng núi này trông núi nọ", " được voi đòi tiên".
Phật giáo cho ràng con ngườì đau khổ vì Tham ,Sân, Si. Tham đứng đầu. Tham dục, Tham Ái khiến cho ta hành động để chiếm đoạt. Có hành động chính đáng, có hành động bất lương. Có hành động đưa đến thành công, có hành động đưa đến thất bại. Thành công thì vui vẻ, không thành công thì buồn khổ. Được thì hân hoan, mất thì buồn bã.
Hạnh phúc chỉ huy hoàng khi ở ngoài tầm tay. Hạnh phúc nằm trong bàn tay sẽ trở thành nhàm chán. Bãy giờ ta lại đi tìm một thứ hạnh phúc khác. Cứ thể mãi, con người trôi nổi từ đau khổ này sang đau khổ khác. Phật giáo đề ra diệt khổ. Nho giáo thì nói đến tri túc.
Nguyễn Công Trứ nói :
"Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc, "
( Biết đủ thì đủ, chờ đủ , biết bao giờ đủ ? )
Trong kho tàng văn học Việt Nam có nhiều truyện nói về lòng tham như truyện " Ăn một quả, trả một cục vàng"," Hũ vàng hóa rắn".
Câu truyện sau đây cũng nói về lòng tham.
Một thiếu nữ ngồi khóc một mình trên bờ suối. Bụt hiện lên bảo : " Tại sao con khóc ? ".Thiếu nữ thưa rằng mình quá xấu xí nên tủi thân mà khóc. Bụt bèn nói : " Con hãy xuống suối trước mặt hụp xuống một lần và chỉ một lần mà thôi."
Thiếu nữ bèn xuống suối hụp lặn một lần thì thấy quả nhiên mình mẫy, tóc tai trở nên xinh đẹp lạ thường. Quên lời Bụt dặn, nàng bèn xuống suối hụp thêm lần nữa để cho đẹp thêm. Không ngờ lần này cả người mọc lông, lại thêm chiếc đuôi dài. Nàng xấu hổ quá, chạy lên núi.
Vì thế, dân gian có câu :
Tham quá hóa khỉ "
Tham thì thâm,
Bụt đã bảo thầm,
Rằng chớ có tham !"
3. Truyện BA ẨN SĨ ( The Three Hermites ) của Léon Tolstoy (1828-1910) Nga
Một vị giám mục đến thăm một hòn đảo xa xăm. Ngài gặp ba ông già rất hiền lành, tin tưởng Thượng đế nhưng họ không hề biết kinh kệ và nghi thức tế lễ. Vị giám mục dạy họ đủ thứ. Khi vị giám mục lên thuyền trở về bỗng thấy ba ông già chạy đuổi theo thuyền trên biển cả. Họ thưa rằng họ quên hết kinh kệ và nghi thức tôn giáo, họ xin ngài dạy lại. cho họ. Vị giám mục sững sờ vì ba vị ấy đã là ba vị thánh có phép lạ . Ngài bảo họ cứ theo lề lối cũ cũng được...
Tôn giáo nào cũng đề cao những vị tu sĩ, coi họ là người thay chúa, thay thần linh... . Đạo thờ cúng tổ tiên là một đạo không có tu sĩ, vì ai cũng là kẻ thờ phụng tổ tiên, cha mẹ mình. Đức Phật đặt ra bốn hạng đệ tử : tu sĩ nam, tu sĩ nữ, cư sĩ nam, cư sĩ nữ. Nếu phân chia một cách khác, có hai hạng đệ tử : hạng xuất gia và hạng tại gia. Đức Phật gọi hạng xuât gia là" trưởng tử của Như Lai" . Và đức Phật đã coi các vị xuất gia thuộc loại ruộng tốt nhất trong ba loại ruộng:
-Ruộng hạng nhất ( nhất đẳng điền ) : tỳ kheo
-Ruộng hạng nhì ( nhị đẳng điền ) : cư sĩ
-Ruộng hạng ba ( tam đẳng điền ) : bà la môn (2)
Thực ra đó chỉ là sự phân chia theo chiếc áo, theo hình thức trần gian. Đức Phật có sự phân chia khác, theo đạo hạnh. Xuất gia mà phạm giới sao bằng tại gia mà giữ giới ? Chính đức Phật cũng nói:
" Không phải mang đại y mà tâm tham dục được đoạn diệt."(3)
Đức Phật lại nói :
Người tại gia hay xuât gia, này các tỳ kheo, theo tà hạnh, do vì tà hạnh, người ấy không phải là người phát huy chánh lý, pháp thiện.. . Ngưòi tại gia hay xuât gia theo chánh hạnh, này các tỳ kheo, do vì chánh hạnh và nhân chánh hạnh, vị ấy là người phát triển chánh lý, pháp và thiện.. ."(4)
Sau này, Đại thừa phát triển đã có quan điểm mới. Kinh Duy Ma Cật cho rằng cư sĩ Duy Ma Cật là cao hơn Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp.... Kinh Hoa Nghiêm cho rằng nhiều cư sĩ như Minh Trí, Bửu Kế, Phổ Nhẫn là cao minh hơn các vị xuất gia ở cõi trời và cõi người.
Lục tổ Huệ Năng cũng nói :
"Muốn tu hành thì ở nhà cũng được, hà tất ở chùa"(5)
Người Việt Nam có óc thực tiễn, chú trọng tâm chứ không chú trọng hình thức. Cái quan trọng là đạo hạnh. Không có đạo hạnh thì dù đầu tròn áo vuông, dù tụng kinh kệ hay, gõ mõ giỏi, cũng chẳng đi đến đâu. Trái lại, với một tâm thiện, không tham, không sân, không si rất đủ tư cách để lên Niết Bàn, cho dù không thuộc một câu kinh, không biết ngồi thiền, không biết tụng niệm.
Quan điểm thực dụng đó được diễn tả qua ca dao, tục ngữ :
" Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối"
"Tu đâu bằng tu tại gia,
Thờ cha, kính mẹ ấy là chân tu"
Thứ nhất thì tu tại gia,
Thứ nhì tại chợ, thứ ba tại chùa"
Nhiều truyện cổ Việt Nam cũng có tư duy giống truyện " Ba ẩn sĩ" của Leon Tolstoy. Sau đây là truyện " Ông bình vôi" :
Một sư cụ tại chùa nọ đạo cao đức trọng, được dân chúng kính nể. Trong vùng có một tên trộm, một hôm giả khóc lóc, xin vào chùa thí phát quy y. Sư cụ tội nghiệp, bèn cho vào chùa nương náu. Nửa đêm, tên trộm lấy chuông khánh, đồ đạc trong chùa rồi trốn đi..Ít lâu sau, lương tâm cắn rứt, tên trộm trở lại chùa, xin thí phát quy y.
Sư cụ bị lừa một lần nên không tin tên trộm. Sư nói :" Nếu anh thành tâm sám hối, anh hãy leo lên cây cau nhảy xuống thì sẽ thành Phật."
Tên trộm thành tâm sám hối cho nên tin lời sư cụ leo lên cây cau nhảy xuống. Lúc bấy giờ Phật ở trên cao nhìn thấy, hiểu tấm lòng thành thực của tên trộm, cho nên độ anh ta về tây phương cực lạc. Thấy vậy, sư cụ rất bực tức. Nghĩ mình tu hành trọn đời mà không thành Phật, trong khi tên trộm lại thành Phật. Sư cụ bèn leo lên cây cau nhảy xuống, không ngờ rớt xuống , đầu bể, hóa thành cái bình vôi.
Truyện này cũng như truyện " Ba ẩn sĩ " cho chúng ta thấy rằng không phải căn cứ vào chiếc áo nhà tu, không phải căn cứ vào số năm đi tu mà thành đạo, mà thành bậc thánh , mà lên thiên đường. Cái đáng căn cứ là tâm, là chữ thiện. Đi tu mà còn tham dục, còn oán hờn, ghen tị thì không bằng một người thường sống lương thiện, một tên cướp buông đao , một tên trộm thành tâm sám hối.. .
Tại sao một số tác phẩm văn học Tây phương lại mang sắc thái luân lý và triết lý Đông Phương như thế ? Có nhiều lý do:
1. Văn học là tài sản chung của nhân loại. Văn học của các quốc gia, các đại dưong có những sắc thái riêng nhưng cũng có những sắc thái chung. Nét chung đó là chân, thiện, mỹ.. .Truyện Tấm Cám ( Cô Bé Lọ Lem ) là tác phẩm chung của môt số quốc gia Đông lẫn Tây.. .
2. Từ lâu , người châu Âu đã chịu ảnh hưởng của Á Châu (Trung Đông, Ấn Độ,Trung Hoa..)
Thơ Ngụ ngôn của La Fontaine có nguồn gốc Ấn Độ, Trung Á...
3.Một số văn gia đã chịu ảnh hưởng Phật giáo : Leon Tolstoy.
-----
CHÚ THÍCH:
1.Pháp Cú
2.Tương Ưng IV, Thuyết pháp, Minh Châu
dịch,tr.315-316.
3.Trung bộ I, Mã Ấp kinh,tr.282B
4.Tương Ưng V,tr.20.
5.Pháp Bảo Đàn Kinh.
====
THẦN THOẠI VIỆT NAM
*
Thần thoại (Myth ) là những câu chuyện thiêng liêng, huyền bí nói về nguồn gốc thế giới, và thế giới được cấu tạo ra như thế nào và gồm những loài vật nào. Các vai chính trong thần thoại là các thần linh, tiên thánh. Thần thoại có lẽ được sáng tạo trong thời tiền sử, được truyền khẩu qua bao đời và được tin là thật. Nhưng cũng nhiều người không tin, họ cho đó chỉ là nhãn hiệu của các tôn giáo hay các nền văn hóa.
Truyện đời xưa là truyện đã lâu đời. Truyện thần tiên là truyện về các bậc tiên thánh như truyện Tấm Cám. Thật ra giữa truyện đời xưa và truyện thần tiên chỉ khác nhau là nhân vật chính. Thần thoại cũng giống truyện thần tiên, quái dị nhưng khác nhau ở chỗ thần thoại nói về nguồn gốc thế giới và dân tộc.
Mircea Eliade đã nghiên cưới thần thoại, và định nghĩa thần thoại là lịch sử thiêng liêng, kể lại một biến cố đã xảy ra từ thuở hồng hoang mới khai thiên lập địa . Nói một cách khác, thần thoại là lịch sử các đấng siêu nhiên (Etres surnaturels ). Và điều tất yếu, chính các đấng siêu nhiên này đóng một vai trò chính trong lịch sử và vũ trụ.Nước nào cũng có thần thoại, nhưng mỗi nước có màu sắc khác nhau tùy theo quan niệm triết lý của mỗi dân tộc.
Từ trước, người ta chỉ trích thần thoại là hoang đường. Quan niệm duy lý đã có từ thế kỷ VI với Xénophane (565-470tr.TL ) khi ông chỉ trích thi sĩ Homère và Hésiode đã làm thơ kể truyện thần thoại dân gian. Nhưng khoảng thế kỷ XX, người ta đã chú trọng đến thần thoại, và thần thoại được đem giảng dạy, nghiên cứu ở đại học. Trong các thần thoại, thần thoại La Hy được người ta chú trọng nhất, coi như đó là trung tâm của văn học, triết học của nhân loại.
Thuở ban đầu, người ta đã chú trọng đến các vấn đề triết lý, và siêu hình. Con người tự hỏi ai sinh ra vũ trụ? Ai sinh ra con nguời? Con người từ đâu đến rồi đi về đâu? Truyện Bàn Cổ của Trung Hoa đã giải thích nguyên nhân cấu tạo vũ trụ:
Hỗn mang chi sơ,
Vị phân thiên điạ.
Bàn Cổ thủ xuất,
Thủy phân âm dương.
Thiên khai ư tý,
Địa tịch ư sửu,
Nhân sinh ư dần. . .
Bàn Cổ là người đầu tiên tạo dựng nên vũ trụ, nghĩa là ông có trước trời đất. Ông sinh ra rồi mới phân ra âm dương để cho vạn vật biến hóa. Mỗi ngày ông biến đổi 9 lần, mỗi lần cao thêm 10 thước. Trời cũng cao thêm, đất cũng dày thêm chừng ấy. Ông sống mười tám ngàn năm nên trời thật cao, đất thật dày. Khi ông khóc, nước mắt ông chảy làm ngập hai sông Hoàng Hà và Dương Tử. Hơi thở của ông thành gió thổi. Khi ông vui thì trời quang mây tạnh, lúc ông giận dữ thì trới đất âm u. Lúc ông chết, thân ông rã thành năm hòn núi lớn trong thiên hạ. Hai con mắt ông làm nên mặt trời, mặt trăng. Mỡ chảy thành biển cả và sông ngòi. Tóc đâm rễ vào đất sinh thảo mộc. Sâu bọ trên xác ông làm thành loài người. Truyện này đã nói lên vũ trụ quan của Trung Quốc.
Thần thoại Ấn Độ cũng nói lên vũ trụ quan của Bà La Môn giáo. Vũ trụ ban đầu là Ngã (Atman )mang hình người. Ngã nhận thấy Ngã cô độc, buồn rầu. Ngã phân mình làm hai, thành ra người đàn ông và người đàn bà, họ giao hợp sinh con cái thành loài người. Người đàn bà tự hỏi: Chàng phân mình ra làm ta, tại sao chàng lại giao hợp với ta. Không được, ta phải ẩn đi. Nàng hóa thành bò cái, chàng hóa thành bò đực. Nàng hóa thành ngựa, dê, chàng cũng biến thành ngựa dê cùng nàng giao hợp thành ra muôn loài.
Thần thọai La Mã cũng có cách giải thích quan điểm triết lý của họ. Trời ( Ouranos ) và Đất ( Gaes) đã phối hợp mà tạo thành một loài, gọi là Titan. Các Titan có một vóc dạng phi thường và có môt sức khỏe vô song. Những Titan này là những thần linh. Có 12 Titan danh tiếng ngự trị ở Olympe:
-Zeus ( Jupiter ) là chúa tể Thiên đình, là thần Mưa, thần Mây, thần Sấm Sét.
-Aphrodite (Vénus) :nữ thần Aùi tình
-Hermes ( Mercure ), con của Zeus, thần Thương Mãi.
-Ares (Mars), con của Zeus, thần Chiến Tranh.
Ngoài ra còn có các vị thần khác như Hypérien là cha Mặt Trời, Mặt Trăng và Bình Minh; Ocean là Hải Thần; Dyonysos là Thổ Thần.
Nói chung, thần thoại có mục đích giải lý do hiên hữu của vũ trụ của muôn loài, muôn việc trong vũ trụ. Phần lớn cho thượng đế là chúa tể vũ trụ. Dưới thượng đế là các thần linh , mỗi thần linh phụ trách một vài việc. Thần Sông ( Hà Bá, Long vương )cai quản sông ngòi; thần núi ( Sơn thần ) cai quản núi rừng. Thần Mưa, thần Gió, thần Sấm Sét phụ trách việc làm mưa gió trong vũ trụ. Thần Bếp (Táo quân) trông coi việc nhà. Thần Đất (Thổ Địa ) trông coi an ninh trong vùng. Tuy cho thượng đế là thần linh tối cao, nhưng mỗi tôn giáo, mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về thượng đế, ai cũng cho là thượng đế của mình là cao cả.
Những tư tưởng về thượng đế là căn cứ vào lý nhân quả: vũ trụ tại sao tồn tại? Họ trả lời vũ trụ là do một đấng sáng tạo, là ông Trời, hay một vị thần linh nào đó như ông Bàn Cổ, tạo ra. Nhưng lý nhân quả cũng gặp vấn nạn, bế tắc. Nếu căn cứ vào lý nhân quả, thượng đế sinh vũ trụ, vậy ai sinh ra thượng đế?
Không thể truy tìm mãi, người ta bảo Thượng đế là nguyên nhân thứ nhất. Thượng đế tự sinh ra. Nếu nói như vậy thì con người và vạn vật cũng có thể do ngẫu nhiên. Nhiều triết gia cho rẳng Không sinh ra Hữu. Vậy ai sinh ra Không? Phật giáo bảo vạn vật do các nhân tụ họp mà thành. Điều này có vẻ hợp với khoa học. Gió, mưa là do không khi di chuyển. Không có thần mây, thần mưa và thần gió như trong truyện Trung Quốc.
Về thượng đế, mỗi tôn giáo có quan niệm khác nhau. Phật giáo cũng như Khổng giáo tin có thượng đế nhưng thượng đế ở Phật giáo rất đặc biệt. Phật giáo quan niệm vũ trụ liên tiếp tồn tại và di chuyển, linh hồn sau khi chết chuyển qua 6 thế giới ( lục đạo luân hồi). Trong sáu thế giới, thế giới cao nhất là thiên giới tức nơi thượng đế ở, có chư tiên, chư thánh. Thế giới bậc nhì là nhân giới. Ngoài ra có địa ngục giới, tu la giới, ngạ quỷ và súc sinh. Chúng sinh có thiện căn cao nhât sẽ trở thành thượng đế cai quản vùng trời. Có rất nhiều thiên giới, do đó có nhiều thượng đế. Nhưng thượng đế không vĩnh viễn. Sau một thời gian, thượng đế sẽ phải chuyển qua thế giới khác. Đức Phật kiếp trước cũng đã ở Thiên giới. Đức Phật không là Thượng đế mà là bậc đạo sư của nhân giới và thiên giới. Mục đích của Phật giáo là Niết Bàn chứ không phải Thiên giới. Nho giáo tin có Thượng đế nhưng Nho giáo cũng như Phật giáo chú trọng việc thựïc hành điều thiện, tu nhân tích đức chứ không cầu tha lực. Thần Linh nếu có cũng phải căn cứ vào tội và phước của mỗi người chứ không phải ai năng cúng bái là được lên Thiên Đường, hoặc dùng gươm giáo, quyền lực để mở rộng lãnh thổ thượng đế. Kinh Thư có câu:
« Hoàng thiên vô thân duy đức thị phu »
(Trời không thân riêng ai, người có đức thì được trợ giúp)
Khổng Tử nói: « hoạch tội ư thiên, vô sở đảo giả « ( Có tội với Trời còn cầu nguyện vào đâu được. )
Người Việt Nam cũng theo óc duy lý mà chỉ trích Thượng Đế vì Thượng đế đã bất công, đày đọa con người
Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán,
Giết đuối người trên cạn mà chơi!
( Cung oán )
Trời ơi, trời ở không cân,
Kẻ ăn không hết, người mần không ra!
( Ca dao)
Nhìn chung, chúng ta cũng có thần thoại thuộc loại triết lý nhưng ít. Có lẽ tiền nhân không thích chép và thích kể loại này. Phần nhiều truyện loại này quy cho ông trời quyền quyết định mọi việc. Thí dụ truyện sau đây giải thích tại sao con người phải chết:
Ôâng Trời sai sứ giả truyền lênh như sau:
-Người già, người lột vỏ,
Rắn già, rắn bỏ vào săng ( hòm ).
Sứ giả vì quên , đọc lộn:
Rắn già rắn lột vỏ,
Người già, người bỏ vào săng.
Vì vậy mà rắn già lột vỏ mà sống, còn nguời già chết phải đem chôn.
Truyện sau đây giải thích tại sao loài vât không nói được:
Một nhà phú hộ nuôi trẻ giữ trâu bò. Mục đồng ham chơí, không dắt trâu qua cánh đồng nhiều cỏ, mà lại cột nó lại một chỗ.Trước khi ra về, mục đồng lấy mo cau quết bùn đắp ngoài bụng. Khi về nhà, phú ông thấy bụng trâu bò căng phồng, khen thằng bé giỏi, biết cho trâu bò ăn no căng bụng. Trâu bò tức mình nói:
-No chi mà no,
Trong mo ngoài đất.
Không tin thì lật ra mà coi.
Phú ông bèn lau sạch bùn, thấy bụng trậu bò lép kẹp với cái mo cau buộc ngoài.
Thằng bé bị đòn, khóc lóc thảm thiết. Oâng bụt bèn lấy nhang làm phép, châm vào miệng trâu bò. Từ đó trâu bò và loài vật không nói nữa. Nhìn kỹ miệng trâu bò, nay hãy còn những chấm đen do hương châm vào mà thành.
Nếu khoa học có mục đích giải thích các nguyên do của vạn vật và vũ trụ, thần thoại cũng có mục đích đó nhưng với phương pháp, nguyên tắc và dụng cụ khác nhau. Điểm trước hết là thần thoại xuất hiện vào buổi đầu của nhân loại, khi nhân loại chưa đạt một nền văn minh cao, còn khoa học thì xuất hiện sau. Thần thoại thì vẫn giữ màu sắc nguyên sơ trong khi khoa học tiến dần, từ thời thạch khi lên thời đại đồ đồng, và thời đại nguyên tử. Thần thoại mang hình thức chuyện cổ tích, cón khoa học theo phương pháp thực nghiệm. Nói một cách khác, thần thoại là hình thái khoa học của thời đầu tiên của nhân loại.
Nếu khoa học có mục đích giải thích các nguyên do của vạn vật và vũ trụ, thần thoại cũng có mục đích đó nhưng với phương pháp, nguyên tắc và dụng cụ khác nhau. Điểm trước hết là thần thoại xuất hiện vào buổi đầu của nhân loại, khi nhân loại chưa đạt một nền văn minh cao, còn khoa học thì xuất hiện sau. Thần thoại thì vẫn giữ màu sắc nguyên sơ trong khi khoa học tiến dần, từ thời thạch khi lên thời đại đồ đồng, và thời đại nguyên tử. Thần thoại mang hình thức chuyện cổ tích, cón khoa học theo phương pháp thực nghiệm. Nói một cách khác, thần thoại là hình thái khoa học của thời đầu tiên của nhân loại.
Thần thoại là gạch nối giữa lich sử và văn chương truyền khẩu. Đó là sáng tạo của nhân dân qua bao chặng đường lịch sử. Khi nghiên cứu văn chương truyền khẩu, chúng ta phải kể đến thần thoại là một bộ phận gần gũi với lịch sử. Thần thoại khác cổ tích. Cổ tích đã chuyện đã lâu đời truyền tụng trong dân gian. Thần thoại cũng khác truyện tiên, thánh, ma quỷ, truyện kinh dị vì các truyện này không có tính triết lý, lịch sử. Tuy nhiên giữa thần thoại và ma quái cũng có điều khó phân biệt.
Nhiều nhà nghiên cứu quá khích ca tụng thần thoại, coi thần thoại có giá trị cao hơn lịch sử. Augustin Thierre đã nhận định lịch sử thật chỉ tìm thấy trong những giai thoại truyền kỳ, đó là sử truyền tụng sống động và ba phần tư là thật hơn những cái mà ta gọi là lịch sử. Thật vậy, một số sử gia đã coi thần thoại là chân sử (histoire vraie) để phân biệt với giai thoại, ngụ ngôn là ngụy sử ( histoire fausse). Người ta cho thần thoại là chân sử vì nó nói lên nguồn gốc loài người, nguồn gốc dân tộc. Chân sử khác ngụy sử vì một bên thiêng liêng, còn một bên trần tục .
Thần thoại Việt Nam nổi bật nhất về mặt lịch sử. Về mặt này, thần thoại cho biết về:
-Nguồn gốc dân tộc: Họ Hồng Bàng.
-Lịch sử dân tộc: cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam: Phù Đổng, Hai bà Trưng, Nhất dạ trạch.
-Sinh hoạt của nhân dân Việt Nam: Phong tục: bánh chưng, dưa hấu, trầu cau.
Thần thoại hay việc thờ cúng và lễ hội là để tưởng niệm các bậc anh hùng vị quốc vong thân, có tính cách lịch sử chứ không có tính cách tôn giáo như ở các nước khác.
Thần thoại còn có giá trị nhân chủng. Nhà nhân chủng học C. Strehlow đã hỏi các thổ dân Uùc châu tại sao họ thực hiện các lễ nghi như thế, họ trả lời rằng vì tổ tiên họ đã làm như vậïy. Giống người Kai ở Nouvell-Guinée cho rằng họ phải tuân theo tục lệ tổ tiên, thần thánh của họ đã làm trước kia. Những tín đồ Hồi giáo cũng trả lời là họ phải làm theo những điều mà các thần linh đã làm ở buổi đầu tiên.
Trên đây, chúng tôi đã trình bày sơ lược về thần thoại vài quốc gia. Sau đây, chúng tôi xin nói về thần thoại Việt Nam.
Thần thoại Việt Nam đầu tiên đưọc chép lại trong hai quyển Việt Điện U Linh Tập và Lĩnh Nam Chích Quái.Theo Dương Quảng Hàm, Việt Điện U Linh tập có thể do một nho gia đời Lý hay đời Trần sáng tác mà Lý Tế Xuyên chỉ là kẻ nối tiếp. Việt Điện U Linh Tập gồm 27 truyện, chia làm ba mục:
1.Nhân quân: ( các vị vua, cung phi ) Sĩ Nhiếp, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, hai bà Trưng, Mị Ê. .
2. Nhân thần: ( Các bề tôi ) : Lý Ôâng Trọng, Lý Thường Kiệt, Phạm Cự Lượng. . .
3. Hạo khí anh linh: ( khí lớn linh thiêng ): thần Đồng Cổ, thần Bạch Mã, thần Tản Viên. . .
Về quyển Lĩnh Nam Chích Quái thì Dương Quảng Hàm nhận định rằng quyển này do một tác giả vô danh soạn từ trước, sau hai ông Vũ Quỳnh và Kiều Phú hiệu chính và đề tựa năm 1493. Hai quyển Việt Điện U Linh Tập và Lĩnh Nam Chích Quái góp nhặt những thần thoại, những cổ tích ở nước ta như truyện Hồng Bàng, bạch trĩ, dưa hấu, bánh chưng, Phù Đổng thiên vương, Lý Oâng Trọng, Chử Đồng Tử, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ, thần Tản Viên. . .
Lê Quý Đôn thì cho rằng Việt Điện U Linh Tập do Lý Tế Xuyên soạn vào năm Khai Hựu đời Trần; còn Lĩnh Nam Chích Quái do Trần Thế Pháp soạn và Vũ Qưỳnh đề tựa.
Dẫu sao, hai tác phẩm này đã ra đời khoảng Lý, Trần ( thế kỷ XI- XV ). Chính Vũ Quỳnh đã nói:
Bản liệt truyện này làm ra, không biết làm từ đời nào,, và người nào làm, ngờ rằng các bậc hồng sinh thạc nho đời Lý, Trần thảo sáng ra, rồi các bậc hiếu cổ bác nhã ngày nay nhuận sắc lại.
Thật ra, trong hai sách trên, chỉ có một số là thần thoại, còn một số là truyện ký lịch sử hay truyện quái dị. Các nhân vật phần lớn là Việt Nam, chỉ một vài nhân vật ngoại quốc như Sĩ Nhiếp, Mỵ Ê. Về nguồn gốc truyện thì có ba:
-truyền thuyết dân gian
-Việt sử
-Truyện ký Trung Quốc.Truyện ký Trung Quốc khá nhiều như Tam Quốc Chí của Trần Thọ( thế kỷ 3 ) là xưa nhất. Sau đó là Giao Châu Ký của Triệu Xương và Giao Châu Ký của Tăng Cổn.
Đọc kỹ các thần thoại Việt Nam, chúng ta nhận thấy nhiều điểm khác với thần thoại ngoại quốc.
1. THỜI GIAN VÀ CHỦNG LOẠI
Các nhân vật trong truyện Trung Quốc và La Hy là các siêu nhân. Họ ra đời trước nhân loại. Họ là thần thánh, ở cõi trời hay cõi tiên thánh, không thuộc loài người. Còn các nhân vật trong thần thoại Viêt Nam xuất thân là người. Kinh Đương Vương, Lạc Long Quân, Aâu Cơ là giống Rồng Tiên nhưng vẫn thuộc loài người, thuộc dòng dõi Viêm Đế bên Trung Quốc. Nhân vật cổ nhất trong thần thoại Việt Nam là Kinh Dương vương trong truyện họ Hồng Bàng. Kinh Dương vương làm vua nước Xích Quỷ vào năm nhâm tuất (2879 tr.TL? ). So với Bàn Cổ, Kinh Dương Vương sống sau khoảng 50 ngàn năm.
2. HÌNH DÁNG
Các vị thần linh trong thần thoại Trung Quốc, La Hy là siêu nhiên nên có hình dáng khác loài người. Nói đúng hơn, họ có hình dáng giống loài vật, nửa người nửa thú. Vua Phục Hy đầu người mình cá,bà Nữ Oa đầu người đuôi cá, Những Titan có hình dạng kỳ quái như có 50 đầu, một trăm đầu. Vì chúng có hình dung cổ quái nên cha trời ( Ouranos) muốn trừ bỏ chúng, đem chúng giam ở âm phủ (Tartare ). Những vị thần Hy Lạp như Pan, con của Hermès có đầu sừng dê. Thần Silène nửa người nửa ngựa, thần Satyre nửa người nửa dê.Ngoài ra có thần Cyclopes có nghĩa là mắt tròn vì thần có một mắt tròn to giữa trán, lại có thân hình cao to hơn ngọn núi. Những vị thần linh Aán Độ cũng có hình dáng kỳ lạ. Thần Agni có hai đầu, bảy lưỡi và bốn tay; thần Brahman có bốn cánh tay, năm đầu nhưng bị chặt đi một còn bốn; thần Shiva bán nam bán nữ, có sinh thực khí nam nằm trên sinh thực khí nữ, ba mắt, bốn cánh tay. . . Còn trong thần thoại Việt Nam không có ai có hình dáng kỳ dị. Phù Đổng thiên vương và Lý Oâng Trọng cao lớn nhưng vẫn là con người.
3. ĐẠO HẠNH
Nhìn chung, các thần linh Trung Quốc, Aán Độ và La Hy rất độc ác. Cha Trời đã bắt giam các con vì hình dung chúng xấu xí. Rốt cuộc, Cha Trời cũng bị con là Cronos giết chết. Cronos lên nắm quyền nhưng lại ăn thịt các con vì sợ chúng chiếm ngôi báu. Các thần Aán Độ đi đến đâu đốt phá đến đó. Một số thần linh phạm tội loạn luân. Cronos lấy em gái là Rhéa, và Zeus lấy Héra là em song sinh. Thần Brahman Aán Độ phạm tội dâm loạn với em gái là nàng Samdhyâ, tức vợ của Shiva. Một truyện khác kể rằng Brahman say mê con gái của mình là Ushas. Truyện Satan có nhiều bản khác nhau viết về nguồn gốc nhân loại. Milton đã theo Genesis mà viết Paradise Lost . Satan phạm nhiều tội ác: phản Thượng Đế, xúi dục Eve ăn trái cấm, hiếp dâm con gái y tên là Sin.
Các vị thần ngoại quốc phần lớn là hung thần, tàn sát dân lành, bắt phải cúng tế mạng người. Thần Moloch được dân Phénicien, Carthage thờ cúng. Dân chúng phải đem con đến cúng tế. Khi đứa trẻ bị đặt vào hai bàn tay tượng thần thì sẽ tụt vào lòng tượng thần đang nung nóng. Mỗi lần tế như vậy có đến hàng trăm trẻ con bị giết. Cha mẹ đứa trẻ không được khóc lóc hoặc tỏ lòng thương xót. Những nhà giàu có thường đi mua trẻ nhà nghèo chết thay cho con mình. Năm 307 trước Tây Lịch, thành bị vây, sợ thần thịnh nộ, các trưởng giả phải đem con ra tế. Lần này có khoảng 200 trẻ bị đốt. Người ta phải đánh trống, đánh chiêng để át tiếng la hét và kêu khóc thảm thiết của trẻ. Truyện này giống truyện Hà Bá cưới vợ của Trung Quốc. Tại một vùng nọ, dân có tục cưới vợ cho Hà Bá. Mỗi năm phải đem dâng một mỹ nhân, nghĩa là đem một cô gái khoảng 15 còn trinh bạch ném xuống sông cho Hà Bá làm vợ. Năm kia, môt vị huyện quan được đổi về trấn nhậm vùng này. Ộng được mời tham dự buổi cưới vợ này. Ông yêu cầu được xem mặt mỹ nhân. Ông chê cô này xấu quá, không xứng làm vợ Hà Bá. Ông yêu cầu một bà đồng xuống thưa với Hà Bá xin đình hoãn để chọn người đẹp hơn. Một lát sau, ông bực bội bảo bà đồng này chậm quá, đi mãi không về trình báo. Ông sai một bà đồng khác xuống thưa chuyện Hà Bá. Một bà đồng được ném xuống sông, nhưng cũng không thấy trở về. Oâng bảo các vị hương hào rằng bọn đồng cốt không biết nói năng, phải gửi một vị chức cao học rộng trong địa phương xuống bẩm báo với Hà Bá. Bọn chức sắc trong vùng sợ xanh mặt, phải quỳ xuống xin tha tội. Từ đó, việc cưới vợ cho Hà Bá mới chấm dứt!
Các vị thần linh Việt Nam hiền lành hơn, đạo hạnh hơn. Lạc Long Quân thương dân như con đẻ. Vua thường chơi thủy cung, mỗi khi dân chúng có điều gì kêu lên : « Bố đi đằng nào không đến mà cứu chúng con », vua liền về ngay.
Tuy nhiên, về phương diện tình cảm, đôi khi các nhân vật thần thoại Việt Nam cũng phạm lỗi. Đế Minh sinh Đế Nghi và Lộc Tục. Đế Nghi làm vua Trung Hoa, Lộc Tục ( Kinh Dương Vương ) làm vua Xìch Quỷ (Việt Nam ).Đế Nghi sinh Đế Lai. Lạc Long Quân lấy Aâu Cơ, con gái Đế Lai là anh em họ. Lĩnh Nam Chích Quái thì viết Aâu Cơ là vợ Đế Lai. Nếu theo Sử thì Lạc Long Quân lấy cháu gái, còn theo Lĩnh Nam Chích Quái thì lấy vợ của anh họ. Theo Lĩnh Nam Chích Quái, thần núi Tản Viên là một trong 50 người theo mẹ lên núi. Sơn Tinh lấy con gái Hùng Vương, như vậy là chú lấy cháu họ làm vợ, và gọi anh ruột là cha vợ hay sao?
Ngô Sĩ Liên khi bàn về chuyện này viết như sau:
Xét về ngoại sử, sách Thông Giám ( Trung Hoa) thì Đế Lai là con Đế Nghi. Cứù theo truyện chép ở đây thì Kinh Dương Vương là em Đế Nghi. Vậy mà lại dâu gia với nhau! Ấy vì đời hồng hoang, lễ nhạc chưa tỏ rõ cho nên như thế đó chăng?
Sau này về thời Lê mạt, Ngô Thời Sĩ viết Việt Sử Tiêu Aùn thì bỏ hết các thần thoại vì ông cho là hoang đường và sai lầm. Ngô Sĩ Liên cũng bỏ hết một mớ thần thoại trong các sử liệu trước, ông còn giũ lại một vài truyện quan trọng. Ngô Sĩ Liên là người ôn hòa và nhận định đúng. So với thần thoại ngoại quốc, thần thoại Việt Nam nhân bản hơn. Khoảng một, hai, ba ngàn năm trước Tây lịch, con người là bầy thú hoang, sống theo bản năng, chưa có lễ nghi luật lệ, phong tục. Lúc này chưa có giai cấp, chưa có quyền tư hữu, loài người sống tập thể trong các hang động. Khoảng năm , sáu trăm năm trước Tây lịch, một số thánh nhân mới xuất hiện như đức Phật Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử, Chrisrt. . .. Thành thử, chúng ta không nên đem lễ giáo , đạo lý Khổng, Phật mà phê phán các nhân vật tiền sử. Có điều đáng nói là tại sao người ta không sáng tác những chuyện anh hùng, đạo đức mà lại viết những chuyện dâm loạn ngay trong phạm vi tôn giáo? Hay đó là sự thực mà thế nhân chỉ kể lại mà không sáng tác (Thuật nhi bất tác )?
Nói tóm lại, thần thoại Việt Nam mang tính nhân bản và dân tộc
===
Thần thoại (Myth ) là những câu chuyện thiêng liêng, huyền bí nói về nguồn gốc thế giới, và thế giới được cấu tạo ra như thế nào và gồm những loài vật nào. Các vai chính trong thần thoại là các thần linh, tiên thánh. Thần thoại có lẽ được sáng tạo trong thời tiền sử, được truyền khẩu qua bao đời và được tin là thật. Nhưng cũng nhiều người không tin, họ cho đó chỉ là nhãn hiệu của các tôn giáo hay các nền văn hóa.
Truyện đời xưa là truyện đã lâu đời. Truyện thần tiên là truyện về các bậc tiên thánh như truyện Tấm Cám. Thật ra giữa truyện đời xưa và truyện thần tiên chỉ khác nhau là nhân vật chính. Thần thoại cũng giống truyện thần tiên, quái dị nhưng khác nhau ở chỗ thần thoại nói về nguồn gốc thế giới và dân tộc.
Mircea Eliade đã nghiên cưới thần thoại, và định nghĩa thần thoại là lịch sử thiêng liêng, kể lại một biến cố đã xảy ra từ thuở hồng hoang mới khai thiên lập địa . Nói một cách khác, thần thoại là lịch sử các đấng siêu nhiên (Etres surnaturels ). Và điều tất yếu, chính các đấng siêu nhiên này đóng một vai trò chính trong lịch sử và vũ trụ.Nước nào cũng có thần thoại, nhưng mỗi nước có màu sắc khác nhau tùy theo quan niệm triết lý của mỗi dân tộc.
Từ trước, người ta chỉ trích thần thoại là hoang đường. Quan niệm duy lý đã có từ thế kỷ VI với Xénophane (565-470tr.TL ) khi ông chỉ trích thi sĩ Homère và Hésiode đã làm thơ kể truyện thần thoại dân gian. Nhưng khoảng thế kỷ XX, người ta đã chú trọng đến thần thoại, và thần thoại được đem giảng dạy, nghiên cứu ở đại học. Trong các thần thoại, thần thoại La Hy được người ta chú trọng nhất, coi như đó là trung tâm của văn học, triết học của nhân loại.
Thuở ban đầu, người ta đã chú trọng đến các vấn đề triết lý, và siêu hình. Con người tự hỏi ai sinh ra vũ trụ? Ai sinh ra con nguời? Con người từ đâu đến rồi đi về đâu? Truyện Bàn Cổ của Trung Hoa đã giải thích nguyên nhân cấu tạo vũ trụ:
Hỗn mang chi sơ,
Vị phân thiên điạ.
Bàn Cổ thủ xuất,
Thủy phân âm dương.
Thiên khai ư tý,
Địa tịch ư sửu,
Nhân sinh ư dần. . .
Bàn Cổ là người đầu tiên tạo dựng nên vũ trụ, nghĩa là ông có trước trời đất. Ông sinh ra rồi mới phân ra âm dương để cho vạn vật biến hóa. Mỗi ngày ông biến đổi 9 lần, mỗi lần cao thêm 10 thước. Trời cũng cao thêm, đất cũng dày thêm chừng ấy. Ông sống mười tám ngàn năm nên trời thật cao, đất thật dày. Khi ông khóc, nước mắt ông chảy làm ngập hai sông Hoàng Hà và Dương Tử. Hơi thở của ông thành gió thổi. Khi ông vui thì trời quang mây tạnh, lúc ông giận dữ thì trới đất âm u. Lúc ông chết, thân ông rã thành năm hòn núi lớn trong thiên hạ. Hai con mắt ông làm nên mặt trời, mặt trăng. Mỡ chảy thành biển cả và sông ngòi. Tóc đâm rễ vào đất sinh thảo mộc. Sâu bọ trên xác ông làm thành loài người. Truyện này đã nói lên vũ trụ quan của Trung Quốc.
Thần thoại Ấn Độ cũng nói lên vũ trụ quan của Bà La Môn giáo. Vũ trụ ban đầu là Ngã (Atman )mang hình người. Ngã nhận thấy Ngã cô độc, buồn rầu. Ngã phân mình làm hai, thành ra người đàn ông và người đàn bà, họ giao hợp sinh con cái thành loài người. Người đàn bà tự hỏi: Chàng phân mình ra làm ta, tại sao chàng lại giao hợp với ta. Không được, ta phải ẩn đi. Nàng hóa thành bò cái, chàng hóa thành bò đực. Nàng hóa thành ngựa, dê, chàng cũng biến thành ngựa dê cùng nàng giao hợp thành ra muôn loài.
Thần thọai La Mã cũng có cách giải thích quan điểm triết lý của họ. Trời ( Ouranos ) và Đất ( Gaes) đã phối hợp mà tạo thành một loài, gọi là Titan. Các Titan có một vóc dạng phi thường và có môt sức khỏe vô song. Những Titan này là những thần linh. Có 12 Titan danh tiếng ngự trị ở Olympe:
-Zeus ( Jupiter ) là chúa tể Thiên đình, là thần Mưa, thần Mây, thần Sấm Sét.
-Aphrodite (Vénus) :nữ thần Aùi tình
-Hermes ( Mercure ), con của Zeus, thần Thương Mãi.
-Ares (Mars), con của Zeus, thần Chiến Tranh.
Ngoài ra còn có các vị thần khác như Hypérien là cha Mặt Trời, Mặt Trăng và Bình Minh; Ocean là Hải Thần; Dyonysos là Thổ Thần.
Nói chung, thần thoại có mục đích giải lý do hiên hữu của vũ trụ của muôn loài, muôn việc trong vũ trụ. Phần lớn cho thượng đế là chúa tể vũ trụ. Dưới thượng đế là các thần linh , mỗi thần linh phụ trách một vài việc. Thần Sông ( Hà Bá, Long vương )cai quản sông ngòi; thần núi ( Sơn thần ) cai quản núi rừng. Thần Mưa, thần Gió, thần Sấm Sét phụ trách việc làm mưa gió trong vũ trụ. Thần Bếp (Táo quân) trông coi việc nhà. Thần Đất (Thổ Địa ) trông coi an ninh trong vùng. Tuy cho thượng đế là thần linh tối cao, nhưng mỗi tôn giáo, mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về thượng đế, ai cũng cho là thượng đế của mình là cao cả.
Những tư tưởng về thượng đế là căn cứ vào lý nhân quả: vũ trụ tại sao tồn tại? Họ trả lời vũ trụ là do một đấng sáng tạo, là ông Trời, hay một vị thần linh nào đó như ông Bàn Cổ, tạo ra. Nhưng lý nhân quả cũng gặp vấn nạn, bế tắc. Nếu căn cứ vào lý nhân quả, thượng đế sinh vũ trụ, vậy ai sinh ra thượng đế?
Không thể truy tìm mãi, người ta bảo Thượng đế là nguyên nhân thứ nhất. Thượng đế tự sinh ra. Nếu nói như vậy thì con người và vạn vật cũng có thể do ngẫu nhiên. Nhiều triết gia cho rẳng Không sinh ra Hữu. Vậy ai sinh ra Không? Phật giáo bảo vạn vật do các nhân tụ họp mà thành. Điều này có vẻ hợp với khoa học. Gió, mưa là do không khi di chuyển. Không có thần mây, thần mưa và thần gió như trong truyện Trung Quốc.
Về thượng đế, mỗi tôn giáo có quan niệm khác nhau. Phật giáo cũng như Khổng giáo tin có thượng đế nhưng thượng đế ở Phật giáo rất đặc biệt. Phật giáo quan niệm vũ trụ liên tiếp tồn tại và di chuyển, linh hồn sau khi chết chuyển qua 6 thế giới ( lục đạo luân hồi). Trong sáu thế giới, thế giới cao nhất là thiên giới tức nơi thượng đế ở, có chư tiên, chư thánh. Thế giới bậc nhì là nhân giới. Ngoài ra có địa ngục giới, tu la giới, ngạ quỷ và súc sinh. Chúng sinh có thiện căn cao nhât sẽ trở thành thượng đế cai quản vùng trời. Có rất nhiều thiên giới, do đó có nhiều thượng đế. Nhưng thượng đế không vĩnh viễn. Sau một thời gian, thượng đế sẽ phải chuyển qua thế giới khác. Đức Phật kiếp trước cũng đã ở Thiên giới. Đức Phật không là Thượng đế mà là bậc đạo sư của nhân giới và thiên giới. Mục đích của Phật giáo là Niết Bàn chứ không phải Thiên giới. Nho giáo tin có Thượng đế nhưng Nho giáo cũng như Phật giáo chú trọng việc thựïc hành điều thiện, tu nhân tích đức chứ không cầu tha lực. Thần Linh nếu có cũng phải căn cứ vào tội và phước của mỗi người chứ không phải ai năng cúng bái là được lên Thiên Đường, hoặc dùng gươm giáo, quyền lực để mở rộng lãnh thổ thượng đế. Kinh Thư có câu:
« Hoàng thiên vô thân duy đức thị phu »
(Trời không thân riêng ai, người có đức thì được trợ giúp)
Khổng Tử nói: « hoạch tội ư thiên, vô sở đảo giả « ( Có tội với Trời còn cầu nguyện vào đâu được. )
Người Việt Nam cũng theo óc duy lý mà chỉ trích Thượng Đế vì Thượng đế đã bất công, đày đọa con người
Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán,
Giết đuối người trên cạn mà chơi!
( Cung oán )
Trời ơi, trời ở không cân,
Kẻ ăn không hết, người mần không ra!
( Ca dao)
Nhìn chung, chúng ta cũng có thần thoại thuộc loại triết lý nhưng ít. Có lẽ tiền nhân không thích chép và thích kể loại này. Phần nhiều truyện loại này quy cho ông trời quyền quyết định mọi việc. Thí dụ truyện sau đây giải thích tại sao con người phải chết:
Ôâng Trời sai sứ giả truyền lênh như sau:
-Người già, người lột vỏ,
Rắn già, rắn bỏ vào săng ( hòm ).
Sứ giả vì quên , đọc lộn:
Rắn già rắn lột vỏ,
Người già, người bỏ vào săng.
Vì vậy mà rắn già lột vỏ mà sống, còn nguời già chết phải đem chôn.
Truyện sau đây giải thích tại sao loài vât không nói được:
Một nhà phú hộ nuôi trẻ giữ trâu bò. Mục đồng ham chơí, không dắt trâu qua cánh đồng nhiều cỏ, mà lại cột nó lại một chỗ.Trước khi ra về, mục đồng lấy mo cau quết bùn đắp ngoài bụng. Khi về nhà, phú ông thấy bụng trâu bò căng phồng, khen thằng bé giỏi, biết cho trâu bò ăn no căng bụng. Trâu bò tức mình nói:
-No chi mà no,
Trong mo ngoài đất.
Không tin thì lật ra mà coi.
Phú ông bèn lau sạch bùn, thấy bụng trậu bò lép kẹp với cái mo cau buộc ngoài.
Thằng bé bị đòn, khóc lóc thảm thiết. Oâng bụt bèn lấy nhang làm phép, châm vào miệng trâu bò. Từ đó trâu bò và loài vật không nói nữa. Nhìn kỹ miệng trâu bò, nay hãy còn những chấm đen do hương châm vào mà thành.
Nếu khoa học có mục đích giải thích các nguyên do của vạn vật và vũ trụ, thần thoại cũng có mục đích đó nhưng với phương pháp, nguyên tắc và dụng cụ khác nhau. Điểm trước hết là thần thoại xuất hiện vào buổi đầu của nhân loại, khi nhân loại chưa đạt một nền văn minh cao, còn khoa học thì xuất hiện sau. Thần thoại thì vẫn giữ màu sắc nguyên sơ trong khi khoa học tiến dần, từ thời thạch khi lên thời đại đồ đồng, và thời đại nguyên tử. Thần thoại mang hình thức chuyện cổ tích, cón khoa học theo phương pháp thực nghiệm. Nói một cách khác, thần thoại là hình thái khoa học của thời đầu tiên của nhân loại.
Nếu khoa học có mục đích giải thích các nguyên do của vạn vật và vũ trụ, thần thoại cũng có mục đích đó nhưng với phương pháp, nguyên tắc và dụng cụ khác nhau. Điểm trước hết là thần thoại xuất hiện vào buổi đầu của nhân loại, khi nhân loại chưa đạt một nền văn minh cao, còn khoa học thì xuất hiện sau. Thần thoại thì vẫn giữ màu sắc nguyên sơ trong khi khoa học tiến dần, từ thời thạch khi lên thời đại đồ đồng, và thời đại nguyên tử. Thần thoại mang hình thức chuyện cổ tích, cón khoa học theo phương pháp thực nghiệm. Nói một cách khác, thần thoại là hình thái khoa học của thời đầu tiên của nhân loại.
Thần thoại là gạch nối giữa lich sử và văn chương truyền khẩu. Đó là sáng tạo của nhân dân qua bao chặng đường lịch sử. Khi nghiên cứu văn chương truyền khẩu, chúng ta phải kể đến thần thoại là một bộ phận gần gũi với lịch sử. Thần thoại khác cổ tích. Cổ tích đã chuyện đã lâu đời truyền tụng trong dân gian. Thần thoại cũng khác truyện tiên, thánh, ma quỷ, truyện kinh dị vì các truyện này không có tính triết lý, lịch sử. Tuy nhiên giữa thần thoại và ma quái cũng có điều khó phân biệt.
Nhiều nhà nghiên cứu quá khích ca tụng thần thoại, coi thần thoại có giá trị cao hơn lịch sử. Augustin Thierre đã nhận định lịch sử thật chỉ tìm thấy trong những giai thoại truyền kỳ, đó là sử truyền tụng sống động và ba phần tư là thật hơn những cái mà ta gọi là lịch sử. Thật vậy, một số sử gia đã coi thần thoại là chân sử (histoire vraie) để phân biệt với giai thoại, ngụ ngôn là ngụy sử ( histoire fausse). Người ta cho thần thoại là chân sử vì nó nói lên nguồn gốc loài người, nguồn gốc dân tộc. Chân sử khác ngụy sử vì một bên thiêng liêng, còn một bên trần tục .
Thần thoại Việt Nam nổi bật nhất về mặt lịch sử. Về mặt này, thần thoại cho biết về:
-Nguồn gốc dân tộc: Họ Hồng Bàng.
-Lịch sử dân tộc: cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam: Phù Đổng, Hai bà Trưng, Nhất dạ trạch.
-Sinh hoạt của nhân dân Việt Nam: Phong tục: bánh chưng, dưa hấu, trầu cau.
Thần thoại hay việc thờ cúng và lễ hội là để tưởng niệm các bậc anh hùng vị quốc vong thân, có tính cách lịch sử chứ không có tính cách tôn giáo như ở các nước khác.
Thần thoại còn có giá trị nhân chủng. Nhà nhân chủng học C. Strehlow đã hỏi các thổ dân Uùc châu tại sao họ thực hiện các lễ nghi như thế, họ trả lời rằng vì tổ tiên họ đã làm như vậïy. Giống người Kai ở Nouvell-Guinée cho rằng họ phải tuân theo tục lệ tổ tiên, thần thánh của họ đã làm trước kia. Những tín đồ Hồi giáo cũng trả lời là họ phải làm theo những điều mà các thần linh đã làm ở buổi đầu tiên.
Trên đây, chúng tôi đã trình bày sơ lược về thần thoại vài quốc gia. Sau đây, chúng tôi xin nói về thần thoại Việt Nam.
Thần thoại Việt Nam đầu tiên đưọc chép lại trong hai quyển Việt Điện U Linh Tập và Lĩnh Nam Chích Quái.Theo Dương Quảng Hàm, Việt Điện U Linh tập có thể do một nho gia đời Lý hay đời Trần sáng tác mà Lý Tế Xuyên chỉ là kẻ nối tiếp. Việt Điện U Linh Tập gồm 27 truyện, chia làm ba mục:
1.Nhân quân: ( các vị vua, cung phi ) Sĩ Nhiếp, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, hai bà Trưng, Mị Ê. .
2. Nhân thần: ( Các bề tôi ) : Lý Ôâng Trọng, Lý Thường Kiệt, Phạm Cự Lượng. . .
3. Hạo khí anh linh: ( khí lớn linh thiêng ): thần Đồng Cổ, thần Bạch Mã, thần Tản Viên. . .
Về quyển Lĩnh Nam Chích Quái thì Dương Quảng Hàm nhận định rằng quyển này do một tác giả vô danh soạn từ trước, sau hai ông Vũ Quỳnh và Kiều Phú hiệu chính và đề tựa năm 1493. Hai quyển Việt Điện U Linh Tập và Lĩnh Nam Chích Quái góp nhặt những thần thoại, những cổ tích ở nước ta như truyện Hồng Bàng, bạch trĩ, dưa hấu, bánh chưng, Phù Đổng thiên vương, Lý Oâng Trọng, Chử Đồng Tử, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ, thần Tản Viên. . .
Lê Quý Đôn thì cho rằng Việt Điện U Linh Tập do Lý Tế Xuyên soạn vào năm Khai Hựu đời Trần; còn Lĩnh Nam Chích Quái do Trần Thế Pháp soạn và Vũ Qưỳnh đề tựa.
Dẫu sao, hai tác phẩm này đã ra đời khoảng Lý, Trần ( thế kỷ XI- XV ). Chính Vũ Quỳnh đã nói:
Bản liệt truyện này làm ra, không biết làm từ đời nào,, và người nào làm, ngờ rằng các bậc hồng sinh thạc nho đời Lý, Trần thảo sáng ra, rồi các bậc hiếu cổ bác nhã ngày nay nhuận sắc lại.
Thật ra, trong hai sách trên, chỉ có một số là thần thoại, còn một số là truyện ký lịch sử hay truyện quái dị. Các nhân vật phần lớn là Việt Nam, chỉ một vài nhân vật ngoại quốc như Sĩ Nhiếp, Mỵ Ê. Về nguồn gốc truyện thì có ba:
-truyền thuyết dân gian
-Việt sử
-Truyện ký Trung Quốc.Truyện ký Trung Quốc khá nhiều như Tam Quốc Chí của Trần Thọ( thế kỷ 3 ) là xưa nhất. Sau đó là Giao Châu Ký của Triệu Xương và Giao Châu Ký của Tăng Cổn.
Đọc kỹ các thần thoại Việt Nam, chúng ta nhận thấy nhiều điểm khác với thần thoại ngoại quốc.
1. THỜI GIAN VÀ CHỦNG LOẠI
Các nhân vật trong truyện Trung Quốc và La Hy là các siêu nhân. Họ ra đời trước nhân loại. Họ là thần thánh, ở cõi trời hay cõi tiên thánh, không thuộc loài người. Còn các nhân vật trong thần thoại Viêt Nam xuất thân là người. Kinh Đương Vương, Lạc Long Quân, Aâu Cơ là giống Rồng Tiên nhưng vẫn thuộc loài người, thuộc dòng dõi Viêm Đế bên Trung Quốc. Nhân vật cổ nhất trong thần thoại Việt Nam là Kinh Dương vương trong truyện họ Hồng Bàng. Kinh Dương vương làm vua nước Xích Quỷ vào năm nhâm tuất (2879 tr.TL? ). So với Bàn Cổ, Kinh Dương Vương sống sau khoảng 50 ngàn năm.
2. HÌNH DÁNG
Các vị thần linh trong thần thoại Trung Quốc, La Hy là siêu nhiên nên có hình dáng khác loài người. Nói đúng hơn, họ có hình dáng giống loài vật, nửa người nửa thú. Vua Phục Hy đầu người mình cá,bà Nữ Oa đầu người đuôi cá, Những Titan có hình dạng kỳ quái như có 50 đầu, một trăm đầu. Vì chúng có hình dung cổ quái nên cha trời ( Ouranos) muốn trừ bỏ chúng, đem chúng giam ở âm phủ (Tartare ). Những vị thần Hy Lạp như Pan, con của Hermès có đầu sừng dê. Thần Silène nửa người nửa ngựa, thần Satyre nửa người nửa dê.Ngoài ra có thần Cyclopes có nghĩa là mắt tròn vì thần có một mắt tròn to giữa trán, lại có thân hình cao to hơn ngọn núi. Những vị thần linh Aán Độ cũng có hình dáng kỳ lạ. Thần Agni có hai đầu, bảy lưỡi và bốn tay; thần Brahman có bốn cánh tay, năm đầu nhưng bị chặt đi một còn bốn; thần Shiva bán nam bán nữ, có sinh thực khí nam nằm trên sinh thực khí nữ, ba mắt, bốn cánh tay. . . Còn trong thần thoại Việt Nam không có ai có hình dáng kỳ dị. Phù Đổng thiên vương và Lý Oâng Trọng cao lớn nhưng vẫn là con người.
3. ĐẠO HẠNH
Nhìn chung, các thần linh Trung Quốc, Aán Độ và La Hy rất độc ác. Cha Trời đã bắt giam các con vì hình dung chúng xấu xí. Rốt cuộc, Cha Trời cũng bị con là Cronos giết chết. Cronos lên nắm quyền nhưng lại ăn thịt các con vì sợ chúng chiếm ngôi báu. Các thần Aán Độ đi đến đâu đốt phá đến đó. Một số thần linh phạm tội loạn luân. Cronos lấy em gái là Rhéa, và Zeus lấy Héra là em song sinh. Thần Brahman Aán Độ phạm tội dâm loạn với em gái là nàng Samdhyâ, tức vợ của Shiva. Một truyện khác kể rằng Brahman say mê con gái của mình là Ushas. Truyện Satan có nhiều bản khác nhau viết về nguồn gốc nhân loại. Milton đã theo Genesis mà viết Paradise Lost . Satan phạm nhiều tội ác: phản Thượng Đế, xúi dục Eve ăn trái cấm, hiếp dâm con gái y tên là Sin.
Các vị thần ngoại quốc phần lớn là hung thần, tàn sát dân lành, bắt phải cúng tế mạng người. Thần Moloch được dân Phénicien, Carthage thờ cúng. Dân chúng phải đem con đến cúng tế. Khi đứa trẻ bị đặt vào hai bàn tay tượng thần thì sẽ tụt vào lòng tượng thần đang nung nóng. Mỗi lần tế như vậy có đến hàng trăm trẻ con bị giết. Cha mẹ đứa trẻ không được khóc lóc hoặc tỏ lòng thương xót. Những nhà giàu có thường đi mua trẻ nhà nghèo chết thay cho con mình. Năm 307 trước Tây Lịch, thành bị vây, sợ thần thịnh nộ, các trưởng giả phải đem con ra tế. Lần này có khoảng 200 trẻ bị đốt. Người ta phải đánh trống, đánh chiêng để át tiếng la hét và kêu khóc thảm thiết của trẻ. Truyện này giống truyện Hà Bá cưới vợ của Trung Quốc. Tại một vùng nọ, dân có tục cưới vợ cho Hà Bá. Mỗi năm phải đem dâng một mỹ nhân, nghĩa là đem một cô gái khoảng 15 còn trinh bạch ném xuống sông cho Hà Bá làm vợ. Năm kia, môt vị huyện quan được đổi về trấn nhậm vùng này. Ộng được mời tham dự buổi cưới vợ này. Ông yêu cầu được xem mặt mỹ nhân. Ông chê cô này xấu quá, không xứng làm vợ Hà Bá. Ông yêu cầu một bà đồng xuống thưa với Hà Bá xin đình hoãn để chọn người đẹp hơn. Một lát sau, ông bực bội bảo bà đồng này chậm quá, đi mãi không về trình báo. Ông sai một bà đồng khác xuống thưa chuyện Hà Bá. Một bà đồng được ném xuống sông, nhưng cũng không thấy trở về. Oâng bảo các vị hương hào rằng bọn đồng cốt không biết nói năng, phải gửi một vị chức cao học rộng trong địa phương xuống bẩm báo với Hà Bá. Bọn chức sắc trong vùng sợ xanh mặt, phải quỳ xuống xin tha tội. Từ đó, việc cưới vợ cho Hà Bá mới chấm dứt!
Các vị thần linh Việt Nam hiền lành hơn, đạo hạnh hơn. Lạc Long Quân thương dân như con đẻ. Vua thường chơi thủy cung, mỗi khi dân chúng có điều gì kêu lên : « Bố đi đằng nào không đến mà cứu chúng con », vua liền về ngay.
Tuy nhiên, về phương diện tình cảm, đôi khi các nhân vật thần thoại Việt Nam cũng phạm lỗi. Đế Minh sinh Đế Nghi và Lộc Tục. Đế Nghi làm vua Trung Hoa, Lộc Tục ( Kinh Dương Vương ) làm vua Xìch Quỷ (Việt Nam ).Đế Nghi sinh Đế Lai. Lạc Long Quân lấy Aâu Cơ, con gái Đế Lai là anh em họ. Lĩnh Nam Chích Quái thì viết Aâu Cơ là vợ Đế Lai. Nếu theo Sử thì Lạc Long Quân lấy cháu gái, còn theo Lĩnh Nam Chích Quái thì lấy vợ của anh họ. Theo Lĩnh Nam Chích Quái, thần núi Tản Viên là một trong 50 người theo mẹ lên núi. Sơn Tinh lấy con gái Hùng Vương, như vậy là chú lấy cháu họ làm vợ, và gọi anh ruột là cha vợ hay sao?
Ngô Sĩ Liên khi bàn về chuyện này viết như sau:
Xét về ngoại sử, sách Thông Giám ( Trung Hoa) thì Đế Lai là con Đế Nghi. Cứù theo truyện chép ở đây thì Kinh Dương Vương là em Đế Nghi. Vậy mà lại dâu gia với nhau! Ấy vì đời hồng hoang, lễ nhạc chưa tỏ rõ cho nên như thế đó chăng?
Sau này về thời Lê mạt, Ngô Thời Sĩ viết Việt Sử Tiêu Aùn thì bỏ hết các thần thoại vì ông cho là hoang đường và sai lầm. Ngô Sĩ Liên cũng bỏ hết một mớ thần thoại trong các sử liệu trước, ông còn giũ lại một vài truyện quan trọng. Ngô Sĩ Liên là người ôn hòa và nhận định đúng. So với thần thoại ngoại quốc, thần thoại Việt Nam nhân bản hơn. Khoảng một, hai, ba ngàn năm trước Tây lịch, con người là bầy thú hoang, sống theo bản năng, chưa có lễ nghi luật lệ, phong tục. Lúc này chưa có giai cấp, chưa có quyền tư hữu, loài người sống tập thể trong các hang động. Khoảng năm , sáu trăm năm trước Tây lịch, một số thánh nhân mới xuất hiện như đức Phật Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử, Chrisrt. . .. Thành thử, chúng ta không nên đem lễ giáo , đạo lý Khổng, Phật mà phê phán các nhân vật tiền sử. Có điều đáng nói là tại sao người ta không sáng tác những chuyện anh hùng, đạo đức mà lại viết những chuyện dâm loạn ngay trong phạm vi tôn giáo? Hay đó là sự thực mà thế nhân chỉ kể lại mà không sáng tác (Thuật nhi bất tác )?
Nói tóm lại, thần thoại Việt Nam mang tính nhân bản và dân tộc
===
AI GIẾT THÂN TRONG ĐOẠN TUIYỆT?
*
Quyển Đoạn Tuyệt của Nhất Linh đã kết thúc bằng một án mạng, hay nói rõ hơn, bằng cái chết bi đát của Thân. Thân đã chết bởi bàn tay người vợ mà chàng đã ôm ấp và yêu dấu. Ta thử quay lại khúc phim đẫm máu này:
Loan thấy Thân nằm bên cạnh chốc chốc
lại vật mình thở dài. Nàng biết Thân bực tức lắm, vì Thân chỉ đợi nàng tắt đèn đi ngủ là xuống nhà dưới với Tuất, vì từ hôm dọn nhà lên Hà Nội để chữa lại nhà ở dưới ấp, Tuất về quê vắng, hôm nay vừa mới lên.
-Sao bảo mợ tắt đèn, mợ lại không tắt đèn?
-Ô hay! Cậu cứ đi ngủ đi, tôi cần đèn để xem sách.
-Mợ để đèn, tôi không ngủ được.
-Cậu xoay mặt vào tường mà ngủ.
Loan hơi lấy làm lạ về câu nói gắt gỏng và lần đấu có ý trịch thượng của mình đối với chồng.. . .
. . . . . . . . . . . .
-Tôi bảo mợ không nghe à? Phép ở đâu thế?
-Tôi xin cậu để yên cho tôi xem. Cậu muốn tắt đèn thì ra mà tắt.
Yên lặng một lúc rồi Loan thấy chồng giật lấy quyển sách ở tay nàng vứt mạnh xuống đất. Loan đặt con dao lên bàn., cúi xuống nhặt sách, phủ bụi rồi lẳng lặng dở ra đọc, làm như không xảy ra sự gì cả. Loaqn thấy Thân ngồi nhỏm dậy, liền quay lại hỏi:
-Cậu làm gì thế?
-Mợ không được láo.
-Tôi láo cái gì?
Thân đập mạnh hai tay xuống chiếu quát:
-Mợ cãi à?
Rồi tiện chân đạp mạnh vào lưng Loan, làm Loan ngã lăn xuống đất. Nàng vừa lóp ngóp dậy đương vấn lại tóc thì ở ngoài nhà có tiếng bà Phán:
-Làm gì huỳnh huỵch trong ấy thế? Có dạy vợ thì thì lúc khác hãy dạy, để yên cho người ta ngủ.. .
. . . . . . . . . . . .
-Phải có thế mới là đồ mất dạy.
-Mất dạy là người đánh đàn bà yếu ớt, hèn nhát một lũ.
-Bà Phàn vội quá, đi chân đất vào buồng, nhìn Loan hỏi:
-Mợ nói gì thế? Mày nói gì thế, con kia?
-Loan quay mặt vào trong không đáp. Bà Phán nói tiếp:
-Bà thủ đánh mày một cái tát, xem mày còn bảo là hèn nhát nữa không?
-Không ai có quyền chửi tôi, không ai có quyền đánh tôi.
-Tao có quyền, mày chửi lại xem nào.. . .
. . . . . . . . . . .
Bà Phán đã ngồi dậy, trỏ tay, mồm nói:
-Đánh chết nó đi cho tôi. Chết đã có tôi chịu tội.
-Loan vẫn lùi. Thân hục hặc nhìn quanh, rồi tiện tay cầm lấy cái lọ đồng sấn lại phía nàng. Loan đã thấy Thân đến gần mình, trong lúc hốt hoảng liền vớ ngay con dao díp rọc sách để ở bàn định giơ đỡ. Thân như con chổ dữ đạp đổ một cái lọ đồng đập vào Loan. Loan né mình tránh được và trượt chân ngã xuống giường, con dao cầm chắc trong tay. Thân quá đá cũng ngã mạnh vào người Loan. Loan thấycái cán dao ấn mạnh lên tay nàng và Thân kêu lên một tiếng. Con sen cũng kêu theo:
-Trời ơi! Cậu giết chết mợ con rồi.
Loan buông dao, rút mạnh tay đứng dậy, còn Thân thì nằm ngữa ra hai tay ôm ngực. Bỗng Loan mở to mắt nhìn một vết đỏ loang trên áo Thân. Nàng sợ hãi, đưa hai tay lên che mồm, bỗng dừng lại: mấy ngón tay nàng đã vấy máu đỏ loè.
Nội vụ ra trước tòa, ông chưởng lý buộc tôïi Loan đã giết chồng:
Thị Loan không thể cãi rằng không định tâm giết chồng. Nói rằng cầm dao để đỡ cái lọ đồng trong khi né mình tránh khỏi là một sự vô lý. Mà không có cái gì tỏ ra rằng người chống vác lọ đồng để đánh chết vợ, một người vợ đã hỗn với mẹ mình! Thị Loan đã khôn khéo, phải, rất khôn khéo, vì đã giết chồng mà khéo làm ra như là chồng tự giết mình. Tôi rất phục. Nhưng cái khéo đó là của một người nham hiểm, một người gain trá. Tôi xin tòa trị tội thật nặng để làm gương cho người khác .(108)
Luật sư của Loan đã bênh vực Loan trước tòa. Ôâng cho rằng Loan cầm dao để đỡ lọ đồng chứ không cố ý giết chồng. Hơn nữa, giấy chứng nhận của bác sĩ đã cho thấy Loan vô tội:
Loan không giết chồng! Điều đó là một sự dĩ nhiên rồi. Giấy chứng của đốc tờ, lời khai sự thực của con sen đúng với lời khai của bị cáo nhân, đã tỏ ra một cách rõ ràng rằng những lời khai khác hẳn của gia nhân người thiệt mạng toàn là những lời vu khống vì thù ghét. (184-185)
Đi xa hơn nữa, trạng sư của Loan đã quy tội cho bà Phán Lợi đã giết con, và chính cái xung khắc của xã hội đương thời đã giết chết Thân:
Chính bà mẹ chồng đã giết chết con bà mà bà không biết, mà còn đổ cho Thị Loan cái tội giết chồng. Nhưng bà có biết đâu, con bà chết là lỗi ở bà, lỗi ở cái luân lý trái mùa và quá ư nghiêm nhặt kia. Người có tội chính là bà mẹ chồng Thị Loan và với cái luân lý cổ hủ kia.
Nhưng nếu vượt lên trên, và nghĩ rộng ra không kể đến cá nhân nữa, thì bao nhiêu những việc xảy ra không phải lỗi ở người nào cả, mà là lỗi ở sự xung đột hiện thời đang khốc liệt của hai cái mới cũ. (186-187)
Nhất Linh khi viết quyển Đoạn Tuyệt đã có ý chứng minh rằng xã hội cũ, gia đình cũ, cùng những quan niệm về hôn nhân của lớp người cũ là sai lầm, xấu xa, cần phải loại bỏ. Lời của luật sư chính là lời của Nhất Linh. Người tây phương có câu: Công lý là cái bình có hai quai. Nghe qua thì thấy bên nào cũng có lý vì công tố viên và luật sư bên nguyên, bên bị đều tinh thông pháp luật, và kinh nghiệm đầy mình. Và sự việc khi ra pháp đình, kết quả cũng giống như trò « tài xỉu » mà thôi.
Cái giấy của bác sĩ chứng nhận Thân chết vì ngã vào con dao đã chứng minh Loan vô tội.Nhưng luật pháp và tòa án thường có những kẽ hở. Nhất Linh cực đoan nên đổ tội cho chế độ gia đình cũ. Chúng ta cũng nhận thấy gia đình cũ có nhiều sai lầm.
Tuy nhiên, ở xã hội tự do, cũng có nhiều cặp vợ chồng xô xát, gây ra án mạng. Và xã hội ta, mẹ chồng khắc nghiệt và nạn đa thê song không phải gia đình nào cũng đưa đến đổ máu. Vậy sự xung đột trong gia đình không thể đổ cho chế độ gia đình cũ, nạn mẹ chồng khắc nghiệt và tục đa thê. Sự xung đột giữa hai vợ chồng phần chính là do cách đối xử giữa hai vợ chồng. Trong vụ này, có hai vấn đề nổi bật. Một là nạn đa thê. Thân lấy vợ bé cho nên Loan sinh ra ghen và tìm cách cản Thân xuống nhà với Tuất, vì vậy, nàng không chịu tắt đèn. Loan chỉ có hai thái độ.
Một là chấp nhận tục đa thê. Hai là xin ly dị chứ không nên ghen tuông vô ích. Vì Loan tìm cách ngăn cản cho nên đưa đến tranh cãi và đưa đến chết chóc. Vấn đề thứ hai là cách đối xử. Khi sống chung với nhau, người ta phải tôn trọng lẫn nhau. Sự yêu thương và tôn trọng được thể hiện ở cách cư xử với nhau và ngôn ngữ. Đến giờ ngủ, phải tắt đèn. Việc này rất cần thiết để cho hai người được ngủ yên, nhất là hai người hay một người phải dậy sớm đi làm việc, hoặc một trong hai người khó ngủ. Loan ngoan cố để đèn tức là Loan gây sự. Hơn nữa, Loan không nên gây sự với mẹ chồng. Nàng không nên nói « hèn nhát một lũ « .
Nếu đi xa hơn, chúng ta còn thấy một lý do khác. Đó là mối tương quan giữa Loan và Dũng. Bà giáo Thảo là người khôn ngoan, đã dặn Loan trước khi ra tòa:
Chị cứ để chúng tôi lo liệu hết cách cho khỏi tù tội… . Cốt nhất là chị nhớ đừng đả động đến gì đến việc của chị với Dũng .(174 )
Như vậy, theo bà giáo Thảo, Dũng có liên quan dù là gián tiếp đến cái chết của Thân. Thật ra, Dũng không hề có hứa hẹn gì với Loan mặc dầu trong tâm chàng đã thầm yêu Loan. Dũng không tỏ tình với Loan, gặp Loan, Dũng làm bộ thản nhiên vì Dũng sắp lên đường theo tiếng gọi tổ quốc. Hơn nữa, chàng đã biết Loan đã đính ước với người ta. Về phần Loan, Loan đã yêu Dũng. Một lần, Loan đã đến thăm Dũng tại gác trọ của Dũng, Dũng rất mừng rỡ nhưng chàng trấn áp lòng mình, làm bộ lạnh lùng khiếân Loan đau lòng, nghĩ rằng Dũng chỉ xem nàng là một người bạn, và nàng tức giận bỏ ra về:
Loan hơi thất vọng, nàng muốn Dũng có vẻ ngượng nghịu đối với nàng, và tỏ ra ý buồn rầu khi sắp phải xa nàng. Vẻ ân cần, vui vẻ của Dũng làm cho nàng biết rằng Dũng chỉ coi nàng như một ngừơi bạn thôi. (19 )
Trước ngày cưới của Loan, Dũng đã bỏ đi xa để khỏi nhìn cảnh người yêu lên xe hoa về nhà chồng. Nhưng rồi chàng lại trở về để gặp Loan. Tại sao chàng không đi luôn mà lại trở về để cho Loan thêm nặng lòng? Khi xe hoa của Loan đi qua cửa Nam, nàng « thấy Dũng đứng ở đầu phố tươi cười nói chuyệïn với một thiếu nữ ăn mặc rất sang trọng. Khi nàng nhìn thấy Dũng, Dũng cố ý lánh mặt sau một thân cây ». (65 )
Dũng cố ý hay vô tình khi đứng ở đoạn đường xe Loan đi qua? Sự hiện diện của Dũng chỉ làm cho Loan xúc động, và gây bão tố trong lòng Loan và trong đời sống hôn nhân của Loan và Thân.
Loan là cô gái mới, đã say mê tiểu thuyết, đã theo chủ trương tự do luyến ái. Cụ thể là nàng đã đến phòng trọ của Dũng, và lòng đã yệu Dũng, dù là yêu đơn phương. Hình ảnh của Dũng luôn luôn hiện rõ trong tâm Loan, quấy rối cuộc bình yên của Loan.
Ngay trong đêm tân hôn, hình ảnh của Dũng đã hiện rõ trong trí tưởng của Loan:
Thân, sau khi đã khóa cửa cẩn thận, tiến đến sau lưng nàng. Hai người lặng yên hơn một phút đồng hồ, không ai dám cất tiếng nói trước. Bỗng Loan thấymột bàn tay nhẹ để lên vai nàng. Nàng vẫn không quay lại, ngước mắt nhìn ra ngoài cửa sổ và lúc đó,, hình ảnh Dũng lại hiện ra trong trí tưởng tượng của Loan rõ rệt như trông thấy trước mắt. Các ngôi sao trên trời biến hết, mắt nàng vẫn mở mà không nhìn rõ vật gì, nàng chỉ thấy toàn một màu đen thẫm như mực. (69 )
Những ngày tháng làm vợ Thân, Loan vẫn không quên Dũng:
« Ở xa xa, tiếng sáo ai thổi đưa lại, Loan nghe như lòi than vãn của một xuân nữ đa tỉnh, ngồi trong vườn đầy hoa thơm, nhớ tới hình ảnh tình nhân xa vắng. Rồi mơ mộng, Loan tưởng tượng người tình nhân đó giống Dũng. . . và thẫn thờ để tiếng sáo du dương đưa tâm hồn nàng phiêu lưu đến những cảnh mộng xa xăm. (72)
Tại sao Loan lại nghĩ đến Dũng? Yêu là một cái gì khó hiểu. Người ta yêu cái nọ hơn cái kia, lẽ tất nhiên là cái ấy phải đẹp hơn, tốt hơn theo chủ quan của chủ thể. Nhưng theo chủ quan của người khác, sự đánh giá và lựa chọn sẽ khác hơn.
Dưới con mắt Loan, Dũng hơn Thân vì Dũng có học thức hơn Thân, hoạt bát hơn Thân, có ý chí cao cả hơn Thân. Lại nữa, Dũng biết chiều chuộng phụ nữ, không như Thân quê mùa, sống bám vào mẹ. Ngoài ra, Loan và Dũng quen biết từ lâu, còn Thân chỉ là kẻ đến sau, là người xa lạ. Loan và Dũng là người cùng một thế giới, là những con người mới theo Tây phương, còn Thân ở một phương trời khác, là con nguời cũ ở cuối thế kỷ 19, của thời Tự Đức trở về trước. Cái ưu điểm của Thân là con nhà giàu, thế thôi.
Trong ngày hợp hôn, Loan cảm thấy nàng và Thân quá xa cách. Trong khi Loan bạo dạn, văn minh, Thân nhút nhát ,quê mùa:
Hàng ngàn con mắt đều chăm chú nhìn nàng. Người thẹn nhất lúc đó không phải là Loan, mà là Thân đương nấp sau hai người phù rể, mặt đỏ bừng khi thấy Loan tò mò nhìn thẳng vào mặt. (63-64 )
Thân và Loan không cùng đập một nhịp tim. Thân không phải là người cùng một tâm hồn lãng mạn như Loan, khiến cho Loan thất vọng. Loan đã cố yêu Thân mà không được:
Loan cúi mình với ngắt một một đóa sen hồng đặt lên môi, lẳng lơ nhìn Thân:
-Em đố anh biết môi em ở đâu?
Rồi nàng mỉn cười tra 3 lời sau câu hỏi mình:
-Môi em là đóa hoa hồng này.
Nàng dịu dàng đặt hoa lên má Thân rồi nói:
-Em hôn anh.
Không thấy Thân nói gì, nàng hơi ngượng, vứt bông xuống hoa xuống ao. . .(73 )
Nếu những lúc này, Thân biết tình tứ một chút thì đâu đến nỗi cuộc sống hai người biến thành địa ngục!
Trong tâm hồn Loan luôn có sự so sánh giữa Thân và Dũng. Loan luôn nhìn Thân bằng đôi mắt khinh bỉ, trong khi hình ảnh Dũng hiện lên trong tâm tưởng Loan rất rực rỡ:
Thân gục đầu vào gối, mới nằm yên một lúc đã bắt đầu ngáy. Bên cạnh chàng, Loan vẫn nằm ngữa, hai tay buông xuôi, mở to mắt nhìn thẳng lên đình màn. Mấy sợi tóc mai của nàng dán chặt lên má còn ướt đẫm mồ hôi. Môi nàng hé mở, tỏ ra vẻ chán nản ghê tởm cho những đêm ái ân miễn cưỡng. . . Nghĩ đến đây, Loan quay mặt ngắm Thân nằm bên cạnh, rồi thở dài bĩu môi. Tuy nàng đã biết vì cớ gì mấy tháng trước đây nàng nhận làm vợ Thân, nhưng nàng vẫn lấy làm lạ rằng bấy lâu nàng có thể ở cạnh một người như Thân được. Thẩn thờ nàng chạnh nghĩ đến Dũng ở nơi xa xôi, tưởng ra Dũng đương đi trên một con đường dài đầy cát bụi, để mặc gió thổi tóc phất phơ và mỉm cười như vui vẻ đón chào những ngày đầy đủ của một cuộc đời phiêu lưu hoạt động.(80)
Một ngày nọ, Loan bỗng gặïp Dũng trên đường từ Đền Mẫu về Hà Nội trên xe bà huyện Tịch. Trong giây phút ngắn ngủi đó, Loan bỗng thấy bàng hoàng như uống ly rượu mạnh:
Từ lúc lên xe, Dũng không hề quay lại hỏi Loan một lần nào nữa. . . Loan thì ngồi lùi hẳn vào góc, giáu mặt trong bóng tối, vì nàng sợ bà huyện nhìn thấy vẻ cảm động trên mặt nàng. Tuy xe chạy rầm rầm mà Loan tưởng như bà huyện Tịch có nghe tiếng trái tim nàng đập mạnh trong ngực. (121 )
Trong buổi gặp gỡ này, Loan muốn bỏ chồng, bỏ gia đình, bỏ tất cả để theo Dũng:
Loan vội cúi mặt xuống vì thấy Dũng tự nhiên nhìn nàng đăm đăm một cách khác thường. Nàng mê man như đương ở trong một giấc mơ. Thoáng một lúc, nàng có cái ý tưởng liều lĩnh bỏ cả gia đình, bỏ chồng con, bỏ cả xã hội nàng đương sống, bỏ hết, nhắm mắt theo Dũng, liều thân sống với Dũng một cuộc đời rộn rã, rồi sau này muốn ra sao thì ra. (124)
Loan đã có con, đặt tên là Nghĩa. Tại sao là Nghĩa? Chồng nàng tên là Thân, con nàng phải là Aùi, hay Thiết. . . Còn Nghĩa thì lại liên quan đến Dũng như Nhân Nghĩa Lễ Trí Dũng, hay Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã. Điều này cũng chứng tỏ là Loan luôn nghĩ đến Dũng và yêu Dũng tha thiết.
Loan không cố ý giết Thân. Cái chết của Thân là do tập hợp của nhiều mâu thuẫn, mà quan trọng nhất là do mâu thuẫn giữa hai tâm hồn Loan và Thân. Nhưng sâu xa hơn hết chính là do Loan yêu Dũng. Thân đến sau Dũng và kém Dũng quá nhiều. Việc cãi nhau đưa đến cái chết bi thảm của Thân chỉ là gịọt nước rót thêm vào một cái ly đã đầy. Tại sao trong đêm đó, Loan hai lần cầm dao? Tại sao nàng không cầm cái gì khác lại cầm con dao? Như vậy là trong tiềm thức, Loan đã muốn giết Thân, mà Nhất Linh cũng muốn Đoạn tuyệt với xã hội cũ bằng bạo lực có đổ máu.
=====
Quyển Đoạn Tuyệt của Nhất Linh đã kết thúc bằng một án mạng, hay nói rõ hơn, bằng cái chết bi đát của Thân. Thân đã chết bởi bàn tay người vợ mà chàng đã ôm ấp và yêu dấu. Ta thử quay lại khúc phim đẫm máu này:
Loan thấy Thân nằm bên cạnh chốc chốc
lại vật mình thở dài. Nàng biết Thân bực tức lắm, vì Thân chỉ đợi nàng tắt đèn đi ngủ là xuống nhà dưới với Tuất, vì từ hôm dọn nhà lên Hà Nội để chữa lại nhà ở dưới ấp, Tuất về quê vắng, hôm nay vừa mới lên.
-Sao bảo mợ tắt đèn, mợ lại không tắt đèn?
-Ô hay! Cậu cứ đi ngủ đi, tôi cần đèn để xem sách.
-Mợ để đèn, tôi không ngủ được.
-Cậu xoay mặt vào tường mà ngủ.
Loan hơi lấy làm lạ về câu nói gắt gỏng và lần đấu có ý trịch thượng của mình đối với chồng.. . .
. . . . . . . . . . . .
-Tôi bảo mợ không nghe à? Phép ở đâu thế?
-Tôi xin cậu để yên cho tôi xem. Cậu muốn tắt đèn thì ra mà tắt.
Yên lặng một lúc rồi Loan thấy chồng giật lấy quyển sách ở tay nàng vứt mạnh xuống đất. Loan đặt con dao lên bàn., cúi xuống nhặt sách, phủ bụi rồi lẳng lặng dở ra đọc, làm như không xảy ra sự gì cả. Loaqn thấy Thân ngồi nhỏm dậy, liền quay lại hỏi:
-Cậu làm gì thế?
-Mợ không được láo.
-Tôi láo cái gì?
Thân đập mạnh hai tay xuống chiếu quát:
-Mợ cãi à?
Rồi tiện chân đạp mạnh vào lưng Loan, làm Loan ngã lăn xuống đất. Nàng vừa lóp ngóp dậy đương vấn lại tóc thì ở ngoài nhà có tiếng bà Phán:
-Làm gì huỳnh huỵch trong ấy thế? Có dạy vợ thì thì lúc khác hãy dạy, để yên cho người ta ngủ.. .
. . . . . . . . . . . .
-Phải có thế mới là đồ mất dạy.
-Mất dạy là người đánh đàn bà yếu ớt, hèn nhát một lũ.
-Bà Phàn vội quá, đi chân đất vào buồng, nhìn Loan hỏi:
-Mợ nói gì thế? Mày nói gì thế, con kia?
-Loan quay mặt vào trong không đáp. Bà Phán nói tiếp:
-Bà thủ đánh mày một cái tát, xem mày còn bảo là hèn nhát nữa không?
-Không ai có quyền chửi tôi, không ai có quyền đánh tôi.
-Tao có quyền, mày chửi lại xem nào.. . .
. . . . . . . . . . .
Bà Phán đã ngồi dậy, trỏ tay, mồm nói:
-Đánh chết nó đi cho tôi. Chết đã có tôi chịu tội.
-Loan vẫn lùi. Thân hục hặc nhìn quanh, rồi tiện tay cầm lấy cái lọ đồng sấn lại phía nàng. Loan đã thấy Thân đến gần mình, trong lúc hốt hoảng liền vớ ngay con dao díp rọc sách để ở bàn định giơ đỡ. Thân như con chổ dữ đạp đổ một cái lọ đồng đập vào Loan. Loan né mình tránh được và trượt chân ngã xuống giường, con dao cầm chắc trong tay. Thân quá đá cũng ngã mạnh vào người Loan. Loan thấycái cán dao ấn mạnh lên tay nàng và Thân kêu lên một tiếng. Con sen cũng kêu theo:
-Trời ơi! Cậu giết chết mợ con rồi.
Loan buông dao, rút mạnh tay đứng dậy, còn Thân thì nằm ngữa ra hai tay ôm ngực. Bỗng Loan mở to mắt nhìn một vết đỏ loang trên áo Thân. Nàng sợ hãi, đưa hai tay lên che mồm, bỗng dừng lại: mấy ngón tay nàng đã vấy máu đỏ loè.
Nội vụ ra trước tòa, ông chưởng lý buộc tôïi Loan đã giết chồng:
Thị Loan không thể cãi rằng không định tâm giết chồng. Nói rằng cầm dao để đỡ cái lọ đồng trong khi né mình tránh khỏi là một sự vô lý. Mà không có cái gì tỏ ra rằng người chống vác lọ đồng để đánh chết vợ, một người vợ đã hỗn với mẹ mình! Thị Loan đã khôn khéo, phải, rất khôn khéo, vì đã giết chồng mà khéo làm ra như là chồng tự giết mình. Tôi rất phục. Nhưng cái khéo đó là của một người nham hiểm, một người gain trá. Tôi xin tòa trị tội thật nặng để làm gương cho người khác .(108)
Luật sư của Loan đã bênh vực Loan trước tòa. Ôâng cho rằng Loan cầm dao để đỡ lọ đồng chứ không cố ý giết chồng. Hơn nữa, giấy chứng nhận của bác sĩ đã cho thấy Loan vô tội:
Loan không giết chồng! Điều đó là một sự dĩ nhiên rồi. Giấy chứng của đốc tờ, lời khai sự thực của con sen đúng với lời khai của bị cáo nhân, đã tỏ ra một cách rõ ràng rằng những lời khai khác hẳn của gia nhân người thiệt mạng toàn là những lời vu khống vì thù ghét. (184-185)
Đi xa hơn nữa, trạng sư của Loan đã quy tội cho bà Phán Lợi đã giết con, và chính cái xung khắc của xã hội đương thời đã giết chết Thân:
Chính bà mẹ chồng đã giết chết con bà mà bà không biết, mà còn đổ cho Thị Loan cái tội giết chồng. Nhưng bà có biết đâu, con bà chết là lỗi ở bà, lỗi ở cái luân lý trái mùa và quá ư nghiêm nhặt kia. Người có tội chính là bà mẹ chồng Thị Loan và với cái luân lý cổ hủ kia.
Nhưng nếu vượt lên trên, và nghĩ rộng ra không kể đến cá nhân nữa, thì bao nhiêu những việc xảy ra không phải lỗi ở người nào cả, mà là lỗi ở sự xung đột hiện thời đang khốc liệt của hai cái mới cũ. (186-187)
Nhất Linh khi viết quyển Đoạn Tuyệt đã có ý chứng minh rằng xã hội cũ, gia đình cũ, cùng những quan niệm về hôn nhân của lớp người cũ là sai lầm, xấu xa, cần phải loại bỏ. Lời của luật sư chính là lời của Nhất Linh. Người tây phương có câu: Công lý là cái bình có hai quai. Nghe qua thì thấy bên nào cũng có lý vì công tố viên và luật sư bên nguyên, bên bị đều tinh thông pháp luật, và kinh nghiệm đầy mình. Và sự việc khi ra pháp đình, kết quả cũng giống như trò « tài xỉu » mà thôi.
Cái giấy của bác sĩ chứng nhận Thân chết vì ngã vào con dao đã chứng minh Loan vô tội.Nhưng luật pháp và tòa án thường có những kẽ hở. Nhất Linh cực đoan nên đổ tội cho chế độ gia đình cũ. Chúng ta cũng nhận thấy gia đình cũ có nhiều sai lầm.
Tuy nhiên, ở xã hội tự do, cũng có nhiều cặp vợ chồng xô xát, gây ra án mạng. Và xã hội ta, mẹ chồng khắc nghiệt và nạn đa thê song không phải gia đình nào cũng đưa đến đổ máu. Vậy sự xung đột trong gia đình không thể đổ cho chế độ gia đình cũ, nạn mẹ chồng khắc nghiệt và tục đa thê. Sự xung đột giữa hai vợ chồng phần chính là do cách đối xử giữa hai vợ chồng. Trong vụ này, có hai vấn đề nổi bật. Một là nạn đa thê. Thân lấy vợ bé cho nên Loan sinh ra ghen và tìm cách cản Thân xuống nhà với Tuất, vì vậy, nàng không chịu tắt đèn. Loan chỉ có hai thái độ.
Một là chấp nhận tục đa thê. Hai là xin ly dị chứ không nên ghen tuông vô ích. Vì Loan tìm cách ngăn cản cho nên đưa đến tranh cãi và đưa đến chết chóc. Vấn đề thứ hai là cách đối xử. Khi sống chung với nhau, người ta phải tôn trọng lẫn nhau. Sự yêu thương và tôn trọng được thể hiện ở cách cư xử với nhau và ngôn ngữ. Đến giờ ngủ, phải tắt đèn. Việc này rất cần thiết để cho hai người được ngủ yên, nhất là hai người hay một người phải dậy sớm đi làm việc, hoặc một trong hai người khó ngủ. Loan ngoan cố để đèn tức là Loan gây sự. Hơn nữa, Loan không nên gây sự với mẹ chồng. Nàng không nên nói « hèn nhát một lũ « .
Nếu đi xa hơn, chúng ta còn thấy một lý do khác. Đó là mối tương quan giữa Loan và Dũng. Bà giáo Thảo là người khôn ngoan, đã dặn Loan trước khi ra tòa:
Chị cứ để chúng tôi lo liệu hết cách cho khỏi tù tội… . Cốt nhất là chị nhớ đừng đả động đến gì đến việc của chị với Dũng .(174 )
Như vậy, theo bà giáo Thảo, Dũng có liên quan dù là gián tiếp đến cái chết của Thân. Thật ra, Dũng không hề có hứa hẹn gì với Loan mặc dầu trong tâm chàng đã thầm yêu Loan. Dũng không tỏ tình với Loan, gặp Loan, Dũng làm bộ thản nhiên vì Dũng sắp lên đường theo tiếng gọi tổ quốc. Hơn nữa, chàng đã biết Loan đã đính ước với người ta. Về phần Loan, Loan đã yêu Dũng. Một lần, Loan đã đến thăm Dũng tại gác trọ của Dũng, Dũng rất mừng rỡ nhưng chàng trấn áp lòng mình, làm bộ lạnh lùng khiếân Loan đau lòng, nghĩ rằng Dũng chỉ xem nàng là một người bạn, và nàng tức giận bỏ ra về:
Loan hơi thất vọng, nàng muốn Dũng có vẻ ngượng nghịu đối với nàng, và tỏ ra ý buồn rầu khi sắp phải xa nàng. Vẻ ân cần, vui vẻ của Dũng làm cho nàng biết rằng Dũng chỉ coi nàng như một ngừơi bạn thôi. (19 )
Trước ngày cưới của Loan, Dũng đã bỏ đi xa để khỏi nhìn cảnh người yêu lên xe hoa về nhà chồng. Nhưng rồi chàng lại trở về để gặp Loan. Tại sao chàng không đi luôn mà lại trở về để cho Loan thêm nặng lòng? Khi xe hoa của Loan đi qua cửa Nam, nàng « thấy Dũng đứng ở đầu phố tươi cười nói chuyệïn với một thiếu nữ ăn mặc rất sang trọng. Khi nàng nhìn thấy Dũng, Dũng cố ý lánh mặt sau một thân cây ». (65 )
Dũng cố ý hay vô tình khi đứng ở đoạn đường xe Loan đi qua? Sự hiện diện của Dũng chỉ làm cho Loan xúc động, và gây bão tố trong lòng Loan và trong đời sống hôn nhân của Loan và Thân.
Loan là cô gái mới, đã say mê tiểu thuyết, đã theo chủ trương tự do luyến ái. Cụ thể là nàng đã đến phòng trọ của Dũng, và lòng đã yệu Dũng, dù là yêu đơn phương. Hình ảnh của Dũng luôn luôn hiện rõ trong tâm Loan, quấy rối cuộc bình yên của Loan.
Ngay trong đêm tân hôn, hình ảnh của Dũng đã hiện rõ trong trí tưởng của Loan:
Thân, sau khi đã khóa cửa cẩn thận, tiến đến sau lưng nàng. Hai người lặng yên hơn một phút đồng hồ, không ai dám cất tiếng nói trước. Bỗng Loan thấymột bàn tay nhẹ để lên vai nàng. Nàng vẫn không quay lại, ngước mắt nhìn ra ngoài cửa sổ và lúc đó,, hình ảnh Dũng lại hiện ra trong trí tưởng tượng của Loan rõ rệt như trông thấy trước mắt. Các ngôi sao trên trời biến hết, mắt nàng vẫn mở mà không nhìn rõ vật gì, nàng chỉ thấy toàn một màu đen thẫm như mực. (69 )
Những ngày tháng làm vợ Thân, Loan vẫn không quên Dũng:
« Ở xa xa, tiếng sáo ai thổi đưa lại, Loan nghe như lòi than vãn của một xuân nữ đa tỉnh, ngồi trong vườn đầy hoa thơm, nhớ tới hình ảnh tình nhân xa vắng. Rồi mơ mộng, Loan tưởng tượng người tình nhân đó giống Dũng. . . và thẫn thờ để tiếng sáo du dương đưa tâm hồn nàng phiêu lưu đến những cảnh mộng xa xăm. (72)
Tại sao Loan lại nghĩ đến Dũng? Yêu là một cái gì khó hiểu. Người ta yêu cái nọ hơn cái kia, lẽ tất nhiên là cái ấy phải đẹp hơn, tốt hơn theo chủ quan của chủ thể. Nhưng theo chủ quan của người khác, sự đánh giá và lựa chọn sẽ khác hơn.
Dưới con mắt Loan, Dũng hơn Thân vì Dũng có học thức hơn Thân, hoạt bát hơn Thân, có ý chí cao cả hơn Thân. Lại nữa, Dũng biết chiều chuộng phụ nữ, không như Thân quê mùa, sống bám vào mẹ. Ngoài ra, Loan và Dũng quen biết từ lâu, còn Thân chỉ là kẻ đến sau, là người xa lạ. Loan và Dũng là người cùng một thế giới, là những con người mới theo Tây phương, còn Thân ở một phương trời khác, là con nguời cũ ở cuối thế kỷ 19, của thời Tự Đức trở về trước. Cái ưu điểm của Thân là con nhà giàu, thế thôi.
Trong ngày hợp hôn, Loan cảm thấy nàng và Thân quá xa cách. Trong khi Loan bạo dạn, văn minh, Thân nhút nhát ,quê mùa:
Hàng ngàn con mắt đều chăm chú nhìn nàng. Người thẹn nhất lúc đó không phải là Loan, mà là Thân đương nấp sau hai người phù rể, mặt đỏ bừng khi thấy Loan tò mò nhìn thẳng vào mặt. (63-64 )
Thân và Loan không cùng đập một nhịp tim. Thân không phải là người cùng một tâm hồn lãng mạn như Loan, khiến cho Loan thất vọng. Loan đã cố yêu Thân mà không được:
Loan cúi mình với ngắt một một đóa sen hồng đặt lên môi, lẳng lơ nhìn Thân:
-Em đố anh biết môi em ở đâu?
Rồi nàng mỉn cười tra 3 lời sau câu hỏi mình:
-Môi em là đóa hoa hồng này.
Nàng dịu dàng đặt hoa lên má Thân rồi nói:
-Em hôn anh.
Không thấy Thân nói gì, nàng hơi ngượng, vứt bông xuống hoa xuống ao. . .(73 )
Nếu những lúc này, Thân biết tình tứ một chút thì đâu đến nỗi cuộc sống hai người biến thành địa ngục!
Trong tâm hồn Loan luôn có sự so sánh giữa Thân và Dũng. Loan luôn nhìn Thân bằng đôi mắt khinh bỉ, trong khi hình ảnh Dũng hiện lên trong tâm tưởng Loan rất rực rỡ:
Thân gục đầu vào gối, mới nằm yên một lúc đã bắt đầu ngáy. Bên cạnh chàng, Loan vẫn nằm ngữa, hai tay buông xuôi, mở to mắt nhìn thẳng lên đình màn. Mấy sợi tóc mai của nàng dán chặt lên má còn ướt đẫm mồ hôi. Môi nàng hé mở, tỏ ra vẻ chán nản ghê tởm cho những đêm ái ân miễn cưỡng. . . Nghĩ đến đây, Loan quay mặt ngắm Thân nằm bên cạnh, rồi thở dài bĩu môi. Tuy nàng đã biết vì cớ gì mấy tháng trước đây nàng nhận làm vợ Thân, nhưng nàng vẫn lấy làm lạ rằng bấy lâu nàng có thể ở cạnh một người như Thân được. Thẩn thờ nàng chạnh nghĩ đến Dũng ở nơi xa xôi, tưởng ra Dũng đương đi trên một con đường dài đầy cát bụi, để mặc gió thổi tóc phất phơ và mỉm cười như vui vẻ đón chào những ngày đầy đủ của một cuộc đời phiêu lưu hoạt động.(80)
Một ngày nọ, Loan bỗng gặïp Dũng trên đường từ Đền Mẫu về Hà Nội trên xe bà huyện Tịch. Trong giây phút ngắn ngủi đó, Loan bỗng thấy bàng hoàng như uống ly rượu mạnh:
Từ lúc lên xe, Dũng không hề quay lại hỏi Loan một lần nào nữa. . . Loan thì ngồi lùi hẳn vào góc, giáu mặt trong bóng tối, vì nàng sợ bà huyện nhìn thấy vẻ cảm động trên mặt nàng. Tuy xe chạy rầm rầm mà Loan tưởng như bà huyện Tịch có nghe tiếng trái tim nàng đập mạnh trong ngực. (121 )
Trong buổi gặp gỡ này, Loan muốn bỏ chồng, bỏ gia đình, bỏ tất cả để theo Dũng:
Loan vội cúi mặt xuống vì thấy Dũng tự nhiên nhìn nàng đăm đăm một cách khác thường. Nàng mê man như đương ở trong một giấc mơ. Thoáng một lúc, nàng có cái ý tưởng liều lĩnh bỏ cả gia đình, bỏ chồng con, bỏ cả xã hội nàng đương sống, bỏ hết, nhắm mắt theo Dũng, liều thân sống với Dũng một cuộc đời rộn rã, rồi sau này muốn ra sao thì ra. (124)
Loan đã có con, đặt tên là Nghĩa. Tại sao là Nghĩa? Chồng nàng tên là Thân, con nàng phải là Aùi, hay Thiết. . . Còn Nghĩa thì lại liên quan đến Dũng như Nhân Nghĩa Lễ Trí Dũng, hay Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã. Điều này cũng chứng tỏ là Loan luôn nghĩ đến Dũng và yêu Dũng tha thiết.
Loan không cố ý giết Thân. Cái chết của Thân là do tập hợp của nhiều mâu thuẫn, mà quan trọng nhất là do mâu thuẫn giữa hai tâm hồn Loan và Thân. Nhưng sâu xa hơn hết chính là do Loan yêu Dũng. Thân đến sau Dũng và kém Dũng quá nhiều. Việc cãi nhau đưa đến cái chết bi thảm của Thân chỉ là gịọt nước rót thêm vào một cái ly đã đầy. Tại sao trong đêm đó, Loan hai lần cầm dao? Tại sao nàng không cầm cái gì khác lại cầm con dao? Như vậy là trong tiềm thức, Loan đã muốn giết Thân, mà Nhất Linh cũng muốn Đoạn tuyệt với xã hội cũ bằng bạo lực có đổ máu.
=====
MỐI TÌNH ĐẦU CỦA TẢN ĐÀ
*
Ngày xưa, chàng thi sĩ ấy đã yêu say mê và đã đau khổ. Năm Tản Đà mười chín tuổi, là tuổi chín muồi mộng mơ, khao khát, Tản Đà đã say mê một hình bóng giai nhân.
Năm này,năm 1907 là một năm quan trọng, đánh dấu một khúc quanh trong đời chàng thư sinh họ Nguyễn. Thân phụ Tản Đà là án sát Nguyễn Danh Kế mất sớm, mẹ lại bỏ đi theo nghiệp xướng ca, Tản Đà nương náu vào người anh cùng cha khác mẹ là phó bảng Nguyễn Tái Tích. Ông là anh nhưng cũng là thầy, là bậc quyền huynh thế phụ theo truyền thống xưa đã nuôi em ăn học. Năm này, ông Nguyễn Tái Tích từ Sơn Tây được bổ nhiệm về Hà Nội, làm ở cục Tu Thư. Tản Đà theo anh về Hà Nội. Gia đình trọ ở Hàng Nón . Lúc bấy giờ Pháp đã muốn loại bỏ nho học. Chương trình mới gồm chữ nho, quốc ngữ và Pháp văn và đang bắt đầu thí nghiệm với những trường kiểu mẫu . Hàng ngày Tản Đà theo học trường Quy Thức ( École Modèle), đường Gia Ngư :
" Quảng oai vừa trải bốn xuân dư,
Xuân mỗi ngày cao, học cũng như
Cuối xuân mười chín ra Hà Nội,
Học trường Quy Thức đường Gia Ngư. "
Con đường từ nhà đến trường đã trở thành con đuờng hoa mộng. Hàng ngày đến trường, chàng thư sinh họ Nguyễn phải đi qua phố hàng Bồ. Đấy là lối vào Thiên Thai, là con đường tình sử của một chàng thi sĩ tuổi đương thì ! Tất cả tâm hồn chàng đều để cả vào một gian hàng sách mà lúc bấy giờ người ta cũng gọi là hàng tạp hóa , ở "số nhà hơn hai mươi về giẫy bên lẻ có một người con gái ngồi bán hàng tạp hóa" . Đó là một giai nhân mày ngài mắt phượng, đã làm điên đảo tâm hồn thi nhân. Những ngày đó thật thơ mộng,thật đẹp đẽ! Ngôi nhà của người yêu đã trở thành một thiên đường diễm ảo cho kẻ tình si! Trừ những ngày mưa gió bão bùng, không một ngày nào Tản Đà không đi qua ngõ ngưòi yêu! Tản Đà viết :
" Mỗi buổi chiều tan học, ở Gia Ngư về hàng Nón, trừ phi giời mưa gió,thường tất phải đi quanh hàng Bồ"
Có lẽ Tản Đà cũng như những chàng trai tình si thuở xưa yêu rất say đắm nhưng lại rất rụt rè, thầm kín :
" Ngó em không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.
Nhưng môt đôi lần, Nguyễn sinh lấy tất cả nghị lực, bước vào hàng sách, hỏi mua cây bút Tảo Thiên quân, vài thỏi mực Kiêu Kị ,vài thếp giấy hoa tiên để nhìn vào đôi mắt giai nhân, và đón nhận một nụ cười. . . Tâm trạng Tản Đà là tâm trạng của con người cuồng si. Phải chăng Tản Đà là thi nhân cho nên đam mê mạnh mẽ hơn người ? Hay đó là cái bệnh chung của những kẻ yêu mối tình đầu?
" Cái giống yêu hoa lạ lạ đời,
Mắt xanh chưa lọt đã mê tơi!
Chim trời cá nước duyên ai đó
Vía dại hồn khôn chết dễ chơi.”
Thât ra chính trị, tôn giáo, văn hóa và tình yêu đều là chủ quan. Tại sao ta yêu người này mà không yêu người khác ? Đó là chủ quan. Khi yêu thì người ta yêu là đẹp nhất trần gian.
Tản Đà đã nói lên tâm trạng mình trong những ngày dông bão của đam mê :
"Không biết có phải là tuyệt sắc hay không, mà tự con mắt mình khi bấy giờ thời như ngoài người ấy không có ai là con gái.
Có lẽ những khi ngồi bên án sách hay những đêm trường quạnh hiu, thi nhân đã luôn nhớ tưởng hình bóng giai nhân:
" Quái lạ làm sao cứ nhớ nhau,
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu.
Bốn phương mây nước , tình đôi ngả,
Hai chữ tương tư, một gánh sầu.
Tình yêu của những lớp người xưa khác với tuổi trẻ ngày nay. Ngày nay người ta yêu chỉ để mà yêu. Ái tình và hôn nhân là hai chuyện khác nhau. Ngày xưa, người ta yêu là muốn đi đến hôn nhân. Tản Đà đã mơ ước cùng giai nhân kết tóc xe tơ trăm năm đầu bạc :
" Chắp đôi tay anh vái lạy ông Hoàng thiên,
Sớm sai ông nguyệt lão để xe duyên cho chúng
mình.
Dù duyên, dù nợ, dù tình,
Lòng anh đây đã quyết thời cô mình cũng phải nhất
tâm.
Ở đời, em ơi, được mấy tri âm !
Và :
" Ai xui anh lấy được mình,
Để anh vun xới ruộng tình cho xanh.
Ai xui mình lấy được anh,
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em
Quá si mê người thiếu nữ hàng Bồ, Tản Đà quyết định đi đến hôn nhân cho dù lúc đó Tản Đà chỉ là một bạch diện thư sinh. Người con gái đó là ai mà Tản Đà yêu ghê gớm đến thế ? Nàng là ái nữ của Đỗ Thận tiên sinh, một nhân sĩ lừng danh của Hà thành lúc bấy giờ mà báo Phong Hóa của Nhất Linh đã nhiều lần đề cập. Theo ông Nguyễn Mạnh Phưởng ( con trai cụ phó bảng Nguyễn Tái Tích, gọi Tản Đà bằng chú ) , ông Đỗ Thận là một nhà nho khôn ngoan, lại có óc kinh doanh. Ông ra làm ký lục cho Pháp, được Pháp tin cậy. Ông mở hiệu sách Cẩm Vân Đường và giao cho hai cô con gái lớn trông coi.
Theo Hồ Đình Chử, ông Đỗ Thận có bốn gái, hai trai. Cô gái đầu lòng là Đỗ thị Thăng ( đối tượng của Tản Đà ) , cô thứ nhì là Đỗ thị Thi, cô ba là Đỗ thị Phúc, cô tư là Đỗ thị Thảo.Một người con trai mất sớm, một người tên là Đỗ Cầu.
Theo ông Nguyễn Mạnh Bổng, Đỗ thị có "khổ mặt trái soan, da trắng, tóc dài, người nhỏ nhắn xinh tươi, có vẻ yêu kiều ngoan ngoản, ăn nói dịu dàng lễ phép dễ nghe, biết đọc chữ nho, chữ quốc ngữ - ngày xưa người con gái được thế là gia giáo đáng quý lắm, vì nữ học chưa mở mang.
Yêu Đỗ thị, Tản Đà bèn đem tâm sự trình bày với trưởng huynh nhưng không đuợc trưởng huynh chấp thuận. Tản Đà cho ta biết là ông phó bảng bảo rằng
"Nhà ta nghèo như thế, lấy đâu xe song mã mà cưới."
Cụ bà Nễ Xuyên Nguyễn Thiện Kế, nhũ danh Nguyễn Thị Hiền , chị ruột Tản Đà nói với chúng tôi rằng cụ phó bảng bảo :" Quan viên Hà Nội , nhà nghèo dây sao được!"
Theo Hà Xuân Tế, " vì cảnh nhà thanh bạch cho nên ông anh không tính đến sự hôn thú ở nơi thành thị, mà câu chuyện bỏ qua không nói đến."
Theo ông Nguyễn Mạnh Phưởng, ông bảng bảo :
'Tao không làm bạn với ký lục.'
Tại sao ông Nguyễn Tái Tích không tán thành việc hôn nhân của Tản Đà ? Ta có thể chia các ý kiến trên thành hai: Ý kiến thứ nhất là gia đình Tản Đà nghèo. Ngày xưa, người Hà Nội có tục thách cưới cao. Ông bảng là một người thuộc ngành giáo chức, tất nhiên là thanh đạm. Ngày xưa , giữa nho gia và phú thương thường có nhiều xích mích . Cuộc hôn nhân với gia đình Đỗ Thận quả thực gây nhiều điều khó khăn về tài chánh cho gia đình họ Nguyễn, một gia đình đã phá sản vì thời cuộc!
Ý kiến thứ hai do ông Nguyễn Mạnh Phưởng thuật lại ,là do giai cấp và chính kiến bất đồng. Hai ý kiến đó đều đúng cả , nó diễn tả những khía cạnh khác nhau của một vấn đề. Sự thực, ông Nguyễn Tái Tích vừa tự ty lẫn tự tôn. Một mặt, ông tự ty vì nghèo. Một mặt ông tự tôn vì gia đình trâm anh thế phiệt, đời đời khoa bảng.Ông cũng tự tôn vì ông yêu nước, không làm việc cho Pháp. Quá say mê người đẹp, Tản Đà đã làm trái ý trưởng huynh.
Tản Đà đã nhờ một người bạn đồng canh lo việc mối manh. Và nhà gái đã đồng ý.
Việc này cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
Tản Đà viết :
'Tấm lòng ao ước, ngỏ cùng một người anh em bạn học đồng canh. Người bạn đi nói giúp việc mối, cứ như bên nhà người con gái, thời việc có nhẽ đã xong”
Theo bà Nễ Xuyên, chính quan huyện Móm, tức phu quân của bà vì thương em vợ mà đứng ra lo việc tiếp xúc với nhà gái. Nguyễn Mạnh Bổng cũng cho biết chính ông Nguyễn Thiện Kế đến nói với quan phán Đỗ. Khi về, ông anh rể thuật lại:
" Ái khanh cùng nghiêm phụ chỉ muốn được chồng, được rể thi đỗ cử nhân, ra tri huyện mà thôi"
Đó là một lời khuyến khích hay một điều kiện ? Nếu đó là một điều kiện thì rất đơn giản nhưng không dễ thực hiện. Nhưng khó là đối với ai kia chứ đối với Tản Đà thì hạnh phúc ở trong tầm tay! Tản Đà là một người văn hay chữ tốt, xuât thân gia đình khoa hoạn, lại được anh là phó bảng Nguyễn Tái Tích đào luyện. Mông khoa danh ắt hẵn thành tựu. Mai đây, chàng sẽ thi đỗ, sẽ cùng người đẹp sánh duyên giai ngẫu.
Đời người con trai ngày xưa là chú trọng khoa cử, trọng sự nghiệp. Tình yêu là phụ.
"Trai thì đọc sánh ngâm thơ,
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Mai sau nối được nghiệp nhà,
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân."
Nhưng Tản Đà không chú trọng sự nghiệp. Đối với Tản Đà, tình yêu là chính. Sự nghiệp chẳng qua là điều kiện để chinh phục người đẹp. Nói cách khác công danh chỉ là phương tiện để thực hiện cứu cánh tình yêu. Tản Đà cũng như vị tướng quân xông pha trận tiền giết giặc không phải để cứu nước, không phải để lấy ấn phong hầu, mà chỉ vì nụ cười giai nhân. Hàng ngày, Tản Đà ngâm bài cổ thi sau đây, và bài này đã nói lên tâm hồn Tản Đà lúc này :
"An đắc tỳ hưu thập vạn binh,
Hổ lang sào huyệt nhất thời bình.
Quy lai bất sách phong hầu ấn,
Chỉ hướng quân vương mịch ái khanh."
(Sao được anh hùng mươi vạn binh,
Hổ lang hầm tổ dẹp tan tành.
Khi về chẳng lấy phong hầu ấn,
Chỉ đến thềm vua xin ái khanh.)
Chính Tản Đà cũng thú thực rằng việc thi cử chính là do tình yêu : "Mục đích sự học ở khoa cử, tiền đồ khoa cử có quan hệ với tình duyên." .Nhưng rồi trời chẳng chiều người! Con người tài giỏi thơ văn như thế lại thi hỏng khoa thi nhâm tí ( 1912) tại thành Nam . Tản Đà trở về Hà Nội, đi qua phố hàng Bồ mong gặp giai nhân cho đỡ u sầu . Nhưng Tản Đà xiết bao cay đắng khi thấy nhà người yêu pháo nổ rền vang trong ngày vu quy! Hỏi rõ ngọn nguồn, Tản Đà mới biết Đỗ thị" sắp sửa bước lên xe song mã để về làm dâu một nhà quan huyện."
Tản Đà vô cùng đau đớn. Tản Đà bị hai thất bại cùng một lần: Đại đăng khoa hỏng mà tiểu đăng khoa cũng mất luôn. Tản Đà cất lên tiếng than oán não nuột:
" Cử tú không mà rể cũng không,
Còn đeo áo đoạn để ai trông.."
Cụ bà Nễ Xuyên đã đọc cho chúng tôi nghe bài thơ của Tản Đà sáng tác lúc này :
Điều đâu sét đánh vỡ giời vang,
Thằng bé đương mê tỉnh dậy nhoàng.
Hỏi chú thiên lôi đâu chạy lại,
Từ bà huyện Thủy bắn tin sang.
Một dao tầm sét tan hồn phách,
Mãy mối tơ tình đứt dọc ngang.
Ông Nguyệt bỏ nhau tìm nẻo trốn,
Trăm năm mở mắt vẫn mơ màng."
Tản Đà thấy rõ cuộc đời hư ảo, tất cả chỉ là giấc mông kê vàng . Tản Đà đã nuôi bao mộng đẹp nhưng cuối cùng thành hư không:
"Người trong mộng, niềm nguyện mong, giục xui lòng: rõ ràng đôi lứa, phụng thành song, thành song. Mừng tạo hóa chắp mối tơ hồng. Tỉnh giấc cô phòng, dậy thành không, thành không. Sự sắt cầm chiêm bao thành không."
Trong nỗi đau khổ vì tình, Tản Đà đã hành động một cách liều lĩnh và tuyệt vọng.
Sau khi Đỗ thị lấy chồng, Tản Đà bỏ đi lang thang, rồi bỏ ăn bỏ uống, sống một cách điên cuồng, buông thả và hành hạ mình.
Tản Đà bỏ lên Hòa Bình và than vãn :
"Vì ai cho tớ phải lênh đênh,
Nặng lắm ai ơi một gánh tình!"
Sau Tản Đà lên chơi chùa Non Tiên, làm văn tế Chiêu quân. Tế Chiêu Quân là khóc Đỗ thị, là thương tiếc một giai nhân đã bỏ phí đời xuân về nơi mọi rợ :
"Má hồng để tiếc cho ai,
Đời người như thế có hoài mất không?
Khóc ai nước mắt ròng ròng,
Xương không còn vết, hận không có kỳ.
Sau khi từ giã Non Tiên, Tản Đà về ở ấp Cổ Đằng
( quận Tùng Thiện, Sơn Tây ) của cụ Nguyễn Danh Kế.Tại đây Tản Đà càng chán nản cực độ.Tản Đà muốn tịch cốc tu tiên để lánh trần tục mà đi về cõi cực lạc. Tản Đà viết :
" Cái bụng chán đời đến cực điểm, quyết mong tịch cốc để từ trần. Tiếc không nhớ bắt đầu từ ngày nào thôi sự ăn cơm, chỉ khát không chịu được.. . còn phải uống nước. Ba hôm như thế sầu khổ không thể chịu được nữa, thời lại phải uống rượu. Rượu uống cũng uống xuông, mà uống đến thật say. Nguyên đã ba hôm không ăn, trong bụng hư không, lại một phen say rượu mê ly, thành ra tự đãy về sau, khác hẳn tự đãy về trước. Bụng không biết no, biêt đói, người không biết vui biết buồn , cứ chỉ mỗi ngày một bữa rượu, hoặc uống xuông, hoặc ăn một đĩa rau rưa nhỏ con, xong rồi đem chõng ra nằm ở dưới cây ngọc lan, nghe những con chim kêu trên cành cây, hoặc là xem những đám mây đi trên giời, con chim bay trên không, xem kết cục đến đâu là hết.
Chính Tản Đà cũng công nhận rằng lúc bấy giờ mình đã mắc bệnh khủng hoảng tinh thần:
"Trong khi đó tự lấy làm phóng dật thanh cao nhưng thực đã gần ra tâm tật vậy"
Càng tuyệt vọng, càng đau khổ ,Tản Đà sinh ra oán thán mọi người. Việc đầu tiên là trách gia đình không chu toàn hôn sự nên mới có chuyện thất bại ở hàng Bồ như thế.
Điều này kể ra cũng đúng. Nếu ông Nguyễn Tái Tích đến thăm viếng đôi lần có lẽ nhà gái cũng vui vẻ và tin tưởng. Sự vắng bóng , sự lạnh lùng của ông Nguyễn Tái Tích đã làm cho nhà gái bực tức. Nhưng điều này e chỉ đúng một phần. Sự thực là do Tản Đà. Nhà gái đã nói rõ điều kiện của họ là muốn Tản Đà thi đỗ cử nhân, ra tri huyện. Tản Đà không hội đủ điều kiện này, lẽ dĩ nhiên, nhà gái phải nhận lời cầu hôn của một người khá hơn. Người đó là Nguyễn Văn Đồng, con quan huyện Thanh Thủy, sau này làm việc cho Thống sứ Bắc kỳ. Dù ông Nguyễn Tái Tích có lui tới săn đón , chưa chắc họ đã thiết tha con người thất bại Tản Đà. Thứ hai là trách tình nhân phụ bạc, tham danh, tham danh, tham lợi:
-" Trách ai đánh đá nung vôi,
Trách ai ngả gỗ trên đòi đốt than.
Làm cho vôi trắng than đen,
Cho lòng đen bạc thế gian lắm người."
-"Đa tiền mới đa tình,
Ít tiền son phấn khinh"
Ngày nay, người ta có thể nói tình yêu của Tản Đà là tình yêu đơn phương, vì giữa hai ngưòi không hề có việc hẹn ước dưới đêm trăng trong vườn Thúy, hay thư từ trao đổi theo dòng lá thắm , cho nên Tản Đà không thể trách người bội bạc. Người ta phải vâng lời cha mẹ mà thôi! Nhưng ngày xưa , việc hẹn biển thề non là ít, còn phần lớn do cha mẹ quyết định. Ý kiến cha mẹ cũng là ý kiến của người con gái. Khi nhà gái hứa hẹn có nghĩa là bản thân người con gái đã bằng lòng. Và khi bên gái bỏ lời ước hẹn có nghĩa là người con gái phụ tình. Dầu sao thì đây cũng là một sự khước từ vì Tản Đà thiếu điều kiện. Điều này cho phép Tản Đà than van tình đời tham phú phụ bần ! Tản Đà giận Đỗ thị, giận luôn việc thi cử ! Tản Đà mượn lời Ngọc hoàng thượng đế để bênh vực cho nỗi đau khổ của mình:
"Vì chi một sự khoa danh nhỏ mọn đến nỗi con bỏ chồng, thằng rẫy vợ. . . Một sự thi cử ở trần gian sinh ra hại đến luân thường như thế, thời thôi từ nay bỏ hẵn đi."
Và trong đau khổ, Tản Đà nảy sinh tâm lý ghen ghét, đố kị kẻ tình địch. Trong thi ca, Tản Đà châm biếm chồng Đỗ thị theo dạng những câu tục ngữ ,ca dao Việt Nam . Hàng ngày Tản Đà ngâm nga :
"Chị Hằng ơi, chú cuội ,
Con cú nọ cành mai.
Thương ai mà lại tiếc cho ai"
Và Tản Đà đã ám chỉ người chồng của Đỗ thị, ông Nguyễn Văn Đồng, người to béo, da đen, trong bài thơ sau:
Sợi tơ hồng ai khéo xe duyên,
Treo tranh tố nữ đứng bên anh tượng đồng.
Chị em ơi ba bảy đường chồng . ..
Bài văn dưới đây cũng được sáng tác trong mục đích " trả thù tình địch" một cách xa xôi, kín đáo:
" Thằng người ngây với con ngựa hay , chẳng phải duyên cũng không phải nợ. Con ngựa hay để thằng ngây cưỡi, cũng không nên trách thân mà lại giận giời. Ai ơi, nghĩ đi mà xem, nghĩ lại mà xem. Thế gian được vợ hỏng chồng, cũng như thế đó. Cán cân tạo hóa, so đi nhắc lại, có mây khi nhầm !
Khoảng 1913-1914, Tản Đà đã vẽ một bức tranh đem dự triển lãm tại ngân hàng Trung Hoa tại phố Trường Tiền, Hà Nội. Bức tranh này vẽ con cóc đậu trên một cành lan , bên cạnh đề thơ :
Con cóc mà đậu cành lan,
Cành ngô con phụng, thế gian đã thường.
Có ai thương cóc thì thương!
Và từ đây Tản Đà sinh ra chán đời. Trong thi văn Tản Đà ,sự yếm thế trở thành chủ đề chánh.
" Đời đáng chán hay không đáng chán,
Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm?"
Trước tiên là buồn chán về đời mình thất bại :
" Hai khóa thi bay, mỹ nhân xuât giá
Thì đời đáng chán hay chưa đáng chán?
Sự chán đời nghĩ lại bạn tri âm "
Sau nữa là sầu nhân thế . Dưới con mắt Tản Đà, đâu đâu cũng xấu xa, đáng chán, đáng buồn.
Gió gió mua mưa đã chán phèo,
Sự đời nghĩ đến lại buồn teo.
Thối om sọt phẩn nhiều cô gánh,
Tanh ngắt hơi đồng lắm cậu yêu.
Quần tía đùi non, anh chiệc vỗ,
Rừng xanh cây quế chú mường leo.
Phố phường nghe có vui chăng tá?
Áo mũ, râu ria mấy đám chèo."
Cái buồn chán của Tản Đà là buồn chán thường xuyên, nó lên cao độ trong thời thất vọng tình yêu.
" Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu. Mưa dầm là rụng mà sầu, giăng trong gió mát mà càng sầu, một mình tịch mịch mà sầu, đông người cười nói mà càng sầu., vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu."
Làm sao để thoát khỏi nỗi buồn khổ trong tâm hồn ? Tản Đà đã tìm con đường siêu thoát.
" Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán,
Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong."
Và :
"Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu có bạn can chi tủi,
Cùng gió cùng mây thế mới vui."
Đau khổ vì mộng ban đầu , Tản Đà xây dựng những thế giới mộng như Giấc Mộng Con với khuôn mặt người tình lý tưởng Chu Kiều Oanh. Những Vân Anh, Người tình nhân không quen biết. . .đều là phó bản của Đỗ thị ngày xưa.
Mọi sự sẽ thay đổi theo thời gian. Tình yêu cũng vậy. Một số thi nhân sau khi yêu hoặc tình yêu đổ vỡ đã có những cái nhìn khác nhau về quá khứ. Một số dù bao lâu vẫn giữ gìn kỷ niệm cũ và coi đó là một gia bảo của cuộc đời mình. Chính Tản Đà cũng nói rằng mình là một người yêu chung thủy :
" Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy,
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa"
Nhưng thực tế thì khác hẳn! Thế giới là biến chuyển và tâm lý con người biến động từng sát na ! Con người phút trước và con người phút sau có thể khác nhau xa. Nhìn lại quá khứ bao giờ ta cũng bình tĩnh và khách quan hơn. Ra khỏi cơn đam mê, Tản Đà là con người lý trí. Tản Đà đã thấy mối tình Đỗ thị không còn hương sắc ban đầu mà chỉ còn dư vị đắng cay của những ngày đông giá. Tản Đà nhìn quá khứ bằng con mắt của người tỉnh mộng, cho mình là đã dại khờ trong tuổi thanh xuân yêu mù quáng, yêu sai lầm:
" Cái mê vô ích mà mê dại.!
Mê dại mê mê chẳng mãi thôi"
Cũng như bao thi nhân trăm năm trước và ngàn năm sau, thuở thiếu thời Tản Đà đã yêu say mê, yêu điên cuồng. Tản Đã đã ôm ấp bao mộng đẹp nhưng rồi bao mộng ước đã biến thành ảo mộng thảm thương! Mộng khoa danh tan vỡ kéo theo sự sụp đổ của giấc mộng tình. Tản Đà đau khổ. Tản Đà điên loạn. Sau khi say men tình ,Tản Đà say men rượu để quên đời, quên mộng. Tản Đà là một Trang sinh mê hồ điệp. Và đời chính là một cơn trường mộng, Tản Đà say hết mộng này đến mộng khác. Chu Kiều Oanh, Vân Anh là những phó bản của mối tình lý tưởng . Dù đam mê, sau một thời gian dài, Tản Đà phải tỉnh mộng. Nhìn lại quá khứ, Tản Đà thấy tuổi trẻ đã trôi đi trong đam mê,khờ dại! Nhưng dẫu sao đó là cuộc đời , là đoạn trường ai cũng phải đi qua. Dù dại, dù khờ vẫn là một đoạn đường đời. Nhưng với đoạn đường tình này, với kinh nghiệm cay đắng này và với trái tim đa cảm, và tài hoa này ,thi nhân đã để lại cho chúng ta những khúc tơ lòng réo rắt !
(DÒNG VIỆT, Tập II, số 7, 1999. tr.325- 335, California,)
====
Ngày xưa, chàng thi sĩ ấy đã yêu say mê và đã đau khổ. Năm Tản Đà mười chín tuổi, là tuổi chín muồi mộng mơ, khao khát, Tản Đà đã say mê một hình bóng giai nhân.
Năm này,năm 1907 là một năm quan trọng, đánh dấu một khúc quanh trong đời chàng thư sinh họ Nguyễn. Thân phụ Tản Đà là án sát Nguyễn Danh Kế mất sớm, mẹ lại bỏ đi theo nghiệp xướng ca, Tản Đà nương náu vào người anh cùng cha khác mẹ là phó bảng Nguyễn Tái Tích. Ông là anh nhưng cũng là thầy, là bậc quyền huynh thế phụ theo truyền thống xưa đã nuôi em ăn học. Năm này, ông Nguyễn Tái Tích từ Sơn Tây được bổ nhiệm về Hà Nội, làm ở cục Tu Thư. Tản Đà theo anh về Hà Nội. Gia đình trọ ở Hàng Nón . Lúc bấy giờ Pháp đã muốn loại bỏ nho học. Chương trình mới gồm chữ nho, quốc ngữ và Pháp văn và đang bắt đầu thí nghiệm với những trường kiểu mẫu . Hàng ngày Tản Đà theo học trường Quy Thức ( École Modèle), đường Gia Ngư :
" Quảng oai vừa trải bốn xuân dư,
Xuân mỗi ngày cao, học cũng như
Cuối xuân mười chín ra Hà Nội,
Học trường Quy Thức đường Gia Ngư. "
Con đường từ nhà đến trường đã trở thành con đuờng hoa mộng. Hàng ngày đến trường, chàng thư sinh họ Nguyễn phải đi qua phố hàng Bồ. Đấy là lối vào Thiên Thai, là con đường tình sử của một chàng thi sĩ tuổi đương thì ! Tất cả tâm hồn chàng đều để cả vào một gian hàng sách mà lúc bấy giờ người ta cũng gọi là hàng tạp hóa , ở "số nhà hơn hai mươi về giẫy bên lẻ có một người con gái ngồi bán hàng tạp hóa" . Đó là một giai nhân mày ngài mắt phượng, đã làm điên đảo tâm hồn thi nhân. Những ngày đó thật thơ mộng,thật đẹp đẽ! Ngôi nhà của người yêu đã trở thành một thiên đường diễm ảo cho kẻ tình si! Trừ những ngày mưa gió bão bùng, không một ngày nào Tản Đà không đi qua ngõ ngưòi yêu! Tản Đà viết :
" Mỗi buổi chiều tan học, ở Gia Ngư về hàng Nón, trừ phi giời mưa gió,thường tất phải đi quanh hàng Bồ"
Có lẽ Tản Đà cũng như những chàng trai tình si thuở xưa yêu rất say đắm nhưng lại rất rụt rè, thầm kín :
" Ngó em không dám ngó lâu,
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.
Nhưng môt đôi lần, Nguyễn sinh lấy tất cả nghị lực, bước vào hàng sách, hỏi mua cây bút Tảo Thiên quân, vài thỏi mực Kiêu Kị ,vài thếp giấy hoa tiên để nhìn vào đôi mắt giai nhân, và đón nhận một nụ cười. . . Tâm trạng Tản Đà là tâm trạng của con người cuồng si. Phải chăng Tản Đà là thi nhân cho nên đam mê mạnh mẽ hơn người ? Hay đó là cái bệnh chung của những kẻ yêu mối tình đầu?
" Cái giống yêu hoa lạ lạ đời,
Mắt xanh chưa lọt đã mê tơi!
Chim trời cá nước duyên ai đó
Vía dại hồn khôn chết dễ chơi.”
Thât ra chính trị, tôn giáo, văn hóa và tình yêu đều là chủ quan. Tại sao ta yêu người này mà không yêu người khác ? Đó là chủ quan. Khi yêu thì người ta yêu là đẹp nhất trần gian.
Tản Đà đã nói lên tâm trạng mình trong những ngày dông bão của đam mê :
"Không biết có phải là tuyệt sắc hay không, mà tự con mắt mình khi bấy giờ thời như ngoài người ấy không có ai là con gái.
Có lẽ những khi ngồi bên án sách hay những đêm trường quạnh hiu, thi nhân đã luôn nhớ tưởng hình bóng giai nhân:
" Quái lạ làm sao cứ nhớ nhau,
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu.
Bốn phương mây nước , tình đôi ngả,
Hai chữ tương tư, một gánh sầu.
Tình yêu của những lớp người xưa khác với tuổi trẻ ngày nay. Ngày nay người ta yêu chỉ để mà yêu. Ái tình và hôn nhân là hai chuyện khác nhau. Ngày xưa, người ta yêu là muốn đi đến hôn nhân. Tản Đà đã mơ ước cùng giai nhân kết tóc xe tơ trăm năm đầu bạc :
" Chắp đôi tay anh vái lạy ông Hoàng thiên,
Sớm sai ông nguyệt lão để xe duyên cho chúng
mình.
Dù duyên, dù nợ, dù tình,
Lòng anh đây đã quyết thời cô mình cũng phải nhất
tâm.
Ở đời, em ơi, được mấy tri âm !
Và :
" Ai xui anh lấy được mình,
Để anh vun xới ruộng tình cho xanh.
Ai xui mình lấy được anh,
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em
Quá si mê người thiếu nữ hàng Bồ, Tản Đà quyết định đi đến hôn nhân cho dù lúc đó Tản Đà chỉ là một bạch diện thư sinh. Người con gái đó là ai mà Tản Đà yêu ghê gớm đến thế ? Nàng là ái nữ của Đỗ Thận tiên sinh, một nhân sĩ lừng danh của Hà thành lúc bấy giờ mà báo Phong Hóa của Nhất Linh đã nhiều lần đề cập. Theo ông Nguyễn Mạnh Phưởng ( con trai cụ phó bảng Nguyễn Tái Tích, gọi Tản Đà bằng chú ) , ông Đỗ Thận là một nhà nho khôn ngoan, lại có óc kinh doanh. Ông ra làm ký lục cho Pháp, được Pháp tin cậy. Ông mở hiệu sách Cẩm Vân Đường và giao cho hai cô con gái lớn trông coi.
Theo Hồ Đình Chử, ông Đỗ Thận có bốn gái, hai trai. Cô gái đầu lòng là Đỗ thị Thăng ( đối tượng của Tản Đà ) , cô thứ nhì là Đỗ thị Thi, cô ba là Đỗ thị Phúc, cô tư là Đỗ thị Thảo.Một người con trai mất sớm, một người tên là Đỗ Cầu.
Theo ông Nguyễn Mạnh Bổng, Đỗ thị có "khổ mặt trái soan, da trắng, tóc dài, người nhỏ nhắn xinh tươi, có vẻ yêu kiều ngoan ngoản, ăn nói dịu dàng lễ phép dễ nghe, biết đọc chữ nho, chữ quốc ngữ - ngày xưa người con gái được thế là gia giáo đáng quý lắm, vì nữ học chưa mở mang.
Yêu Đỗ thị, Tản Đà bèn đem tâm sự trình bày với trưởng huynh nhưng không đuợc trưởng huynh chấp thuận. Tản Đà cho ta biết là ông phó bảng bảo rằng
"Nhà ta nghèo như thế, lấy đâu xe song mã mà cưới."
Cụ bà Nễ Xuyên Nguyễn Thiện Kế, nhũ danh Nguyễn Thị Hiền , chị ruột Tản Đà nói với chúng tôi rằng cụ phó bảng bảo :" Quan viên Hà Nội , nhà nghèo dây sao được!"
Theo Hà Xuân Tế, " vì cảnh nhà thanh bạch cho nên ông anh không tính đến sự hôn thú ở nơi thành thị, mà câu chuyện bỏ qua không nói đến."
Theo ông Nguyễn Mạnh Phưởng, ông bảng bảo :
'Tao không làm bạn với ký lục.'
Tại sao ông Nguyễn Tái Tích không tán thành việc hôn nhân của Tản Đà ? Ta có thể chia các ý kiến trên thành hai: Ý kiến thứ nhất là gia đình Tản Đà nghèo. Ngày xưa, người Hà Nội có tục thách cưới cao. Ông bảng là một người thuộc ngành giáo chức, tất nhiên là thanh đạm. Ngày xưa , giữa nho gia và phú thương thường có nhiều xích mích . Cuộc hôn nhân với gia đình Đỗ Thận quả thực gây nhiều điều khó khăn về tài chánh cho gia đình họ Nguyễn, một gia đình đã phá sản vì thời cuộc!
Ý kiến thứ hai do ông Nguyễn Mạnh Phưởng thuật lại ,là do giai cấp và chính kiến bất đồng. Hai ý kiến đó đều đúng cả , nó diễn tả những khía cạnh khác nhau của một vấn đề. Sự thực, ông Nguyễn Tái Tích vừa tự ty lẫn tự tôn. Một mặt, ông tự ty vì nghèo. Một mặt ông tự tôn vì gia đình trâm anh thế phiệt, đời đời khoa bảng.Ông cũng tự tôn vì ông yêu nước, không làm việc cho Pháp. Quá say mê người đẹp, Tản Đà đã làm trái ý trưởng huynh.
Tản Đà đã nhờ một người bạn đồng canh lo việc mối manh. Và nhà gái đã đồng ý.
Việc này cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
Tản Đà viết :
'Tấm lòng ao ước, ngỏ cùng một người anh em bạn học đồng canh. Người bạn đi nói giúp việc mối, cứ như bên nhà người con gái, thời việc có nhẽ đã xong”
Theo bà Nễ Xuyên, chính quan huyện Móm, tức phu quân của bà vì thương em vợ mà đứng ra lo việc tiếp xúc với nhà gái. Nguyễn Mạnh Bổng cũng cho biết chính ông Nguyễn Thiện Kế đến nói với quan phán Đỗ. Khi về, ông anh rể thuật lại:
" Ái khanh cùng nghiêm phụ chỉ muốn được chồng, được rể thi đỗ cử nhân, ra tri huyện mà thôi"
Đó là một lời khuyến khích hay một điều kiện ? Nếu đó là một điều kiện thì rất đơn giản nhưng không dễ thực hiện. Nhưng khó là đối với ai kia chứ đối với Tản Đà thì hạnh phúc ở trong tầm tay! Tản Đà là một người văn hay chữ tốt, xuât thân gia đình khoa hoạn, lại được anh là phó bảng Nguyễn Tái Tích đào luyện. Mông khoa danh ắt hẵn thành tựu. Mai đây, chàng sẽ thi đỗ, sẽ cùng người đẹp sánh duyên giai ngẫu.
Đời người con trai ngày xưa là chú trọng khoa cử, trọng sự nghiệp. Tình yêu là phụ.
"Trai thì đọc sánh ngâm thơ,
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Mai sau nối được nghiệp nhà,
Trước là đẹp mặt sau là ấm thân."
Nhưng Tản Đà không chú trọng sự nghiệp. Đối với Tản Đà, tình yêu là chính. Sự nghiệp chẳng qua là điều kiện để chinh phục người đẹp. Nói cách khác công danh chỉ là phương tiện để thực hiện cứu cánh tình yêu. Tản Đà cũng như vị tướng quân xông pha trận tiền giết giặc không phải để cứu nước, không phải để lấy ấn phong hầu, mà chỉ vì nụ cười giai nhân. Hàng ngày, Tản Đà ngâm bài cổ thi sau đây, và bài này đã nói lên tâm hồn Tản Đà lúc này :
"An đắc tỳ hưu thập vạn binh,
Hổ lang sào huyệt nhất thời bình.
Quy lai bất sách phong hầu ấn,
Chỉ hướng quân vương mịch ái khanh."
(Sao được anh hùng mươi vạn binh,
Hổ lang hầm tổ dẹp tan tành.
Khi về chẳng lấy phong hầu ấn,
Chỉ đến thềm vua xin ái khanh.)
Chính Tản Đà cũng thú thực rằng việc thi cử chính là do tình yêu : "Mục đích sự học ở khoa cử, tiền đồ khoa cử có quan hệ với tình duyên." .Nhưng rồi trời chẳng chiều người! Con người tài giỏi thơ văn như thế lại thi hỏng khoa thi nhâm tí ( 1912) tại thành Nam . Tản Đà trở về Hà Nội, đi qua phố hàng Bồ mong gặp giai nhân cho đỡ u sầu . Nhưng Tản Đà xiết bao cay đắng khi thấy nhà người yêu pháo nổ rền vang trong ngày vu quy! Hỏi rõ ngọn nguồn, Tản Đà mới biết Đỗ thị" sắp sửa bước lên xe song mã để về làm dâu một nhà quan huyện."
Tản Đà vô cùng đau đớn. Tản Đà bị hai thất bại cùng một lần: Đại đăng khoa hỏng mà tiểu đăng khoa cũng mất luôn. Tản Đà cất lên tiếng than oán não nuột:
" Cử tú không mà rể cũng không,
Còn đeo áo đoạn để ai trông.."
Cụ bà Nễ Xuyên đã đọc cho chúng tôi nghe bài thơ của Tản Đà sáng tác lúc này :
Điều đâu sét đánh vỡ giời vang,
Thằng bé đương mê tỉnh dậy nhoàng.
Hỏi chú thiên lôi đâu chạy lại,
Từ bà huyện Thủy bắn tin sang.
Một dao tầm sét tan hồn phách,
Mãy mối tơ tình đứt dọc ngang.
Ông Nguyệt bỏ nhau tìm nẻo trốn,
Trăm năm mở mắt vẫn mơ màng."
Tản Đà thấy rõ cuộc đời hư ảo, tất cả chỉ là giấc mông kê vàng . Tản Đà đã nuôi bao mộng đẹp nhưng cuối cùng thành hư không:
"Người trong mộng, niềm nguyện mong, giục xui lòng: rõ ràng đôi lứa, phụng thành song, thành song. Mừng tạo hóa chắp mối tơ hồng. Tỉnh giấc cô phòng, dậy thành không, thành không. Sự sắt cầm chiêm bao thành không."
Trong nỗi đau khổ vì tình, Tản Đà đã hành động một cách liều lĩnh và tuyệt vọng.
Sau khi Đỗ thị lấy chồng, Tản Đà bỏ đi lang thang, rồi bỏ ăn bỏ uống, sống một cách điên cuồng, buông thả và hành hạ mình.
Tản Đà bỏ lên Hòa Bình và than vãn :
"Vì ai cho tớ phải lênh đênh,
Nặng lắm ai ơi một gánh tình!"
Sau Tản Đà lên chơi chùa Non Tiên, làm văn tế Chiêu quân. Tế Chiêu Quân là khóc Đỗ thị, là thương tiếc một giai nhân đã bỏ phí đời xuân về nơi mọi rợ :
"Má hồng để tiếc cho ai,
Đời người như thế có hoài mất không?
Khóc ai nước mắt ròng ròng,
Xương không còn vết, hận không có kỳ.
Sau khi từ giã Non Tiên, Tản Đà về ở ấp Cổ Đằng
( quận Tùng Thiện, Sơn Tây ) của cụ Nguyễn Danh Kế.Tại đây Tản Đà càng chán nản cực độ.Tản Đà muốn tịch cốc tu tiên để lánh trần tục mà đi về cõi cực lạc. Tản Đà viết :
" Cái bụng chán đời đến cực điểm, quyết mong tịch cốc để từ trần. Tiếc không nhớ bắt đầu từ ngày nào thôi sự ăn cơm, chỉ khát không chịu được.. . còn phải uống nước. Ba hôm như thế sầu khổ không thể chịu được nữa, thời lại phải uống rượu. Rượu uống cũng uống xuông, mà uống đến thật say. Nguyên đã ba hôm không ăn, trong bụng hư không, lại một phen say rượu mê ly, thành ra tự đãy về sau, khác hẳn tự đãy về trước. Bụng không biết no, biêt đói, người không biết vui biết buồn , cứ chỉ mỗi ngày một bữa rượu, hoặc uống xuông, hoặc ăn một đĩa rau rưa nhỏ con, xong rồi đem chõng ra nằm ở dưới cây ngọc lan, nghe những con chim kêu trên cành cây, hoặc là xem những đám mây đi trên giời, con chim bay trên không, xem kết cục đến đâu là hết.
Chính Tản Đà cũng công nhận rằng lúc bấy giờ mình đã mắc bệnh khủng hoảng tinh thần:
"Trong khi đó tự lấy làm phóng dật thanh cao nhưng thực đã gần ra tâm tật vậy"
Càng tuyệt vọng, càng đau khổ ,Tản Đà sinh ra oán thán mọi người. Việc đầu tiên là trách gia đình không chu toàn hôn sự nên mới có chuyện thất bại ở hàng Bồ như thế.
Điều này kể ra cũng đúng. Nếu ông Nguyễn Tái Tích đến thăm viếng đôi lần có lẽ nhà gái cũng vui vẻ và tin tưởng. Sự vắng bóng , sự lạnh lùng của ông Nguyễn Tái Tích đã làm cho nhà gái bực tức. Nhưng điều này e chỉ đúng một phần. Sự thực là do Tản Đà. Nhà gái đã nói rõ điều kiện của họ là muốn Tản Đà thi đỗ cử nhân, ra tri huyện. Tản Đà không hội đủ điều kiện này, lẽ dĩ nhiên, nhà gái phải nhận lời cầu hôn của một người khá hơn. Người đó là Nguyễn Văn Đồng, con quan huyện Thanh Thủy, sau này làm việc cho Thống sứ Bắc kỳ. Dù ông Nguyễn Tái Tích có lui tới săn đón , chưa chắc họ đã thiết tha con người thất bại Tản Đà. Thứ hai là trách tình nhân phụ bạc, tham danh, tham danh, tham lợi:
-" Trách ai đánh đá nung vôi,
Trách ai ngả gỗ trên đòi đốt than.
Làm cho vôi trắng than đen,
Cho lòng đen bạc thế gian lắm người."
-"Đa tiền mới đa tình,
Ít tiền son phấn khinh"
Ngày nay, người ta có thể nói tình yêu của Tản Đà là tình yêu đơn phương, vì giữa hai ngưòi không hề có việc hẹn ước dưới đêm trăng trong vườn Thúy, hay thư từ trao đổi theo dòng lá thắm , cho nên Tản Đà không thể trách người bội bạc. Người ta phải vâng lời cha mẹ mà thôi! Nhưng ngày xưa , việc hẹn biển thề non là ít, còn phần lớn do cha mẹ quyết định. Ý kiến cha mẹ cũng là ý kiến của người con gái. Khi nhà gái hứa hẹn có nghĩa là bản thân người con gái đã bằng lòng. Và khi bên gái bỏ lời ước hẹn có nghĩa là người con gái phụ tình. Dầu sao thì đây cũng là một sự khước từ vì Tản Đà thiếu điều kiện. Điều này cho phép Tản Đà than van tình đời tham phú phụ bần ! Tản Đà giận Đỗ thị, giận luôn việc thi cử ! Tản Đà mượn lời Ngọc hoàng thượng đế để bênh vực cho nỗi đau khổ của mình:
"Vì chi một sự khoa danh nhỏ mọn đến nỗi con bỏ chồng, thằng rẫy vợ. . . Một sự thi cử ở trần gian sinh ra hại đến luân thường như thế, thời thôi từ nay bỏ hẵn đi."
Và trong đau khổ, Tản Đà nảy sinh tâm lý ghen ghét, đố kị kẻ tình địch. Trong thi ca, Tản Đà châm biếm chồng Đỗ thị theo dạng những câu tục ngữ ,ca dao Việt Nam . Hàng ngày Tản Đà ngâm nga :
"Chị Hằng ơi, chú cuội ,
Con cú nọ cành mai.
Thương ai mà lại tiếc cho ai"
Và Tản Đà đã ám chỉ người chồng của Đỗ thị, ông Nguyễn Văn Đồng, người to béo, da đen, trong bài thơ sau:
Sợi tơ hồng ai khéo xe duyên,
Treo tranh tố nữ đứng bên anh tượng đồng.
Chị em ơi ba bảy đường chồng . ..
Bài văn dưới đây cũng được sáng tác trong mục đích " trả thù tình địch" một cách xa xôi, kín đáo:
" Thằng người ngây với con ngựa hay , chẳng phải duyên cũng không phải nợ. Con ngựa hay để thằng ngây cưỡi, cũng không nên trách thân mà lại giận giời. Ai ơi, nghĩ đi mà xem, nghĩ lại mà xem. Thế gian được vợ hỏng chồng, cũng như thế đó. Cán cân tạo hóa, so đi nhắc lại, có mây khi nhầm !
Khoảng 1913-1914, Tản Đà đã vẽ một bức tranh đem dự triển lãm tại ngân hàng Trung Hoa tại phố Trường Tiền, Hà Nội. Bức tranh này vẽ con cóc đậu trên một cành lan , bên cạnh đề thơ :
Con cóc mà đậu cành lan,
Cành ngô con phụng, thế gian đã thường.
Có ai thương cóc thì thương!
Và từ đây Tản Đà sinh ra chán đời. Trong thi văn Tản Đà ,sự yếm thế trở thành chủ đề chánh.
" Đời đáng chán hay không đáng chán,
Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm?"
Trước tiên là buồn chán về đời mình thất bại :
" Hai khóa thi bay, mỹ nhân xuât giá
Thì đời đáng chán hay chưa đáng chán?
Sự chán đời nghĩ lại bạn tri âm "
Sau nữa là sầu nhân thế . Dưới con mắt Tản Đà, đâu đâu cũng xấu xa, đáng chán, đáng buồn.
Gió gió mua mưa đã chán phèo,
Sự đời nghĩ đến lại buồn teo.
Thối om sọt phẩn nhiều cô gánh,
Tanh ngắt hơi đồng lắm cậu yêu.
Quần tía đùi non, anh chiệc vỗ,
Rừng xanh cây quế chú mường leo.
Phố phường nghe có vui chăng tá?
Áo mũ, râu ria mấy đám chèo."
Cái buồn chán của Tản Đà là buồn chán thường xuyên, nó lên cao độ trong thời thất vọng tình yêu.
" Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu. Mưa dầm là rụng mà sầu, giăng trong gió mát mà càng sầu, một mình tịch mịch mà sầu, đông người cười nói mà càng sầu., vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu."
Làm sao để thoát khỏi nỗi buồn khổ trong tâm hồn ? Tản Đà đã tìm con đường siêu thoát.
" Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán,
Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong."
Và :
"Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,
Trần thế em nay chán nửa rồi.
Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu có bạn can chi tủi,
Cùng gió cùng mây thế mới vui."
Đau khổ vì mộng ban đầu , Tản Đà xây dựng những thế giới mộng như Giấc Mộng Con với khuôn mặt người tình lý tưởng Chu Kiều Oanh. Những Vân Anh, Người tình nhân không quen biết. . .đều là phó bản của Đỗ thị ngày xưa.
Mọi sự sẽ thay đổi theo thời gian. Tình yêu cũng vậy. Một số thi nhân sau khi yêu hoặc tình yêu đổ vỡ đã có những cái nhìn khác nhau về quá khứ. Một số dù bao lâu vẫn giữ gìn kỷ niệm cũ và coi đó là một gia bảo của cuộc đời mình. Chính Tản Đà cũng nói rằng mình là một người yêu chung thủy :
" Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy,
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa"
Nhưng thực tế thì khác hẳn! Thế giới là biến chuyển và tâm lý con người biến động từng sát na ! Con người phút trước và con người phút sau có thể khác nhau xa. Nhìn lại quá khứ bao giờ ta cũng bình tĩnh và khách quan hơn. Ra khỏi cơn đam mê, Tản Đà là con người lý trí. Tản Đà đã thấy mối tình Đỗ thị không còn hương sắc ban đầu mà chỉ còn dư vị đắng cay của những ngày đông giá. Tản Đà nhìn quá khứ bằng con mắt của người tỉnh mộng, cho mình là đã dại khờ trong tuổi thanh xuân yêu mù quáng, yêu sai lầm:
" Cái mê vô ích mà mê dại.!
Mê dại mê mê chẳng mãi thôi"
Cũng như bao thi nhân trăm năm trước và ngàn năm sau, thuở thiếu thời Tản Đà đã yêu say mê, yêu điên cuồng. Tản Đã đã ôm ấp bao mộng đẹp nhưng rồi bao mộng ước đã biến thành ảo mộng thảm thương! Mộng khoa danh tan vỡ kéo theo sự sụp đổ của giấc mộng tình. Tản Đà đau khổ. Tản Đà điên loạn. Sau khi say men tình ,Tản Đà say men rượu để quên đời, quên mộng. Tản Đà là một Trang sinh mê hồ điệp. Và đời chính là một cơn trường mộng, Tản Đà say hết mộng này đến mộng khác. Chu Kiều Oanh, Vân Anh là những phó bản của mối tình lý tưởng . Dù đam mê, sau một thời gian dài, Tản Đà phải tỉnh mộng. Nhìn lại quá khứ, Tản Đà thấy tuổi trẻ đã trôi đi trong đam mê,khờ dại! Nhưng dẫu sao đó là cuộc đời , là đoạn trường ai cũng phải đi qua. Dù dại, dù khờ vẫn là một đoạn đường đời. Nhưng với đoạn đường tình này, với kinh nghiệm cay đắng này và với trái tim đa cảm, và tài hoa này ,thi nhân đã để lại cho chúng ta những khúc tơ lòng réo rắt !
(DÒNG VIỆT, Tập II, số 7, 1999. tr.325- 335, California,)
====
CA DAO HUẾ
*
Ở đây chúng tôi đề cập đến những câu hò, điệu hát trong dân gian, đã được quần chúng sáng tác và truyền bá tại đất Thần Kinh thơ mộng trong bao thời đại.
Có lẽ Huế là một trong những nơi có nhiều câu hò, điệu hát nhất và xuất sắc nhất.
Về hình thức, ca dao Huế thường dài, biến thể của vè, tứ ngôn, ngũ ngôn,thất ngôn. . .cấu tạo theo yêu vận :
Một vũng nước trong,
Mười giòng nước đục.
Một trăm người tục,
Không được một chục người thanh!
Lấy ai tâm sự như mình,
Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên quân!
Về nội dung, ca dao Huế rất phong phú, ý tứ thâm sâu.
Chúng ta thử xét xem nội dung của dân ca Huế qua một vài câu tiêu biểu.
I . TÌNH PHỤ TỬ, MẪU TỬ :
Những bài hát ru con ( ru em ) Huế thường nói đến tình phụ tử, tình mẫu tử:
Ru em, em thét cho muồi ,
Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, Chợ Cầu,
Mua cau Nam phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.
Mạ ơi chờ đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mạ nhờ!
Ca dao thường là những bài học luân lý, khuyên con người phải hiếu thảo với cha mẹ :
Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp luột, như đường mía lau.
Tôm rằn lột vỏ, bỏ đuôi
Gạo lúa de An Cựu mà nuôi mẹ già !
Ca dao cũng nói lên tâm trạng của những người con hiếu thảo:
Đêm đêm khấn vái Phật ,Trời
Cầu xin cha mẹ sống đời với con.
Có những bài ca nói lên tâm trạng người con gái ra đi lấy chồng, đã luyến tiếc mái nhà xưa, nhất là đau buồn vì xa cha mẹ:
Ra đi ngó trước, ngó sau,
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.
Khi đã về nhà chồng, người con gái thường nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ cha :
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Ngó về quê mẹ, ruột đău chín chiều.
II. TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG
Dân ca Huế là tiếng nhạc réo rắt của những tâm hồn yêu làng xóm, thành phố, quê hương mình.
Những bài hát ru, những bài ca Huế thường mang dấu tích những làng xã thân yêu của đất thần kinh như là muốn giớI thiệu cùng khách du những địa danh quen thuộc, và cũng là để gợi nhớ cho những lãng tử xa nhà :
Đố ai biết rít mấy chưn,
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người ?
Đông Ba, Gia Hội hai cầu,
Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông.
Nhiều bài dân ca Huế ca tụng những sản vật địa phương, như là niềm tự hào và cũng là một cách gây hoài niệm cho khách lữ thứ, kẻ hoài hương :
Hồ Tĩ nh Tâm giàu sen bạch diệp,
Đất Hương Cần ngọt quit thơm cam.
Ai về Cầu ngói Thanh Toàn,
Cho anh về với một đoàn cho vui.
Ai về Cầu ngói Dạ Lê,
Cho em về với thăm quê bên chồng.
Nhiều câu ca dao đã khen ngợi cảnh đẹp của Huế đô:
Đường vô xứ Huế loanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Thương anh, em cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang.
Phá Tam giang ngày rày đã cạn,
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.
Gió dưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ xương.
Huế mang số phận con người Việt Nam. Huế có buồn, có vui, có vinh có nhục. Có những người đã chê Huế vì dịa lý :
Sơn bất cao, Thủy bất thâm,
Nam đa trá, nữ đa dâm !
(Núi không cao, nước không sâu,
Nam giới gian trá, nữ nhân dâm dật.)
Huế thường tự hào về núi Ngự Bình và Hương giang, nhưng Ngự Bình không cao, mà sông Hương thì không sâu, không lớn, không hiểm. Nhưng nói về con người thì ta nên xét lại, vì xứ nào mà chẳng có người tốt, kẻ xấu ? Và về địa lý, ta cũng nên xét lại. Một nhà văn Trung quốc , Lưu Vũ Tích (thế kỷ 7-8) trong bài Lậu thất minh ( Căn nhà quê mùa ) há chẳng đã nói :
Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh,
Thủy bất tại thâm, hữu long tắc linh.
( Núi không cần cao, có tiên là nổi tiếng,
Sông không cần sâu, có rồng là linh thiêng)
Một nhà thơ Huế đã tỏ ý đau lòng trước cảnh tang thương của đất nước : trong cuộc chiến tranh Việt Pháp, dân chúng nghèo khổ , và Pháp đã phá hoại núi Ngự bình, nên đã có hai câu thơ truyền tụng :
Núi Ngự không cây , chim nằm đất,
Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời !
Tố Hữu cũng như bao người lãng mạn cách mạng, những mơ xây dựng cộng sản chủ nghĩa không còn giai cấp, không còn nghèo đói, không còn tệ đoan xã hội.
Ông cũng như bao người cộng sản đã hứa hẹn , đã tuyên truyền mạnh mẽ trong đám nông dân, thợ thuyền và đám ca kỷ giang hồ trên sông Hương :
Trời ơi biết đến khi mô?
Thân em hết nhục dày vò năm canh?
Tình ơi gian dối là tình,
Thuyền em rách nát còn lành được không ?
-Răng không , cô gái bên sông,
Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài.
Thơm như hương nhụy hoa nhài,
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng.
Ngày mai gió tới ngàn phương,
Tôi đưa cô tới một vườn đầy xuân.
Ngày mai trong giá trắng ngần,
Cô thôi kếp sống dày thân giang hồ.
Ngày mai bao lớp đời dơ,
Sẽ tan nhu đám mây mờ đêm nay. . .
(Tiếng hát sông Hương )
Nếu người con gái sông Hương thuở đó còn sống đến bây giờ, chắc sẽ thấy sau mấy chục năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, dân chúng nghèo hơn và số gái giang hồ đông hơn thời quân chủ và thời Pháp thuộc! Khoảng 1980, Tố Hữu vào Nam, tham dự một lớp học tập của giáo viên cấp ba, một giáo viên miền Nam đã hỏi Tố Hữu : ' Bây giờ đọc lại bài thơ Tiếng hát sông Hương, ông nghĩ gì ?
Tố Hữu đã không trả lời được câu hỏi hóc búa đó!
III. TÌNH YÊU TỔ QUỐC
Trong hò Huế, chúng ta thấy lòng yêu nước của dân Huế rất mãnh liệt. Lời ca đôi khi mạnh mẽ, cương quyết nhưng đôi khi bóng bảy, kín đáo :
Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá,
Thuyền về Vỹ Dạ, thẳng ngã ba Sình.
Lờ đờ bóng ngả chênh chênh,
Giọng hò xa vọng, nhắn tình nước non.
Chúa Nguyễn vào Thuận hóa đã xây dựng xứ sở này thành một xứ trù phú. Khi chúa Nguyễn quyết định lấy Phú xuân làm kinh đô là đã đặt vững niềm tin yêu vào dân Thuận hóa. Và các chúa Nguyễn đã tỏ ra yêu dân cho nên dân chúng yêu mến chúa Nguyễn, cầu mong chúa Nguyễn thống nhất đất nước, đem lại hòa bình , thịnh vượng cho dân chúng:
Lạy trời cho nổi gió nồm,
Để cho chúa Nguyễn thuận buồm trẩy ra.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chúng đã dùng bạo lực và mọi thủ đọan xảo quyệt để thôn tính nước ta. Quân dân ta đã chiến đãu anh dũng nhưng gươm dáo đã không thắng được súng ống tối tân của địch.
Vua Tự đức mất để lại môt cơn khủng hoảng chính trị.Trong bốn tháng, Việt Nam đã có ba vị vua và quyền hành nằm trong tay một số đại thần mà đứng đầu là Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường :
Một nhà sinh được ba vua,
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài. .
Nhất giang lưỡng quốc nam phân thuyết,
Tứ nguyệt tam vưong triệu bất tường.
Trong hai câu đối này có tên Tường, Thuyết.Câu thứ nhất nói : Một con sông hai nước thì không thể nói được. Bốn tháng, ba vua là điềm xấu. Một sông hai nuớc là nói Pháp đóng bên này sông Hương , Tòa Khâm ( gần Đập Đá), còn bên kia sông, là cung vua. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cương quyết chống Pháp. Vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân là những vị vua yêu nước. Câu ca sau đây đã nói về việc vua Duy Tân giả đi câu tại Phu Văn Lâu để gặp các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân bàn việc chống Pháp :
Chiều chiều trên bến Văn Lâu,
Ai ngồi ai câu,
Ai sầu ai cảm,
Ai nhớ ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông?
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non!
Trong khi những anh hÙng liệt sĩ và minh quân thánh chúa hy sinh cho đất nước, một số người đã cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, phản lại dân tộc.
Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch,
Non xanh nước biếc, điện ngọc, đền rồng.
Tháp bảy tầng ,thánh miếu, chùa Ông,
Trách ai hai dạ một lòng,
Tham đồng bạc trắng phụ lòng dân đen!
Việc thực dân Pháp tàn sát trong ngày 24 ất dậu( 1885 ) và việc cộng sản giết hại dân lành trong tết mậu than ( 1968) đã làm cho dân Huế đã đau thương lại thêm đau thương.
- Mậu thân giặc chiếm Huế đô,
Đốt nhà, cướp của, đào mồ chôn dân!
Làm sao quên được mậu thân,
Cộng quân tàn ác giết dân Huế mình!
-Mậu thân cộng chiếm Huế đô,
Đông Ba, Gia Hội thành mồ chôn dân!
Và trận lụt cuối năm kỷ mão (1999) đã khiến dân Huế đi đến tận cùng của đau khổ.
IV.TÌNH YÊU NAM NỮ
Cũng như ca dao Việt Nam, ca dao Huế để cho tình ca chiếm một địa vị trọng yếu. Con người thường cô đơn và cô đơn làm cho người ta buồn khổ :
Chiều chiều mây phủ Hải Vân,
Chim kêu gành đá, gẫm thân thêm buồn.
Trong cô đơn, con người mơ ước có một người bạn để cho đời bớt lạnh lẽo:
Thiên sinh nhân,hà nhân vô lộc,
Địa sinh thảo,hà thảo vô căn.
Một mình gĩữa lòng thuyền dưới nước,trên trăng,
Biết cùng ai trao duyên gửi phận cho bằng thế gian?
khi đã yêu nhau, ngưòi ta sẽ thấy lòng mình vô cớ buồn bã . Nhìn sông, nhìn nước, nhìn mây, nhìn núi.. . đâu đâu cũng thấy u buồn :
Núi Ngự bình mơ màng trăng gió,
Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình?
Đoái nhìn sông Hương nước chảy thanh thanh,
Sông bao nhiêu nước, dạ sầu tình bấy nhiêu!
Chợ Đông Ba tiếng gà eo óc,
Chùa Thọ Lộc tiếng trống sang canh.
Giữa sông Hương gợn sóng khuynh thành.
Đêm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng!
Ngôn ngữ Việt rất thần tình. Thương và nhớ thường đi đôi với nhau :
Nuớc đầu cầu khúc sâu,khúc cạn,
Chèo qua Ngọc trản đến vạn Kim Long.
Sương sa, gió thổi lạnh lung,
Sông xao,trăng lặn, gợi lòng nhớ thương.
Có gặp gỡ, có nhìn thấy nhau , đôi nam nữ mới cảm thấy thương nhau. Và khi đã thương nhau, người ta phải nhớ nhau, phải mong ước gặp lại lần thứ hai, thứ ba:
Thuyền về Đại Lược,
Duyên ngược Kim Long
Đây là chỗ rẽ của lòng,
Mai tê(kia) rồi còn biết trên sông bến nào.?
Khi yêu nhau, nỗi đau đớn, buồn khổ nhất là chia ly:
Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược,
Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang.
Thuyền em xuống bến Thuận An,
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi!
Chim xa bầy thương cây nhớ cội,
Người xa người, tội lắm người ơi!
Nỏ ( chẳng )thà không biết thì thôi
Biết mà mỗi đứa một nơi cũng buồn!
Có những cuộc tình xa nhau vĩnh viễn nhưng cũng có những chuyến đi xa hẹn ngày trở lại:
Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp,
Anh qua rồi xin kịp về mau.
Kẻo mai tê(kia) bóng xế ngang cầu,
Bạn còn thương bạn biết gửi sầu về nơi mô(đâu) mà tìm?
Vì sợ chia ly cho nên bao giờ người ta cũng không muốn rời xa:
Đi đâu cho thiếp đi cùng,
Đói no thiếp chịu lạnh lùng có đôi!
Lên non em cũng lên theo,
Xuống thuyền em cũng đắp đeo mạn thuyền!
Cũng như mọi đôi lứa trên thế gian, khi yêu nhau, người ta hứa hẹn, thề bồi chung thủy:
Khi nao cạn nuớc Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền!
Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau!
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong,
Đôi ta nguyện kết chữ đồng,
Đá mòn sông cạn mà lòng thủy chung !
Dãy dọc tòa ngang,
Giàu sang có số,
Kim Long , Nam Phổ,
Nước đổ về Sình.
Hai đứa mình chút nghĩa ba sinh,
Dẫu có mần răng( làm sao) đi nữa, cũng không
đành bỏ nhau!
Chợ Đông Ba đưa ra ngoài Dại,
Cầu Trường Tiền đúc lại xi mong.
Đôi ta ước nguyện thủy chung
Đá mòn, sông cạn cũng không đổi lòng.
Trong cuộc đời đã có nhiều đôi tình nhân đi đến hạnh phúc trăm năm nhưng cũng có những kẻ yêu nhau nửa chừng mới biết mình bị lường gạt :
Họa hổ họa bì nan họa cốt,
Tri nhân tri diện bất tri tâm.
May mô (sao) chút nữa em lầm,
Khoai lang khô cắt lát, em tưởng cao ly sâm bên tàu!
Theo năm tháng, tình yêu cũng biến chuyển. Trong hai người có một người thay lòng đổi dạ. Và người ta đau khổ vì bị tình phụ :
-Sen xa hồ, sen khô, hồ cạn,
Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng.
Vàng trên tay rớt xuống không phiền,
Phiền người bội nghĩa biết mấy niên cho hết sầu!
Em nói với anh như rìu chém xuống đá,
Như rạ ( rựa) chém. xuống đất,như mật rót vào tai.
Răng chừ (Sao giờ) em lại nghe ai,
Qua cầu nghiêng nón chạm vai không chào?
-Anh nói với em như rìu chém xuống đá,
Như rạ( rựa) chém. xuống đất, như mật rót vào tai.
Bây chừ (giờ) anh lại nghe ai,
Bỏ em ở chốn non đoài thảm chưa ?
Nhiều khi người ta thù hận nhau. Nhưng cũng có người quên đi mối hận tình, quy trách cho cha mẹ:
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong.
Bởi vì mẹ thầy lánh đục tìm trong,
Cho nên duyên chàng,phận thiếp cứ long đong mãi hoài.!
Dẫu người yêu say duyên mới, tham phú phụ bần, dẫu cha mẹ ngăn cản, phần đông quy trách là tại duyên số:
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong.
Đôi ta như chỉ lộn vồng,
Nợ thì có nợ, vợ chồng không duyên!
Ca dao Huế rất phong phú , diễn tả đầy đủ tâm lý, tư tưởng, tình cảm của một tập thể quần chúng hiền lành,đa tình nhưng rất anh dũng, bất khuất đã bao lần hăng hái chống lại bạo quyền và xây dựng quê hương.Người dân Huế đã là nạn nhân và chứng nhân của bao thời đại.
Tục ngữ có những câu khuyên ta cách xử thế :
-'Khôn cho người nhái,
Dại cho người thương,
Dở dở ương ương.
Tổ cho người ghét'
- 'Đi cho người ta nhớ, ở cho người ta thương'
Người Huế lại dùng một câu tục ngữ để nhận định về xứ Huế . Huế là một cố đô. Huế không hiện đại, không mở mang. Huế là vùng đất nghèo khổ, khắc nghiệt. Lúa gạo Huế sản xuất không đủ ăn. Gạo vải,thực phẩm, dụng cụ...đều mua từ Sàigon đem ra. Hễ bão lụt hay Việt cộng phá cầu, giật mìn, chận đường. ..là Huế thiếu lương thực, thiếu thuốc men, vải vóc! Trước 1954 , thanh niên Huế cũng như thanh niên miền Trung phải ra Hà Nội hoặc vào Sài gon học đại học. Tốt nghiệp, họ ở lại Hà Nội hay vào Sài gòn làm việc.Sau 1954, dân Huế vào Sàigòn học và đi làm việc. Huế chỉ là một cố hương để người ta trở về trong ngày hè, trong dịp tết. Huế là nơi ' đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương!'
Nói tóm lại, ca dao, tục ngữ Việt Nam là kho tàng chung của dân tộc, là công trình sáng tạo của toàn thể nhân dân. Có nhiều tư tưởng xung đột, có nhiều khuynh hướng mâu thuẫn vì ca dao, tục ngữ có tính cách tự do và đa diện. Phải có một cái nhìn tổng quát và sâu sắc để hiểu ca dao, tục ngữ vì ca dao, tục ngữ là một bách khoa tự điển của Việt Nam.
===
Ở đây chúng tôi đề cập đến những câu hò, điệu hát trong dân gian, đã được quần chúng sáng tác và truyền bá tại đất Thần Kinh thơ mộng trong bao thời đại.
Có lẽ Huế là một trong những nơi có nhiều câu hò, điệu hát nhất và xuất sắc nhất.
Về hình thức, ca dao Huế thường dài, biến thể của vè, tứ ngôn, ngũ ngôn,thất ngôn. . .cấu tạo theo yêu vận :
Một vũng nước trong,
Mười giòng nước đục.
Một trăm người tục,
Không được một chục người thanh!
Lấy ai tâm sự như mình,
Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên quân!
Về nội dung, ca dao Huế rất phong phú, ý tứ thâm sâu.
Chúng ta thử xét xem nội dung của dân ca Huế qua một vài câu tiêu biểu.
I . TÌNH PHỤ TỬ, MẪU TỬ :
Những bài hát ru con ( ru em ) Huế thường nói đến tình phụ tử, tình mẫu tử:
Ru em, em thét cho muồi ,
Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, Chợ Cầu,
Mua cau Nam phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.
Mạ ơi chờ đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mạ nhờ!
Ca dao thường là những bài học luân lý, khuyên con người phải hiếu thảo với cha mẹ :
Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp luột, như đường mía lau.
Tôm rằn lột vỏ, bỏ đuôi
Gạo lúa de An Cựu mà nuôi mẹ già !
Ca dao cũng nói lên tâm trạng của những người con hiếu thảo:
Đêm đêm khấn vái Phật ,Trời
Cầu xin cha mẹ sống đời với con.
Có những bài ca nói lên tâm trạng người con gái ra đi lấy chồng, đã luyến tiếc mái nhà xưa, nhất là đau buồn vì xa cha mẹ:
Ra đi ngó trước, ngó sau,
Ngó nhà mấy cột, ngó cau mấy buồng.
Khi đã về nhà chồng, người con gái thường nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ cha :
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Ngó về quê mẹ, ruột đău chín chiều.
II. TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG
Dân ca Huế là tiếng nhạc réo rắt của những tâm hồn yêu làng xóm, thành phố, quê hương mình.
Những bài hát ru, những bài ca Huế thường mang dấu tích những làng xã thân yêu của đất thần kinh như là muốn giớI thiệu cùng khách du những địa danh quen thuộc, và cũng là để gợi nhớ cho những lãng tử xa nhà :
Đố ai biết rít mấy chưn,
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người ?
Đông Ba, Gia Hội hai cầu,
Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông.
Nhiều bài dân ca Huế ca tụng những sản vật địa phương, như là niềm tự hào và cũng là một cách gây hoài niệm cho khách lữ thứ, kẻ hoài hương :
Hồ Tĩ nh Tâm giàu sen bạch diệp,
Đất Hương Cần ngọt quit thơm cam.
Ai về Cầu ngói Thanh Toàn,
Cho anh về với một đoàn cho vui.
Ai về Cầu ngói Dạ Lê,
Cho em về với thăm quê bên chồng.
Nhiều câu ca dao đã khen ngợi cảnh đẹp của Huế đô:
Đường vô xứ Huế loanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Thương anh, em cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang.
Phá Tam giang ngày rày đã cạn,
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.
Gió dưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ xương.
Huế mang số phận con người Việt Nam. Huế có buồn, có vui, có vinh có nhục. Có những người đã chê Huế vì dịa lý :
Sơn bất cao, Thủy bất thâm,
Nam đa trá, nữ đa dâm !
(Núi không cao, nước không sâu,
Nam giới gian trá, nữ nhân dâm dật.)
Huế thường tự hào về núi Ngự Bình và Hương giang, nhưng Ngự Bình không cao, mà sông Hương thì không sâu, không lớn, không hiểm. Nhưng nói về con người thì ta nên xét lại, vì xứ nào mà chẳng có người tốt, kẻ xấu ? Và về địa lý, ta cũng nên xét lại. Một nhà văn Trung quốc , Lưu Vũ Tích (thế kỷ 7-8) trong bài Lậu thất minh ( Căn nhà quê mùa ) há chẳng đã nói :
Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh,
Thủy bất tại thâm, hữu long tắc linh.
( Núi không cần cao, có tiên là nổi tiếng,
Sông không cần sâu, có rồng là linh thiêng)
Một nhà thơ Huế đã tỏ ý đau lòng trước cảnh tang thương của đất nước : trong cuộc chiến tranh Việt Pháp, dân chúng nghèo khổ , và Pháp đã phá hoại núi Ngự bình, nên đã có hai câu thơ truyền tụng :
Núi Ngự không cây , chim nằm đất,
Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời !
Tố Hữu cũng như bao người lãng mạn cách mạng, những mơ xây dựng cộng sản chủ nghĩa không còn giai cấp, không còn nghèo đói, không còn tệ đoan xã hội.
Ông cũng như bao người cộng sản đã hứa hẹn , đã tuyên truyền mạnh mẽ trong đám nông dân, thợ thuyền và đám ca kỷ giang hồ trên sông Hương :
Trời ơi biết đến khi mô?
Thân em hết nhục dày vò năm canh?
Tình ơi gian dối là tình,
Thuyền em rách nát còn lành được không ?
-Răng không , cô gái bên sông,
Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài.
Thơm như hương nhụy hoa nhài,
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng.
Ngày mai gió tới ngàn phương,
Tôi đưa cô tới một vườn đầy xuân.
Ngày mai trong giá trắng ngần,
Cô thôi kếp sống dày thân giang hồ.
Ngày mai bao lớp đời dơ,
Sẽ tan nhu đám mây mờ đêm nay. . .
(Tiếng hát sông Hương )
Nếu người con gái sông Hương thuở đó còn sống đến bây giờ, chắc sẽ thấy sau mấy chục năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, dân chúng nghèo hơn và số gái giang hồ đông hơn thời quân chủ và thời Pháp thuộc! Khoảng 1980, Tố Hữu vào Nam, tham dự một lớp học tập của giáo viên cấp ba, một giáo viên miền Nam đã hỏi Tố Hữu : ' Bây giờ đọc lại bài thơ Tiếng hát sông Hương, ông nghĩ gì ?
Tố Hữu đã không trả lời được câu hỏi hóc búa đó!
III. TÌNH YÊU TỔ QUỐC
Trong hò Huế, chúng ta thấy lòng yêu nước của dân Huế rất mãnh liệt. Lời ca đôi khi mạnh mẽ, cương quyết nhưng đôi khi bóng bảy, kín đáo :
Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá,
Thuyền về Vỹ Dạ, thẳng ngã ba Sình.
Lờ đờ bóng ngả chênh chênh,
Giọng hò xa vọng, nhắn tình nước non.
Chúa Nguyễn vào Thuận hóa đã xây dựng xứ sở này thành một xứ trù phú. Khi chúa Nguyễn quyết định lấy Phú xuân làm kinh đô là đã đặt vững niềm tin yêu vào dân Thuận hóa. Và các chúa Nguyễn đã tỏ ra yêu dân cho nên dân chúng yêu mến chúa Nguyễn, cầu mong chúa Nguyễn thống nhất đất nước, đem lại hòa bình , thịnh vượng cho dân chúng:
Lạy trời cho nổi gió nồm,
Để cho chúa Nguyễn thuận buồm trẩy ra.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chúng đã dùng bạo lực và mọi thủ đọan xảo quyệt để thôn tính nước ta. Quân dân ta đã chiến đãu anh dũng nhưng gươm dáo đã không thắng được súng ống tối tân của địch.
Vua Tự đức mất để lại môt cơn khủng hoảng chính trị.Trong bốn tháng, Việt Nam đã có ba vị vua và quyền hành nằm trong tay một số đại thần mà đứng đầu là Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường :
Một nhà sinh được ba vua,
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài. .
Nhất giang lưỡng quốc nam phân thuyết,
Tứ nguyệt tam vưong triệu bất tường.
Trong hai câu đối này có tên Tường, Thuyết.Câu thứ nhất nói : Một con sông hai nước thì không thể nói được. Bốn tháng, ba vua là điềm xấu. Một sông hai nuớc là nói Pháp đóng bên này sông Hương , Tòa Khâm ( gần Đập Đá), còn bên kia sông, là cung vua. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cương quyết chống Pháp. Vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân là những vị vua yêu nước. Câu ca sau đây đã nói về việc vua Duy Tân giả đi câu tại Phu Văn Lâu để gặp các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân bàn việc chống Pháp :
Chiều chiều trên bến Văn Lâu,
Ai ngồi ai câu,
Ai sầu ai cảm,
Ai nhớ ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông?
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non!
Trong khi những anh hÙng liệt sĩ và minh quân thánh chúa hy sinh cho đất nước, một số người đã cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, phản lại dân tộc.
Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch,
Non xanh nước biếc, điện ngọc, đền rồng.
Tháp bảy tầng ,thánh miếu, chùa Ông,
Trách ai hai dạ một lòng,
Tham đồng bạc trắng phụ lòng dân đen!
Việc thực dân Pháp tàn sát trong ngày 24 ất dậu( 1885 ) và việc cộng sản giết hại dân lành trong tết mậu than ( 1968) đã làm cho dân Huế đã đau thương lại thêm đau thương.
- Mậu thân giặc chiếm Huế đô,
Đốt nhà, cướp của, đào mồ chôn dân!
Làm sao quên được mậu thân,
Cộng quân tàn ác giết dân Huế mình!
-Mậu thân cộng chiếm Huế đô,
Đông Ba, Gia Hội thành mồ chôn dân!
Và trận lụt cuối năm kỷ mão (1999) đã khiến dân Huế đi đến tận cùng của đau khổ.
IV.TÌNH YÊU NAM NỮ
Cũng như ca dao Việt Nam, ca dao Huế để cho tình ca chiếm một địa vị trọng yếu. Con người thường cô đơn và cô đơn làm cho người ta buồn khổ :
Chiều chiều mây phủ Hải Vân,
Chim kêu gành đá, gẫm thân thêm buồn.
Trong cô đơn, con người mơ ước có một người bạn để cho đời bớt lạnh lẽo:
Thiên sinh nhân,hà nhân vô lộc,
Địa sinh thảo,hà thảo vô căn.
Một mình gĩữa lòng thuyền dưới nước,trên trăng,
Biết cùng ai trao duyên gửi phận cho bằng thế gian?
khi đã yêu nhau, ngưòi ta sẽ thấy lòng mình vô cớ buồn bã . Nhìn sông, nhìn nước, nhìn mây, nhìn núi.. . đâu đâu cũng thấy u buồn :
Núi Ngự bình mơ màng trăng gió,
Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình?
Đoái nhìn sông Hương nước chảy thanh thanh,
Sông bao nhiêu nước, dạ sầu tình bấy nhiêu!
Chợ Đông Ba tiếng gà eo óc,
Chùa Thọ Lộc tiếng trống sang canh.
Giữa sông Hương gợn sóng khuynh thành.
Đêm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng!
Ngôn ngữ Việt rất thần tình. Thương và nhớ thường đi đôi với nhau :
Nuớc đầu cầu khúc sâu,khúc cạn,
Chèo qua Ngọc trản đến vạn Kim Long.
Sương sa, gió thổi lạnh lung,
Sông xao,trăng lặn, gợi lòng nhớ thương.
Có gặp gỡ, có nhìn thấy nhau , đôi nam nữ mới cảm thấy thương nhau. Và khi đã thương nhau, người ta phải nhớ nhau, phải mong ước gặp lại lần thứ hai, thứ ba:
Thuyền về Đại Lược,
Duyên ngược Kim Long
Đây là chỗ rẽ của lòng,
Mai tê(kia) rồi còn biết trên sông bến nào.?
Khi yêu nhau, nỗi đau đớn, buồn khổ nhất là chia ly:
Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược,
Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang.
Thuyền em xuống bến Thuận An,
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi!
Chim xa bầy thương cây nhớ cội,
Người xa người, tội lắm người ơi!
Nỏ ( chẳng )thà không biết thì thôi
Biết mà mỗi đứa một nơi cũng buồn!
Có những cuộc tình xa nhau vĩnh viễn nhưng cũng có những chuyến đi xa hẹn ngày trở lại:
Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp,
Anh qua rồi xin kịp về mau.
Kẻo mai tê(kia) bóng xế ngang cầu,
Bạn còn thương bạn biết gửi sầu về nơi mô(đâu) mà tìm?
Vì sợ chia ly cho nên bao giờ người ta cũng không muốn rời xa:
Đi đâu cho thiếp đi cùng,
Đói no thiếp chịu lạnh lùng có đôi!
Lên non em cũng lên theo,
Xuống thuyền em cũng đắp đeo mạn thuyền!
Cũng như mọi đôi lứa trên thế gian, khi yêu nhau, người ta hứa hẹn, thề bồi chung thủy:
Khi nao cạn nuớc Đồng Nai,
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền!
Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau!
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong,
Đôi ta nguyện kết chữ đồng,
Đá mòn sông cạn mà lòng thủy chung !
Dãy dọc tòa ngang,
Giàu sang có số,
Kim Long , Nam Phổ,
Nước đổ về Sình.
Hai đứa mình chút nghĩa ba sinh,
Dẫu có mần răng( làm sao) đi nữa, cũng không
đành bỏ nhau!
Chợ Đông Ba đưa ra ngoài Dại,
Cầu Trường Tiền đúc lại xi mong.
Đôi ta ước nguyện thủy chung
Đá mòn, sông cạn cũng không đổi lòng.
Trong cuộc đời đã có nhiều đôi tình nhân đi đến hạnh phúc trăm năm nhưng cũng có những kẻ yêu nhau nửa chừng mới biết mình bị lường gạt :
Họa hổ họa bì nan họa cốt,
Tri nhân tri diện bất tri tâm.
May mô (sao) chút nữa em lầm,
Khoai lang khô cắt lát, em tưởng cao ly sâm bên tàu!
Theo năm tháng, tình yêu cũng biến chuyển. Trong hai người có một người thay lòng đổi dạ. Và người ta đau khổ vì bị tình phụ :
-Sen xa hồ, sen khô, hồ cạn,
Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng.
Vàng trên tay rớt xuống không phiền,
Phiền người bội nghĩa biết mấy niên cho hết sầu!
Em nói với anh như rìu chém xuống đá,
Như rạ ( rựa) chém. xuống đất,như mật rót vào tai.
Răng chừ (Sao giờ) em lại nghe ai,
Qua cầu nghiêng nón chạm vai không chào?
-Anh nói với em như rìu chém xuống đá,
Như rạ( rựa) chém. xuống đất, như mật rót vào tai.
Bây chừ (giờ) anh lại nghe ai,
Bỏ em ở chốn non đoài thảm chưa ?
Nhiều khi người ta thù hận nhau. Nhưng cũng có người quên đi mối hận tình, quy trách cho cha mẹ:
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong.
Bởi vì mẹ thầy lánh đục tìm trong,
Cho nên duyên chàng,phận thiếp cứ long đong mãi hoài.!
Dẫu người yêu say duyên mới, tham phú phụ bần, dẫu cha mẹ ngăn cản, phần đông quy trách là tại duyên số:
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong.
Đôi ta như chỉ lộn vồng,
Nợ thì có nợ, vợ chồng không duyên!
Ca dao Huế rất phong phú , diễn tả đầy đủ tâm lý, tư tưởng, tình cảm của một tập thể quần chúng hiền lành,đa tình nhưng rất anh dũng, bất khuất đã bao lần hăng hái chống lại bạo quyền và xây dựng quê hương.Người dân Huế đã là nạn nhân và chứng nhân của bao thời đại.
Tục ngữ có những câu khuyên ta cách xử thế :
-'Khôn cho người nhái,
Dại cho người thương,
Dở dở ương ương.
Tổ cho người ghét'
- 'Đi cho người ta nhớ, ở cho người ta thương'
Người Huế lại dùng một câu tục ngữ để nhận định về xứ Huế . Huế là một cố đô. Huế không hiện đại, không mở mang. Huế là vùng đất nghèo khổ, khắc nghiệt. Lúa gạo Huế sản xuất không đủ ăn. Gạo vải,thực phẩm, dụng cụ...đều mua từ Sàigon đem ra. Hễ bão lụt hay Việt cộng phá cầu, giật mìn, chận đường. ..là Huế thiếu lương thực, thiếu thuốc men, vải vóc! Trước 1954 , thanh niên Huế cũng như thanh niên miền Trung phải ra Hà Nội hoặc vào Sài gon học đại học. Tốt nghiệp, họ ở lại Hà Nội hay vào Sài gòn làm việc.Sau 1954, dân Huế vào Sàigòn học và đi làm việc. Huế chỉ là một cố hương để người ta trở về trong ngày hè, trong dịp tết. Huế là nơi ' đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương!'
Nói tóm lại, ca dao, tục ngữ Việt Nam là kho tàng chung của dân tộc, là công trình sáng tạo của toàn thể nhân dân. Có nhiều tư tưởng xung đột, có nhiều khuynh hướng mâu thuẫn vì ca dao, tục ngữ có tính cách tự do và đa diện. Phải có một cái nhìn tổng quát và sâu sắc để hiểu ca dao, tục ngữ vì ca dao, tục ngữ là một bách khoa tự điển của Việt Nam.
===
THỐNG NHẤT VÀ MÂU THUẪN TRONG CA DAO
*
Xem tục ngữ và ca dao, chúng ta thấy đó là một kho tàng rất phong phú của văn chương Việt Nam. Đi sâu vào nội dung, chúng ta thấy rõ sự thống nhất trong tâm tình và tư tưởng dân tộc, nhưng bên cạnh cũng có nhiều mâu thuẫn. Mục đích của chúng tôi trong bài này là trình bày vài nét về sự thống nhất và mâu thuẫn này, và giải thích lý do cấu tạo các xu hướng đó.
Vũ trụ là thống nhất và hòa hợp. Tùy theo quan điểm mà ta cho là thống nhất hay mâu thuẫn. Thí dụ ngày và đêm, ngắn và dài, giàu và nghèo là những cặp mâu thuuẫn nhưng với cái nhìn của Phật giáo và của Đạo đức Kinh, tất cả chỉ là các mặt khác nhau của một thực tại. Nam và nữ, nóng và lạnh là sự hòa hợp cần thiết của vũ trụ và loài người. Tuy nhiên, không thời đại nào , xã hội nào lại không có mâu thuẫn. Xã hội nào cũng có nhiều giai cấp, nhiều mâu thuẫn. Nhất là trong xã hội tự do tư tưởng, bao nhiêu cái đầu là có bấy nhiêu ý kiến khác nhau, thành thử tư tưởng, tình cảm khác nhau là việc đương nhiên. Xã hội thời trước không hề cấm văn chương, cấn ngôn luận và cấm hội họp. Trai gái có thể gặp gỡ trong lao động hay trọng lễ hội. Xã hội ta rất phóng khoáng và nhân đạo. Vua chúa Việt Nam không bao giờ đốt sách, chôn sống học trò, bỏ tù hàng triệu người, và bắt toàn dân làm nô lệ trong các công trường và nông trường.
I. BÌNH DÂN VÀ BÁC HỌC
Một số nhà nghiên cứu văn học, tách bạch rõ
ràng hai loại văn học là văn chương bình dân và văn chương bác học. Văn chương bác học do các nhà khoa bảng sáng tạo, còn văn chương bình dân được truyền bá trong lũy tre xanh. Do đó, khi viết về ca dao, tục ngữ, những vị đó kết luận rằng ca dao tục ngữ là tác phẩm của quần chúng nhân dân, của những tác giả vô danh ở nơi ruộng đồng và sông núi. Dương Quảng Hàm cho rằng tục ngữ, ca dao không có nguồn gốc rõ rệt. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai; chắc là lúc ban đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ.
Từ khi phong trào bình dân nổi lên, một số văn gia, học giả theo phe Bình Dân hay phe cộng sản, cho rằng văn chương truyền khẩu là do quần chúng lao động sáng tác.Nhận định đó không chính xác lắm bởi vì tục ngữ, ca dao là công trình sáng tác của nhân dân, mà trong nhân dân có nhiều hạng người, có trí thức, có bình dân, có hạng khoa bảng, có kẻ hàn nho. Thí dụ câu hò trên sông Hương được dân chúng truyền tụng là của Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877-1961):
Chiều chiều trước bến Văn Lâu\
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng trên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non \
Và câu " Thương người như thể thương thân" là của Nguyễn Trãi.
Thực tế, trong cuộc hò hát đối đáp giữa trai gái, phần lớn là nông dân, nhưng họ có một tâm hồn thi sĩ và có tài sáng tạo thi ca. Ở thôn quê thuở trước, có nhiều người không học lại có tài làm thơ. Nhưng trong đám thanh niên trai trẻ, cũng có những nho sinh, hay ông tú, cậu chiêu. Ngoài ra, hai phe nam nữ còn có những vị quân sư giúp họ những khi khó khăn. Những vị quân sư này, cố vấn này phần lớn là thi sĩ, nho sĩ. . Chẳng hạn, có những câu ca rất hóc búa, người bình thường khó mà trả lời, phải là những tay nho học đọc thông hiểu rộng mới giải đáp được:
-Mấy lời hỏi thử học trò,
Ai dàn quân Bái Thượng, ai chèo đó Ô giang?
-Vua Nghiêu có chín con trai,
Đan Chu là một, tám người nữa ai?
Ngày xưa, phụ nữ không đến trường, nhưng có khá nhiều phụ nữ giỏi Hán và nôm như Đoàn thị Điểm, Hồ Xuân Hương, bà huyện Thanh Quan. . . Như vậy, xét về nhân sự, các nam nữ hát trống quân, quan họ, hát huê tình là một tập hợp nhân dân, không phân biệt giàu nghèo, nông dân hay nho sĩ.
Xét nghệ thuật , chúng ta khó biết câu nào là của người bình dân, câu nào là của nho sĩ. Có những câu giản dị:
Mẹ ơi chớ đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Ru em, em thét cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Tuy nhiên, trong ca dao có những câu nhiều điển tích, ta có thể đoán định các tác giả là nho sĩ:
-Mừng nay mưa nắng thuận trời,
Trị vì Ngu Hạ dân đời Thương Chu.
Nơi nơi kích nhưỡng ca cù,
Khắp trong vũ điện Thang Chu thuận hòa.
Đâu đâu già trẻ gần xa,
Người người kính chúc thiên gia vững vàng.
Ai ai trung hiếu lưỡng toàn,
Năm năm mừng được phong niên thái bình.
-Nay mừng tứ hải đồng xuân,
Tam dương khai thái muôn dân hòa bình.
Sĩ thời chăm việc học hành,
Một mai khoa bảng để giành công danh.
Công thời phượng các long đình,
Đủ nghề Sư Khoáng, rứt nghề công thâu.
Nông thời cuốc bẫm cày sâu,
Thu hòa, hạ mạch phong thu có ngày.
Thương thời buôn bán liền tay,
Rứt tài Tử Cống ai tày cho đang!
Nhìn chung, ca dao, tục ngữ là tác phẩm của nhân dân qua các thời đại, là một công trình tập thể của các tầng lớp nhân dân, gồm sĩ nông, công thương, nam nữ, và Bắc Nam, Trung, tấùt cả cùng hòa điệu, tạo thành một sức sống của dân tộc Việt Nam.
II. TRÍ THỨC VÀ NÔNG DÂN
Nước nào cũng có những nông dân lo việc trồng trọt, chăn nuôi, và các trí thức lo việc giáo dục, và hành chánh. Đây là hai hạng người cần thiết trong mọi xã hội. Chúng ta không biết từ xưa, người Việt có chữ viết riêng hay không, nhưng từ khi Triệu Đà chiếm nước ta và xưng độc lập, có lẽ từ lúc này chúng ta đã học chữ Hán. Nhưng phải từ đời Lý, kẻ sĩ mới được triều đình tôn trọng. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Tam trường để chọn những người minh kinh bác học. Đến đời Trần, các vị vua là Phật tử nhưng có đầu óc cởi mở, đã chú trọng Nho học, dùng Nho học là phương cách phát triển văn hóa giáo dục. Từ đó, Nho học được tôn trọng, và nho sĩ trở thành những nhân vật quan trọng.
Trạng nguyên thi có câu:
Vạn ban giai hạ phẩm,
Duy hữu độc thư cao.
( Vạn ban đều thấp kém,
Chỉ có kẻ đọc sách là cao quý nhất ).
Nguyễn Công Trứ đã nói lên vai trò của kẻ sĩ trong xã hội ngày trước:
Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.
Có giang sơn thì sĩ đã có tên,
Từ Chu Hán, sĩ này là quý. . .
Sự thật thì không có sự ngăn cách giữa kẻ sĩ và nông dân. Nông dân nuôi con ăn học, con thi đỗ, làm quan. Như vậy, nông dân là cha, kẻ sĩ là con. Trí thức vốn xuất thân từ nông dân, từ hàng lao động. Ngay cả hàng vua chúa, đại thần, tướng quân cũng xuất thân từ hàng lao động mà ra, thành thử trong xã hội Việt Nam không có đối lập giữa các giai cấp. Nho sĩ là những người con ưu tú của nhân dân. Các bậc cha mẹ, các cô thôn nữ đã yêu mến các nho sĩ, vì nho sĩ là tương lai dân tộc, là rường cột nước nhà:
-Chẳng tham ruộng cả, ao sâu,
Tham vì anh tú rậm râu mà hiền.
Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ.
-Chẳng tham vựa lúa anh đầy,
Tham năm ba chữ cho tày thế gian.
-Đêm nằm thử nghĩ mà coi,
Lấy chồng hay chữ như soi gương vàng.
-Đôi bên bác mẹ thì già,
Lấy anh hay chữ để mà cậy trông.
Mùa hè cho chí mùa đông,
Mùa nào, thức ấy cho chồng ra đi.
Hết gạo thiếp lại gánh đi,
Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao?
Hỏi thăm đến ngõ thì vào,
Tay đặït gánh xuống, miệng chào thưa anh. . .
Tuy nhiên trong nhân dân cũng có những kẻ chống đối, chỉ trích nho sĩ. Họ là những kẻ “trọng nông”:
Nhất sĩ nhì nông,
Hết gạo chạy rông
Nhất nông nhỉ sĩ.
Họ chỉ trích nho sĩ là những kẻ ăn bám xã hội, là hạng người vô ích:
Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm.
Ngày thì cắp sách đi rong,
Tối về lại giữ đèn chong một mình.
Ngày xưa thi cử khó khăn, rất it người thi đỗ, làm quan. Một số thất bại trên đường cử nghiệp, cam phận hàn nho, suốt đời khốn khó.Những nông dân, nhất là những phú hộ có nhà cửa, ruộng vườn và tiền bạc thì đâm ra khinh nho sĩ là những kẻ nghèo hèn trong xã hội:
-Ra đường ông tú, ông chiêu,
Về nhà móntg tay mỏ sẻ cậy niêu đã mòn.
-Số thầy là số lôi thôi,
Quanh năm chỉ những chùi nồi cả năm.
-Thầy đồ mà chẳng ăn khoai,
Đến khi luộc chín còn hai củ hà.
-Quân tử là quân tử tàu,
Aên cơm thì ít, ăn rau thì nhiều.
-Quan văn mất một đồng tiền,
Xem bằng quan võ mất quyền quận công.
-Ra đường võng giá nghêng ngang,
Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mày?
Cám rang tôi để cối xay,
Hễ chó ăn mất thì mày với ông!
Cái đau khổ của nho sĩ, bi kịch của nho sĩ là phải giữ cái bề ngoài lịch sự tao nhã nhưng thực tế thì ăn mặc đều thiếu thốn. Còn nông dân, và dân buôn thúng bán mẹt y phục giản dị nhưng no cơm ấm áo:
-Quần hồ, áo cánh mà chi,
Quần hồ, áo cánh, có khi ăn mày
-Quần dài thời ăn mắm thối,
Quần đầu gối thì ăn mắm thơm.
Trong xã hội xưa, đa số dân chúng tôn trọng kẻ sĩ nhưng một số khinh kẻ sĩ là nghèo đói, túng thiếu. Đó là một sự thực. Và đó cũng là quan điểm thực dụng, hoặc quan điểm trọng kim tiền. Thực ra nông dân và nho sĩ có nhiều điểm giống nhau. Cả hai đều sống trên đồng ruộng, và cả hai đều sống nhờ vào canh tác. Nho sĩ bận học nhưng vợ con canh tác hoặc ruộng đất cho nông dân làm rẽ. Cha nho sĩ là nông dân, anh em nho sĩ cũng là nông dân, mẹ và em gái là những người ươm tơ dệt vải hoặc tiểu thương buôn bán ngoài chợ. Tất cả đều chung một ngưồn gốc, không có việc phân chia đẳng cấp như một số nhà văn, nhà chính trị thiển cận và quá khích đã thêu dệt. Cả hai đều nghèo, không ai khinh ai. Chỉ có bọn trọc phú, trung nông hoặc phú nông, ngoài canh tác còn buôn bán, cho vay nặng lãi để làm giàu là khinh bỉ nho sĩ nghèo. Đó cũng là mâu thuẫn giữa hai phái kim tiền và đạo đức. Chính một số kẻ sĩ đã chỉ trích bọn hào phú thôn quê “vi phú bất nhân, vi nhân bất phú”. Do đó mà có mâu thuẫn giữa nho sĩ và bọn trọc phú chứ không phải là mâu thuẫn giữa nông dân và nho sĩ. Nho sĩ bao giờ cũng trọng nghề nông vì quốc gia ta dĩ nông vi bản. Nho sĩ bao giờ cunõg mong muốn đất nước no ấm, giàu mạnh, trong đó điều quan trọng là mưa thuận gió hòa, và được mùa:
Nay mừng những kẻ nông phu,
Cầu cho hòa cốc phong thu bình thời.
Vốn xưa nông ở bậc hai,
Thuận hòa mưa gió, nông thời lên trên.
Quý hồ nhiều lúa là tiên,
Rõ ràng phú túc, bình yên cả nhà.
Bốn mùa xuân hạ thu qua,
Muốn cho tiền lúa đầy nhà hán sương.
Bước sang hạ giá thu tàng,
Thu thu tiễn hoạch, giàu ngang Thạch Sùng.
Quý nhân cùng kẻ anh hùng,
Rắp toan muốn hỏi nhà nông ê hề.
Thực thà chân chỉ thú quê,
Chuyên nghề nông nghiệp là nghề vinh quang.
Gặp thời là được thọ khang,
Tam đa, ngụ phúc rõ ràng trời cho.
Nhà nho cũng đã có nhiều người giúp ích cho nông dân như Nguyễn Công Trứ khai khẩn đất hoang vùng Kim Sơn, Tiền Hải (Bắc Việt ), và Nguyễn Thông lo việc doanh điền và định cư cho nhân dân miền Nam tại Bình Thuận khi Pháp chiếm miền Nam.
III. LAO ĐỘNG VÀ HƯỞNG NHÀN
Một số người Việt Nam chủ trương sống là lao động, là tranh đấu:
Tay làm hàm nhai,
Tay quai, miệng trễ.
Đây là điều tất yếu. Nước Việt Nam nghèo khổ, đa số sống về nông nghiệp. Mùa màng thường bị thiên tại, lại nữa, đất nước thường bị chiến tranh, sống chết, tai họa, nghèo đói là chuyện xảy ra thường xuyên. Vì vậy, muốn tồn tại, con người phải lao động, phải tranh đấu. Không thể bỏ phí thời giờ cũng như bỏ hoang ruộng đồng:
-Đời người chỉ một gang tay,
Ai hay ngủ ngày, chỉ được nửa gang.
-Ai ơi, chớ bỏ ruộng hoang,
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu!
Mặt khác, nhân sinh quan đã tạo ra một lối sống. Trong khi một số tin tưởng vào số mệnh, một số tin vào ý chí con người, và cũng có người tin tưởng cả hai:
-Trời nào có phụ ai đâu,
Hay làm thì giàu, có chí thì nên.
-Có chí làm quan, có gan làm giàu.
-Đại phú do thiên, tiểu phú do cần.
Trái lại, trong xã hội Việt Nam có một số người chủ trương sống nhàn hạ, và vui chơi. Nếu vì mưu sinh, con người cũng nên làm vừa phải, không nên lao động quá mức:
Một mình ăn hết bao nhiêu,
Mò cua bắt ốc cho rêu bám đùi!
Đi xa hơn, họ theo khuynh hướng dục lạc và hưởng thụ khác với chủ trương khắc kỷ:
-Chơi hoa cho biết mùi hoa,
Hoa lê thì trắng, hoa cà thì xanh.
-Chơi xuân kẻo hết xuân đi,
Cái già sồng sộc nó thì theo sau.
-Một năm là mấy tháng xuân,
Aên chơi cho thỏa phong trần ai ơi!
-Ai ơi, chơi lấy kẻo chầy,
Xem hoa bốn mắt, đi giầy ba chân.
Khuynh hướng sau này thể hiện rõ rệt trong văn chương triều Nguyễn, nhất là trong những bài hát nói: Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy,
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù?
(Nguyễn Công Trứ )
Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,
Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
( Cao Bá Quát)
Tuy nhiên hai khuynh hướng này ở một số người là không đối nghịch. Hai khuynh hướng này hòa hợp nhau. Làm việc mệt nhọc thì nghỉ ngơi. Nghỉ ngơi xong thì lại tiếp tục công việc. Các nho sĩ sau khi thi đỗ, làm quan thì có quyền lui về ẩn dật như nhân sinh quan của Nguyễn Công Trứ:
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo,
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu !
Nho sĩ lúc chưa gặp thời cũng có thể ngao du sơn thủy:
Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất,
Tiêu dao nơi hàn cốc, thanh sơn.
Nào thơ, nào rượu, nào địch, nào đòn,
Đồ thích chí chất đầy trong một túi.. .
Không cần phải chờ lúc hưu trí, con người cũng có thể tìm vui sau giờ làm việc. Người nông dân Việt Nam quanh năm cực nhọc, nhưng họ có thể nghỉ ngơi sau vụ mùa, trong dịp tết hay trong những ngày lễ hội:
-Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè. . .
-Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.
Khuynh hướùng hưởng thụ và lao động đều hiện hữu ở các xã hội. Cổ nhân ta nhìn thấy mối tương quan chặt chẽ giữa vật chất và tinh thần. Nghèo khổ thì sống khiêm cung, có tiền có bạc thì sinh ăn chơi:
-Phú quý sinh lễ nghĩa.
-Nhàn cư vi bất thiện.
-No cơm, ấm cật, dâm dật mọi nơi.
Đầu óc tả tơi, mọi nơi chẳng dật.
-No cơm, ấm cật, dâm dật mọi nơi.
Quần áo tả tơi, mọi nơi chẳng dật.
Người giàu hưởng thụ đã đành, người nghèo cũng ăn chơi.
Mẹ già hết gạo treo niêu,
Anh còn áo trắng, khăn điều vắt vai.
Thằng chồng em nó chẳng ra gì,
Tổ tôm, sóc đĩa nó thì chơi hoang
Nói ra xấu thiếp hỗ chàng,
Nó giận ,nó phá, tan hoang cửa nhà.
Nói đây thời có chị em nhà,
Còn năm ba thúng thóc với một và cân bông.
Em bán đi trả nợ cho chồng,
Còn ăn, hết nhịn hả lòng chồng con . . .
Ca dao và tục ngữ đã phản chiếu rất thực về cuộc sống Việt Nam. Trong khi đa số sống cần kiệm và lao động hết mình, một số lại ca tụng nhàn lạc. Đó cũng là nét chung của nhân loại.Nhưng nghỉ ngơi và làm việc cũng không là mâu thuẫn mà chúng lại hòa hợp nhau, bổ túc cho nhau trong cuộc đời.
IV. ĐẠO ĐỨC VÀ PHÓNG TÚNG
Dân Việt Nam theo đạo đức cổ truyền, người phụ nữ bao giờ cũng gìn vàng giữ ngọc như lời khuyên của Nguyễn Đình Chiểu:
Trai thì trung hiếu làm đầu,
Gái thì tiết hạnh là câu trau mình.
Vì giáo dục gia đình và xã hội, người phụ nữ Việt Nam sống đời tiết hạnh chứ không theo dục tính như xã hội Tây phương. Trong cuộc sống, người phụ nữ phải thận trọng khi giao tiếp với nam giới:
Sáng ngày em đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
-Thưa rằng ;Tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
-Thưa rằng: Bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Chúng ta khó nói rằng Nho giáo cấm hay cho phép nam nữ yêu đương. Nhưng chuyện trai gái yêu đương trở thành một thông lệ trong mọi xã hội. Gặp gỡ, hẹn hò, thương nhớ đã có từ lâu trong Kinh Thi Trung Hoa. Nhưng xã hội ta, cha mẹ quyết định việc hôn nhân và con cái không có quyền tự do luyến ái. Tuy nhiên, một số cha mẹ cho phép trai gái tìm hiểu nhau, và phong tục cũng chấp nhận việc này, cụ thể như việc hát quan họ, hát huê tình ở thôn quê ngày xưa là những dịp để trai gái trong làng gặp gỡ nhau. Kim Trọng yêu Thúy Kiều, Nguyệt Nga yêu Lục Vân Tiên, và xa nữa xã hội không thiếu truyện tình Trương Chi- My nương, và Tiên Dung - Chử Đồng Tử. Phần nhiều là lén lút hẹn hò, gặp gỡ nhưng người phụ nữ bao giờ cũng là người anh dũng tử thủ bảo vệ thành trì:
Yêu nhau hót cổ, choàng lưng,
Việc ấy xin đừng để có mẹ cha!
Một đôi khi người phụ nữ chủ động chào hỏi người con trai, nhưng đó là đùa vui hoặïc cũng là bản tính vui vẻ, tự nhiên của người phụ nữ nông thôn:
-Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại cho tôi than đôi lời!
-Ai về Cầu Ngói Thanh Toàn,
Cho em về với một đoàn cho vui.
-Ai về Cầu Ngói Dạ Lê,
Cho em về với thăm quê bên chàng!
Đa số phụ nữ theo Nho giáo giữ đạo tam tòng tứ đứùc.Việc ly hôn là điều ít xảy ra trong xã hội xưa. Hạnh phúc của người phụ nữ là ở chồng con. Người phụ nữ bao giờ cũng giữ nhân nghĩa, chung thủy:
-Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
-Ghe bầu trở lái về đông,
Làm thân con gái thờ chồng nuôi con.
Vì hạnh phúc gia đình, vì chồng con, người phụ nữ Việt Nam đã hy sinh rất nhiều:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.
-Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.
-Vì chàng thiếp phải mò cua,
Những như thân thiếp thì mua mấy đồng.
-Vì chàng thiếp phải mua mâm,
Những như thân thiếp bốc ngầm cũng xong. . .
Tuy nhiên xã hội nào cũng có một vài phụ nữ lẳng lơ. Một số người vì hoàn cảnh, một số người là bệnh kinh niên, trở thành bản tính, bản năng:
-Chỉ đâu mà buộc ngang trời,
Thuốc đâu mà chữa con ngưòi lẳng lơ!
-Gái đâu có gái lạ đời,
Chỉ còn có một ông trời không chim!
-Anh đánh thì tôi chịu đòn,
Tính tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa!
Trương Tửu đã cho rằng người phụ nữ sống theo tình cảm và bàn năng hơn là sống theo luân lý và pháp luật của nhà nho.
Người cộng sản chủ trương chống Nho giáo và quân chủ cho nên tìm cách bôi xấu Nho giáo. Sựï dâm dục là bản năng chứ không phải là mục đích chống Nho giáo. Trộm cướp, giết người, tham ô là do thiếu đạo đức, là không giữõ được thiện tâm chứ không phải có mục đích chống Nho giáo.Thực ra không phải ai cũng theo Nho giáo, Phật giáo và Lão Trang. Một số dân trên sơn cước hay vùng hẻo lánh sống theo khuôn mẫu của họ. Một số đọc tứ thư, ngũ kinh, đeo tượng Phật nhưng không có lễ nghĩa và từ tâm. Họ không chống Nho, Lão, Phật, họ sống theo bản năng. Dẫu sao, đa số nhân dân Việt Nam đã theo Nho giáo, đã có một trình độ văn hóa và đạo đức. Nho giáo không chôn sống học trò, đốt sách, giết hàng triệu người và bỏ tù hàng triệu người. Nho giáo xây dựng xã hội, làm đẹp cho nhân loại chứ không giết hại nhân loại.
Trương Tửu đã viết về phụ nữ Việt Nam nhưng ông đã sai lầm coi như đa số sống theo bản năng. Ôâng quan niệm như vậy là do ba lý do:
-Ông theo quan điểm của Freud
-Ông theo Marx và muốn tỏ rõ rắng phu nữ Việt Nam đã theo chủ nghĩa duy vật.
-Ông không hiểu hoặc cố ý bóp méo ý nghĩa của các câu ca dao. Thí dụ câu:
Không chồng mà chửa mới ngoan,
Có chồng mà chửa thế gian sự thường.
Câu trên có ý khôi hài chứ không phải khuyên phụ nữ sống theo bản năng, hay có mục đích chống Nho giáo và phụ quyền.
====
Xem tục ngữ và ca dao, chúng ta thấy đó là một kho tàng rất phong phú của văn chương Việt Nam. Đi sâu vào nội dung, chúng ta thấy rõ sự thống nhất trong tâm tình và tư tưởng dân tộc, nhưng bên cạnh cũng có nhiều mâu thuẫn. Mục đích của chúng tôi trong bài này là trình bày vài nét về sự thống nhất và mâu thuẫn này, và giải thích lý do cấu tạo các xu hướng đó.
Vũ trụ là thống nhất và hòa hợp. Tùy theo quan điểm mà ta cho là thống nhất hay mâu thuẫn. Thí dụ ngày và đêm, ngắn và dài, giàu và nghèo là những cặp mâu thuuẫn nhưng với cái nhìn của Phật giáo và của Đạo đức Kinh, tất cả chỉ là các mặt khác nhau của một thực tại. Nam và nữ, nóng và lạnh là sự hòa hợp cần thiết của vũ trụ và loài người. Tuy nhiên, không thời đại nào , xã hội nào lại không có mâu thuẫn. Xã hội nào cũng có nhiều giai cấp, nhiều mâu thuẫn. Nhất là trong xã hội tự do tư tưởng, bao nhiêu cái đầu là có bấy nhiêu ý kiến khác nhau, thành thử tư tưởng, tình cảm khác nhau là việc đương nhiên. Xã hội thời trước không hề cấm văn chương, cấn ngôn luận và cấm hội họp. Trai gái có thể gặp gỡ trong lao động hay trọng lễ hội. Xã hội ta rất phóng khoáng và nhân đạo. Vua chúa Việt Nam không bao giờ đốt sách, chôn sống học trò, bỏ tù hàng triệu người, và bắt toàn dân làm nô lệ trong các công trường và nông trường.
I. BÌNH DÂN VÀ BÁC HỌC
Một số nhà nghiên cứu văn học, tách bạch rõ
ràng hai loại văn học là văn chương bình dân và văn chương bác học. Văn chương bác học do các nhà khoa bảng sáng tạo, còn văn chương bình dân được truyền bá trong lũy tre xanh. Do đó, khi viết về ca dao, tục ngữ, những vị đó kết luận rằng ca dao tục ngữ là tác phẩm của quần chúng nhân dân, của những tác giả vô danh ở nơi ruộng đồng và sông núi. Dương Quảng Hàm cho rằng tục ngữ, ca dao không có nguồn gốc rõ rệt. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai; chắc là lúc ban đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ.
Từ khi phong trào bình dân nổi lên, một số văn gia, học giả theo phe Bình Dân hay phe cộng sản, cho rằng văn chương truyền khẩu là do quần chúng lao động sáng tác.Nhận định đó không chính xác lắm bởi vì tục ngữ, ca dao là công trình sáng tác của nhân dân, mà trong nhân dân có nhiều hạng người, có trí thức, có bình dân, có hạng khoa bảng, có kẻ hàn nho. Thí dụ câu hò trên sông Hương được dân chúng truyền tụng là của Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877-1961):
Chiều chiều trước bến Văn Lâu\
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng trên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non \
Và câu " Thương người như thể thương thân" là của Nguyễn Trãi.
Thực tế, trong cuộc hò hát đối đáp giữa trai gái, phần lớn là nông dân, nhưng họ có một tâm hồn thi sĩ và có tài sáng tạo thi ca. Ở thôn quê thuở trước, có nhiều người không học lại có tài làm thơ. Nhưng trong đám thanh niên trai trẻ, cũng có những nho sinh, hay ông tú, cậu chiêu. Ngoài ra, hai phe nam nữ còn có những vị quân sư giúp họ những khi khó khăn. Những vị quân sư này, cố vấn này phần lớn là thi sĩ, nho sĩ. . Chẳng hạn, có những câu ca rất hóc búa, người bình thường khó mà trả lời, phải là những tay nho học đọc thông hiểu rộng mới giải đáp được:
-Mấy lời hỏi thử học trò,
Ai dàn quân Bái Thượng, ai chèo đó Ô giang?
-Vua Nghiêu có chín con trai,
Đan Chu là một, tám người nữa ai?
Ngày xưa, phụ nữ không đến trường, nhưng có khá nhiều phụ nữ giỏi Hán và nôm như Đoàn thị Điểm, Hồ Xuân Hương, bà huyện Thanh Quan. . . Như vậy, xét về nhân sự, các nam nữ hát trống quân, quan họ, hát huê tình là một tập hợp nhân dân, không phân biệt giàu nghèo, nông dân hay nho sĩ.
Xét nghệ thuật , chúng ta khó biết câu nào là của người bình dân, câu nào là của nho sĩ. Có những câu giản dị:
Mẹ ơi chớ đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Ru em, em thét cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Tuy nhiên, trong ca dao có những câu nhiều điển tích, ta có thể đoán định các tác giả là nho sĩ:
-Mừng nay mưa nắng thuận trời,
Trị vì Ngu Hạ dân đời Thương Chu.
Nơi nơi kích nhưỡng ca cù,
Khắp trong vũ điện Thang Chu thuận hòa.
Đâu đâu già trẻ gần xa,
Người người kính chúc thiên gia vững vàng.
Ai ai trung hiếu lưỡng toàn,
Năm năm mừng được phong niên thái bình.
-Nay mừng tứ hải đồng xuân,
Tam dương khai thái muôn dân hòa bình.
Sĩ thời chăm việc học hành,
Một mai khoa bảng để giành công danh.
Công thời phượng các long đình,
Đủ nghề Sư Khoáng, rứt nghề công thâu.
Nông thời cuốc bẫm cày sâu,
Thu hòa, hạ mạch phong thu có ngày.
Thương thời buôn bán liền tay,
Rứt tài Tử Cống ai tày cho đang!
Nhìn chung, ca dao, tục ngữ là tác phẩm của nhân dân qua các thời đại, là một công trình tập thể của các tầng lớp nhân dân, gồm sĩ nông, công thương, nam nữ, và Bắc Nam, Trung, tấùt cả cùng hòa điệu, tạo thành một sức sống của dân tộc Việt Nam.
II. TRÍ THỨC VÀ NÔNG DÂN
Nước nào cũng có những nông dân lo việc trồng trọt, chăn nuôi, và các trí thức lo việc giáo dục, và hành chánh. Đây là hai hạng người cần thiết trong mọi xã hội. Chúng ta không biết từ xưa, người Việt có chữ viết riêng hay không, nhưng từ khi Triệu Đà chiếm nước ta và xưng độc lập, có lẽ từ lúc này chúng ta đã học chữ Hán. Nhưng phải từ đời Lý, kẻ sĩ mới được triều đình tôn trọng. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Tam trường để chọn những người minh kinh bác học. Đến đời Trần, các vị vua là Phật tử nhưng có đầu óc cởi mở, đã chú trọng Nho học, dùng Nho học là phương cách phát triển văn hóa giáo dục. Từ đó, Nho học được tôn trọng, và nho sĩ trở thành những nhân vật quan trọng.
Trạng nguyên thi có câu:
Vạn ban giai hạ phẩm,
Duy hữu độc thư cao.
( Vạn ban đều thấp kém,
Chỉ có kẻ đọc sách là cao quý nhất ).
Nguyễn Công Trứ đã nói lên vai trò của kẻ sĩ trong xã hội ngày trước:
Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.
Có giang sơn thì sĩ đã có tên,
Từ Chu Hán, sĩ này là quý. . .
Sự thật thì không có sự ngăn cách giữa kẻ sĩ và nông dân. Nông dân nuôi con ăn học, con thi đỗ, làm quan. Như vậy, nông dân là cha, kẻ sĩ là con. Trí thức vốn xuất thân từ nông dân, từ hàng lao động. Ngay cả hàng vua chúa, đại thần, tướng quân cũng xuất thân từ hàng lao động mà ra, thành thử trong xã hội Việt Nam không có đối lập giữa các giai cấp. Nho sĩ là những người con ưu tú của nhân dân. Các bậc cha mẹ, các cô thôn nữ đã yêu mến các nho sĩ, vì nho sĩ là tương lai dân tộc, là rường cột nước nhà:
-Chẳng tham ruộng cả, ao sâu,
Tham vì anh tú rậm râu mà hiền.
Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ.
-Chẳng tham vựa lúa anh đầy,
Tham năm ba chữ cho tày thế gian.
-Đêm nằm thử nghĩ mà coi,
Lấy chồng hay chữ như soi gương vàng.
-Đôi bên bác mẹ thì già,
Lấy anh hay chữ để mà cậy trông.
Mùa hè cho chí mùa đông,
Mùa nào, thức ấy cho chồng ra đi.
Hết gạo thiếp lại gánh đi,
Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao?
Hỏi thăm đến ngõ thì vào,
Tay đặït gánh xuống, miệng chào thưa anh. . .
Tuy nhiên trong nhân dân cũng có những kẻ chống đối, chỉ trích nho sĩ. Họ là những kẻ “trọng nông”:
Nhất sĩ nhì nông,
Hết gạo chạy rông
Nhất nông nhỉ sĩ.
Họ chỉ trích nho sĩ là những kẻ ăn bám xã hội, là hạng người vô ích:
Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm.
Ngày thì cắp sách đi rong,
Tối về lại giữ đèn chong một mình.
Ngày xưa thi cử khó khăn, rất it người thi đỗ, làm quan. Một số thất bại trên đường cử nghiệp, cam phận hàn nho, suốt đời khốn khó.Những nông dân, nhất là những phú hộ có nhà cửa, ruộng vườn và tiền bạc thì đâm ra khinh nho sĩ là những kẻ nghèo hèn trong xã hội:
-Ra đường ông tú, ông chiêu,
Về nhà móntg tay mỏ sẻ cậy niêu đã mòn.
-Số thầy là số lôi thôi,
Quanh năm chỉ những chùi nồi cả năm.
-Thầy đồ mà chẳng ăn khoai,
Đến khi luộc chín còn hai củ hà.
-Quân tử là quân tử tàu,
Aên cơm thì ít, ăn rau thì nhiều.
-Quan văn mất một đồng tiền,
Xem bằng quan võ mất quyền quận công.
-Ra đường võng giá nghêng ngang,
Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mày?
Cám rang tôi để cối xay,
Hễ chó ăn mất thì mày với ông!
Cái đau khổ của nho sĩ, bi kịch của nho sĩ là phải giữ cái bề ngoài lịch sự tao nhã nhưng thực tế thì ăn mặc đều thiếu thốn. Còn nông dân, và dân buôn thúng bán mẹt y phục giản dị nhưng no cơm ấm áo:
-Quần hồ, áo cánh mà chi,
Quần hồ, áo cánh, có khi ăn mày
-Quần dài thời ăn mắm thối,
Quần đầu gối thì ăn mắm thơm.
Trong xã hội xưa, đa số dân chúng tôn trọng kẻ sĩ nhưng một số khinh kẻ sĩ là nghèo đói, túng thiếu. Đó là một sự thực. Và đó cũng là quan điểm thực dụng, hoặc quan điểm trọng kim tiền. Thực ra nông dân và nho sĩ có nhiều điểm giống nhau. Cả hai đều sống trên đồng ruộng, và cả hai đều sống nhờ vào canh tác. Nho sĩ bận học nhưng vợ con canh tác hoặc ruộng đất cho nông dân làm rẽ. Cha nho sĩ là nông dân, anh em nho sĩ cũng là nông dân, mẹ và em gái là những người ươm tơ dệt vải hoặc tiểu thương buôn bán ngoài chợ. Tất cả đều chung một ngưồn gốc, không có việc phân chia đẳng cấp như một số nhà văn, nhà chính trị thiển cận và quá khích đã thêu dệt. Cả hai đều nghèo, không ai khinh ai. Chỉ có bọn trọc phú, trung nông hoặc phú nông, ngoài canh tác còn buôn bán, cho vay nặng lãi để làm giàu là khinh bỉ nho sĩ nghèo. Đó cũng là mâu thuẫn giữa hai phái kim tiền và đạo đức. Chính một số kẻ sĩ đã chỉ trích bọn hào phú thôn quê “vi phú bất nhân, vi nhân bất phú”. Do đó mà có mâu thuẫn giữa nho sĩ và bọn trọc phú chứ không phải là mâu thuẫn giữa nông dân và nho sĩ. Nho sĩ bao giờ cũng trọng nghề nông vì quốc gia ta dĩ nông vi bản. Nho sĩ bao giờ cunõg mong muốn đất nước no ấm, giàu mạnh, trong đó điều quan trọng là mưa thuận gió hòa, và được mùa:
Nay mừng những kẻ nông phu,
Cầu cho hòa cốc phong thu bình thời.
Vốn xưa nông ở bậc hai,
Thuận hòa mưa gió, nông thời lên trên.
Quý hồ nhiều lúa là tiên,
Rõ ràng phú túc, bình yên cả nhà.
Bốn mùa xuân hạ thu qua,
Muốn cho tiền lúa đầy nhà hán sương.
Bước sang hạ giá thu tàng,
Thu thu tiễn hoạch, giàu ngang Thạch Sùng.
Quý nhân cùng kẻ anh hùng,
Rắp toan muốn hỏi nhà nông ê hề.
Thực thà chân chỉ thú quê,
Chuyên nghề nông nghiệp là nghề vinh quang.
Gặp thời là được thọ khang,
Tam đa, ngụ phúc rõ ràng trời cho.
Nhà nho cũng đã có nhiều người giúp ích cho nông dân như Nguyễn Công Trứ khai khẩn đất hoang vùng Kim Sơn, Tiền Hải (Bắc Việt ), và Nguyễn Thông lo việc doanh điền và định cư cho nhân dân miền Nam tại Bình Thuận khi Pháp chiếm miền Nam.
III. LAO ĐỘNG VÀ HƯỞNG NHÀN
Một số người Việt Nam chủ trương sống là lao động, là tranh đấu:
Tay làm hàm nhai,
Tay quai, miệng trễ.
Đây là điều tất yếu. Nước Việt Nam nghèo khổ, đa số sống về nông nghiệp. Mùa màng thường bị thiên tại, lại nữa, đất nước thường bị chiến tranh, sống chết, tai họa, nghèo đói là chuyện xảy ra thường xuyên. Vì vậy, muốn tồn tại, con người phải lao động, phải tranh đấu. Không thể bỏ phí thời giờ cũng như bỏ hoang ruộng đồng:
-Đời người chỉ một gang tay,
Ai hay ngủ ngày, chỉ được nửa gang.
-Ai ơi, chớ bỏ ruộng hoang,
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu!
Mặt khác, nhân sinh quan đã tạo ra một lối sống. Trong khi một số tin tưởng vào số mệnh, một số tin vào ý chí con người, và cũng có người tin tưởng cả hai:
-Trời nào có phụ ai đâu,
Hay làm thì giàu, có chí thì nên.
-Có chí làm quan, có gan làm giàu.
-Đại phú do thiên, tiểu phú do cần.
Trái lại, trong xã hội Việt Nam có một số người chủ trương sống nhàn hạ, và vui chơi. Nếu vì mưu sinh, con người cũng nên làm vừa phải, không nên lao động quá mức:
Một mình ăn hết bao nhiêu,
Mò cua bắt ốc cho rêu bám đùi!
Đi xa hơn, họ theo khuynh hướng dục lạc và hưởng thụ khác với chủ trương khắc kỷ:
-Chơi hoa cho biết mùi hoa,
Hoa lê thì trắng, hoa cà thì xanh.
-Chơi xuân kẻo hết xuân đi,
Cái già sồng sộc nó thì theo sau.
-Một năm là mấy tháng xuân,
Aên chơi cho thỏa phong trần ai ơi!
-Ai ơi, chơi lấy kẻo chầy,
Xem hoa bốn mắt, đi giầy ba chân.
Khuynh hướng sau này thể hiện rõ rệt trong văn chương triều Nguyễn, nhất là trong những bài hát nói: Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy,
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù?
(Nguyễn Công Trứ )
Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,
Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
( Cao Bá Quát)
Tuy nhiên hai khuynh hướng này ở một số người là không đối nghịch. Hai khuynh hướng này hòa hợp nhau. Làm việc mệt nhọc thì nghỉ ngơi. Nghỉ ngơi xong thì lại tiếp tục công việc. Các nho sĩ sau khi thi đỗ, làm quan thì có quyền lui về ẩn dật như nhân sinh quan của Nguyễn Công Trứ:
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo,
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu !
Nho sĩ lúc chưa gặp thời cũng có thể ngao du sơn thủy:
Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất,
Tiêu dao nơi hàn cốc, thanh sơn.
Nào thơ, nào rượu, nào địch, nào đòn,
Đồ thích chí chất đầy trong một túi.. .
Không cần phải chờ lúc hưu trí, con người cũng có thể tìm vui sau giờ làm việc. Người nông dân Việt Nam quanh năm cực nhọc, nhưng họ có thể nghỉ ngơi sau vụ mùa, trong dịp tết hay trong những ngày lễ hội:
-Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè. . .
-Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.
Khuynh hướùng hưởng thụ và lao động đều hiện hữu ở các xã hội. Cổ nhân ta nhìn thấy mối tương quan chặt chẽ giữa vật chất và tinh thần. Nghèo khổ thì sống khiêm cung, có tiền có bạc thì sinh ăn chơi:
-Phú quý sinh lễ nghĩa.
-Nhàn cư vi bất thiện.
-No cơm, ấm cật, dâm dật mọi nơi.
Đầu óc tả tơi, mọi nơi chẳng dật.
-No cơm, ấm cật, dâm dật mọi nơi.
Quần áo tả tơi, mọi nơi chẳng dật.
Người giàu hưởng thụ đã đành, người nghèo cũng ăn chơi.
Mẹ già hết gạo treo niêu,
Anh còn áo trắng, khăn điều vắt vai.
Thằng chồng em nó chẳng ra gì,
Tổ tôm, sóc đĩa nó thì chơi hoang
Nói ra xấu thiếp hỗ chàng,
Nó giận ,nó phá, tan hoang cửa nhà.
Nói đây thời có chị em nhà,
Còn năm ba thúng thóc với một và cân bông.
Em bán đi trả nợ cho chồng,
Còn ăn, hết nhịn hả lòng chồng con . . .
Ca dao và tục ngữ đã phản chiếu rất thực về cuộc sống Việt Nam. Trong khi đa số sống cần kiệm và lao động hết mình, một số lại ca tụng nhàn lạc. Đó cũng là nét chung của nhân loại.Nhưng nghỉ ngơi và làm việc cũng không là mâu thuẫn mà chúng lại hòa hợp nhau, bổ túc cho nhau trong cuộc đời.
IV. ĐẠO ĐỨC VÀ PHÓNG TÚNG
Dân Việt Nam theo đạo đức cổ truyền, người phụ nữ bao giờ cũng gìn vàng giữ ngọc như lời khuyên của Nguyễn Đình Chiểu:
Trai thì trung hiếu làm đầu,
Gái thì tiết hạnh là câu trau mình.
Vì giáo dục gia đình và xã hội, người phụ nữ Việt Nam sống đời tiết hạnh chứ không theo dục tính như xã hội Tây phương. Trong cuộc sống, người phụ nữ phải thận trọng khi giao tiếp với nam giới:
Sáng ngày em đi hái dâu,
Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn.
Hai anh đứng dậy hỏi han,
Hỏi rằng cô ấy vội vàng đi đâu?
-Thưa rằng ;Tôi đi hái dâu,
Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn.
-Thưa rằng: Bác mẹ tôi răn,
Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Chúng ta khó nói rằng Nho giáo cấm hay cho phép nam nữ yêu đương. Nhưng chuyện trai gái yêu đương trở thành một thông lệ trong mọi xã hội. Gặp gỡ, hẹn hò, thương nhớ đã có từ lâu trong Kinh Thi Trung Hoa. Nhưng xã hội ta, cha mẹ quyết định việc hôn nhân và con cái không có quyền tự do luyến ái. Tuy nhiên, một số cha mẹ cho phép trai gái tìm hiểu nhau, và phong tục cũng chấp nhận việc này, cụ thể như việc hát quan họ, hát huê tình ở thôn quê ngày xưa là những dịp để trai gái trong làng gặp gỡ nhau. Kim Trọng yêu Thúy Kiều, Nguyệt Nga yêu Lục Vân Tiên, và xa nữa xã hội không thiếu truyện tình Trương Chi- My nương, và Tiên Dung - Chử Đồng Tử. Phần nhiều là lén lút hẹn hò, gặp gỡ nhưng người phụ nữ bao giờ cũng là người anh dũng tử thủ bảo vệ thành trì:
Yêu nhau hót cổ, choàng lưng,
Việc ấy xin đừng để có mẹ cha!
Một đôi khi người phụ nữ chủ động chào hỏi người con trai, nhưng đó là đùa vui hoặïc cũng là bản tính vui vẻ, tự nhiên của người phụ nữ nông thôn:
-Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại cho tôi than đôi lời!
-Ai về Cầu Ngói Thanh Toàn,
Cho em về với một đoàn cho vui.
-Ai về Cầu Ngói Dạ Lê,
Cho em về với thăm quê bên chàng!
Đa số phụ nữ theo Nho giáo giữ đạo tam tòng tứ đứùc.Việc ly hôn là điều ít xảy ra trong xã hội xưa. Hạnh phúc của người phụ nữ là ở chồng con. Người phụ nữ bao giờ cũng giữ nhân nghĩa, chung thủy:
-Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
-Ghe bầu trở lái về đông,
Làm thân con gái thờ chồng nuôi con.
Vì hạnh phúc gia đình, vì chồng con, người phụ nữ Việt Nam đã hy sinh rất nhiều:
Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.
-Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.
-Vì chàng thiếp phải mò cua,
Những như thân thiếp thì mua mấy đồng.
-Vì chàng thiếp phải mua mâm,
Những như thân thiếp bốc ngầm cũng xong. . .
Tuy nhiên xã hội nào cũng có một vài phụ nữ lẳng lơ. Một số người vì hoàn cảnh, một số người là bệnh kinh niên, trở thành bản tính, bản năng:
-Chỉ đâu mà buộc ngang trời,
Thuốc đâu mà chữa con ngưòi lẳng lơ!
-Gái đâu có gái lạ đời,
Chỉ còn có một ông trời không chim!
-Anh đánh thì tôi chịu đòn,
Tính tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa!
Trương Tửu đã cho rằng người phụ nữ sống theo tình cảm và bàn năng hơn là sống theo luân lý và pháp luật của nhà nho.
Người cộng sản chủ trương chống Nho giáo và quân chủ cho nên tìm cách bôi xấu Nho giáo. Sựï dâm dục là bản năng chứ không phải là mục đích chống Nho giáo. Trộm cướp, giết người, tham ô là do thiếu đạo đức, là không giữõ được thiện tâm chứ không phải có mục đích chống Nho giáo.Thực ra không phải ai cũng theo Nho giáo, Phật giáo và Lão Trang. Một số dân trên sơn cước hay vùng hẻo lánh sống theo khuôn mẫu của họ. Một số đọc tứ thư, ngũ kinh, đeo tượng Phật nhưng không có lễ nghĩa và từ tâm. Họ không chống Nho, Lão, Phật, họ sống theo bản năng. Dẫu sao, đa số nhân dân Việt Nam đã theo Nho giáo, đã có một trình độ văn hóa và đạo đức. Nho giáo không chôn sống học trò, đốt sách, giết hàng triệu người và bỏ tù hàng triệu người. Nho giáo xây dựng xã hội, làm đẹp cho nhân loại chứ không giết hại nhân loại.
Trương Tửu đã viết về phụ nữ Việt Nam nhưng ông đã sai lầm coi như đa số sống theo bản năng. Ôâng quan niệm như vậy là do ba lý do:
-Ông theo quan điểm của Freud
-Ông theo Marx và muốn tỏ rõ rắng phu nữ Việt Nam đã theo chủ nghĩa duy vật.
-Ông không hiểu hoặc cố ý bóp méo ý nghĩa của các câu ca dao. Thí dụ câu:
Không chồng mà chửa mới ngoan,
Có chồng mà chửa thế gian sự thường.
Câu trên có ý khôi hài chứ không phải khuyên phụ nữ sống theo bản năng, hay có mục đích chống Nho giáo và phụ quyền.
====
LỤC VÂN TIÊN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜI
**
Lục Vân Tiên là một truyện nôm, là một tự thuật của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc đời gian truân của ông. Ông là một thiếu niên của Gia Định thành, thân phụ người Trung, mẹ người Nam. Ông đã lo học tập, ước mơ một cuộc đời tươi sáng. Ông đã mang hy vọng đó khi ra kinh ứng thí. Nhưng rồi cuộc đời và lịch sử đã mang tai họa đến với ông. Nghe tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về thọ tang. Vì khóc quá nên ông mù mắt. Ôâng mất khá nhiều tiền để chửa bênh nhưng tiền mất tật mang. Một năm sau về đến nhà thì gia đình gái từ hôn. Rồi Pháp đến xâm chiếm nước ta, dân chúng chết vì đạn Pháp, nhà cháy vì thưc dân đốt phá. Ông phải bỏ Gia Định mà về Bến Tre. Cuộc đời của ông hòa lệ với dân tộc Việt Nam. Nhất là đòi tư của ông là những trang tiểu thuyết bi thảm. Có lẽ muốn tránh người đời tò mò,hoặc cũng như thói thường các tiểu thuyết gia Việt Nam vay mượn truyện Trung Quốc, ông cũng dùng bảng hiêu Tây Minh để cho bình thường hóa tác phẩm của ông. Lục Vân Tiên là biểu tượng con người trong cuộc đời. Sinh ra trên cõi đời, một số người hạnh phúc, nhưng một số người lại gặp bất hạnh. Lục Vân Tiên là cuộc đời của những người bất hạnh này.
Nhìn chung, cuộc đời con người có thể chia ba giai đoạn:thuở thiếu thời, trung niên và tuổi già. Cuộc đời Lục Vân Tiên cũng vậy. Ta có thể chia ba thời kỳ: vào trường, vào đời và chung cuộc.
I. VÀO TRƯỜNG
Lục Vân Tiên là một chàng thư sinh, theo thầy ở trên núi, nghĩa là một người còn trẻ, đang học tập, chưa ra đời làm việc, hoạt động và sống với đời sống thực:
Theo thầy nấu sử xôi kinh,
Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao. (11-12)
Chàng học tập văn lẫn võ để chuẩn bị cho tương lai ra đời giúp nước, cứu dân:
Văn đà khởi phụng đằng giao,
Võ thêm tam lược, lục thao ai bì.(13-14)
Sau một thời gian học tập, người trai phải từø giã thầy và mái trường để dấn thân vào đời.Ngày trọng đại đã đến, Lục Vân Tiên phải từ giã thầy mà xuống núi để nhập trường thi:
Xảy nghe mở hội khoa thi,
Vân Tiên vào tạ tôn sư ra về. ( 15-16 )
Tuổi trẻ nuôi nhiều mộng mơ. Vân Tiên hy vọng sẽ thi đỗ, làm quan, và đem tài ra giúp nước:
Chí lăm bắn nhạn ven mây,
Danh tôi đặng rạng, tiếng thấy đồn xa.
Làm trai trong cõi người ta,
Trước lo báo bổ sau là hiển vang. (21-24)
Sự đời thay đổi, và cuộc đờùi không có gì bảo đảm. Có thể thành, có thể bại. Tuy là nuôi hy vọng, ai cũng lo sợ đường đời trắc trở. Bậc tiên sư đã nhìn thấy tương lai sóng gió của Lục Vân Tiên:
Nhân cơ tàng sự dặn rằng,
Việc người chẳng khác việc trăng trên trời.
Tuy là soi khắp mọi nơi,
Khi mờ, khi tỏ, khi vơi, khi đầy. (69-72)
Nguyễn Bá Học đã nói đúng tâm trạng và chí khí của những chàng trai vừa lớn lại nuôi mộng cao xa:
Người ta đương lúc thiếu niên, lòng xuân phơi phới như trăng mới lên, như hoa mới nở, sự đời chưa hề từng trải, tư tưởng những sự cao xa. ( Lời khuyên học trò )
Trừ những người vì hoàn cảnh khó khăn không đến trường được, đa số thanh niên khi từ giã mái trường đều nặng lòng thương nhớ:
Ra đi vừa rạng chân trời,
Ngùi ngùi ngó lại nhớ nơi học đường.(77-78)
Mái trường cũ là thiên đường đã mất, là bảo tàng của tuổi thơ, vì vậy, sau này xa quê, ai cũng nhớ mái trường cũ. Những ngày ở mái trường rất đẹp, là giai đoạn bình minh của cuộc đời. Rời xa mái trường, nghĩa là giã từ tuổi thơ, giã từ hạnh phúc để đi vào cuộc đời đầy sóng gió.
Mái trường của Lục Vân Tiên ở trên non cao, là nơi thanh tịnh, nơi tu hành, nơi xa trần tục. Rời non cao để vào đời là bắt đầu đi vào phong ba, bão táp. Đây là cuộc đời đi xuống, cuộc đời trần tục.
II. VÀO ĐỜI
Vừa rời khỏi mái trường, con người đa số phải đối đầu với bao thực trạng xã hội xấu xa. Khi vào đời, Lục Vân Tiên đã trải qua nhiều kinh nghiệm, mà trong đó có những kinh nghiệm tốt đẹp, và những kinh nghiệp đắng cay.
1. GIẶC CƯỚP
Xã hội nào cũng có những bọn giặc cướp, chỉ khác nhau ở chỗ công khai hay bí mật, mạnh hay yếu, tàn bạo nhiều hay it. Giặc cướp đây bao gồm tất cả những cá nhận hay nhóm người nào chiếm đoạt tài sản quốc gia,hay tư nhân, vi phạm quyền lợi nhân dân, giết hại và gây đói khổ cho nhân dân. Không phải chỉ có bọn Lương Sơn Bạc mới là ăn cướp. Bao thời đại, có rất nhiều bọn cướp và hình thức ăn cướp. Bọn chúng mặc áo nhà tu, đoàn thể cách mạng, công ty thương nghiệp, hay hội đoàn từ thiện. . .Nhưng phổ biến nhất là bọn vua chúa tàn ác, và quan lại tham ô, chúng là một bọn cướp như nhân dân ta quan niệm rất chính xác:
Con ơi con nhớ lời này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan ( ca dao)
Lục Vân Tiên vừa xuống núi là gặp ngay bọn cướp:
Nhân rày có đảng lâu la,
Tên rằng Đỗ Dự, hiệu rằng Phong Lai.
Nhóm nhau ở chốn sơn đài,
Người người sợ nó có tài khôn đương.
Bây giờ xuống cướp thôn hương
Thấy con gái tốt qua đường bắt đi.
Xóm làng chẳng dám nói chi,
Cám thương hai gã nữ nhi mắc nàn.
Con ai vóc ngọc, mình vàng,
Má đào, mày liễu dung nhan lạnh lùng.
E khi mắc đảng hành hung,
Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.
Thôi thôi chẳng dám nói lâu,
Chạy đi cho khỏi kẻo âu đến mình (101-114)
Lục Vân Tiên là hạng người theo chánh nghĩa, không thể đứng yên nhìn bọn cướp hoành hành. Chỉ có chàng là một thanh niên mới lớn, tâm hồn còn trong trắng, còn thật lòng theo Phật, theo Khổng, còn nuôi mộng cứu khổn phò nguy, cho nên đã hăng hái đem bầu nhiệt huyết cùng tính mạng một mình tranh đấu chống bọn tham tàn:
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy, bên đàng chạy vô.
Kêu rằng bớ đảng hung đồ,
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân. (123-126 )
Lục Vân Tiên là biểu tượng của Chân, Thiện Mỹ. Tâm hồn chàng là tâm hồn một thư sinh trong sáng, ngọn lửa chánh nghĩa bùng lên trong tim. Hạng người như chàng nuôi mộng cao xa, rất có đạo đức. Họ không ghen ghét người giỏi, khinh bỉ người hèn, không ăn hối lộ, không trộm cắp của công, không lừa đảo dân chúng, không mưu hại đồng nghiệp, không nghiện bài bạc.. . Nhiều người chỉ trích Lục Vân Tiên khô khan, nhưng đó cũng là một sự thực: trong đời có nhiều người không mê nữ sắc, không tham dâm, không mê tiền tài, danh vọng.
2. TÌNH YÊU
Gặp Kiều Nguyệt Nga là một kinh nghiệm thứ hai của Lục Vân Tiên. Đó là kinh nghiệm về tình yêu. Lục Vân Tiên là một chàng trai mới lớn, chưa hề quen biết một cô gái nào, và cũng chưa hề yêu đương cho nên đối với nữ nhân chàng còn nhiều e ngại. Hơn nữa, chàng thuộc thế hệ nho sĩ ngày xưa, trọng nghĩa khinh tài, biết thủ lễ và tránh những hành động có thể bị coi là lợi dụng.
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ơn buộc lại chữ tình lây dây.
Than rằng đó khó trêu đây,
Ơn kia đã mấy, của này rất sang.
Đương khi gập gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ, ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì. (201-08)
Chàng không phải là hạng người lịch duyệt, biết ân cần, săn sóc phụ nữ, nhưng chàng đã vồn vã, lịch sự chào hỏi Nguyệt Nga mặc dầu chàng vẫn giữ một khoảng cách với nàng:
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái,ta là phận trai.
Tiểu thư con cái nhà ai?
Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ?
Chẳng hay tên họ là chi?
Khuê môn phận gái việc gì đến đây? (143-150)
Còn Nguyệt Nga đưọc Lục Vân Tiên cứu thoát bàn tay bọn cướp,nàng cảm ơn cứu tử và cảm động vì hành động hào hiệp, can đảm của chàng. Đa số người nữ thường rung động trước sự giúp đỡ, và tình cản nồng hậu của nam nhân. Anh hùng cứu mỹ nhân, mỹ nhân yêu anh hùng là một đề tài phổ biến xưa nay. Nàng đã yêu chàng ngay trong buổi đầu. Hành động gửi tặng vật là một cách biểu lộ tình yêu một cách kín đáo. Khi Lục Vân Tiên tỏ vẻ lạnh lùng, nàng đã hờn dỗi. Cử chỉ của nàng rất đáng yêu:
-Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt, chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành .(197-200 )
-Thưa rằng chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mích lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm.
Riêng than trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ. (209-14)
Từ trước Lục Vân Tiên chưa yêu ai. Tình yêu của Nguyệt Nga là một kinh nghiêm đầu tiên rất tươi thắm trong đời chàng.
3. HÔN NHÂN
Ngày xưa, người Việt Nam lấy vợ sớm, và hôn nhân do các bậc cha mẹ quyết định. Hai bên cha mẹ đãï đính ước từ trước, có khi hai trẻ còn nằm trong bụng me . Chàng là một thanh niên đầy hứa hẹn tương lai cho nên đã được nhà gái đón tiếp nồng hậu khi chàng đến thăm trước khi vào kinh ứng thí. Vị hôn thê của chàng là Võ Thể Loan đã ân cần với chàng trước khi chia tay:
Chàng dầu cung quế xuyên dương,
Thiếp xin hai chữ tao khang cho bằng.
Xin đừng tham dó bỏ đăng,
Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.(709-12)
Không hiểu vì chịu ảnh hưởng các truyện xưa tích cũ về tình nghĩa vợ chồng, hoặc vì linh tính, Lục Vân Tiên đã trả lời Võ Thể Loan bằng giọng điệu nghi ngờ:
Tiên rằng như lửa mới nhen,
Dễ trong một bếp mà chen mấy lò?
May duyên, rủi nợ dễ phô,
Chớ lo Ngô Khởi, hãy lo Mãi Thần. (713-16)
Gia đình họ Võ đã đem lại cho chàng nỗi niềm cay đắng trên bước đường đời. Khi chàng bị mùa lòa, chàng liền nghĩ đến vị hôn thê và gia đình bên vợ. Chàng là người mới bước vào đời, lòng còn trong sáng, còn tin tưởng vào lời hứa hẹn của người đời. Vì vậy, sau khi ngư ông cứu chàng thoát chết trong giòng sông sâu, chàng ngỏ lời cậy ngư ông đưa chàng đến nhà nhạc gia để họ giúp đỡ chàng khi nguy nan:
Tiên rằng xưa đã gá lời,
Sui gia ai nỡ đổi dời chẳng thương.
Vợ chồng là đạo tang khang,
Chi bằng tới đó tìm phương gửi mình.
Trăm năm muốn trọn ân tình,
Đương khi hoạn nạn ai đành bỏ nhau.
Chút nhờ cứu tử ơn sâu,
Xin đem tới đó, trước sau cho tròn. (981-988)
Ngư ông là người từng trải việc đời, đã nghi ngờ họ Võ sẽ thay lòng đổi dạ khi thấy chàng thất bại công danh và mù lòa. Ôâng ngỏ lờiø khuyên can chàng nhưng chàng vẫn không nghe ý kiến của ngư ông:
Ngư rằng làm đạo rể con,
Cũng như sợi chỉ mà luồn trôn kim.
Sợ bay mà mỏi sức chim,
Bơ vơ cảnh lạ, khôn tìm cây xưa.
E khi chậm bước tới trưa,
Chớ đi sông cũ ,bến xưa mà lầm.
Mấy ai ở ở đặng hảo tậm,,
Nắng đun chót nón, mưa dầm tả tơi.
Mấy ai hay nghĩ việc đời,
Nhớ nơi nghèo khổ, quên nơi sang giàu.
Đã ba thứ tóc trên đầu,
Gẫm trong thế sự thêm âu cho đời.( 989-1000)
Nhưng niềm tin ngây thơ của chàng đã bị tan vỡ. Chàng bị mù lòa lại bị từ hôn. Cay đắng nhất là vị hôn thê của chàng đã dùng những lời thô bạo đối với chàng. Chàng là người chung thủy, nhưng nhân thế đã thay lòng đổi dạ:
Loan rằng: ‘ Gót đỏ như son,
Xưa nay ai dễ đem chôn xuống bùn.
Ai cho sen muống một bồn,
Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê.
Thà không trót chịi một bề,
Nỡ đem mình ngọc, dựa kề thất phu.
Đã công chờ đợi danh nho,
Rể đâu có rể đui mù thế ni. . (1027-34)
Chính Võ Thể Loan, vị hôn thê của chàng đóng vai trò tích cực trong việc đổi trắng thay đen. Nàng đã táo bạo đề nghị với cha mẹ cho nàng kết hôn cùng Vương Tử Trực, bạn của Vân Tiên vừa đỗ thủ khoa:
Đã nghe người nói hội này,
Rằng Vương Tử Trực chiếm rày khôi khoa.
Ta dầu muốn kết xui gia,
Họ Vương, họ Võ một nhà mới xinh.(1035-38)
Khi Võ ông đem chàng bỏ hang sâu, chàng mới hiểu rõ lòng dạ người đới:
Vân Tiên khi ấy hãi hùng,
Nghĩ ra mới biết Võ công hại mình.(1059-60).
4. ÁC NHÂN
Bọn gian ác ở khắp mọi nơi.Trong hàng ngũ trí thức cũng có kẻ gian ác mặc dầu nho sĩ vốn xuất thân cửa Khổng sân Trình, học nhân nghĩa lễ trí tín. Trên đường vào trường thi, chàng đã gặïp bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Bọn này đã vào trường thi cùng Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực.Bọn này học kém, không làm được bài thi.Thấy Vương và Lục làm được bài, chúng sinh lòng ghen ghét, cho rằng Vương và Lục “viết tùng cổ thi”(464). Bọn họ đã cùng Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực uống rươu, làm thơ. Ôâng chủ quán là người bình dân, nhưng môi trường làm việc của ông là quán khách, có nhiều loại người lui tới cho nên ông tiếp xúc với nhiều người và hiểu tâm tính của họ. Vì vậy, ông xem qua cách làm thơ của bọn này đã biết Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thuộc loại lừa thầy, dối bạn:
Tiên rằng: Ông quán cười ai,
Quán rằng cười kẻ bất tài đồ thơ.
Cười người Tôn Tãn không lừa,
Trước đà thấy máy chẳng dè Bàng Quyên. (467-70)
Khi bọn này trả lời ông chủ quán, ta thấy rõ tính vô lễ và khinh người của chúng:
Kiệm rằng: Lão quán nói nhăng,
Dầu cho trải việc cũng thằng bán cơm.
Gối rơm theo phận gối rơm,
Có đâu ở thấp mà chồm lên cao. (523-26 )
Khi tin nhà đưa đến, nghe tin mẹ già mất, Lục Vân Tiên khóc mù mắt, bỏ cuộc thi trở về quê cũ. Giữa đường chàng lại bọn này, chàng mù lòa nên phải trông cậy bạn giúp đỡ:
Tiên rằng: Tình trước nghĩa sau,
Có thương xin khá giúp nhau phen này (863-64)
Ở đời, lòng dạ con người khó lường. Ta không hề gặp mặt họ, ta cũng không tranh quyền đoạt lợi của họ. Ta cũng không có thù cướp tài sản hoặïc giết hại cha mẹ, anh em họ, thế mà họ thù ghét, oán hận ta. Họ nói xấu, vu khống ta. Thậm chí họ cò thể giết hại ta. Vân Tiên không có thù oán gì với bọn này, không ngờ Trịnh Hâm, Bùi Kiệm chỉ vì ganh tài mà hãm hại Vân Tiên. Chúng đem tiểu đồng vào rừng trói lại cho cọp ăn, rồi đêm đến xô Vân Tiên xuống vực sâu.
Ngoài Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Vân Tiên còn bị ba nhân vật gian manh khác bóc lột, lường gạt là thầy thuốc, thầy bói và thầy pháp. Ba ông này giống nhau hai điểm chính. Thứ nhất là tự quảng cáo, là khoe khoang, khoác lác.
- Ông thầy thuốc:
Ngang rằng: Ta ở chốn này,
Ba đời nối nghiệp làm thầy vừa ba.
Sách chi cũng đủ trong nhà,
Nội kinh đã sẵn, ngoại khoa thêm màu.
Trước xem y học làm đầu,
Sau xem Thơ Thế, thứ cầu Đông Y (665-770 )
- Ông thầy bói:
Ta đây nào phải các thầy,
Bá vơ, bá vất, nói nhây không nhằm.
Ôân nhuần Châu dịch mấy năm,
Sáu mươi bốn quẻ, ba trăm dư hào.
Huỳnh Kim, Dã Hạc sách cao,
Lục nhâm, lục giáp, chỗ nào chẳng hay. (715-20 )
- Ông thầy pháp:
Pháp rằng: Aán đã cao tay,
Lại thêm phù chú, xưa nay ai bì.
Qua sống, cá thấy xếp vi,
Vào rừng cọp thấy phải quỳ lạy đưa.
Pháp hay hú gió, kêu mưa,
Sai chim, khiến cọp, đuổi lừa, vật trâu.
Pháp hay miệng niệm một câu,
Tóm thâu muôn vật vào bẩu hồ linh. (673-70 )
Ba ông thầy này đều giống nhau là tham lam, luôn chú trọng tiền bạc. Gặp Vân Tiên, cả ba thầy trước tiên là hỏi tiền bạc.
Thầy thuốc chưa chửa bệnh đã hỏi tiền:
Gặp ta bệnh ấy ắt lành,
Bạc tiền trong túi sẵn dành bao nhiêu? (659-60 )
- Thầy bói chưa gieo quẻ đã hỏi tiền:
Đặt tiền quan mốt bốn mươi,
Khay trầu chén rượu cho tươi mới thành.
Thầy bèn gieo đặng quẻ lành. (723-25 )
Ông này sau một hồi ba hoa, đã đề cập đến tiền:
Có ba trăm lạng đưa sang,
Đặng thầy sắm sửa lập đản chửa cho. (775-76 )
5.THIỆN NHÂN
Cuộc đời có nhiều màu sắc và có nhiều mâu thuẫn. Nếu trong cuộc đời có những kẻ ác thì cũng có những người hiền lành, nhân từ đức hạnh. Vân Tiên đã gặp bọn gian ác nhưng chàng cũng đã gặp những người trung hậïu. Nguyệt Nga là ánh trăng rằm trong đời chàng. Ông chủ quán là người bình dân nhưng ông thực sự là tay minh kinh bác học. Những lời nghị luận của ông chúng tỏ ông học rộng, hiểu nhiều và là người trung trực :
Quán rằng ghét việc tầm phào,
Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm.
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm, sẩy hang.
Ghét đời U Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
. . . . . . . . . .
Thương là thương bậc thánh nhân,
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuôn.
Thương thầy Nhan tử dở dang,
Ba mươi mốt tuổi tách đường công danh.
Thương ông Gia Cát tài lành,
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha. . .(479-494)
Vì vậy mà Vương Tử Trực khen ngợi ông:
Trực rằng: Chùa rách phật vàng,
Ai hay trong quán ẩn tàng kinh luân (505-06)
Vương Tử Trực là người đạo đức và trung trực đã từ chối lời cầu hôn của Võ Thể Loan
Trực rằng : ''Ngòi viết dĩa nghiên,
Anh em xưa có thề nguyền cùng nhau.
Vợ Tiên là Trực chị dâu,
Chị dâu em bạn dám đâu lỗi nghì.
Chẳng hay người học sách chi,
Nói sao những tiếng dị kỳ khó nghe?
. . . . . . . . . . .
Nói sao chẳng biết hổ thầm,
Người ta há phải là cầm thú sao? (1228-41)
Hán Minh can trường phá giặc và đem quân đón Vân Tiên. Lão ngư, lão tiều cũng là những người tốt. Nói chung, ta có thể phân chia các nhân vật trong Lục Vân Tiên làm hai loại thiện ác.
III. CHUNG CUỘC
Ở đời, một số người hoàn toàn sung sướng, trái lại một số người luôn đau khổ. Một số lúc bĩ, lúc thái. Đó là trường hợp của Lục Vân Tiên. Sau khi bị bao tai nạn, chàng được cứu thoát, được thuốc tiên chữa lành mắt, thi đỗ trạng nguyên và được Nguyệt Nga yêu, và cả hai sống hạnh phúc.
Trạng nguyên về đến Đông thành,
Lục ông trước đã xây dinh ở làng.
Bày ra sáu lễ sẵn sàng,
Các quan đi họ cưới nàng Nguyệt Nga.
Sui gia đã xứng sui gia,
Rày mừng hai họ một nhà thành thân.
Trăm năm biết mấy tinh thần,
Sinh con sau nối gót lân đời đời (2054-61)
Trong khi đó những kẻ ác gian bị Trời trừng phạt. Trịnh Hâm té xuống sông bị cá nuốt, mẹ con Thể Loan bị cọp nhốt trong hang:
Thiệt Trời báo ứng lẽ này rất ưng,
Thấy vậy nên dửng dừng dưng,
Làm ngưòi ai nấy thì đừng bất nhân (1192-94)
Đó là lẽ báo ứng, là luật nhân quả mà Khổng và Phật luôn đề cao trong kinh điển, trong văn chương và trong đời sống.
Lục Vân Tiên là giấc mơ của Nguyễn Đình CHiểu. Lục Vân Tiên đã qua cơn hoạn nạn và được vinh hiển, trái lại, Nguyễn Đình Chiểu một đời khốn khó, bản thân ông cũng như quốc gia Việt Nam phải trải qua bao nỗi dắng cay từ khi mất nước.
=====
Lục Vân Tiên là một truyện nôm, là một tự thuật của Nguyễn Đình Chiểu về cuộc đời gian truân của ông. Ông là một thiếu niên của Gia Định thành, thân phụ người Trung, mẹ người Nam. Ông đã lo học tập, ước mơ một cuộc đời tươi sáng. Ông đã mang hy vọng đó khi ra kinh ứng thí. Nhưng rồi cuộc đời và lịch sử đã mang tai họa đến với ông. Nghe tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về thọ tang. Vì khóc quá nên ông mù mắt. Ôâng mất khá nhiều tiền để chửa bênh nhưng tiền mất tật mang. Một năm sau về đến nhà thì gia đình gái từ hôn. Rồi Pháp đến xâm chiếm nước ta, dân chúng chết vì đạn Pháp, nhà cháy vì thưc dân đốt phá. Ông phải bỏ Gia Định mà về Bến Tre. Cuộc đời của ông hòa lệ với dân tộc Việt Nam. Nhất là đòi tư của ông là những trang tiểu thuyết bi thảm. Có lẽ muốn tránh người đời tò mò,hoặc cũng như thói thường các tiểu thuyết gia Việt Nam vay mượn truyện Trung Quốc, ông cũng dùng bảng hiêu Tây Minh để cho bình thường hóa tác phẩm của ông. Lục Vân Tiên là biểu tượng con người trong cuộc đời. Sinh ra trên cõi đời, một số người hạnh phúc, nhưng một số người lại gặp bất hạnh. Lục Vân Tiên là cuộc đời của những người bất hạnh này.
Nhìn chung, cuộc đời con người có thể chia ba giai đoạn:thuở thiếu thời, trung niên và tuổi già. Cuộc đời Lục Vân Tiên cũng vậy. Ta có thể chia ba thời kỳ: vào trường, vào đời và chung cuộc.
I. VÀO TRƯỜNG
Lục Vân Tiên là một chàng thư sinh, theo thầy ở trên núi, nghĩa là một người còn trẻ, đang học tập, chưa ra đời làm việc, hoạt động và sống với đời sống thực:
Theo thầy nấu sử xôi kinh,
Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao. (11-12)
Chàng học tập văn lẫn võ để chuẩn bị cho tương lai ra đời giúp nước, cứu dân:
Văn đà khởi phụng đằng giao,
Võ thêm tam lược, lục thao ai bì.(13-14)
Sau một thời gian học tập, người trai phải từø giã thầy và mái trường để dấn thân vào đời.Ngày trọng đại đã đến, Lục Vân Tiên phải từ giã thầy mà xuống núi để nhập trường thi:
Xảy nghe mở hội khoa thi,
Vân Tiên vào tạ tôn sư ra về. ( 15-16 )
Tuổi trẻ nuôi nhiều mộng mơ. Vân Tiên hy vọng sẽ thi đỗ, làm quan, và đem tài ra giúp nước:
Chí lăm bắn nhạn ven mây,
Danh tôi đặng rạng, tiếng thấy đồn xa.
Làm trai trong cõi người ta,
Trước lo báo bổ sau là hiển vang. (21-24)
Sự đời thay đổi, và cuộc đờùi không có gì bảo đảm. Có thể thành, có thể bại. Tuy là nuôi hy vọng, ai cũng lo sợ đường đời trắc trở. Bậc tiên sư đã nhìn thấy tương lai sóng gió của Lục Vân Tiên:
Nhân cơ tàng sự dặn rằng,
Việc người chẳng khác việc trăng trên trời.
Tuy là soi khắp mọi nơi,
Khi mờ, khi tỏ, khi vơi, khi đầy. (69-72)
Nguyễn Bá Học đã nói đúng tâm trạng và chí khí của những chàng trai vừa lớn lại nuôi mộng cao xa:
Người ta đương lúc thiếu niên, lòng xuân phơi phới như trăng mới lên, như hoa mới nở, sự đời chưa hề từng trải, tư tưởng những sự cao xa. ( Lời khuyên học trò )
Trừ những người vì hoàn cảnh khó khăn không đến trường được, đa số thanh niên khi từ giã mái trường đều nặng lòng thương nhớ:
Ra đi vừa rạng chân trời,
Ngùi ngùi ngó lại nhớ nơi học đường.(77-78)
Mái trường cũ là thiên đường đã mất, là bảo tàng của tuổi thơ, vì vậy, sau này xa quê, ai cũng nhớ mái trường cũ. Những ngày ở mái trường rất đẹp, là giai đoạn bình minh của cuộc đời. Rời xa mái trường, nghĩa là giã từ tuổi thơ, giã từ hạnh phúc để đi vào cuộc đời đầy sóng gió.
Mái trường của Lục Vân Tiên ở trên non cao, là nơi thanh tịnh, nơi tu hành, nơi xa trần tục. Rời non cao để vào đời là bắt đầu đi vào phong ba, bão táp. Đây là cuộc đời đi xuống, cuộc đời trần tục.
II. VÀO ĐỜI
Vừa rời khỏi mái trường, con người đa số phải đối đầu với bao thực trạng xã hội xấu xa. Khi vào đời, Lục Vân Tiên đã trải qua nhiều kinh nghiệm, mà trong đó có những kinh nghiệm tốt đẹp, và những kinh nghiệp đắng cay.
1. GIẶC CƯỚP
Xã hội nào cũng có những bọn giặc cướp, chỉ khác nhau ở chỗ công khai hay bí mật, mạnh hay yếu, tàn bạo nhiều hay it. Giặc cướp đây bao gồm tất cả những cá nhận hay nhóm người nào chiếm đoạt tài sản quốc gia,hay tư nhân, vi phạm quyền lợi nhân dân, giết hại và gây đói khổ cho nhân dân. Không phải chỉ có bọn Lương Sơn Bạc mới là ăn cướp. Bao thời đại, có rất nhiều bọn cướp và hình thức ăn cướp. Bọn chúng mặc áo nhà tu, đoàn thể cách mạng, công ty thương nghiệp, hay hội đoàn từ thiện. . .Nhưng phổ biến nhất là bọn vua chúa tàn ác, và quan lại tham ô, chúng là một bọn cướp như nhân dân ta quan niệm rất chính xác:
Con ơi con nhớ lời này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan ( ca dao)
Lục Vân Tiên vừa xuống núi là gặp ngay bọn cướp:
Nhân rày có đảng lâu la,
Tên rằng Đỗ Dự, hiệu rằng Phong Lai.
Nhóm nhau ở chốn sơn đài,
Người người sợ nó có tài khôn đương.
Bây giờ xuống cướp thôn hương
Thấy con gái tốt qua đường bắt đi.
Xóm làng chẳng dám nói chi,
Cám thương hai gã nữ nhi mắc nàn.
Con ai vóc ngọc, mình vàng,
Má đào, mày liễu dung nhan lạnh lùng.
E khi mắc đảng hành hung,
Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.
Thôi thôi chẳng dám nói lâu,
Chạy đi cho khỏi kẻo âu đến mình (101-114)
Lục Vân Tiên là hạng người theo chánh nghĩa, không thể đứng yên nhìn bọn cướp hoành hành. Chỉ có chàng là một thanh niên mới lớn, tâm hồn còn trong trắng, còn thật lòng theo Phật, theo Khổng, còn nuôi mộng cứu khổn phò nguy, cho nên đã hăng hái đem bầu nhiệt huyết cùng tính mạng một mình tranh đấu chống bọn tham tàn:
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy, bên đàng chạy vô.
Kêu rằng bớ đảng hung đồ,
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân. (123-126 )
Lục Vân Tiên là biểu tượng của Chân, Thiện Mỹ. Tâm hồn chàng là tâm hồn một thư sinh trong sáng, ngọn lửa chánh nghĩa bùng lên trong tim. Hạng người như chàng nuôi mộng cao xa, rất có đạo đức. Họ không ghen ghét người giỏi, khinh bỉ người hèn, không ăn hối lộ, không trộm cắp của công, không lừa đảo dân chúng, không mưu hại đồng nghiệp, không nghiện bài bạc.. . Nhiều người chỉ trích Lục Vân Tiên khô khan, nhưng đó cũng là một sự thực: trong đời có nhiều người không mê nữ sắc, không tham dâm, không mê tiền tài, danh vọng.
2. TÌNH YÊU
Gặp Kiều Nguyệt Nga là một kinh nghiệm thứ hai của Lục Vân Tiên. Đó là kinh nghiệm về tình yêu. Lục Vân Tiên là một chàng trai mới lớn, chưa hề quen biết một cô gái nào, và cũng chưa hề yêu đương cho nên đối với nữ nhân chàng còn nhiều e ngại. Hơn nữa, chàng thuộc thế hệ nho sĩ ngày xưa, trọng nghĩa khinh tài, biết thủ lễ và tránh những hành động có thể bị coi là lợi dụng.
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ơn buộc lại chữ tình lây dây.
Than rằng đó khó trêu đây,
Ơn kia đã mấy, của này rất sang.
Đương khi gập gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ, ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì. (201-08)
Chàng không phải là hạng người lịch duyệt, biết ân cần, săn sóc phụ nữ, nhưng chàng đã vồn vã, lịch sự chào hỏi Nguyệt Nga mặc dầu chàng vẫn giữ một khoảng cách với nàng:
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái,ta là phận trai.
Tiểu thư con cái nhà ai?
Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ?
Chẳng hay tên họ là chi?
Khuê môn phận gái việc gì đến đây? (143-150)
Còn Nguyệt Nga đưọc Lục Vân Tiên cứu thoát bàn tay bọn cướp,nàng cảm ơn cứu tử và cảm động vì hành động hào hiệp, can đảm của chàng. Đa số người nữ thường rung động trước sự giúp đỡ, và tình cản nồng hậu của nam nhân. Anh hùng cứu mỹ nhân, mỹ nhân yêu anh hùng là một đề tài phổ biến xưa nay. Nàng đã yêu chàng ngay trong buổi đầu. Hành động gửi tặng vật là một cách biểu lộ tình yêu một cách kín đáo. Khi Lục Vân Tiên tỏ vẻ lạnh lùng, nàng đã hờn dỗi. Cử chỉ của nàng rất đáng yêu:
-Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt, chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành .(197-200 )
-Thưa rằng chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mích lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm.
Riêng than trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ. (209-14)
Từ trước Lục Vân Tiên chưa yêu ai. Tình yêu của Nguyệt Nga là một kinh nghiêm đầu tiên rất tươi thắm trong đời chàng.
3. HÔN NHÂN
Ngày xưa, người Việt Nam lấy vợ sớm, và hôn nhân do các bậc cha mẹ quyết định. Hai bên cha mẹ đãï đính ước từ trước, có khi hai trẻ còn nằm trong bụng me . Chàng là một thanh niên đầy hứa hẹn tương lai cho nên đã được nhà gái đón tiếp nồng hậu khi chàng đến thăm trước khi vào kinh ứng thí. Vị hôn thê của chàng là Võ Thể Loan đã ân cần với chàng trước khi chia tay:
Chàng dầu cung quế xuyên dương,
Thiếp xin hai chữ tao khang cho bằng.
Xin đừng tham dó bỏ đăng,
Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.(709-12)
Không hiểu vì chịu ảnh hưởng các truyện xưa tích cũ về tình nghĩa vợ chồng, hoặc vì linh tính, Lục Vân Tiên đã trả lời Võ Thể Loan bằng giọng điệu nghi ngờ:
Tiên rằng như lửa mới nhen,
Dễ trong một bếp mà chen mấy lò?
May duyên, rủi nợ dễ phô,
Chớ lo Ngô Khởi, hãy lo Mãi Thần. (713-16)
Gia đình họ Võ đã đem lại cho chàng nỗi niềm cay đắng trên bước đường đời. Khi chàng bị mùa lòa, chàng liền nghĩ đến vị hôn thê và gia đình bên vợ. Chàng là người mới bước vào đời, lòng còn trong sáng, còn tin tưởng vào lời hứa hẹn của người đời. Vì vậy, sau khi ngư ông cứu chàng thoát chết trong giòng sông sâu, chàng ngỏ lời cậy ngư ông đưa chàng đến nhà nhạc gia để họ giúp đỡ chàng khi nguy nan:
Tiên rằng xưa đã gá lời,
Sui gia ai nỡ đổi dời chẳng thương.
Vợ chồng là đạo tang khang,
Chi bằng tới đó tìm phương gửi mình.
Trăm năm muốn trọn ân tình,
Đương khi hoạn nạn ai đành bỏ nhau.
Chút nhờ cứu tử ơn sâu,
Xin đem tới đó, trước sau cho tròn. (981-988)
Ngư ông là người từng trải việc đời, đã nghi ngờ họ Võ sẽ thay lòng đổi dạ khi thấy chàng thất bại công danh và mù lòa. Ôâng ngỏ lờiø khuyên can chàng nhưng chàng vẫn không nghe ý kiến của ngư ông:
Ngư rằng làm đạo rể con,
Cũng như sợi chỉ mà luồn trôn kim.
Sợ bay mà mỏi sức chim,
Bơ vơ cảnh lạ, khôn tìm cây xưa.
E khi chậm bước tới trưa,
Chớ đi sông cũ ,bến xưa mà lầm.
Mấy ai ở ở đặng hảo tậm,,
Nắng đun chót nón, mưa dầm tả tơi.
Mấy ai hay nghĩ việc đời,
Nhớ nơi nghèo khổ, quên nơi sang giàu.
Đã ba thứ tóc trên đầu,
Gẫm trong thế sự thêm âu cho đời.( 989-1000)
Nhưng niềm tin ngây thơ của chàng đã bị tan vỡ. Chàng bị mù lòa lại bị từ hôn. Cay đắng nhất là vị hôn thê của chàng đã dùng những lời thô bạo đối với chàng. Chàng là người chung thủy, nhưng nhân thế đã thay lòng đổi dạ:
Loan rằng: ‘ Gót đỏ như son,
Xưa nay ai dễ đem chôn xuống bùn.
Ai cho sen muống một bồn,
Ai từng chanh khế sánh phồn lựu lê.
Thà không trót chịi một bề,
Nỡ đem mình ngọc, dựa kề thất phu.
Đã công chờ đợi danh nho,
Rể đâu có rể đui mù thế ni. . (1027-34)
Chính Võ Thể Loan, vị hôn thê của chàng đóng vai trò tích cực trong việc đổi trắng thay đen. Nàng đã táo bạo đề nghị với cha mẹ cho nàng kết hôn cùng Vương Tử Trực, bạn của Vân Tiên vừa đỗ thủ khoa:
Đã nghe người nói hội này,
Rằng Vương Tử Trực chiếm rày khôi khoa.
Ta dầu muốn kết xui gia,
Họ Vương, họ Võ một nhà mới xinh.(1035-38)
Khi Võ ông đem chàng bỏ hang sâu, chàng mới hiểu rõ lòng dạ người đới:
Vân Tiên khi ấy hãi hùng,
Nghĩ ra mới biết Võ công hại mình.(1059-60).
4. ÁC NHÂN
Bọn gian ác ở khắp mọi nơi.Trong hàng ngũ trí thức cũng có kẻ gian ác mặc dầu nho sĩ vốn xuất thân cửa Khổng sân Trình, học nhân nghĩa lễ trí tín. Trên đường vào trường thi, chàng đã gặïp bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Bọn này đã vào trường thi cùng Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực.Bọn này học kém, không làm được bài thi.Thấy Vương và Lục làm được bài, chúng sinh lòng ghen ghét, cho rằng Vương và Lục “viết tùng cổ thi”(464). Bọn họ đã cùng Lục Vân Tiên và Vương Tử Trực uống rươu, làm thơ. Ôâng chủ quán là người bình dân, nhưng môi trường làm việc của ông là quán khách, có nhiều loại người lui tới cho nên ông tiếp xúc với nhiều người và hiểu tâm tính của họ. Vì vậy, ông xem qua cách làm thơ của bọn này đã biết Trịnh Hâm và Bùi Kiệm thuộc loại lừa thầy, dối bạn:
Tiên rằng: Ông quán cười ai,
Quán rằng cười kẻ bất tài đồ thơ.
Cười người Tôn Tãn không lừa,
Trước đà thấy máy chẳng dè Bàng Quyên. (467-70)
Khi bọn này trả lời ông chủ quán, ta thấy rõ tính vô lễ và khinh người của chúng:
Kiệm rằng: Lão quán nói nhăng,
Dầu cho trải việc cũng thằng bán cơm.
Gối rơm theo phận gối rơm,
Có đâu ở thấp mà chồm lên cao. (523-26 )
Khi tin nhà đưa đến, nghe tin mẹ già mất, Lục Vân Tiên khóc mù mắt, bỏ cuộc thi trở về quê cũ. Giữa đường chàng lại bọn này, chàng mù lòa nên phải trông cậy bạn giúp đỡ:
Tiên rằng: Tình trước nghĩa sau,
Có thương xin khá giúp nhau phen này (863-64)
Ở đời, lòng dạ con người khó lường. Ta không hề gặp mặt họ, ta cũng không tranh quyền đoạt lợi của họ. Ta cũng không có thù cướp tài sản hoặïc giết hại cha mẹ, anh em họ, thế mà họ thù ghét, oán hận ta. Họ nói xấu, vu khống ta. Thậm chí họ cò thể giết hại ta. Vân Tiên không có thù oán gì với bọn này, không ngờ Trịnh Hâm, Bùi Kiệm chỉ vì ganh tài mà hãm hại Vân Tiên. Chúng đem tiểu đồng vào rừng trói lại cho cọp ăn, rồi đêm đến xô Vân Tiên xuống vực sâu.
Ngoài Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Vân Tiên còn bị ba nhân vật gian manh khác bóc lột, lường gạt là thầy thuốc, thầy bói và thầy pháp. Ba ông này giống nhau hai điểm chính. Thứ nhất là tự quảng cáo, là khoe khoang, khoác lác.
- Ông thầy thuốc:
Ngang rằng: Ta ở chốn này,
Ba đời nối nghiệp làm thầy vừa ba.
Sách chi cũng đủ trong nhà,
Nội kinh đã sẵn, ngoại khoa thêm màu.
Trước xem y học làm đầu,
Sau xem Thơ Thế, thứ cầu Đông Y (665-770 )
- Ông thầy bói:
Ta đây nào phải các thầy,
Bá vơ, bá vất, nói nhây không nhằm.
Ôân nhuần Châu dịch mấy năm,
Sáu mươi bốn quẻ, ba trăm dư hào.
Huỳnh Kim, Dã Hạc sách cao,
Lục nhâm, lục giáp, chỗ nào chẳng hay. (715-20 )
- Ông thầy pháp:
Pháp rằng: Aán đã cao tay,
Lại thêm phù chú, xưa nay ai bì.
Qua sống, cá thấy xếp vi,
Vào rừng cọp thấy phải quỳ lạy đưa.
Pháp hay hú gió, kêu mưa,
Sai chim, khiến cọp, đuổi lừa, vật trâu.
Pháp hay miệng niệm một câu,
Tóm thâu muôn vật vào bẩu hồ linh. (673-70 )
Ba ông thầy này đều giống nhau là tham lam, luôn chú trọng tiền bạc. Gặp Vân Tiên, cả ba thầy trước tiên là hỏi tiền bạc.
Thầy thuốc chưa chửa bệnh đã hỏi tiền:
Gặp ta bệnh ấy ắt lành,
Bạc tiền trong túi sẵn dành bao nhiêu? (659-60 )
- Thầy bói chưa gieo quẻ đã hỏi tiền:
Đặt tiền quan mốt bốn mươi,
Khay trầu chén rượu cho tươi mới thành.
Thầy bèn gieo đặng quẻ lành. (723-25 )
Ông này sau một hồi ba hoa, đã đề cập đến tiền:
Có ba trăm lạng đưa sang,
Đặng thầy sắm sửa lập đản chửa cho. (775-76 )
5.THIỆN NHÂN
Cuộc đời có nhiều màu sắc và có nhiều mâu thuẫn. Nếu trong cuộc đời có những kẻ ác thì cũng có những người hiền lành, nhân từ đức hạnh. Vân Tiên đã gặp bọn gian ác nhưng chàng cũng đã gặp những người trung hậïu. Nguyệt Nga là ánh trăng rằm trong đời chàng. Ông chủ quán là người bình dân nhưng ông thực sự là tay minh kinh bác học. Những lời nghị luận của ông chúng tỏ ông học rộng, hiểu nhiều và là người trung trực :
Quán rằng ghét việc tầm phào,
Ghét cay ghét đắng ghét vào tới tâm.
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm, sẩy hang.
Ghét đời U Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần
. . . . . . . . . .
Thương là thương bậc thánh nhân,
Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuôn.
Thương thầy Nhan tử dở dang,
Ba mươi mốt tuổi tách đường công danh.
Thương ông Gia Cát tài lành,
Gặp cơn Hán mạt đã đành phôi pha. . .(479-494)
Vì vậy mà Vương Tử Trực khen ngợi ông:
Trực rằng: Chùa rách phật vàng,
Ai hay trong quán ẩn tàng kinh luân (505-06)
Vương Tử Trực là người đạo đức và trung trực đã từ chối lời cầu hôn của Võ Thể Loan
Trực rằng : ''Ngòi viết dĩa nghiên,
Anh em xưa có thề nguyền cùng nhau.
Vợ Tiên là Trực chị dâu,
Chị dâu em bạn dám đâu lỗi nghì.
Chẳng hay người học sách chi,
Nói sao những tiếng dị kỳ khó nghe?
. . . . . . . . . . .
Nói sao chẳng biết hổ thầm,
Người ta há phải là cầm thú sao? (1228-41)
Hán Minh can trường phá giặc và đem quân đón Vân Tiên. Lão ngư, lão tiều cũng là những người tốt. Nói chung, ta có thể phân chia các nhân vật trong Lục Vân Tiên làm hai loại thiện ác.
III. CHUNG CUỘC
Ở đời, một số người hoàn toàn sung sướng, trái lại một số người luôn đau khổ. Một số lúc bĩ, lúc thái. Đó là trường hợp của Lục Vân Tiên. Sau khi bị bao tai nạn, chàng được cứu thoát, được thuốc tiên chữa lành mắt, thi đỗ trạng nguyên và được Nguyệt Nga yêu, và cả hai sống hạnh phúc.
Trạng nguyên về đến Đông thành,
Lục ông trước đã xây dinh ở làng.
Bày ra sáu lễ sẵn sàng,
Các quan đi họ cưới nàng Nguyệt Nga.
Sui gia đã xứng sui gia,
Rày mừng hai họ một nhà thành thân.
Trăm năm biết mấy tinh thần,
Sinh con sau nối gót lân đời đời (2054-61)
Trong khi đó những kẻ ác gian bị Trời trừng phạt. Trịnh Hâm té xuống sông bị cá nuốt, mẹ con Thể Loan bị cọp nhốt trong hang:
Thiệt Trời báo ứng lẽ này rất ưng,
Thấy vậy nên dửng dừng dưng,
Làm ngưòi ai nấy thì đừng bất nhân (1192-94)
Đó là lẽ báo ứng, là luật nhân quả mà Khổng và Phật luôn đề cao trong kinh điển, trong văn chương và trong đời sống.
Lục Vân Tiên là giấc mơ của Nguyễn Đình CHiểu. Lục Vân Tiên đã qua cơn hoạn nạn và được vinh hiển, trái lại, Nguyễn Đình Chiểu một đời khốn khó, bản thân ông cũng như quốc gia Việt Nam phải trải qua bao nỗi dắng cay từ khi mất nước.
=====
MỘT THÚY KIỀU, BA TÌNH YÊU
*
Tình yêu là một hiện tượng tâm lý, tùy thuộc vào vào từng cá nhân, và từng thời gian. Trên đường đời, Thuý Kiều đã gặp nhiều đàn ông, và tỏ vẻ hờ hững với họ:
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mận mà với ai.
Chỉ có ba người là được nàng yêu thật tình là Kim Trọng, Thúc sinh và Từ Hải.
I. KIM TRỌNG
Kim Trọng là người yêu đầu tiên của Thúy Kiều, và Thúy Kiều cũng là người yêu đầu tiên của Kim Trọng Đây là mối tình thơ ngây trong trắng của đôi thanh niên nam nữ mới lên. Kim Trọng thuộc hàng người yêu cuồng nhiệt, chưa gặp mặt, mới nghe danh Thúy Kiều xinh đẹp mà đã say đắm:
Vẫn nghe thơm nức hương lân,
Một nền đồng tước khóa xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu,
Những là trộm nhớ, thầm yêu chốc mòng.
( K.155-158)
Sau buổi gặp đầu tiên, Kim Trọng đã tương tư Kiều:
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi lạnh như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phiếm loan.(251-254)
Về phần Thúy Kiều, nàng cũng suy nghĩ rất nhiều về Kim Trọng sau buổi gặp gỡ đầu tiên:
Người đâu gặp gỡ mà chi.
Trăm năm biết có duyên gì hay không ! (181-182)
Tình yêu của Kim Trọng và Thúy Kìều khởi đầu là chiêm ngưỡng, chớp nhoáng ( coup de foudre Foudre> ) và thầm lặng:
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
Chập chờn, cơn tỉnh, cơn mê,
Dốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn. (163-166 )
Cái nguyên nhân chính là tài sắc, là phong tư, tài mạo, là dung nhan diễm lệ đã quấn hút hai người vào nhau. Kim Trọng có một mãnh lực hấp dẫn nữ giới:
-Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nếp đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tuyệt vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.(149-152)
Thúy Kiều là một giai nhân tuyệt sắc, nổi danh tài nghệ:
-Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành họa một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm. (25-30)
Kim Trọng là kẽ đa tình và cũng là người quyết chí vì tình. Chàng đã chủ động trong tình yêu. Mượn cớ du học, chàng thuê nhà ở cạnh nhà Thúy Kiều, và ngày đêm trông ngóng bóng hồng. Cuộc gặp gỡ của hai bên vừa do nhân định vừa do ngẫu nhiên. Nhân định là vì Kim Trọng có ý theo dõi Kiều, trông ngóng Kiều để có dịp gặp mặt trao lời. Còn Thuý Kiều là vô tình, là ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên mà vướng cây kim thoa. Ngẫu nhiên mà Kim thoa vào tay Kim Trọng chớ không ai khác. Kiều có được bản tính e lệ của gái đoan trinh, và đây là điểm rất đáng yêu khác với người Aâu, Mỹ:
-Nặng lòng xót liễu vì hao,
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa. (335-36 )
-Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung .(351-52 )
Thúy Kiều là gái đam mê, vắng nhà trong đêm đã sang nhà Kim Trọng ba lần. Nàng lãng mạn nhưng vẫn còn lý trí:
Vẻ chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
Đã cho vào bậc bố kinh,
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu,
Ra tuồng trên bộc, trong dâu,
Thì con ngườinấy, ai cầu làm chi.(503-08)
Đứng về phương diện luân lý, sư Tam Hợp đã nhận định về Thúy Kiều rất đúng:
Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm. (2682 )
Đứng về phương diện tâm lý và nghệ thuật, truyện Kiều vừa có tính lãng mạn vừa có tính nhân bản. Thúy Kiều và Kim Trọng rất người nghĩa là có lý trí và tìm cảm. Và truyện Kiều rất hấp dẫn vì không khô khan, giáo điều cũng không khiêu dâm.
Nói tóm lại tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng là tình đầu, là tình trong trắng, ngây thơ và chân thành.
II. THÚC SINH
Giữa đám người gian manh, thô bỉ như Mã Giám sinh, Sở Khanh, Thúc sinh nổi bật như một ngôi sao nhỏ giữa trời đen tối. Vị trí của Thúy Kiều là vị trí một kỹ nữ trong lầu xanh, còn Thúc sinh là một công tử ăn chơi ở lầu xanh. Chàng cũng như bao ngườikhác tới lầu xanh để mua vui. Chàng cũng như bao người khác đã dùng vàng bạc để gần gũi Kiều. Cái tính của chàng là hào sảng, coi khinh đồng tiền có lẽ đã làm Kiều rung cảm:
Thúc sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không. (1303-04)
Lại nữa, bề ngoài của chàng có dáng dấp thư sinh
( cũng nói thư hương) cho nên hơi giống cái nho nhã của Kim Trọng. Có lẽ hai lý do này đã khiến Kiều chú ý đến Thúc sinh. Về Thúc sinh, gặp Thúy Kiều là chàng đã say mê, cũng bị tiếng sét ái tình làm cho tâm hồn điên đảo:
Trướng tô giáp mặt hoa đào,
Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa.
Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng? (281-86)
Tình yêu Kim Trọng và Thúy Kiều là tình yêu chớp nhoáng, còn tình yêu giữa Thúc sinh với Thúy Kiều, nhất là về Thúy Kiều, là do quá trình gần gũi như tục ngữ ta nói « lửa gần rơm, lâu ngày cũng bén »:
Sớm đào, tối mận lân la,
Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng. (1389-90)
Thực ra tình yêu giữa Thúc sinh và Thúy Kiều là một mối tình có tính toán. Biết chàng là con mồi ngon, nhà giàu lại đam mê, Kiều đem kỹ thuật giăng lưới săn nai ra áp dụng. Nàng đã đem thân thể phô bày một cách kín đáo để quyến rũ Thúc sinh. Lấy cớ trời nóng nực, nàng đi tắm. Nàng tắm trong phòng của nàng, cách bên ngoài một tấm màn mỏng. Lẽ dĩ nhiên, Thúc sinh ngồi ở phòng ngoài,vẫn đưọc chiêm ngưỡng những đường nét tuyệt diệu và hấp dẫn của Thúy Kiều:
Buồng the phải buổi thong dong,
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa.
Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà,
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên.(1309-12)
Tại sao không chờ Thúc sinh về rồi hãy tắm? Là vì Kiều muốn triển lãm trước mắt Thúc sinh. Tại sao không tắm chỗ khác lại tắm trong phòng? Vì ngày xưa không có phòng tắm, người ta thường tắm ngoài trời. Phụ nữ cũng tắm ngoài trời vào ban đêm, hay tắm trong phòng mà kéo màn lại. Tại sao không dùng màn màu trắng, màu đen mà dùng màu hồng? Vì màu hồng điệp với màu da thịt, làm tăng thêm vẻ đẹp của một thân thể hồng hào. Xúc cảnh sinh tình, Thúc sinh đã làm một bài thơ tả cảnh Kiều tắm. Chắc Kiều mừng lắm vì nàng biết Thúc sinh làm thơ, dù là thơ con cóc, cũng chứng tỏ chàng đã si mê thật tình. Cá đã cắn câu. Kiều là một tay nghề trong xuớng họa thế mà nàng từ chối hoạ bài thơ của chàng. Nàng lấy cớ lòng buồn vì nhớ quê hương và cha mẹ:
Hay hèn lẽ cũng nối điêu,
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.
Lòng còn gửi áng mây vàng,
Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay.(1317-20 )
Đây là thủ đoạn thứ hai Kiều dùng để đánh vào lòng từ bi, nhân ái của Thúc sinh. Những kẻ gian manh thường dùng chiêu này để lừa đảo thiên hạ, mà nhiều kẻ mắc phải vì họ tự cho họ là nhân ái.
Kiều dụ Thúc sinh hỏi nguồn gốc lai lịch, để rồi Kiều sẽ kể cho chàng thân thế bi thương của nàng:
Nàng càng ủ dột thu ba,
Đoạn trường lúc ấy nghị mà buồn tênh.
Thiếp như hoa đã lìa cành,
Chàng như con bưóm liệng vành mà chơi.(1323-26)
Sự kể lể này sẽ làm cho chàng cảm thương nàng, xuất tiền túi chuộc nàng ra, mua nhà cho nàng, cùng nàng chung sống: Chiêu thức này đa số gái giang hồ sau này đều thực hiện đúng phóc. Em là con gái quê, vì cha mẹ em nghèo, bệnh nặng hay mắc nợ nần phải bán mình vì chữ hiếu. Hoặc em là con nhà đàng hoàng, tử tế, vì thằng lưu manh, thằng Sở Khanh, vì thằng chồng thô bạo mà dấn bước giang hồ.
Khi Thúc sinh mắc lưới, tính việc chuộc nàng ra cùng nàng chung sống, Kiều làm bộ từ chối, lấy cớ sợ lòng chàng thay đổi, và vì sợ vợ cả ở nhà ngăn cản, ghen tuông:
Nàng rằng muôn đội ơn lòng,
Chút e bên thù, bên tòng dễ đâu.
Bình Khang nấn ná bấy lâu,
Yêu hoa, yêu được một màu điểm trang.
Rồi ra lỡ phấn phai hương,
Lòng kia giữa được thường thường mãi chăng?
Vả trong thềm quế cung trăng,
Chủ trương đã có chị Hằng ở trong.(1333-40 )
Nàng thực hiện kế hoạch thoái một bước, tiến hai bước. Ban đầu nàng đóng cửa nhưng gần cuối nàng mở cửa để Thúc sinh thực hiện ý định của chàng;
Thương sao cho vẹn thì thương,
Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng. (1359-60 )
Tóm lại, tình của Thúy Kiều là mối tình ở chốn lầu xanh. Mội mối tình có toan tính, có kế hoạch, và vụ lợi, khác với mối tình đầu với Kim Trọng.
III. TỪ HẢI
Không gian hội ngộ giữa Từ Hải và Thúy Kiều cũng giống không gian gặp gỡ giữa Thúc sinh và Thúy Kiều. Đó là chốn lầu xanh. Từ Hải nổi bật giữa các khánh tầm thường khác bởi cái khí phách của chàng, cái uy dũng hiện ra ngoài:
Râu hầm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài. (2167-70 )
Tình yêu giữa Từ Hải và Thúy Kiều cũng là tình yêu chớp nhoáng. Cả hai đều bị tiếng sét ái tình ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Từ Hải tìm đến Thúy Kiều vì chàng đã nghe danh Thúy Kiều. Cũng như Kim Trọng, Từ Hải yêu Thúy Kiều từ khi chưa gặp mặt. Kh gặp nhau, cả hai đều say mê nhau:
Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.(2175-78)
Tình yêu của hai người là tình yêu của trai tứ chiếng, gái giang hồ. Đặc biệt, tâm tính Từ Hải là tâm tính của nhà binh, gặp Kiều là đi ngay vào vấn đề không cần đợi chờ ngày tháng như Thúc sinh:
Từ rằng tâm phúc tương cờ,
Phải rằng trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bỏ chi cá chậu, chim lồng mà chơi. (2179-84 )
Từ Hải có thái độ kiêu căng, tự cho mình là bậc anh hùng. Trước những người tự đắc, tự kiêu như thế, Thúy Kiều lại càng nhún nhường, lễ phép, và đó là Thúy Kiều đã từng trải, đã hiểu tâm lý từng loại khách, và đó cũng là nghệ thuật đắc nhân tâm của Thúy Kiều:
-Thưa rằng : người dạy quá lời,
Thân này còn dám coi ai là thường! ( 2185-86)
-Thưa rằng: lượng cả bao dong,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau (2195-98)
Nhìn qua cung cách của Từ Hải,ngay trong buổi đầu, Thúy Kiều đã biết sau này chàng sẽ thành một đại vương như đám Lương Sơn Bạc! Từ Hải là một võ tướng, một hải khấu, một người hữu dũng vô mưu, nghe lời nịnh hót của một kỹ nữ đã khoái trá, bộc lộ rõ chí hướng của mình, không cần che đậy hành tung của một khách giang hồ chưa gặp vận:
Nghe lời vừa ý gật đầu,
Cười rằng: tri kỷ trước sau mấy người!
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già.
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung nghìn tứ ắt là có nhau. (2199-2204 )
Thúc sinh phải mất một thời gian dài mới chinh phục được Thúy Kiều, còn Từ Hải ngay trong buổi đầu đã tâm đầu ý hợp, bỏ tiền chuộc Thúy Kiều ra khỏi thanh lâu:
Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Buồng riêng sửa soạn thanh nhàn,
Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.(2207-10)
Từ Hải là người nông nổi, thiếu suy nghĩ. Chàng thích được người vuốt ve, nịnh bợ cho thỏa mãn cái tự ái, tự tôn của chàng. Chàng là người không sâu sắc, không khôn ngoan, chỉ là một kẻ ồn ào, ưa nịnh hót và ưa khoe khoang cho thỏa mãn cái anh hùng cá nhân của chàng. Bởi vậy sau này, nghe lời Kiều, chàng đầu hàng triều đình và bị chết thảm thương! Và tình của Thúy Kiều với Từ Hải cũng là một việc tính toán lợi hại cho bản thân nàng, cho nên Thúy Kiều đã mắc mưu Hồ Tôn Hiến. Nịnh và tham đưa đến kết quả thảm thương:
Nàng thời thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt, nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gain truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thang đường cái, thanh vân hẹp gì.
Công tư vẹn cả đôi bề,
Dần dà rồi phải liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha ( 2471- 80)
Trong ba mối tình của Thúy Kiều, mối tình với Kim Trọng là sâu sắc, đậïm đà nhất. Khi phải bỏ gia đình theo Mã giám sinh, Kiều đã kêu tên chàng một cách thảm thiết:
Ối Kim Lang, hỡi Kim Lang,
Thôi thôi, thiếp đã phụ chàng từ đây!(755-56)
Ở lầu Ngưng Bích cô đơn, Thúy Kiều đã tưởng nhớ đến Kim Trọng:
Tưởng người duới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mài chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. (1039-42)
Khi ở lầu xanh, nàng cũng nhắc đến Kim Trọng và lời thề xưa:
Nhớ lời nguyện ước ba sinh,
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai? (1259-60 )
Khi lấy Từ Hải, Từ Hải ra đi theo tiếng gọi bốn phương trời, trong lòng Thúy Kiều cũng hiện lên hình ảnh Kim Trọng:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng. ( 2239-40)
Và nàng ân hận đã không trao cho chàng tấm băng trinh của nàng trước khi lăn lóc bụi trần:
Biết thân đến nước lạc loài,
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.( 791-92)
Trong ba mối tình, tình giữa Thúy Kiều và Kim Trọng là tình yêu chiêm ngưỡng, còn tình với Thúc sinh, Từ Hải là tì nh yêu có tính toán, và vị lợi. Nàng con người lý tưởng, nàng là gái giang hồ nhưng lại sống trong mộng tưởng, theo đuổi ái tình lý tưởng. Nàng không muốn tái hợp với Kim Trọng, mà chỉ giữ tình bạn, vì nhiều lý do. Yêu nhau là cho nhau, là dâng hiến. Nàng còn gì ngoài tấm thân ô uế đã nằm trong tay bao người đàn ông khác? Nếu Kim Trọng còn yêu nàng chẳng qua là chàng yêu một Thúy Kiều của quá khứ. Ngày sau, đối diện với nhau,với dư luận, với sự thực, sẽ còn những gì đẹp? Bản thân nàng đã hoen ố, nàng không muốn nàng và Kim Trọng phải đối diện với thực tế phũ phàng. Lại nữa, sau mười lăm năm lưu lạc, Kiều đã trên ba mươi, không còn son trẻ như thuở trước. Ngày xưa, người ta quan niệm phụ nữ ba mươi không còn nghĩ đến đường tình duyên nữa:
Trai ba mươi tuổi đang xoan,
Gái ba mươi tuổi lo toàn về già (ca dao )
Ngày xưa Lý phu nhân lúc gần mất, nhất định không cho Hán Vũ Đế gập mặt vì bà còn gì nữa đâu ngoài cái dung nhan tàn tạ của con người sắp lìa cõi thế! Thúy Kiều cũng vậy. Nàng muốn giữ mãi mối tình tươi thắm ngày xưa.Nhan sắc , danh tiết không còn nữa thì còn gì để yêu. Hoa đã quá mùa là hoa héo. Điều này chứng tỏ Thúy Kiều có ý chí, có lý trí và có lý tưởng:
Nàng rằng phận thiếp đã đành,
Có làm chi nữa, cái mình bỏ đi.
. . . . . . .
Cũng nhơ dở nhuốc bày trò,
Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi!
Người yêu ta xấu với người,
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau. (3145-58)
Thúy Kiều có ba tình yêu, nhưng chỉ có tình yêu Kim Trọng là mối tình đầu tươi đẹp và lâu dài nhất trong trái tim nàng. Tình yêu của nàng với ba người đàn ông vừa lãng mạn, vừa trần tục nhưng cũng rất lý tưởng. Đó là những khía cạnh sâu sắc trong tình yêu và con người Thúy Kiều.
====
Tình yêu là một hiện tượng tâm lý, tùy thuộc vào vào từng cá nhân, và từng thời gian. Trên đường đời, Thuý Kiều đã gặp nhiều đàn ông, và tỏ vẻ hờ hững với họ:
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mận mà với ai.
Chỉ có ba người là được nàng yêu thật tình là Kim Trọng, Thúc sinh và Từ Hải.
I. KIM TRỌNG
Kim Trọng là người yêu đầu tiên của Thúy Kiều, và Thúy Kiều cũng là người yêu đầu tiên của Kim Trọng Đây là mối tình thơ ngây trong trắng của đôi thanh niên nam nữ mới lên. Kim Trọng thuộc hàng người yêu cuồng nhiệt, chưa gặp mặt, mới nghe danh Thúy Kiều xinh đẹp mà đã say đắm:
Vẫn nghe thơm nức hương lân,
Một nền đồng tước khóa xuân hai Kiều.
Nước non cách mấy buồng thêu,
Những là trộm nhớ, thầm yêu chốc mòng.
( K.155-158)
Sau buổi gặp đầu tiên, Kim Trọng đã tương tư Kiều:
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao,
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi lạnh như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phiếm loan.(251-254)
Về phần Thúy Kiều, nàng cũng suy nghĩ rất nhiều về Kim Trọng sau buổi gặp gỡ đầu tiên:
Người đâu gặp gỡ mà chi.
Trăm năm biết có duyên gì hay không ! (181-182)
Tình yêu của Kim Trọng và Thúy Kìều khởi đầu là chiêm ngưỡng, chớp nhoáng ( coup de foudre Foudre> ) và thầm lặng:
Người quốc sắc, kẻ thiên tài,
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
Chập chờn, cơn tỉnh, cơn mê,
Dốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn. (163-166 )
Cái nguyên nhân chính là tài sắc, là phong tư, tài mạo, là dung nhan diễm lệ đã quấn hút hai người vào nhau. Kim Trọng có một mãnh lực hấp dẫn nữ giới:
-Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nếp đất, thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tuyệt vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.(149-152)
Thúy Kiều là một giai nhân tuyệt sắc, nổi danh tài nghệ:
-Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành họa một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm. (25-30)
Kim Trọng là kẽ đa tình và cũng là người quyết chí vì tình. Chàng đã chủ động trong tình yêu. Mượn cớ du học, chàng thuê nhà ở cạnh nhà Thúy Kiều, và ngày đêm trông ngóng bóng hồng. Cuộc gặp gỡ của hai bên vừa do nhân định vừa do ngẫu nhiên. Nhân định là vì Kim Trọng có ý theo dõi Kiều, trông ngóng Kiều để có dịp gặp mặt trao lời. Còn Thuý Kiều là vô tình, là ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên mà vướng cây kim thoa. Ngẫu nhiên mà Kim thoa vào tay Kim Trọng chớ không ai khác. Kiều có được bản tính e lệ của gái đoan trinh, và đây là điểm rất đáng yêu khác với người Aâu, Mỹ:
-Nặng lòng xót liễu vì hao,
Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa. (335-36 )
-Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung .(351-52 )
Thúy Kiều là gái đam mê, vắng nhà trong đêm đã sang nhà Kim Trọng ba lần. Nàng lãng mạn nhưng vẫn còn lý trí:
Vẻ chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh.
Đã cho vào bậc bố kinh,
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu,
Ra tuồng trên bộc, trong dâu,
Thì con ngườinấy, ai cầu làm chi.(503-08)
Đứng về phương diện luân lý, sư Tam Hợp đã nhận định về Thúy Kiều rất đúng:
Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm. (2682 )
Đứng về phương diện tâm lý và nghệ thuật, truyện Kiều vừa có tính lãng mạn vừa có tính nhân bản. Thúy Kiều và Kim Trọng rất người nghĩa là có lý trí và tìm cảm. Và truyện Kiều rất hấp dẫn vì không khô khan, giáo điều cũng không khiêu dâm.
Nói tóm lại tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng là tình đầu, là tình trong trắng, ngây thơ và chân thành.
II. THÚC SINH
Giữa đám người gian manh, thô bỉ như Mã Giám sinh, Sở Khanh, Thúc sinh nổi bật như một ngôi sao nhỏ giữa trời đen tối. Vị trí của Thúy Kiều là vị trí một kỹ nữ trong lầu xanh, còn Thúc sinh là một công tử ăn chơi ở lầu xanh. Chàng cũng như bao ngườikhác tới lầu xanh để mua vui. Chàng cũng như bao người khác đã dùng vàng bạc để gần gũi Kiều. Cái tính của chàng là hào sảng, coi khinh đồng tiền có lẽ đã làm Kiều rung cảm:
Thúc sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không. (1303-04)
Lại nữa, bề ngoài của chàng có dáng dấp thư sinh
( cũng nói thư hương) cho nên hơi giống cái nho nhã của Kim Trọng. Có lẽ hai lý do này đã khiến Kiều chú ý đến Thúc sinh. Về Thúc sinh, gặp Thúy Kiều là chàng đã say mê, cũng bị tiếng sét ái tình làm cho tâm hồn điên đảo:
Trướng tô giáp mặt hoa đào,
Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa.
Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng? (281-86)
Tình yêu Kim Trọng và Thúy Kiều là tình yêu chớp nhoáng, còn tình yêu giữa Thúc sinh với Thúy Kiều, nhất là về Thúy Kiều, là do quá trình gần gũi như tục ngữ ta nói « lửa gần rơm, lâu ngày cũng bén »:
Sớm đào, tối mận lân la,
Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng. (1389-90)
Thực ra tình yêu giữa Thúc sinh và Thúy Kiều là một mối tình có tính toán. Biết chàng là con mồi ngon, nhà giàu lại đam mê, Kiều đem kỹ thuật giăng lưới săn nai ra áp dụng. Nàng đã đem thân thể phô bày một cách kín đáo để quyến rũ Thúc sinh. Lấy cớ trời nóng nực, nàng đi tắm. Nàng tắm trong phòng của nàng, cách bên ngoài một tấm màn mỏng. Lẽ dĩ nhiên, Thúc sinh ngồi ở phòng ngoài,vẫn đưọc chiêm ngưỡng những đường nét tuyệt diệu và hấp dẫn của Thúy Kiều:
Buồng the phải buổi thong dong,
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa.
Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà,
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên.(1309-12)
Tại sao không chờ Thúc sinh về rồi hãy tắm? Là vì Kiều muốn triển lãm trước mắt Thúc sinh. Tại sao không tắm chỗ khác lại tắm trong phòng? Vì ngày xưa không có phòng tắm, người ta thường tắm ngoài trời. Phụ nữ cũng tắm ngoài trời vào ban đêm, hay tắm trong phòng mà kéo màn lại. Tại sao không dùng màn màu trắng, màu đen mà dùng màu hồng? Vì màu hồng điệp với màu da thịt, làm tăng thêm vẻ đẹp của một thân thể hồng hào. Xúc cảnh sinh tình, Thúc sinh đã làm một bài thơ tả cảnh Kiều tắm. Chắc Kiều mừng lắm vì nàng biết Thúc sinh làm thơ, dù là thơ con cóc, cũng chứng tỏ chàng đã si mê thật tình. Cá đã cắn câu. Kiều là một tay nghề trong xuớng họa thế mà nàng từ chối hoạ bài thơ của chàng. Nàng lấy cớ lòng buồn vì nhớ quê hương và cha mẹ:
Hay hèn lẽ cũng nối điêu,
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.
Lòng còn gửi áng mây vàng,
Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay.(1317-20 )
Đây là thủ đoạn thứ hai Kiều dùng để đánh vào lòng từ bi, nhân ái của Thúc sinh. Những kẻ gian manh thường dùng chiêu này để lừa đảo thiên hạ, mà nhiều kẻ mắc phải vì họ tự cho họ là nhân ái.
Kiều dụ Thúc sinh hỏi nguồn gốc lai lịch, để rồi Kiều sẽ kể cho chàng thân thế bi thương của nàng:
Nàng càng ủ dột thu ba,
Đoạn trường lúc ấy nghị mà buồn tênh.
Thiếp như hoa đã lìa cành,
Chàng như con bưóm liệng vành mà chơi.(1323-26)
Sự kể lể này sẽ làm cho chàng cảm thương nàng, xuất tiền túi chuộc nàng ra, mua nhà cho nàng, cùng nàng chung sống: Chiêu thức này đa số gái giang hồ sau này đều thực hiện đúng phóc. Em là con gái quê, vì cha mẹ em nghèo, bệnh nặng hay mắc nợ nần phải bán mình vì chữ hiếu. Hoặc em là con nhà đàng hoàng, tử tế, vì thằng lưu manh, thằng Sở Khanh, vì thằng chồng thô bạo mà dấn bước giang hồ.
Khi Thúc sinh mắc lưới, tính việc chuộc nàng ra cùng nàng chung sống, Kiều làm bộ từ chối, lấy cớ sợ lòng chàng thay đổi, và vì sợ vợ cả ở nhà ngăn cản, ghen tuông:
Nàng rằng muôn đội ơn lòng,
Chút e bên thù, bên tòng dễ đâu.
Bình Khang nấn ná bấy lâu,
Yêu hoa, yêu được một màu điểm trang.
Rồi ra lỡ phấn phai hương,
Lòng kia giữa được thường thường mãi chăng?
Vả trong thềm quế cung trăng,
Chủ trương đã có chị Hằng ở trong.(1333-40 )
Nàng thực hiện kế hoạch thoái một bước, tiến hai bước. Ban đầu nàng đóng cửa nhưng gần cuối nàng mở cửa để Thúc sinh thực hiện ý định của chàng;
Thương sao cho vẹn thì thương,
Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng. (1359-60 )
Tóm lại, tình của Thúy Kiều là mối tình ở chốn lầu xanh. Mội mối tình có toan tính, có kế hoạch, và vụ lợi, khác với mối tình đầu với Kim Trọng.
III. TỪ HẢI
Không gian hội ngộ giữa Từ Hải và Thúy Kiều cũng giống không gian gặp gỡ giữa Thúc sinh và Thúy Kiều. Đó là chốn lầu xanh. Từ Hải nổi bật giữa các khánh tầm thường khác bởi cái khí phách của chàng, cái uy dũng hiện ra ngoài:
Râu hầm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài. (2167-70 )
Tình yêu giữa Từ Hải và Thúy Kiều cũng là tình yêu chớp nhoáng. Cả hai đều bị tiếng sét ái tình ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Từ Hải tìm đến Thúy Kiều vì chàng đã nghe danh Thúy Kiều. Cũng như Kim Trọng, Từ Hải yêu Thúy Kiều từ khi chưa gặp mặt. Kh gặp nhau, cả hai đều say mê nhau:
Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.(2175-78)
Tình yêu của hai người là tình yêu của trai tứ chiếng, gái giang hồ. Đặc biệt, tâm tính Từ Hải là tâm tính của nhà binh, gặp Kiều là đi ngay vào vấn đề không cần đợi chờ ngày tháng như Thúc sinh:
Từ rằng tâm phúc tương cờ,
Phải rằng trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
Một đời được mấy anh hùng,
Bỏ chi cá chậu, chim lồng mà chơi. (2179-84 )
Từ Hải có thái độ kiêu căng, tự cho mình là bậc anh hùng. Trước những người tự đắc, tự kiêu như thế, Thúy Kiều lại càng nhún nhường, lễ phép, và đó là Thúy Kiều đã từng trải, đã hiểu tâm lý từng loại khách, và đó cũng là nghệ thuật đắc nhân tâm của Thúy Kiều:
-Thưa rằng : người dạy quá lời,
Thân này còn dám coi ai là thường! ( 2185-86)
-Thưa rằng: lượng cả bao dong,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thân bèo bọt, dám phiền mai sau (2195-98)
Nhìn qua cung cách của Từ Hải,ngay trong buổi đầu, Thúy Kiều đã biết sau này chàng sẽ thành một đại vương như đám Lương Sơn Bạc! Từ Hải là một võ tướng, một hải khấu, một người hữu dũng vô mưu, nghe lời nịnh hót của một kỹ nữ đã khoái trá, bộc lộ rõ chí hướng của mình, không cần che đậy hành tung của một khách giang hồ chưa gặp vận:
Nghe lời vừa ý gật đầu,
Cười rằng: tri kỷ trước sau mấy người!
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già.
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung nghìn tứ ắt là có nhau. (2199-2204 )
Thúc sinh phải mất một thời gian dài mới chinh phục được Thúy Kiều, còn Từ Hải ngay trong buổi đầu đã tâm đầu ý hợp, bỏ tiền chuộc Thúy Kiều ra khỏi thanh lâu:
Ngỏ lời nói với băng nhân,
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
Buồng riêng sửa soạn thanh nhàn,
Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.(2207-10)
Từ Hải là người nông nổi, thiếu suy nghĩ. Chàng thích được người vuốt ve, nịnh bợ cho thỏa mãn cái tự ái, tự tôn của chàng. Chàng là người không sâu sắc, không khôn ngoan, chỉ là một kẻ ồn ào, ưa nịnh hót và ưa khoe khoang cho thỏa mãn cái anh hùng cá nhân của chàng. Bởi vậy sau này, nghe lời Kiều, chàng đầu hàng triều đình và bị chết thảm thương! Và tình của Thúy Kiều với Từ Hải cũng là một việc tính toán lợi hại cho bản thân nàng, cho nên Thúy Kiều đã mắc mưu Hồ Tôn Hiến. Nịnh và tham đưa đến kết quả thảm thương:
Nàng thời thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt, nghe lời dễ xiêu.
Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc, lại nhiều gain truân.
Bằng nay chịu tiếng vương thần,
Thênh thang đường cái, thanh vân hẹp gì.
Công tư vẹn cả đôi bề,
Dần dà rồi phải liệu về cố hương.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha ( 2471- 80)
Trong ba mối tình của Thúy Kiều, mối tình với Kim Trọng là sâu sắc, đậïm đà nhất. Khi phải bỏ gia đình theo Mã giám sinh, Kiều đã kêu tên chàng một cách thảm thiết:
Ối Kim Lang, hỡi Kim Lang,
Thôi thôi, thiếp đã phụ chàng từ đây!(755-56)
Ở lầu Ngưng Bích cô đơn, Thúy Kiều đã tưởng nhớ đến Kim Trọng:
Tưởng người duới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mài chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. (1039-42)
Khi ở lầu xanh, nàng cũng nhắc đến Kim Trọng và lời thề xưa:
Nhớ lời nguyện ước ba sinh,
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai? (1259-60 )
Khi lấy Từ Hải, Từ Hải ra đi theo tiếng gọi bốn phương trời, trong lòng Thúy Kiều cũng hiện lên hình ảnh Kim Trọng:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng. ( 2239-40)
Và nàng ân hận đã không trao cho chàng tấm băng trinh của nàng trước khi lăn lóc bụi trần:
Biết thân đến nước lạc loài,
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.( 791-92)
Trong ba mối tình, tình giữa Thúy Kiều và Kim Trọng là tình yêu chiêm ngưỡng, còn tình với Thúc sinh, Từ Hải là tì nh yêu có tính toán, và vị lợi. Nàng con người lý tưởng, nàng là gái giang hồ nhưng lại sống trong mộng tưởng, theo đuổi ái tình lý tưởng. Nàng không muốn tái hợp với Kim Trọng, mà chỉ giữ tình bạn, vì nhiều lý do. Yêu nhau là cho nhau, là dâng hiến. Nàng còn gì ngoài tấm thân ô uế đã nằm trong tay bao người đàn ông khác? Nếu Kim Trọng còn yêu nàng chẳng qua là chàng yêu một Thúy Kiều của quá khứ. Ngày sau, đối diện với nhau,với dư luận, với sự thực, sẽ còn những gì đẹp? Bản thân nàng đã hoen ố, nàng không muốn nàng và Kim Trọng phải đối diện với thực tế phũ phàng. Lại nữa, sau mười lăm năm lưu lạc, Kiều đã trên ba mươi, không còn son trẻ như thuở trước. Ngày xưa, người ta quan niệm phụ nữ ba mươi không còn nghĩ đến đường tình duyên nữa:
Trai ba mươi tuổi đang xoan,
Gái ba mươi tuổi lo toàn về già (ca dao )
Ngày xưa Lý phu nhân lúc gần mất, nhất định không cho Hán Vũ Đế gập mặt vì bà còn gì nữa đâu ngoài cái dung nhan tàn tạ của con người sắp lìa cõi thế! Thúy Kiều cũng vậy. Nàng muốn giữ mãi mối tình tươi thắm ngày xưa.Nhan sắc , danh tiết không còn nữa thì còn gì để yêu. Hoa đã quá mùa là hoa héo. Điều này chứng tỏ Thúy Kiều có ý chí, có lý trí và có lý tưởng:
Nàng rằng phận thiếp đã đành,
Có làm chi nữa, cái mình bỏ đi.
. . . . . . .
Cũng nhơ dở nhuốc bày trò,
Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi!
Người yêu ta xấu với người,
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau. (3145-58)
Thúy Kiều có ba tình yêu, nhưng chỉ có tình yêu Kim Trọng là mối tình đầu tươi đẹp và lâu dài nhất trong trái tim nàng. Tình yêu của nàng với ba người đàn ông vừa lãng mạn, vừa trần tục nhưng cũng rất lý tưởng. Đó là những khía cạnh sâu sắc trong tình yêu và con người Thúy Kiều.
====
NGUYỄN BÁCH KHOA PHÊ BÌNH NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU
*
Nguyễn Bách Khoa tên thật là Trương Tửu, quê ở Bồ Đề, tỉnh Bắc Ninh, là một vùng ngoai ô Gia Lâm, cách sân bay Gia Lâm một cây số, mẹ mất sơm, cha là một nhà nho. Nguyễn Bách Khoa không có anh em trai, chỉ có một người chị lấy chồng thợ bạc. Ông học hết tiểu học (1930), rồi vào trường Bách Nghệ Hải phòng, là một trường như trung học Kỹ Thuật Cao Thắng tại Sài gòn trước 1975. Ông học nghề tiện sau bỏ học đi làm báo, tự học, thích đọc Nguyễn Văn VĨnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh, tham gia đệ tứ quốc tế, bạn của Nguyễn Vỹ và Lê Văn Siêu, cộng tác với tạp chí Đông Tây của Hoàng Tích Chu, tuần báo Le Cygne ( Bạch Nga) của Nguyễn Vỹ, Loa, Phổ Thông BáÙn Nguyệt San, Tao Đàn ở Hà Nội. Ôâng lãnh đạo nhóm Hàn Thuyên , quy tụ các nhà văn đệ tứ, đệ tam quốc tế và không đảng phái như Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Hải Âu, Lương Đức Thiệp, Đặng Thai Mai, Nguyễn Tế MỸ, Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Nguyễn Đổng Chi, Đồ Phồn, Vy Huyền Đắc và Nguyễn Tuân. Ông đã viết nhiều tiểu thuyết, và nhiều sách phê bình văn học như Kinh Thi Việt Nam, Nguyễn CôÂng Trứ, mà dặc biệt là hai quyển Nguyễn Du và Truyện Kiều và Văn Chương Truyện Kiều
Ông vốn là một nhà Mac xit đệ tứ, nhưng sau 1945 ông theo cộng sản đệ tam phục vụ trong hàng ngũ cộng sản Việt Nam nên không bị giết như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu. Sau 1954, ông về Hà Nội, được làm giáo sư đại học, nhưng sau đó ông theo nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, bị đuổi ra khỏi đại học và chịu mọi thù hận khác của chủ nghĩa mà ông say mê tôn thờ. Ông phải sống bằng nghề đông y châm cứu tại số 53 Hàng Gà, Hà Nội, mất ngày 17-12-1999, thọ 86 tuổi. Trong thời gian này, ông chịu bao nhọc nhằn như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, tuy gian khổ mà đày tự hào, không van xin qùy lạy như Đào Duy Anh và những người khác. Ông là một tay phê bình văn học khét tiếng thời tiền chiến, đăc biệt là phê bình về Nguyễn Du và Truyện Kiều. VÌ vậy, ở đây, tôi muốn trình bày một vấn đề mà đã một thời làm chấn động văn học giới.
Đây là lần đầu tiên, một nhà nghiên cứu văn học áp dụng lý thuyết Mac xít vào việc nghiên cứu văn học Việt nam. Ông đồng thời với Đặng Thai Mai, cái khác biệt là họ Đặng nghiên cứu lý luận Mac xít trong van hoc, còn Nguyễn Bách Khoa phê bình tác giả và tác phẩm. Ông đi trước cả Trường Chinh và Tố Hữu trong việc phê bình theo đường lối Mác xit.
Trong khi phê bình Nguyễn Du và truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa xây dựng cơ sở trên lý luận Marxist, đề cập nhiều lãnh vực triết học, khoa học, kinh tế, xã hội và chính trị, nhưng ở đây, tôi chỉ chú trọng đến những gì liên quan đến Nguyễn Du và truyện Kiều., như là ba yếu tố chính của chủ nghĩa Marx: giai cấp, xã hội và duy vật biện chứng pháp.
Quyển Nguyễn Du và Truyện Kiều viết xong năm 1941, Hàn Thuyên xuất bản năm 1941, nhà xuất bản Thế giới , Hà NoÄi in lần thứ hai năm 1951, 243 trang khổ bỏ túi , nội dung phê bình Nguyễn Du. Quyển Văn Chương Truyện Kiều do Hàn Thuyên xuất bản 1942 , Thế Giới, Hà Nội, in lần thứ ba năm 1953, dày 166 trang khổ bỏ túi, chủ đích phê bình truỳện Kiều.. Trong cả hai quyển, nhất là quyển Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa mang hào khí ngất trời, tự hào rằng trên trời dưới đất chỉ riêng ông đã nắm trọn vẹn vũ khí triết học Marx để phê bình truyện KIều một cách khoa học, trong khi các hào kiệt đương thời như Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Dương Quảng Hàm. . . đều sai lầm , chẳng hiểu chất thơ là cái gì, nghệ sĩ là gì, nghệ thuật là gì, luân lý là gì (vìii,ix).
Ông viết:: 'Các lời phê bình Truyện Kiều từ trước đến nay tố cáo cái chủ quan lầm lẫn của các người phê bình hơn là giải thích cái tinh hoa của của tác phẩm bị phê bình (17).
I. GIAI CẤP.
Trong quyển Nguyễn Du và truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa nhắm đả kích ''đẳng cấp nho sĩ'' (14) , '' đẳng cấp văn thân''(22), ''đẳng cấp sĩ phu'' (29) của Nguyễn Du. Ông kết luận: '' Đẳng cấp Nguyễn Du điêu tàn, huyết tộc diêu tàn''(38). Và ''Truyện Thúy Kiều đã kết tinh được cá tính ấy một cách mỹ mãn cũng như nó đã kết tịnh được đẳng cấp tính Nguyễn Du và phản chiếu xã hội đương thời với Nguyễn Du'' (76)..
Mác gọi là giai cấp (class) còn Nguyễn Bách Khoa thì gọi là đẳng cấp. ( Chúng ta không rõ thâm ý của ông như thế nào). Lê Văn Siêu thì bảo là ông dùng đẳng cấp chứ không dùng giai cấp để qua mặt kiểm duyệt (Văn Hoc Thời Kháng Pháp ).
Trước Mác, giai cấp là một từ ngữ rất phổ biến nhưng rất mơ hồ. Tự điển Thanh Nghị ghi: ''Giai cấp là bậc thứ của con người trong xã hội''.
Trong Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh định nghĩa:''Hạng người trong xã hội (social classe)''.
Quyển Oxford Advanced' Learner's Dictionary của A.S. Hornby định nghĩa giai cấp ( class) là một nhóm người cùng địa vị xã hội vàkinh tế.
Định nghĩa này được coi là đúng nhất.
Trước đây, Nguyễn Công Trứ viết:
''Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên'. Liệt kê này cũng không rõ ràng. Sĩ nông công thương là bốn nghề, hay là bốn loại người, hay bốn giai cấp?
TạÏi Aán Độ, trước thời Phật ra đời đã có bốn giai cấp là Bà La môn ( giáo sĩ), quý tộc ( Sát Đế Lợi), bình dân (tỳ xá) và nô lệ ( Thủ Đà La) . Bà La môn và SÁt đế LợÏi là giai cấp thống trị còn tỳ xá và thủ đà la la giai cấp bị trị. Bốn giai cấp này không ngồi chung với nhau, và đời đời nối tiếp giai cấp của mình. Sự thật, bốn giai cấp này là do tín ngưỡng hoặc do truyền thống, vì những người giàu có và chức tước cao vẫn bị khinh miệt vì giai cấp thấp hèn. SưÏ cao thấp của giai cấp ở đây là do thiện quả hay ác báo của đời trước chứ không phải do tiền bạc, địa vị xã hội.
Tại Anh quốc, sau đệ nhị thế chiến nảy sinh nhiều giai cấp như là giai cấp thượng lưu, trung lưu và và hạ lưu, giai cấp thợ thuyền có kỹ xão, thợ thuyền không kỹ xão cùng giai cấp nông dân. Rồi còn hạng trẻ con lao động khoảng 14 tuổi, rời ghế nhà trường để mưu sinh, và trẻ con thượng lưu, được đi học, và vào đại học. Xe cộ, trường học, các rạp hát đều có những phân biệt giai cấp. Nhưng chính phủ Anh đã có những biện pháp làm giảm hố ngăn cách trong xã hội như là công bằng về y tế, giáo dục, thuế má. . .
Ngày nay, người ta chia ra tám giai cấp trong xã hội công nghiệp, và sau đây là bốn giai cấp đầu:
1. Thượng lưu bậc nhất:
Những giám đốc và nhân viên chuyên nghiệp, trong đó có các giám đốc, các nhân viên hành chánh và sĩ quan cao cấp quân đội và cảnh sát, các bác sĩ, giáo sư, luật sư. . .
2. Thượng lưu bậc hai
Gồm những người thuộc ngành nghề chuyên môn như y tá, ký giả, nghệ sĩ, nhạc sĩ, sĩ quan quân đội và cảnh sát bậc trung.
3. Nghề nghiệp trung gian: thư ký, tài xế xe vận tải.
4. Nhân viên thường: nông dân, nhà xuất bản, tài xế taxi, người lau cửa, thợ sơn, người trang trí nhà cửa. . .
Trong Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đã phân chia xã hội Việt Nam thành nhiều giai cấp: -phong kiến - tư sản - tiểu tư sản.(17)
Trong Kinh Thi Việt Nam, ông cho sĩ nông, công thương là bốn đẳng cấp (101). Chưa có một tài liệu nào cho biết có bao nhiêu tiền bạc thì gọi là tư sản, và tiểu tư sản. Tại Việt Nam, những người biï gọi là trí thức tiểu tư sản phần đông là người nghèo, và những người cha ông làm đại thần trong triều nhưng đến đời họ thì nghèo xác xơ. Vậy họ là giai cấp thống trị hay giai cấp bị trị?
Nói tóm lại, giai cấp, giàu, nghèo, xấu đẹp là những từ ngữ rất mơ hồ, phức tạp, chúng ta viết tiểu thuyết, làm thơ thì đuợc nhưng đem áp dụng vào chính trị để phân biệt bạn thù thì rất nguy hiểm, hoặc đem vào phê bình văn học lại càng sai lạc vì bản chất không rõ ràng của giai cấp. Chính Nguiyễn Bách Khoa đã lúng túng và lầm lẫn khi xếùp hạng tư sản và tiểu tư sản. Chẳng hạn ông xêp loại Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Triệu L:uật, Nguyễn Tường Tam . . . là tư sản (42), Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu. . . là tiểu tư sản (48). Chúng ta không hiểu ông căn cứ vào đâu để làm việc phân loại này? Trong giai cấp phong kiến, vua là giai cấp thống trị, bách quan là giai cấp bị trị. Trong một huyện, quan huyện là giai cấp thống trị, còn các thầy thừa thì thuộc giai cấp bị trị, nhưng khi ra ngoài quần chúng, các thầy đề lại là giai cấp thống trị. Người có một triệu thì giàu hơn người có mười vạn, nhưng người có một ngàn lại được coi là giàu hơn kẻ chỉ có một xu. Vậy ai giàu? Ai nghèo, ai tu sản, ai vô sản?
Hơn nữa, giai cấp nhiều khi chỉ là một hình ảnh, một danh từ, một lực lượng không thực. Marx đề cao giai cấp vô sản , giai cấp công nhân là lực lưọng cách mạng tiên tiến, là giai cấp lãnh đạo. Tại Việt Nam, trong thời kháng chiến, họ kêu gọi các công nhân, nông dân tham gia lực lượng chiến đấu. Những bác thợ mộc, thợ rèn, thợ hồ đều cho mình thuộc về giai cấp lãnh đạo cho nên rấùt phấn khởi đem thân tranh đấùu. Nhưng khi thành công, sắp lại cỗ bàn, mới biết mình chỉ là công nhân làm ăn cá thể. Theo Marx, chỉ những công nhân làm việc trong những nhà máy lớn của tư bản thì mới gọi là công nhân, là giai cấp công nhân, là giai cấp vô sản. Ngày trước, họ dùng những tên đầu trộm đuôi cươp như Trần Quốc Hoàn, nay thì những người như vậy được gọi là vô sản lưu manh, bị tống vào trại giam. Lenin cướp chính quyền tại Nga, lập nên đảng cộng sản nhưng tại Nga lúc này, giai cấp vô sản cũng không được là bao, đa số là nông dân. Tại Trung Hoa, Việt Nam giai cấp thợ thuyền rất ít, gần như là không có. Thành thử lực lượng vô sản là không có nhưng vì nhu cầu chính trị, người ta cứ hô hào giai cấp công nhân lãnh đạo, công nhân tiên tiến trong khi thực tế không có giai cấp công nhân hay rất ít công nhân thuộc hạng vô sản theo quan diểm củqa Marx. Giai cấp cốt cán là giai cấp vô sản đã không có thì giai cấp tư bản, tiểu tư sản đều là những danh từ không thực ở tại nhiểu quốùc gia. Mao Trạch Đông ngay thẳng và thông minh hơn HồÀ Chí Minh, đã cãi lại Marx và Lenin và cho rằng nông dân mới là lực lượng cách mạng.
Một khi đã không có giai cấp vô sản, giai cấp tư sản và tiểu tư sản thì những khái niệm ý thức hệ phong kiến, ý thức hệ tư sản , ý thức hệ tiểu tư sản là không có thực, là hồ đo, sáo rỗng, vô ý thức và mơ hồ khi áp dụng cho văn học Việt Nam , nhất là khi phê bình, nghiên cứu Nguyễn Du và truyện Kiều. Nguyễn Bách Khoa chỉ là con vẹt khi dùng các khái niệm ý thức hệ và đẳng cấp theo Marxism.
Marx đề cao giai cấp vô sản và hết sức ca tụng giai cấp này và kếtá tội tư bản là bóc lột. Giai câùp tiểu tư sản, phong kiến cũng bị đồng hóa là kẻ thù của vô sản.Vì thiếu công minh, vì thiên lệch chủ quan, Marx đã tổng quát hóa giai cấp . Tất cả mọi người thuộc giai cấp phong kiến, tư sản, tiểu tư sản là lạc hậu, phản động còn mọi người thuộc giai cấp vô sản là tiên tiến, là trí tuệ đỉnh cao.. Nhận định này đưa đến sự chôn sống tập thể nhân loại, và bỏ tù hàng ngàn, hàng vạn con người vô tội. Đây là một nhận định sai lầm vì rất nhiều trường hợp, cá nhân đóng một vai trò quan trọng, cá nhân không chịu trách nhiệm về các ''tội tổ tông''. Vì nhận định này, Nguyễn Bách Khoa đi đến việc kết tội giai cấp phong kiến, đẳng cấp quý tộc và con người Nguyễn Du đều xấu. Nguyễn Bách Khoa kết tội Nguyễn Du và đẳng cấp quý tộc lúc này''thờ vua thờ chúa, bỏ nước ghét dân'' (55) khi Nguyễn Khản diệt trừ kiêu binh, và một số trung thần nhà Lê trong đó có Nguyễn Du tôn phù Lê Chiêu Thống.Ông cho kiêu binh là nhân dân vậy thì khi dân chúng vây bắt kiêu binh, họ là nhân dân hay ai? Ông bênh vực Quang Trung, kết tội Nguyễn Du chống Tây sơn. Sự thực thì Quang Trung cũng như Nguyễn Nhạc khi lên ngôi vua là đã giã từ giai cấp nông dân và đã trở thành giai cấp phong kiến! Trong Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa cho rằng Nguyễn Du thuộc giai cấp thất bại, điều này cũng sai. Triều đại nào cũng có những thành công và thất bại. Ta không thể nói phong kiến đời Lê thất bại vì Lê LợÏi đã thành công trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, và các vua qua triều đại sau như Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên đã xây dựng một xã hội và một nền văn hóa tốp đẹp. Các triều đại sau suy đồi cũng là lẽ tất nhiên của quy luật thịnh suy bỉ thái, nhưng nhà Lê không bóc lột dân chúng, không gây ra cảnh núi xương sông máu như các triều đại ở thế kỷ XX.
Lại nữa, Nguyễn Du đã đứng trong triều Nguyễn, đứng về phe Gia Long nên không thể nói Nguyễn Du thất bại và giai cấp sĩ phu thất bại. Dù Nguyễn Du mang mặc cảm hàng thần lơ láo, so với nhiều người, ông vẫn là kẻ được ưu đãi. Vả lại ta không thể nói giai cấp quý tộc lúùc này thất bại, vì có ba lớp quý tộc, ba lớp sĩ phu. Lớp theo Tây sơn dĩ nhiên bị thất bại, bị tiêu diệt, nhưng dẫu sao họ đã chiến thắng quân Thái và quân Thanh. Và lớp cựu thần nhà Lê cũng đuợc tân chúa vỗ về, không vinh hoa phú quý thì cũng không bị hành hạ nhục nhã.Phe quý tộc theo Nguyễn Ánh tất nhiên là đại thắng lợi! Xã hội của vua Gia Long là một thành công về khai mở giang sơn miền Nam, là một vết son lớn trong lịch sử mà những tay Marxit vìõ thiên kiến đà phủ nhận, nhưng sau này người Nga đã hết sức ca tụng Nguyễn Ánh. ? Truyện Kiều ra đời vào triều Nguyễn thế mà Nguyễn Bách Khoa lại cứ cột vào triều Lê là một triều đại có nhiều biến cố để buộc tội Nguyễn Du và giai cấp quý tộc, kẻ thù giai cấp vô sản! Hơn nữa, Nguyễn Bách Khoa luôn nói đến ý thức hệ phong kiến, ý thức hệ tư sản, và ý thức hệ tiểu tư sản nhưng ý thức hệ đó chỉ là một mớ danh từ trống rỗng vì đẳng cấp nào thì cũng chỉ có hai con đường là yêu hay ghét truyện Kiều.
Nói tóm lại. Nguyễn Bách Khoa luôn tự hào là phương pháp khoa học nhưng sự thực phương pháp của ông chủ quan, thiên kiến, tuỳ tiện và không khoa học.
II. XÃ HỘI
Người cộng sản quan niệm con người là sản phẩm của xã hội. Nguyễn Bách Khoa viết: '' Cái gọi là bản thể của con người chỉ là nhữngản vật của những tương quan xã hội (69).
Nguyễn Bách Khoa cũng như những nhà Marxist cho rằng xã hội ảnh hưởng đến cá nhân con người. Ông viết: ''tất cả tình cảm, tư tưởng năng khiếu sáng tác của cá nhân đều do xã hội, do đẳng cấp cung cho cả'' (162). Và dù tài năng xuất chúng đến đâu, một nghệ sĩ cũng không vượt ra ngoài được thời đại (162). Từ đó, họ kết tội những ai sống trong xã hội phong kiến, tư bản đều là những con người xấu là kẻ thù của giai cấp vô sản. Nguyễn Du thuộc đẳng cấp sĩ phu cho nên Nguyễn Bách Khoa chê bai ông đủ điểu. Có rất nhiều vấn đề về quan điểm này.
Chúng ta cũng đồng ý xã hội có ảnh hưởng đến con người nhưng đôi khi con người tạo ra xã hội, chính anh hùng tạo thời cuộc. Chính các nhà tư tưởng như J.J Rousseau, Montesquieu tạo ra cách mạng Pháp 1789 và xây dựng thể chế dân chủ tại nhiều nước. Chính Marx, Engels, Lenin tạo ra chủ nghĩa cộng sản và đem lại khủng bố và chết chóc cho toàn cầu.
Con người thoát khỏi cái vỏ giai cấp của mình và vượt ra ngoài thời đại và giai cấp của mình. Marx, Engels, Lenin, Mao Trạch Đông , Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp xuất thân giai cấp tư bản và phong kiến đã theo chủ nghĩa cộng sản. Con người là vật thể xã hội, mang tính xã hội nhưng nó cũng mang đặc tính cá nhân, nhất là trong sinh hoạt văn học nghệ thuật. Chính cái cá nhân này đưa tới hứng khởi và óc sáng tạo trong khi tập thể hay xã hội bóp nghẹt sáng tạo. Trong văn nghệ Việt Nam, Nhất Linh khác Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng khác Nguyễn CÔng Hoan, Xuân Diệu khác Quách Tấn, Trần Dần khác Tố HữÕu. Trong chính trị cũng vậy. Trostky khác Stalin; Đặng Tiểu Bình, Chu An Lai khác Mao Trạch Đông
Nếu cho rằng thiên tài do xã hội cống hiến thì tại sao xã hội có nhiều người mà một mình Nguyễn Du thành công về truyện Kiều?
Hơn nữa, con người có tự do, có tinh thần độc lập và tư chất riêng, không liên hệ đến đẳng cấp hay xã hội. Và xã hội là một thực trạng đa nguyên, không thể lấy cái áo xã hội, tôn giáo, đẳng cấp để đánh giá một người hay một tập thể. Trong hàng vạn sĩ phu ở thế kỷ 19, tại sao một mình Nguyễn Du nổi bật một văn tài mà Truyện Kiều là một tuyệt tác qua bao thế hệ? Không thể bảo giai cấp phong kiến của triều Nguyễn đầu hàng, bán nước vì Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân đã anh dũng chiến đấu. Trong khi hàng triệu tư bản lo làm giàu, tại sao Marx, Engels lại ủng hộ giai cấp vô sản? Như vậy có phải việc kết tội toàn thể phong kiến, tư bản là một điên rồ, tàn bạo hay không? Như vậy việc dùng đẳng cấp để phê phán Nguyễn Du là một sai lầm, dùng quan điểm xã hội để bêu xấu con người cũng là một điều quá đáng..
Tuy nhiên, trong lý luận, đôi khi ông mâu thuẫn, ông cho rằng cá nhân cũng có những yếu tố quyết định. Trong công trình sáng tác nghệ thuật ,ông đề cập đến bốn nguyên nhân chính mà trong đó có hệ thống biểu tưộng của xã hội và cá thể tâm lý của nghệ sĩ (110).. Ông cũng nói đến'' biệt tài của cá nhân nghệ sĩ ''(114) trong việc hình thành tác phẩm. Như vậy, những quan điểm xã hội, giai cấp nhiều khi chỉ là phù phiếm, là dao to búa lớn không cần thiết.
Một điều đáng nêu lên là các nhà phê bình Marxistø cho rằng văn chương phản ánh xã hội, họ luôn dùng tác phẩm để chứng minh xã hội phong kiến và tư bản là thối nát, suy tàn, phải nhường chỗ cho chủ nghĩa cộng sản,. Sự thực văn chương là một tác phẩm tưiởng tượng, không phải là những trang sử có giá trị. Những hình ảnh trong phim cowboys là tưởng tượng, không phải xã hội Mỹ là bắn giết như thế. Không thể đem những truyện gã bán tơ, quan huyện tham ô, và đem truyện Thúc sinh chơi bời, và các ổ nhền nhện của Tú Bà, Bạc Bà để cho rằng triều Lê, triều Nguyễn phong kiến thối nát. Mặt khác, nhiều khi xã hội và chính trị hoàn toàn khác nhau. Xã hội nào mà chẳng có tham ô, hủ hóa, trộm cướp và mãi dâm? Nước Mỹ hùng mạnh nhất thế giới nhưng vẫn có nhiều tệ nạn xã hội. Không phải vì những vụ bắt cóc, giết người và hãm hiếp mà mà bảo nước Mỹ đang dẫy chết!
III. BIỆN CHỨNG PHÁP
Trong Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đề cao Biện Chứng Pháp, cho rằng đây là phương pháp tuyệt diệu để phân tích, phê bình văn học.
''Những việc mổ xẻ, giải thích, phân tích ấy, ta chỉ có thể làm được mỹ mãn. . . khi nào ta lĩnh hội và khéo biết áp dụng biện chứng pháp duy vật. Chỉ có dùng biện chứng pháp duy vật mới có thể hiểu được chất thơ kia,thưởng thức được cái đẹp kia, cảm thông được linh hồn kia đánh giá được thiên tài kia (83).
Ông khẳng định:
Không công nhận những kết quả rực rỡ của khoa học hiện tại , không tán thành và áp dụng biện chứng pháp duy vật, cứ khư khư cố chấp ôm lấy những quan niệm đã lỗi thời về linh hồn, về thiên tài về cái đẹp, về nghệ thuật: đó là thái độ của những người phản động (81).
Thực ra biện chứng pháp (dialectic) chỉ là một trong những phương pháp lý luận, phương pháp tìm hiểu và thử nghiệm chân lý . Biện chứng pháp có từ thời Socrate. qua Hégel rồi đến Marx. Marx đặt tên cho môn lý luận của ông là Duy vật biện chứng pháp (dialectical matérialism) . Thuyết này cho rằng các sự kiện chính trị và lịch sử sinh ra là do những mâu thuẫn của các lực lượng xã hội tạo ra bởi nhu cầu của con người.
Phan Văn Hùm trước đây đã viết về biện chừng pháp, ông đem thí dụï quả trứng và hạt thóc để nói về sự diễn biến của các vật trong quá trình hình thành. Nhưng quả trứng và hạt thóc thì quá trình phát triển và chu kỳ hoạt động của nó quá rõ rệt, còn hiện tượng xã hội và chính trị thì không như thế. Nếu biện chứng pháp quả thần sầu quỷ khốc như lời quảng cáo, Marx đã không thất bại khi nhận định:
-tư bản đang dẫy chết, giai cấp vô sản đào mồ chôn tư bản. Sự thật nay cộng sản đã chết và một số đang tồn tại bằng đồng tiền tư bản.
-Xã hội cộng sản giàu mạnh gấp mười tư bản. Sự thật nơi nào có cộng sản là mất tự do và nghèo đói.
-Xã hội chủ nghĩa thành công ở Đứùc và phát triển toàn thế giới. Sự thức nước Nga là một nước kỹ nghệ lạc hậu đã làm bá chủ thế giới cộng sản, và cộng sản chỉ mạnh ở các nước thuộc địa và nghèo.
Biện chứng pháp đã chứng tỏ nhiều sai lầm khủng khiếp, e còn tệ hơn những môn tử vi, chỉ tay hay nhân tướng học. Môn bói toán chỉ làm cho chủ nhân mất vài trăm bạc Việt Nam hay một con gà trong khi biện chứng pháp và triết học Marx gây ra sông máu núi xương .
Marx lại cho rằng xã hội mới tốt hơn xã hội cũ nhưng thực tế xã hội cũ nhiều khi lại tốt hơn xã hội mới, và cái mới không thay thế cái cũ, trái lại cái mới non yểu, chết trước cái cũ. Xã hội và cuộc đời là những sự kế tiếp không ngừng. Xã hội đi trước đặt nền tảng cho xã hội sau. Hégel đặt nền tảng cho Marx, và Marx thừa kế Hégel chứ không hủy diệt Hégel. Không phải tư bản giết phong kiến, và cộng sản chôn sống tư bản như Marx nhận định. Tư bản ra đời từ phong kiến vì tiền bạc, vốn liếng và khoa học của buổi đầu tư bản là của những nhà giàu của chế độ phong kiến. Chính con cái của những tư bản hoặc phong kiến đã tạo ra cộng sản còn giai cấp công nhân không có một vai trò tích cực trong lịch sử ngoại trừ việc cầm súng và xông vào chỗ chết. Các giai cấp ra đời không phải là điều tất yếu vì trong khi cộng sản dấy lên và chinh phục một nửa thế giới, phong kiến và tư bản vẫn tồn tại. Phong kiến không ngăn cản sự phát triển của tư bản vì tại Anh quốc và Nhật bản, chế độ dân chủ vẫn còn và hai nước vẫn là hai quốc gia tư bản hùng mạnh. Vậy chúng ta không cần phải mạt sát phong kiến, kết tội đẳng cấp quan lại, phong kiến hay sĩ phu của Nguyễn Du.
Quan điểm giai cấp đấu tranh chỉ tạo thêm hận thù, nghèo đói và mất tự do.. Truyện Kiều được quần chúng ưa thích vì Nguyễn Du là một thiên tài đã sáng tác nên những vần thơ trác tuyệt làm rung động lòng người. Giai cấp có ảnh hưởng đến thiên tài nhưng cũng có thể là không vì giai cấp quý tộc và sĩ phu thì rất nhiều nhưng có mấy Nguyễn Du. Mỗi khoa học có một phương pháp riêng. Đừng đem thuật lãnh đạo chính trị vào văn học. Đừng muợn oai hùm của khoa học mà run nhát khỉ. Đừng cao ngạo mà cho rằng ta có thể đặt ra nguyên tắc, định luật cho mọi khoa học! Nguyễn Bách Khoa cổ võ cho thuyết Mac xit và duy vật biện chứng pháp nhưng khi áp dụng vào văn học, ông đã thất bại.
Nguyễn Bách Khoa nói vòng vo, lý thuyết ồn ào mà thực tế ông nói rất ít về văn chương truyện Kiều. Quyển Văn Chương Truyện KIều dày 166 trang nhưng chỉ ở phần thứ ba gồm 40 trang cuối mới thực sự nói đến văn chương truyện Kiều.
Bàn về cái hay của truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa viết: ''Truyện Kiều là một ấn tượng.đậm đà về sựï bị thua.''(129), .. . Một xã hội như thế, một đẳng cấp như thế,. . .cũng ký sinh, cũng thất bại, cũng đầu hàng chế độ, cũng hận mênh mông, sầu mênh mông- làm gì mà không sản ra được một tập thơ như tập Đoạn Trường Tân Thanh (145)
Bàn về chất thơ, trong Văn Chương Truyện Kiều, ông cũng cho rằng thơ Kiều hay là do giai cấp phong kiến là suy đồi, buồn thảm. Ông viết:
''Tóm lại, chất thơ là ý thức kết tinh của một cơ cấu sinh lý và tâm lý đang ở vào trạng huống suy đồi. noÙ là sự trầm muộn thê thảm (87)
Điều này cũng nói lên một Nguyễn Bách Khoa lúng túng. Té ra xã hội xấu xa lại đẻ ra những tuyệt phẩm hay sao? Nguyễn Bách Khoa cũng không giải thích tại sao một xã hội thật bại, suy đồi, trầm buồn lại sinh ra những tác phẩm có giá tri?
Nguyễn Bách Khoa lại mâu thuẫn khi nói về thơ Đọan Trường Tân Thanh. Ông cho rằng cái hay của Kiều chính là lục bát, nhưng ông lại bảo rằng '' ta phải nhận thấy ngay cái cốt cách ốm yếu của nó. . . Đoạn thơ lục bát nào tuyệt diệu là đoạn thơ tiếng bằng hơn hẳn tiếng trắc một dầu một với. Câu thơ lục bát nào mà du dương thánh thót ấy là tiếng bằng đã uy hiếp hẳn tiếng trắc - nếu không phải là quân bình (154). Nhận định này cho thấy Nguyễn Bách Khoa chẳng hiểu gì về thơ và âm nhạc. Các thi sĩ không dùng nhiều vần trắc vì sợ khổ độc. Hơn nữa, trong quyển Kinh Thi Việt Nam, ông viết:'' Hẳn ai cũng thừa biết cái điệu thơ thích dụng nhất cho người Việt Nam ta là lối lục bát. Lối này được coi như hình thức thi ca thiên bẩm riêng của dân Việt Nam đã có sẵn từ khi lập quốc ( 212). Điều này cho thấy Nguyễn Bách Khoa lúc muốn đề cao nông dân thì ca tụng ca dao là tài hoa, hào hùng, lúc muốn kết tội thi sĩ tư sản hay phong kiến thì cho rằng lục bát lãng mạn, yếu kém, ru ngủ, rên rỉ. . .
Nếu cho rằng truyện Kiều là sản phẩm của xã hội phong kiến thất bại, thối nát tại sao lại được đa số quần chúng yêu thích? Còn nói truyện Kiều hay là nhờ thể diệu lục bát nhưng nhiều tác giả làm thơ lục bát mà không hay bằng Kiều như các truyện Hoàng Trừu, Lý Công Cúc Hoa, Phạm Công Cuc Hoa, Thạch Sanh Lý Thông?
Ông cho rằng có ba yếu tố cấu thành giá trị truyện Kiều:
-một ấn tượng đậm đà về sự thua thiệt (129).Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải là những con người thua thiệt.
-Buổi chiều và đêm trăng là hai bề dọc và bề ngang của thế giới truyện Kiều (136).
-Thất bại và sầu oán là chất sống thâm thiết của những cuộc đời ''đêm trăng ấy'' (139).
Ba yếu tố mà ông nêu lên thực ra chỉ là hai vì sự thất bại và đêm trăng đã được trình bày trong hai điều trước..
Ông có nhiều sai lầm và thiếu sót. Điều thứ nhất, ông không giải thích tại sao sự thua thiệt, sự sầu oán lại tạo ra cái hay cho truyện Kiều? Tại sao giai cấp phong kiến, đẳng cấp nho sĩ thất bại, trầm buồn lại tạo ra kiệt tác Đoạn Trường Tân Thanh? Tai sao buổi chiều và đem trăng lại tạo ra cái đẹp của truyện Kiều?
Ông sai lầm khi cho rằng truyện Kiều hay đẹp là do lục bát vì có nhiều người làm lục bát rất dở. Hơn nữa, lục bát chỉ là hình thức chứ không phải chất thơ như ông đã nêu lên là phải đi tìm chất thơ, và cái hay, cái đẹp của thơ. Hơn nữa, sự giải thích về tả cảnh, tả tình, tả người, dùng chữ, dùng điển của Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh (60-62 ) sâu hơn là cách trả lời qua loa của ông về hình thức lục bát.
Ông chỉ trích thuyết 'tài mệnh tương đố' (57) nhưng thuyết này cũng có mục đích giải thích về sự thua thiệt. Họ có khác gì ông đâu, chỉ khác nhau là thuyết tài mệnh tương đố mang màu sắc duy tâm, khác với chủ trương duy vật!
Trong khi ông khi ngợi về buổi chiều và ánh trăng của truyện Kiều thì Đào Duiy Anh, Trần Trọng Kim cũng ca ngợi nghệ thuật tả cảnh, tả tình của Nguyễn Du. Ông cũng như họ chứ có gì nổi bật hơn đâu! Việc ông làm chỉ ồn ào về lý thuyết t màphần nội dung thì quá đơn sơ và nghèo nàn.
Trước đây, Vũ Ngọc Phan phê bình Truơng
Tửu rất đúng:
Trương Tửu phê bình tỈ mỈ kỹ càng, nhưng phầøn nhiều ông nhận xét không đúng. Sự sai lầm này do ở ông dùng những lời to tát quá để phát biểu ý kiến về những cái hết sức nhỏtrong một quyển sách. Có thể nói ông dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà! Trương TưÛu phê bình theo một thiên kiến, nên ông không công bình. Ông đã từng khen những văn sĩ trong Tự Lực VĂn Đoàn bằng những chữ' rất lớn' trong báo Loa, rồi bây giờ theo một khuynh hướng chính trị của ông lại dìm họ xuống đất đen, bảo họ đã' tạo ra một loạt thiếu niên nam nữ trụy lạc từ thể chất đến linh hồn (NVHD III,1126)
Dẫu sao, công trình của Nguyễn Bách Khoa đã nhắc cho ta những điều phi lý và hàm hồ của một giai đoạn lịch sử cuồng điên.
====
Nguyễn Bách Khoa tên thật là Trương Tửu, quê ở Bồ Đề, tỉnh Bắc Ninh, là một vùng ngoai ô Gia Lâm, cách sân bay Gia Lâm một cây số, mẹ mất sơm, cha là một nhà nho. Nguyễn Bách Khoa không có anh em trai, chỉ có một người chị lấy chồng thợ bạc. Ông học hết tiểu học (1930), rồi vào trường Bách Nghệ Hải phòng, là một trường như trung học Kỹ Thuật Cao Thắng tại Sài gòn trước 1975. Ông học nghề tiện sau bỏ học đi làm báo, tự học, thích đọc Nguyễn Văn VĨnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh, tham gia đệ tứ quốc tế, bạn của Nguyễn Vỹ và Lê Văn Siêu, cộng tác với tạp chí Đông Tây của Hoàng Tích Chu, tuần báo Le Cygne ( Bạch Nga) của Nguyễn Vỹ, Loa, Phổ Thông BáÙn Nguyệt San, Tao Đàn ở Hà Nội. Ôâng lãnh đạo nhóm Hàn Thuyên , quy tụ các nhà văn đệ tứ, đệ tam quốc tế và không đảng phái như Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Hải Âu, Lương Đức Thiệp, Đặng Thai Mai, Nguyễn Tế MỸ, Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Nguyễn Đổng Chi, Đồ Phồn, Vy Huyền Đắc và Nguyễn Tuân. Ông đã viết nhiều tiểu thuyết, và nhiều sách phê bình văn học như Kinh Thi Việt Nam, Nguyễn CôÂng Trứ, mà dặc biệt là hai quyển Nguyễn Du và Truyện Kiều và Văn Chương Truyện Kiều
Ông vốn là một nhà Mac xit đệ tứ, nhưng sau 1945 ông theo cộng sản đệ tam phục vụ trong hàng ngũ cộng sản Việt Nam nên không bị giết như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu. Sau 1954, ông về Hà Nội, được làm giáo sư đại học, nhưng sau đó ông theo nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, bị đuổi ra khỏi đại học và chịu mọi thù hận khác của chủ nghĩa mà ông say mê tôn thờ. Ông phải sống bằng nghề đông y châm cứu tại số 53 Hàng Gà, Hà Nội, mất ngày 17-12-1999, thọ 86 tuổi. Trong thời gian này, ông chịu bao nhọc nhằn như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, tuy gian khổ mà đày tự hào, không van xin qùy lạy như Đào Duy Anh và những người khác. Ông là một tay phê bình văn học khét tiếng thời tiền chiến, đăc biệt là phê bình về Nguyễn Du và Truyện Kiều. VÌ vậy, ở đây, tôi muốn trình bày một vấn đề mà đã một thời làm chấn động văn học giới.
Đây là lần đầu tiên, một nhà nghiên cứu văn học áp dụng lý thuyết Mac xít vào việc nghiên cứu văn học Việt nam. Ông đồng thời với Đặng Thai Mai, cái khác biệt là họ Đặng nghiên cứu lý luận Mac xít trong van hoc, còn Nguyễn Bách Khoa phê bình tác giả và tác phẩm. Ông đi trước cả Trường Chinh và Tố Hữu trong việc phê bình theo đường lối Mác xit.
Trong khi phê bình Nguyễn Du và truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa xây dựng cơ sở trên lý luận Marxist, đề cập nhiều lãnh vực triết học, khoa học, kinh tế, xã hội và chính trị, nhưng ở đây, tôi chỉ chú trọng đến những gì liên quan đến Nguyễn Du và truyện Kiều., như là ba yếu tố chính của chủ nghĩa Marx: giai cấp, xã hội và duy vật biện chứng pháp.
Quyển Nguyễn Du và Truyện Kiều viết xong năm 1941, Hàn Thuyên xuất bản năm 1941, nhà xuất bản Thế giới , Hà NoÄi in lần thứ hai năm 1951, 243 trang khổ bỏ túi , nội dung phê bình Nguyễn Du. Quyển Văn Chương Truyện Kiều do Hàn Thuyên xuất bản 1942 , Thế Giới, Hà Nội, in lần thứ ba năm 1953, dày 166 trang khổ bỏ túi, chủ đích phê bình truỳện Kiều.. Trong cả hai quyển, nhất là quyển Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa mang hào khí ngất trời, tự hào rằng trên trời dưới đất chỉ riêng ông đã nắm trọn vẹn vũ khí triết học Marx để phê bình truyện KIều một cách khoa học, trong khi các hào kiệt đương thời như Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Dương Quảng Hàm. . . đều sai lầm , chẳng hiểu chất thơ là cái gì, nghệ sĩ là gì, nghệ thuật là gì, luân lý là gì (vìii,ix).
Ông viết:: 'Các lời phê bình Truyện Kiều từ trước đến nay tố cáo cái chủ quan lầm lẫn của các người phê bình hơn là giải thích cái tinh hoa của của tác phẩm bị phê bình (17).
I. GIAI CẤP.
Trong quyển Nguyễn Du và truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa nhắm đả kích ''đẳng cấp nho sĩ'' (14) , '' đẳng cấp văn thân''(22), ''đẳng cấp sĩ phu'' (29) của Nguyễn Du. Ông kết luận: '' Đẳng cấp Nguyễn Du điêu tàn, huyết tộc diêu tàn''(38). Và ''Truyện Thúy Kiều đã kết tinh được cá tính ấy một cách mỹ mãn cũng như nó đã kết tịnh được đẳng cấp tính Nguyễn Du và phản chiếu xã hội đương thời với Nguyễn Du'' (76)..
Mác gọi là giai cấp (class) còn Nguyễn Bách Khoa thì gọi là đẳng cấp. ( Chúng ta không rõ thâm ý của ông như thế nào). Lê Văn Siêu thì bảo là ông dùng đẳng cấp chứ không dùng giai cấp để qua mặt kiểm duyệt (Văn Hoc Thời Kháng Pháp ).
Trước Mác, giai cấp là một từ ngữ rất phổ biến nhưng rất mơ hồ. Tự điển Thanh Nghị ghi: ''Giai cấp là bậc thứ của con người trong xã hội''.
Trong Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh định nghĩa:''Hạng người trong xã hội (social classe)''.
Quyển Oxford Advanced' Learner's Dictionary của A.S. Hornby định nghĩa giai cấp ( class) là một nhóm người cùng địa vị xã hội vàkinh tế.
Định nghĩa này được coi là đúng nhất.
Trước đây, Nguyễn Công Trứ viết:
''Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên'. Liệt kê này cũng không rõ ràng. Sĩ nông công thương là bốn nghề, hay là bốn loại người, hay bốn giai cấp?
TạÏi Aán Độ, trước thời Phật ra đời đã có bốn giai cấp là Bà La môn ( giáo sĩ), quý tộc ( Sát Đế Lợi), bình dân (tỳ xá) và nô lệ ( Thủ Đà La) . Bà La môn và SÁt đế LợÏi là giai cấp thống trị còn tỳ xá và thủ đà la la giai cấp bị trị. Bốn giai cấp này không ngồi chung với nhau, và đời đời nối tiếp giai cấp của mình. Sự thật, bốn giai cấp này là do tín ngưỡng hoặc do truyền thống, vì những người giàu có và chức tước cao vẫn bị khinh miệt vì giai cấp thấp hèn. SưÏ cao thấp của giai cấp ở đây là do thiện quả hay ác báo của đời trước chứ không phải do tiền bạc, địa vị xã hội.
Tại Anh quốc, sau đệ nhị thế chiến nảy sinh nhiều giai cấp như là giai cấp thượng lưu, trung lưu và và hạ lưu, giai cấp thợ thuyền có kỹ xão, thợ thuyền không kỹ xão cùng giai cấp nông dân. Rồi còn hạng trẻ con lao động khoảng 14 tuổi, rời ghế nhà trường để mưu sinh, và trẻ con thượng lưu, được đi học, và vào đại học. Xe cộ, trường học, các rạp hát đều có những phân biệt giai cấp. Nhưng chính phủ Anh đã có những biện pháp làm giảm hố ngăn cách trong xã hội như là công bằng về y tế, giáo dục, thuế má. . .
Ngày nay, người ta chia ra tám giai cấp trong xã hội công nghiệp, và sau đây là bốn giai cấp đầu:
1. Thượng lưu bậc nhất:
Những giám đốc và nhân viên chuyên nghiệp, trong đó có các giám đốc, các nhân viên hành chánh và sĩ quan cao cấp quân đội và cảnh sát, các bác sĩ, giáo sư, luật sư. . .
2. Thượng lưu bậc hai
Gồm những người thuộc ngành nghề chuyên môn như y tá, ký giả, nghệ sĩ, nhạc sĩ, sĩ quan quân đội và cảnh sát bậc trung.
3. Nghề nghiệp trung gian: thư ký, tài xế xe vận tải.
4. Nhân viên thường: nông dân, nhà xuất bản, tài xế taxi, người lau cửa, thợ sơn, người trang trí nhà cửa. . .
Trong Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đã phân chia xã hội Việt Nam thành nhiều giai cấp: -phong kiến - tư sản - tiểu tư sản.(17)
Trong Kinh Thi Việt Nam, ông cho sĩ nông, công thương là bốn đẳng cấp (101). Chưa có một tài liệu nào cho biết có bao nhiêu tiền bạc thì gọi là tư sản, và tiểu tư sản. Tại Việt Nam, những người biï gọi là trí thức tiểu tư sản phần đông là người nghèo, và những người cha ông làm đại thần trong triều nhưng đến đời họ thì nghèo xác xơ. Vậy họ là giai cấp thống trị hay giai cấp bị trị?
Nói tóm lại, giai cấp, giàu, nghèo, xấu đẹp là những từ ngữ rất mơ hồ, phức tạp, chúng ta viết tiểu thuyết, làm thơ thì đuợc nhưng đem áp dụng vào chính trị để phân biệt bạn thù thì rất nguy hiểm, hoặc đem vào phê bình văn học lại càng sai lạc vì bản chất không rõ ràng của giai cấp. Chính Nguiyễn Bách Khoa đã lúng túng và lầm lẫn khi xếùp hạng tư sản và tiểu tư sản. Chẳng hạn ông xêp loại Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Triệu L:uật, Nguyễn Tường Tam . . . là tư sản (42), Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu. . . là tiểu tư sản (48). Chúng ta không hiểu ông căn cứ vào đâu để làm việc phân loại này? Trong giai cấp phong kiến, vua là giai cấp thống trị, bách quan là giai cấp bị trị. Trong một huyện, quan huyện là giai cấp thống trị, còn các thầy thừa thì thuộc giai cấp bị trị, nhưng khi ra ngoài quần chúng, các thầy đề lại là giai cấp thống trị. Người có một triệu thì giàu hơn người có mười vạn, nhưng người có một ngàn lại được coi là giàu hơn kẻ chỉ có một xu. Vậy ai giàu? Ai nghèo, ai tu sản, ai vô sản?
Hơn nữa, giai cấp nhiều khi chỉ là một hình ảnh, một danh từ, một lực lượng không thực. Marx đề cao giai cấp vô sản , giai cấp công nhân là lực lưọng cách mạng tiên tiến, là giai cấp lãnh đạo. Tại Việt Nam, trong thời kháng chiến, họ kêu gọi các công nhân, nông dân tham gia lực lượng chiến đấu. Những bác thợ mộc, thợ rèn, thợ hồ đều cho mình thuộc về giai cấp lãnh đạo cho nên rấùt phấn khởi đem thân tranh đấùu. Nhưng khi thành công, sắp lại cỗ bàn, mới biết mình chỉ là công nhân làm ăn cá thể. Theo Marx, chỉ những công nhân làm việc trong những nhà máy lớn của tư bản thì mới gọi là công nhân, là giai cấp công nhân, là giai cấp vô sản. Ngày trước, họ dùng những tên đầu trộm đuôi cươp như Trần Quốc Hoàn, nay thì những người như vậy được gọi là vô sản lưu manh, bị tống vào trại giam. Lenin cướp chính quyền tại Nga, lập nên đảng cộng sản nhưng tại Nga lúc này, giai cấp vô sản cũng không được là bao, đa số là nông dân. Tại Trung Hoa, Việt Nam giai cấp thợ thuyền rất ít, gần như là không có. Thành thử lực lượng vô sản là không có nhưng vì nhu cầu chính trị, người ta cứ hô hào giai cấp công nhân lãnh đạo, công nhân tiên tiến trong khi thực tế không có giai cấp công nhân hay rất ít công nhân thuộc hạng vô sản theo quan diểm củqa Marx. Giai cấp cốt cán là giai cấp vô sản đã không có thì giai cấp tư bản, tiểu tư sản đều là những danh từ không thực ở tại nhiểu quốùc gia. Mao Trạch Đông ngay thẳng và thông minh hơn HồÀ Chí Minh, đã cãi lại Marx và Lenin và cho rằng nông dân mới là lực lượng cách mạng.
Một khi đã không có giai cấp vô sản, giai cấp tư sản và tiểu tư sản thì những khái niệm ý thức hệ phong kiến, ý thức hệ tư sản , ý thức hệ tiểu tư sản là không có thực, là hồ đo, sáo rỗng, vô ý thức và mơ hồ khi áp dụng cho văn học Việt Nam , nhất là khi phê bình, nghiên cứu Nguyễn Du và truyện Kiều. Nguyễn Bách Khoa chỉ là con vẹt khi dùng các khái niệm ý thức hệ và đẳng cấp theo Marxism.
Marx đề cao giai cấp vô sản và hết sức ca tụng giai cấp này và kếtá tội tư bản là bóc lột. Giai câùp tiểu tư sản, phong kiến cũng bị đồng hóa là kẻ thù của vô sản.Vì thiếu công minh, vì thiên lệch chủ quan, Marx đã tổng quát hóa giai cấp . Tất cả mọi người thuộc giai cấp phong kiến, tư sản, tiểu tư sản là lạc hậu, phản động còn mọi người thuộc giai cấp vô sản là tiên tiến, là trí tuệ đỉnh cao.. Nhận định này đưa đến sự chôn sống tập thể nhân loại, và bỏ tù hàng ngàn, hàng vạn con người vô tội. Đây là một nhận định sai lầm vì rất nhiều trường hợp, cá nhân đóng một vai trò quan trọng, cá nhân không chịu trách nhiệm về các ''tội tổ tông''. Vì nhận định này, Nguyễn Bách Khoa đi đến việc kết tội giai cấp phong kiến, đẳng cấp quý tộc và con người Nguyễn Du đều xấu. Nguyễn Bách Khoa kết tội Nguyễn Du và đẳng cấp quý tộc lúc này''thờ vua thờ chúa, bỏ nước ghét dân'' (55) khi Nguyễn Khản diệt trừ kiêu binh, và một số trung thần nhà Lê trong đó có Nguyễn Du tôn phù Lê Chiêu Thống.Ông cho kiêu binh là nhân dân vậy thì khi dân chúng vây bắt kiêu binh, họ là nhân dân hay ai? Ông bênh vực Quang Trung, kết tội Nguyễn Du chống Tây sơn. Sự thực thì Quang Trung cũng như Nguyễn Nhạc khi lên ngôi vua là đã giã từ giai cấp nông dân và đã trở thành giai cấp phong kiến! Trong Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa cho rằng Nguyễn Du thuộc giai cấp thất bại, điều này cũng sai. Triều đại nào cũng có những thành công và thất bại. Ta không thể nói phong kiến đời Lê thất bại vì Lê LợÏi đã thành công trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, và các vua qua triều đại sau như Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên đã xây dựng một xã hội và một nền văn hóa tốp đẹp. Các triều đại sau suy đồi cũng là lẽ tất nhiên của quy luật thịnh suy bỉ thái, nhưng nhà Lê không bóc lột dân chúng, không gây ra cảnh núi xương sông máu như các triều đại ở thế kỷ XX.
Lại nữa, Nguyễn Du đã đứng trong triều Nguyễn, đứng về phe Gia Long nên không thể nói Nguyễn Du thất bại và giai cấp sĩ phu thất bại. Dù Nguyễn Du mang mặc cảm hàng thần lơ láo, so với nhiều người, ông vẫn là kẻ được ưu đãi. Vả lại ta không thể nói giai cấp quý tộc lúùc này thất bại, vì có ba lớp quý tộc, ba lớp sĩ phu. Lớp theo Tây sơn dĩ nhiên bị thất bại, bị tiêu diệt, nhưng dẫu sao họ đã chiến thắng quân Thái và quân Thanh. Và lớp cựu thần nhà Lê cũng đuợc tân chúa vỗ về, không vinh hoa phú quý thì cũng không bị hành hạ nhục nhã.Phe quý tộc theo Nguyễn Ánh tất nhiên là đại thắng lợi! Xã hội của vua Gia Long là một thành công về khai mở giang sơn miền Nam, là một vết son lớn trong lịch sử mà những tay Marxit vìõ thiên kiến đà phủ nhận, nhưng sau này người Nga đã hết sức ca tụng Nguyễn Ánh. ? Truyện Kiều ra đời vào triều Nguyễn thế mà Nguyễn Bách Khoa lại cứ cột vào triều Lê là một triều đại có nhiều biến cố để buộc tội Nguyễn Du và giai cấp quý tộc, kẻ thù giai cấp vô sản! Hơn nữa, Nguyễn Bách Khoa luôn nói đến ý thức hệ phong kiến, ý thức hệ tư sản, và ý thức hệ tiểu tư sản nhưng ý thức hệ đó chỉ là một mớ danh từ trống rỗng vì đẳng cấp nào thì cũng chỉ có hai con đường là yêu hay ghét truyện Kiều.
Nói tóm lại. Nguyễn Bách Khoa luôn tự hào là phương pháp khoa học nhưng sự thực phương pháp của ông chủ quan, thiên kiến, tuỳ tiện và không khoa học.
II. XÃ HỘI
Người cộng sản quan niệm con người là sản phẩm của xã hội. Nguyễn Bách Khoa viết: '' Cái gọi là bản thể của con người chỉ là nhữngản vật của những tương quan xã hội (69).
Nguyễn Bách Khoa cũng như những nhà Marxist cho rằng xã hội ảnh hưởng đến cá nhân con người. Ông viết: ''tất cả tình cảm, tư tưởng năng khiếu sáng tác của cá nhân đều do xã hội, do đẳng cấp cung cho cả'' (162). Và dù tài năng xuất chúng đến đâu, một nghệ sĩ cũng không vượt ra ngoài được thời đại (162). Từ đó, họ kết tội những ai sống trong xã hội phong kiến, tư bản đều là những con người xấu là kẻ thù của giai cấp vô sản. Nguyễn Du thuộc đẳng cấp sĩ phu cho nên Nguyễn Bách Khoa chê bai ông đủ điểu. Có rất nhiều vấn đề về quan điểm này.
Chúng ta cũng đồng ý xã hội có ảnh hưởng đến con người nhưng đôi khi con người tạo ra xã hội, chính anh hùng tạo thời cuộc. Chính các nhà tư tưởng như J.J Rousseau, Montesquieu tạo ra cách mạng Pháp 1789 và xây dựng thể chế dân chủ tại nhiều nước. Chính Marx, Engels, Lenin tạo ra chủ nghĩa cộng sản và đem lại khủng bố và chết chóc cho toàn cầu.
Con người thoát khỏi cái vỏ giai cấp của mình và vượt ra ngoài thời đại và giai cấp của mình. Marx, Engels, Lenin, Mao Trạch Đông , Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp xuất thân giai cấp tư bản và phong kiến đã theo chủ nghĩa cộng sản. Con người là vật thể xã hội, mang tính xã hội nhưng nó cũng mang đặc tính cá nhân, nhất là trong sinh hoạt văn học nghệ thuật. Chính cái cá nhân này đưa tới hứng khởi và óc sáng tạo trong khi tập thể hay xã hội bóp nghẹt sáng tạo. Trong văn nghệ Việt Nam, Nhất Linh khác Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng khác Nguyễn CÔng Hoan, Xuân Diệu khác Quách Tấn, Trần Dần khác Tố HữÕu. Trong chính trị cũng vậy. Trostky khác Stalin; Đặng Tiểu Bình, Chu An Lai khác Mao Trạch Đông
Nếu cho rằng thiên tài do xã hội cống hiến thì tại sao xã hội có nhiều người mà một mình Nguyễn Du thành công về truyện Kiều?
Hơn nữa, con người có tự do, có tinh thần độc lập và tư chất riêng, không liên hệ đến đẳng cấp hay xã hội. Và xã hội là một thực trạng đa nguyên, không thể lấy cái áo xã hội, tôn giáo, đẳng cấp để đánh giá một người hay một tập thể. Trong hàng vạn sĩ phu ở thế kỷ 19, tại sao một mình Nguyễn Du nổi bật một văn tài mà Truyện Kiều là một tuyệt tác qua bao thế hệ? Không thể bảo giai cấp phong kiến của triều Nguyễn đầu hàng, bán nước vì Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân đã anh dũng chiến đấu. Trong khi hàng triệu tư bản lo làm giàu, tại sao Marx, Engels lại ủng hộ giai cấp vô sản? Như vậy có phải việc kết tội toàn thể phong kiến, tư bản là một điên rồ, tàn bạo hay không? Như vậy việc dùng đẳng cấp để phê phán Nguyễn Du là một sai lầm, dùng quan điểm xã hội để bêu xấu con người cũng là một điều quá đáng..
Tuy nhiên, trong lý luận, đôi khi ông mâu thuẫn, ông cho rằng cá nhân cũng có những yếu tố quyết định. Trong công trình sáng tác nghệ thuật ,ông đề cập đến bốn nguyên nhân chính mà trong đó có hệ thống biểu tưộng của xã hội và cá thể tâm lý của nghệ sĩ (110).. Ông cũng nói đến'' biệt tài của cá nhân nghệ sĩ ''(114) trong việc hình thành tác phẩm. Như vậy, những quan điểm xã hội, giai cấp nhiều khi chỉ là phù phiếm, là dao to búa lớn không cần thiết.
Một điều đáng nêu lên là các nhà phê bình Marxistø cho rằng văn chương phản ánh xã hội, họ luôn dùng tác phẩm để chứng minh xã hội phong kiến và tư bản là thối nát, suy tàn, phải nhường chỗ cho chủ nghĩa cộng sản,. Sự thực văn chương là một tác phẩm tưiởng tượng, không phải là những trang sử có giá trị. Những hình ảnh trong phim cowboys là tưởng tượng, không phải xã hội Mỹ là bắn giết như thế. Không thể đem những truyện gã bán tơ, quan huyện tham ô, và đem truyện Thúc sinh chơi bời, và các ổ nhền nhện của Tú Bà, Bạc Bà để cho rằng triều Lê, triều Nguyễn phong kiến thối nát. Mặt khác, nhiều khi xã hội và chính trị hoàn toàn khác nhau. Xã hội nào mà chẳng có tham ô, hủ hóa, trộm cướp và mãi dâm? Nước Mỹ hùng mạnh nhất thế giới nhưng vẫn có nhiều tệ nạn xã hội. Không phải vì những vụ bắt cóc, giết người và hãm hiếp mà mà bảo nước Mỹ đang dẫy chết!
III. BIỆN CHỨNG PHÁP
Trong Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đề cao Biện Chứng Pháp, cho rằng đây là phương pháp tuyệt diệu để phân tích, phê bình văn học.
''Những việc mổ xẻ, giải thích, phân tích ấy, ta chỉ có thể làm được mỹ mãn. . . khi nào ta lĩnh hội và khéo biết áp dụng biện chứng pháp duy vật. Chỉ có dùng biện chứng pháp duy vật mới có thể hiểu được chất thơ kia,thưởng thức được cái đẹp kia, cảm thông được linh hồn kia đánh giá được thiên tài kia (83).
Ông khẳng định:
Không công nhận những kết quả rực rỡ của khoa học hiện tại , không tán thành và áp dụng biện chứng pháp duy vật, cứ khư khư cố chấp ôm lấy những quan niệm đã lỗi thời về linh hồn, về thiên tài về cái đẹp, về nghệ thuật: đó là thái độ của những người phản động (81).
Thực ra biện chứng pháp (dialectic) chỉ là một trong những phương pháp lý luận, phương pháp tìm hiểu và thử nghiệm chân lý . Biện chứng pháp có từ thời Socrate. qua Hégel rồi đến Marx. Marx đặt tên cho môn lý luận của ông là Duy vật biện chứng pháp (dialectical matérialism) . Thuyết này cho rằng các sự kiện chính trị và lịch sử sinh ra là do những mâu thuẫn của các lực lượng xã hội tạo ra bởi nhu cầu của con người.
Phan Văn Hùm trước đây đã viết về biện chừng pháp, ông đem thí dụï quả trứng và hạt thóc để nói về sự diễn biến của các vật trong quá trình hình thành. Nhưng quả trứng và hạt thóc thì quá trình phát triển và chu kỳ hoạt động của nó quá rõ rệt, còn hiện tượng xã hội và chính trị thì không như thế. Nếu biện chứng pháp quả thần sầu quỷ khốc như lời quảng cáo, Marx đã không thất bại khi nhận định:
-tư bản đang dẫy chết, giai cấp vô sản đào mồ chôn tư bản. Sự thật nay cộng sản đã chết và một số đang tồn tại bằng đồng tiền tư bản.
-Xã hội cộng sản giàu mạnh gấp mười tư bản. Sự thật nơi nào có cộng sản là mất tự do và nghèo đói.
-Xã hội chủ nghĩa thành công ở Đứùc và phát triển toàn thế giới. Sự thức nước Nga là một nước kỹ nghệ lạc hậu đã làm bá chủ thế giới cộng sản, và cộng sản chỉ mạnh ở các nước thuộc địa và nghèo.
Biện chứng pháp đã chứng tỏ nhiều sai lầm khủng khiếp, e còn tệ hơn những môn tử vi, chỉ tay hay nhân tướng học. Môn bói toán chỉ làm cho chủ nhân mất vài trăm bạc Việt Nam hay một con gà trong khi biện chứng pháp và triết học Marx gây ra sông máu núi xương .
Marx lại cho rằng xã hội mới tốt hơn xã hội cũ nhưng thực tế xã hội cũ nhiều khi lại tốt hơn xã hội mới, và cái mới không thay thế cái cũ, trái lại cái mới non yểu, chết trước cái cũ. Xã hội và cuộc đời là những sự kế tiếp không ngừng. Xã hội đi trước đặt nền tảng cho xã hội sau. Hégel đặt nền tảng cho Marx, và Marx thừa kế Hégel chứ không hủy diệt Hégel. Không phải tư bản giết phong kiến, và cộng sản chôn sống tư bản như Marx nhận định. Tư bản ra đời từ phong kiến vì tiền bạc, vốn liếng và khoa học của buổi đầu tư bản là của những nhà giàu của chế độ phong kiến. Chính con cái của những tư bản hoặc phong kiến đã tạo ra cộng sản còn giai cấp công nhân không có một vai trò tích cực trong lịch sử ngoại trừ việc cầm súng và xông vào chỗ chết. Các giai cấp ra đời không phải là điều tất yếu vì trong khi cộng sản dấy lên và chinh phục một nửa thế giới, phong kiến và tư bản vẫn tồn tại. Phong kiến không ngăn cản sự phát triển của tư bản vì tại Anh quốc và Nhật bản, chế độ dân chủ vẫn còn và hai nước vẫn là hai quốc gia tư bản hùng mạnh. Vậy chúng ta không cần phải mạt sát phong kiến, kết tội đẳng cấp quan lại, phong kiến hay sĩ phu của Nguyễn Du.
Quan điểm giai cấp đấu tranh chỉ tạo thêm hận thù, nghèo đói và mất tự do.. Truyện Kiều được quần chúng ưa thích vì Nguyễn Du là một thiên tài đã sáng tác nên những vần thơ trác tuyệt làm rung động lòng người. Giai cấp có ảnh hưởng đến thiên tài nhưng cũng có thể là không vì giai cấp quý tộc và sĩ phu thì rất nhiều nhưng có mấy Nguyễn Du. Mỗi khoa học có một phương pháp riêng. Đừng đem thuật lãnh đạo chính trị vào văn học. Đừng muợn oai hùm của khoa học mà run nhát khỉ. Đừng cao ngạo mà cho rằng ta có thể đặt ra nguyên tắc, định luật cho mọi khoa học! Nguyễn Bách Khoa cổ võ cho thuyết Mac xit và duy vật biện chứng pháp nhưng khi áp dụng vào văn học, ông đã thất bại.
Nguyễn Bách Khoa nói vòng vo, lý thuyết ồn ào mà thực tế ông nói rất ít về văn chương truyện Kiều. Quyển Văn Chương Truyện KIều dày 166 trang nhưng chỉ ở phần thứ ba gồm 40 trang cuối mới thực sự nói đến văn chương truyện Kiều.
Bàn về cái hay của truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa viết: ''Truyện Kiều là một ấn tượng.đậm đà về sựï bị thua.''(129), .. . Một xã hội như thế, một đẳng cấp như thế,. . .cũng ký sinh, cũng thất bại, cũng đầu hàng chế độ, cũng hận mênh mông, sầu mênh mông- làm gì mà không sản ra được một tập thơ như tập Đoạn Trường Tân Thanh (145)
Bàn về chất thơ, trong Văn Chương Truyện Kiều, ông cũng cho rằng thơ Kiều hay là do giai cấp phong kiến là suy đồi, buồn thảm. Ông viết:
''Tóm lại, chất thơ là ý thức kết tinh của một cơ cấu sinh lý và tâm lý đang ở vào trạng huống suy đồi. noÙ là sự trầm muộn thê thảm (87)
Điều này cũng nói lên một Nguyễn Bách Khoa lúng túng. Té ra xã hội xấu xa lại đẻ ra những tuyệt phẩm hay sao? Nguyễn Bách Khoa cũng không giải thích tại sao một xã hội thật bại, suy đồi, trầm buồn lại sinh ra những tác phẩm có giá tri?
Nguyễn Bách Khoa lại mâu thuẫn khi nói về thơ Đọan Trường Tân Thanh. Ông cho rằng cái hay của Kiều chính là lục bát, nhưng ông lại bảo rằng '' ta phải nhận thấy ngay cái cốt cách ốm yếu của nó. . . Đoạn thơ lục bát nào tuyệt diệu là đoạn thơ tiếng bằng hơn hẳn tiếng trắc một dầu một với. Câu thơ lục bát nào mà du dương thánh thót ấy là tiếng bằng đã uy hiếp hẳn tiếng trắc - nếu không phải là quân bình (154). Nhận định này cho thấy Nguyễn Bách Khoa chẳng hiểu gì về thơ và âm nhạc. Các thi sĩ không dùng nhiều vần trắc vì sợ khổ độc. Hơn nữa, trong quyển Kinh Thi Việt Nam, ông viết:'' Hẳn ai cũng thừa biết cái điệu thơ thích dụng nhất cho người Việt Nam ta là lối lục bát. Lối này được coi như hình thức thi ca thiên bẩm riêng của dân Việt Nam đã có sẵn từ khi lập quốc ( 212). Điều này cho thấy Nguyễn Bách Khoa lúc muốn đề cao nông dân thì ca tụng ca dao là tài hoa, hào hùng, lúc muốn kết tội thi sĩ tư sản hay phong kiến thì cho rằng lục bát lãng mạn, yếu kém, ru ngủ, rên rỉ. . .
Nếu cho rằng truyện Kiều là sản phẩm của xã hội phong kiến thất bại, thối nát tại sao lại được đa số quần chúng yêu thích? Còn nói truyện Kiều hay là nhờ thể diệu lục bát nhưng nhiều tác giả làm thơ lục bát mà không hay bằng Kiều như các truyện Hoàng Trừu, Lý Công Cúc Hoa, Phạm Công Cuc Hoa, Thạch Sanh Lý Thông?
Ông cho rằng có ba yếu tố cấu thành giá trị truyện Kiều:
-một ấn tượng đậm đà về sự thua thiệt (129).Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải là những con người thua thiệt.
-Buổi chiều và đêm trăng là hai bề dọc và bề ngang của thế giới truyện Kiều (136).
-Thất bại và sầu oán là chất sống thâm thiết của những cuộc đời ''đêm trăng ấy'' (139).
Ba yếu tố mà ông nêu lên thực ra chỉ là hai vì sự thất bại và đêm trăng đã được trình bày trong hai điều trước..
Ông có nhiều sai lầm và thiếu sót. Điều thứ nhất, ông không giải thích tại sao sự thua thiệt, sự sầu oán lại tạo ra cái hay cho truyện Kiều? Tại sao giai cấp phong kiến, đẳng cấp nho sĩ thất bại, trầm buồn lại tạo ra kiệt tác Đoạn Trường Tân Thanh? Tai sao buổi chiều và đem trăng lại tạo ra cái đẹp của truyện Kiều?
Ông sai lầm khi cho rằng truyện Kiều hay đẹp là do lục bát vì có nhiều người làm lục bát rất dở. Hơn nữa, lục bát chỉ là hình thức chứ không phải chất thơ như ông đã nêu lên là phải đi tìm chất thơ, và cái hay, cái đẹp của thơ. Hơn nữa, sự giải thích về tả cảnh, tả tình, tả người, dùng chữ, dùng điển của Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh (60-62 ) sâu hơn là cách trả lời qua loa của ông về hình thức lục bát.
Ông chỉ trích thuyết 'tài mệnh tương đố' (57) nhưng thuyết này cũng có mục đích giải thích về sự thua thiệt. Họ có khác gì ông đâu, chỉ khác nhau là thuyết tài mệnh tương đố mang màu sắc duy tâm, khác với chủ trương duy vật!
Trong khi ông khi ngợi về buổi chiều và ánh trăng của truyện Kiều thì Đào Duiy Anh, Trần Trọng Kim cũng ca ngợi nghệ thuật tả cảnh, tả tình của Nguyễn Du. Ông cũng như họ chứ có gì nổi bật hơn đâu! Việc ông làm chỉ ồn ào về lý thuyết t màphần nội dung thì quá đơn sơ và nghèo nàn.
Trước đây, Vũ Ngọc Phan phê bình Truơng
Tửu rất đúng:
Trương Tửu phê bình tỈ mỈ kỹ càng, nhưng phầøn nhiều ông nhận xét không đúng. Sự sai lầm này do ở ông dùng những lời to tát quá để phát biểu ý kiến về những cái hết sức nhỏtrong một quyển sách. Có thể nói ông dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà! Trương TưÛu phê bình theo một thiên kiến, nên ông không công bình. Ông đã từng khen những văn sĩ trong Tự Lực VĂn Đoàn bằng những chữ' rất lớn' trong báo Loa, rồi bây giờ theo một khuynh hướng chính trị của ông lại dìm họ xuống đất đen, bảo họ đã' tạo ra một loạt thiếu niên nam nữ trụy lạc từ thể chất đến linh hồn (NVHD III,1126)
Dẫu sao, công trình của Nguyễn Bách Khoa đã nhắc cho ta những điều phi lý và hàm hồ của một giai đoạn lịch sử cuồng điên.
====
ĐI TÌM CHÁNH BẢN TRUYỆN KIỀU của NGUYỄN DU (1765- 1820 )
*
Từ khi có máy in và nhà in, và luật về tác quyền, các tác phẩm mới giữ được tính chất nguyên thủy của nó.Còn trước đó, việc phóng tác, sửa chữa là một hành động phổ biến trong văn chương chữ nghĩa. Sự thực, các tác phẩm ngày nay cũng đã biến thái, dù nhiều dù ít. Các ông sắp chữ, những người sửa bản in, và những người xuất bản một số đã vô tình hay cố ý sữa chữa trái với nguyên bản của tác giả. Những thi tập của Tản Đà, những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn đã không còn nguyên trạng như khi còn nằm trên báo, hay trong ấn bản đầu tiên. Nhất là trong xã hội chủ nghĩa, nhà xuất bản đã sửa chữa những tác phẩm mới và cũ để phù hợp với chủ trương, đường lối đảng.
Trải qua bao cuộc chiến tranh và thay đổi, nay ta không còn có được những thủ bút của Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Ngay cả những tác giả hiện đại cũng không còn những ấn bản đầu tiên của mình. Người ta may ra có thể tìm thấy những thủ bản, những ấn bản Việt Nam tại thư việân La Mã, Paris và Đông Kinh, hoặc tại thư viện tư nhân tại Việt Nam.
Sau khi Nguyễn Du viết xong truyện Kiều, người ta chuyền tay nhau đọc rồi đem khắc bản gỗ và bán tại các cửa hàng sách.Một số trong đó có vua Tự Đức tự động sửa chữa truyện Kiều . Phong trào cùng đọc, cùng sửa chữa này càng lan rộng, khiến truyện Kiều không còn giữ nguyên trạng thái đầu tiên khi ra khỏi nhà Nguyễn Du. Người ta thêm, bớt, sửa chữa và đem khắc in. Kết quả ngày nay chúng ta đã thu lượm được nhiều bản gỗ truyện Kiều và nhiều bản quốc ngữ khác nhau. Chưa kể sự khác nhau là do phiên âm chữ nôm khác nhau. Về quốc ngữ, chúng ta thấy có bản của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, BùØi Kỷ và Trần Trọng Kim. . . Một nhà văn tiền chiến đã cho rằng bản Bùi Kỷ và Tản Đà chú thích là hay nhất. Ở đây, chúng tôi không chú ý việc tìm hiểu và phê phán bản nào hay nhất, mà chỉ đi tìm nguyên bản truyện Kiều, nghĩa là đi tìm bản gốc của Nguyễn Du. Sau khi tìm được bản này, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược vài nét.
Trong văn học, nghệ thuật cũng như trong lịch sử, người ta chú trọng những ấn bản đầu tiên, những tác phẩm thật vì nó là chân diện mục của tác giả, nó có giá trị của sự thực, còn các ấn bản khác thường là bị thay đổi, hay bị giả mạo. Trong phạm vi tôn giáo và triết học cũng vậy. Đâu là những lời thuyết giảng của đức Phật thời tại thế? Những Kinh Thánh đã được sửa chữa nhiều lúc và nhiều nơi, vậy đâu là chân lý? Công việc phục nguyên rất khó khăn.
Tại Việt Nam, người ta đã đem bản Trần Trọng Kim ra giảng dạy vì Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ là những nhà văn, nhà giáo nghiêm túc. Hơn nữa, Trần Trọng Kim lúc bấy giờ có địa vị và uy tín lớn trong ngành giáo dục.Và lý do thứ ba, có lẽ lúc này bản của Trần Trọng Kim được nhiều người đọc nhất. Bây giờ, theo đúng nguyên tắc khảo cứu, chúng ta thử tìm đâu là bản chính của truyện Kiều nghĩa là đi tìm đứa con đẻ của Nguyễn Du , dù nó xấu xí, quê mùa, chứ không phải những đứa lai tạo rất đẹp, rất xinh. Sau, các nhà biên khảo, chú thích, gặp bản nào là làm việc với bản ấy, dường như chẳng ai quan tâm đi tìm chân bản của Nguyễn Du.
Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ trong lời Tựa Truyện Thúy Kiều viết rằng:
Hiện nay tập nguyên văn của tác giả làm ra thì không tìm thấy nữa, chỉ thấy hai bản khác nhau ít nhiều,là bản Phường, in ở phố hàng Gai, Hà Nội, và bản Kinh của vua Dực Tông bản triều đã chữa lại.Bản Phường là bản của ông Phạm Quý Thích đem khắc in ra trước hết cả.Oâng hiệu là Lập Trai, người làng Huê Đường ( nay đổi là làng Lương Đường),phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ về cuối đời Lê, cùng với tác giả là bạn đồng thanh đồng khí, cho nên khi quyển truyện này làm xong thì tác giả đưa cho ông xem.Chắc cũng có sửa đổi lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả. Vì vậy chúng tôi thiết tưởng rằng lấy bản Phường làm cốt, thì có lẽ không sai lầm là mấy. Còn những chỗ mà bản kinh đổi khác đi, hoặc những câu mà về sau người ta sửa lại thì chúng tôi phu lục cả ở dưới, để độc giả có thể xem mà cân nhắc hơn kém.Lại có một vài chữ người ta muốn đổi đi, nhưng không đúng với các bản nôm cũ, thì chúng tôi cũng thích xuống dưới, chứ không tự tiện mà đổi nguyên văn đi. Chủ ý của chúng tôi là muốn giữ cho đúng như các bản cũ, chứ không phải muốn cho hay hơn (vi).
Theo Trần Trọng Kim, như vậy là khoảng 1925
( lúc Trần Trọng Kim viết bài tựa này cho ấn bản thứ nhất, Việt văn thư xã, Vĩnh Hưng Long thư quán, Hà Nội, 1925) có hai bản Kinh và bản Phường. Nhiều nhà nghiên cứu ngày nay cũng nói như vậy.
Theo Trần Văn Giáp trong Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm II, có 28 văn bản thuộc 6 loại như sau:
1. Kim Vân Kiều : văn nôm
2. Kim Vân Kiều, văn nôm , có chú giải và phê bình.
3.Kim Vân Kiều, dịch nguyên văn chữ nôm ra chữ Hán.
4.Các sáng tác lấy truyện Kiều làm đề tài.
5.Các thơ văn đề vịnh các nhân vật truyện Kiều
6. Các bản truyện Kiều viết bằng văn xuôi chữ Hán.
Riêng các bản truyện Kiều chữ nôm ( loại 1 và 2), chúng ta có đến 12 bản, trong đó có một bàn viết tay, và một bản nôm in năm 1963. Tình trạng những quyển này khá bi đát vì một số rách nát, mất đầu mất đuôi. Tên truyện cũng khác nhau:
- 6 bản mang tên Kim Vân Kiều truyện,
- 2 bản mang tên Kim Vân Kiều tân truyện
- 1 bản Kim Vân Kiều Quảng Tập Truyện
- 1 bản Kim Vân Kiều Hợp Tập.
- 1 bản mang tên Đoạn Trường Tân Thanh.
- 1 bản Kim Vân Kiều truyện chú.
Về bản Kiều của Phạm Quý Thích (1760-1825) khắc in thì ý kiến quần chúng và các nhà biên khảo truyện Kiều đều đồng ý rằng bản này là ra đời sớùm nhấùt nhưng tiếc rằng nay đã tuyệt bản. Chúng ta phỏng đoán quyển này phải ra đời trước 1825 là năm Phạm Quý Thích từ trần, cho nên năm 1830, Nguyễn Văn Thắngở trong tù đã đọc truyện Kiều và viết Kim Vân Kiều án. Sau Phạm Quý Thích, tại Hàng Gai có bốn năm truyện Kiều được khắc in và phổ biến trong quần chúng ( Trần Văn Giáp, 136). Các nhà Liễu Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường, Quan Văn Đường, Phúc Văn Đường là những nhà khắc mộc bản nổi tiếng. Tất cà bản Kiều tại Hàng Gai, Hà Nội đều gọi chung là bản Phường. Theo bài Tổng từ của vua Tự Đức, bản Kiều của Hoa Đường ( Phạm Quý Thích) đã tuyệt bản trước 1871.
Trong tài liệu củaTrần Văn Giáp kể trên, các bản in cũ, thuộc loại 2 ( chú giải và phê bình), chúng ta nhận thấy những chi tiết và tên tuổi:
- Kim Vân Kiều tân truyện, ký hiệu VNB8, do Phúc Văn Đường tàng bản, in năm Khải Định mậu ngọ (1918).
- Kim Vân Kiều Quảng Tập Truyện, Ký hiệu VNV71; VNV 147; VNV208, do Liễu văn đường tàng bản, khắc in đời Khải Định (1924)
- Đoạn Trường Tân Thanh, ký danh AB 12, do Kiều Oánh Mậu in, sau khi tham khảo bản Kinh và bản Phường, có thơ vịnh Kiều của Phạm Quý Thích, có khảo dị giữa bản kinh và bản phường, có Vũ Trinh và Nguyễn Lượng phê bình, Kiều Oánh Mậu chú thích, in đời Thành Thái (1902) và bài tựa viết năm1898 của Đào Nguyên Phổ. Nguyên năm 1895, Đào Nguyên Phổ vào Huế học Quốc Tử Giám, được một người họ ngoại nhà vua tặng một bản Kiều, nhan đề Đoạn Trường Tân Thanh, sau ông mang bản này ra Hà Nội giao cho Kiều Oánh Mậu ( Trần Văn Giáp,133-138).
Theo Tân Khắc lệ ngôn trong Đoạn Trường Tân Thanh của Kiều Oánh Mậu, trước đó đã có bốn năm bản do Hàng Gai khắc, và được gọi là bản Phường (136).và Kiều Oánh Mậu tham khảo bản Kinh và bản Phường (Trần Văn Giáp,135), như vậy trước Kiều Oánh Mậu đã có nhiều bản Phường.
Theo địa phương, chúng ta gọi là bản Kinh và bản Phường, và các nhà biên khảo cũng ghi chú như vậy, song ít nhất có bốn năm bản Phường, vàlúc bấy giơ ít nhất có hai bản kinh là bản của Đào Nguyên Phổ và bản của Kiều Oánh Mậu.
Sau khi Kiều Oánh Mậu in truyện Kiều, đã có một bản Kiều nhan đề Kim Vân Kiều truyện chú, do vô danh chú, in năm ất tị Thành Thái (1905) tại huyện Chương Mỹ, Hà Đông, và bản Kim Vân Kiều tân truyện, ký hiệu VNB8, do Phúc Văn Đường tàng bản, in năm Khải Định mậu ngọ (1918). Vậy đầu thế kỷ XX, tại đất Bắc có it nhất 7 bản Kiều.
Bản Kim Vân Kiều của Phạm Quý Thích có trước, sau đó mới truyền vào Huế, các bậc đế vương và văn nhân tài tử sinh lòng yêu thích và cho khắc in.
Có lẽ năm 1830 người ta đã in truyện Kiều tại Huế vì lúc này vua Minh Mạng có bài Tổng thuyết. Đến năm 1871, vua Tự Đức viết bài Tổng từ, sửa chữa truyện Kiều và cho khắc in. Phải chăng bản này đã đưọc đem tặng Đào Nguyên Phổ? Hoặc bản Đào Nguyên Phổ là một bản khác? Vậy ít nhất, tại Huế ta thấy có hai bản Kinh.
Bản liệt kê của Trần Văn Giáp chỉ có một số , chứ không có nhiều các bản Kinh và bản Phường bởi vì trong thư viện không có, hoặc đã tuyệt bản. Theo nhiều nhà nghiên cứu, bản Hoa Đường, và bản Kinh của Đào Nguyên Phổ đã mất tích.Nhưng trong Truyện Kiều, Trần Trọng Kim đã dùng bản Kinh và bản Phường để làm khảo dị. Vậy là trong tủ sách dân chúng và các nhà trí thức, vẫn còn bản Kinh và bản Phường, Kiều Oánh Mậu và Trần Trọng Kim tỏ ra rất khoa học khi làm khảo dị, và không tự ý thêm bớt sủa chữa. Nhưng hai ông cũng như những nhà biên khảo về sau không nói rõ bản Phường nào, bản kinh nào vì có nhiều bản Phường và nhiều bản Kinh.
Và qua sự tìm hiểu này, chúng ta thấy những bản trên đều đã được sửa chữa, và cùng mang một kiếp giang hồ trôi nổi của Thúy Kiều bạc mệnh, và đó cũng là số phận long đong, và sự hóa thân của truyện Kiều:
1. Nguyễn Du sáng tạo: nguyên bản.
2. Phạm Quý Thích theo nguyên bản, rồi sửa chữa: bản Phường
3. Các vua Nguyễn theo bản Phạm Quý Thích, sửa chữa và ấn hành: bản Kinh.
Trong các bản truyện Kiều, theo thiển kiến, quyển Kim Túy Tình Từ là nguyên bản của truyện Kiều. Quyển này do Phạm Kim Chi sưu tập và chú thích, Nguyễn Thành Điểm xuất bản tại Sài gòn năm 1917. Sau này, giáo sư Thuần Phong Ngô Văn Phát tức thi sĩ Tố Phang đã tái bản khoảng1970 - 1973, có lẽ đó là tài liệu giảng dạy của ông tại Đại Học Cần Thơ. Cùng một lúc, Phủ Quốc VụÏ Khanh, Sài gòn được sự giúp đỡ của bác sĩ Phạm Kim Lương, thứ nam của ông Phạm Kim Chi đã ấn hành năm 1972 trong tủ sách Văn Hóa Tùng Thư . Quyển này ra đời rất sớm vào bình minh của văn chương quốc ngữ song không được chú ý vì cái tên Kim Túy Tình Từ nghe lạ hoắc. Và có lẽ cũng vì cái tâm lý kỳ thị mà các sĩ phu đất Bắc trước 1945 đã không để ý đến các tác phẩm xuất bản tại Nam Kỳ cho dù tác giả của nó là người của đất Thăng Long ngàn năm văn vật! Buồn cười nhất làkhoảng cuối 1974, trên tạp chí Bách Khoa, một người ( tôi đã quên bút hiệu) có lẽ có ân oán giang hồ với Thuần Phong đã viết bài mạt sát Thuần Phong và quyển này, cho rằng Thuần Phong là kẻ ăn chơi trác táng, và quyển này là sách khiêu dâm ( Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề). Người đó không biết rằng Thuần Phong là người tái bản, ông chỉ sao y bản chánh của người xuất bản là Phạm Kim Chi và những chú thích là chính của Nguyễn Du.
Người ta đã không xem kỹ, dù chỉ là xem trang bìa, lại hung dữ hồ đồ kết tội Thuần Phong, mà tờ báo Bách Khoa cũng thuộc loại khá lại đăng những bài như vậy!
Chúng tôi cho rằng quyển Kim Túy Tình Từ là chân bản vì quyển này vốùn ở trong tủ sách của gia đình Nguyễn Du.
Trong Lời báo dẫn, Phạm Kim Chi viết:
Tôi nhân vì việc quan, có ra ở ba năm tại Hà Tịnh, là quê quán ông Nguyễn Du Đức hầu.May gặp dịp đươc làm quen với cháu nhà ông ấy, là ông tấn sĩ Mai, mượn đặng bổn chánh '' Kim Túy Tình Từ'' có chú dẫn điển tích rõ ràng''
Phạm Kim Chi được tiến sĩ Nguyễn Mai là cháu của Nguyễn Du cho mượn sách, và cho phép in sách. Cụ Nghè còn vui vẻ viết bài tựa bằng chữ Hán vào tháng giêng năm Duy Tân thứ 9 ( 1915 ) cho quyển truyện Kiều của Phạm Kim Chi. Lời tựa này sau được Huỳnh Thúc Mậu dịch quốc ngữ đặt vào đầu sách. Trong bài tựa này, mở đầu, cụ Nghè viềt về tiểu sử Nguyễn Du, và việc viết truyện Kiều, sau nói về ông Phạm Kim Chi là phán sự toà muốn khắc in truyện Kiều, và đây là bản ''gia truyền'' mà ông thường đọc hằng ngày (11). Ta thấy quyển Kim Túy Tình Từ đã được gia đình Nguyễn Du gọi là'' bổûøn gia truyền'', còn ông Phạm Kim Chi gọi là ''bổn chánh''.
Bản này có điểm đặc biệt nữa là do Nguyễn Du chú thích bằng Hán văn, sau đó Phạm Kim Chi chú thích thêm và dịch những chú thích của Nguyễn Du như lời giới thiệu của Phạm Kim Chi bổn chánh '' Kim Túy Tình Từ'' có chú dẫn điển tích rõ ràng''.
Như trên đã trình bày, truyện Kiều của Nguyễn Du được thế nhân sửa chữa và khắc in tự do. Ngay tên sách cũng khác nhau.:
Kim Vân Kiều truyện
Kim Vân Kiều Tân Truyện
Đoạn Trường Tân Thanh
Xem bản liệt kê trên, ta thấy phần lớn đều ghi là Kim Vân Kiều truyện, Ngay quyển DTTT ký danh AB12 của Kiều Oánh Mậu hàng cuối cùng cũng ghi Kim Vân Kiều chung, cộng 1628 liên (Trần Văn Giáp, 136).
Bản Kim Vân Kiều truyện ký hiệu VNB60 trên trang sách có ghi bút lông hàng chữ:
Kim Vân Kiều truyện, bản Bắùc Quốc Thanh Tâm Tài Nhân Lục. Tiên Điền diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều Truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm, cải vi Đoạn Trường Tân Thanh (Trần Văn Giáp, tr.135). Như vậy, lúc đầu tên truyện là Kim Vân Kiều, sau cải là Đoạn Trường Tân Thanh, do lệnh của vua Minh Mạng và các bản Kinh đều theo đóø màgọi là Đoạn Trường Tân Thanh .
Trong khi đó, Trần Trọng Kim viết ngược lại:
Truyện Thúy Kiều này nguyên lúc đầu tác giả nhan lả ''Đoạn Trường Tân Thanh''. Sau nghe đâu ông Phạm Quý Thích đổi lại là ''Kim Vân Kiều Tân Truyện''(vi).
Phải chăng Trần Trọng Kim sai lầm?
CòØn tên Kim Túy Tình Từ ? Tại sao xưa nay không nghe ai nói đến Kim Túy Tình Từ ? Phải chăng do Phạm Kim Chi đặt ra? Trong tài liệu này, ta không thấy Nguyễn Mai nói đến bốn chữ Kim Túy Tình Từ, mà chỉ nói truyện Kim Trọng và Thúy Kiều.
Nguyễn Thạch Giang đã nghiên cứu Kim TuÙy Tình TừØ, và cho biết có bản chép tay của gia đình cụ Nghè Mai, mà ông gọi là bản Tiên Điền. Trong Truyện Kiều do ông khảo đính và chú thích, Hà Huy Giáp đề tựa, ông đã cho biết tháng 10 năm 1962, ông đã vào Tiên Điền, gặp hậu duệ của Nguyễn Du. Lúc này cụ Nghè Mai đã mất, cụ Lê Liêu ở chung cùng nhà đã cho mượn bản Kiều chép tay. Theo ông Nguyễn Châu, cháu xa đời của Nguyễn Du, thì sinh thời cụ Nghè Mai hay đọc quyển này (96-97). Như vậy, quyển này và quyển Phạm Kim Chi cùng một gốc. Rất tiếc là ông Nguyễn Thạch Giang không nói đến cái tên Kim Túy Tình Từ là do Nguyễn Du đặt hay Phạm Kim Chi sáng tạo. Theo sự khảo cứu của Nguyễn Thạch Giang, quyển của Phạm Kim Chi và bản chép tay Tiên Điền rất giống nhau. Ông viết:
Đối chiếu, so sánh giữa hai bản, kết quả như sau:
1.Cả hai bản đều có 3.256 câu. Những câu của bản Kinh và những câu khác hẳn các bản Kiều khác chép ở trong bản Phạm Kim Chi, thì ở bản Tiên Điền cũng ghi đúng như thế. Giữa hai bản có 12 câu là khác nhau một đôi chỗ về cách phiên âm hay cách nhận nhầm mặt chữ, nhưng đều có nghĩa cả.
2. Phần chú thích, bản Phạm Kim Chi đã phiên âm và dịch ra đầy đủ, không bỏ sót một chi tiết nào của bản Tiên Điền
3. Đáng chú ý hơn cả là 563 chữ của Nguyễn hầu liệt truyện, cả hai bản hoàn toàn giống nhau (96-98).
Việc so sánh của Nguyễn Thạch Giang cho ta tin chắc bản quốc ngữ của Phạm Kim Chi cùng với bản nôm chép tay Tiên Điền là chung một nguồn gốc. Dẫu sao, bản này cũng như bản Tiên Điền cũng là bản chép lại sau này chứ không phải là thủ bản của Nguyễn Du vì có thêm phần Nguyễn hầu liệt truyện của Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện. Mà Chánh Biên Liệt Truyện Sơ Tập, quyển 20, mục 17 trong đó có tiểu sử Nguyễn Du được viết xong năm Thành Thái nguyên niên 1889 ( chưa rõ năm khắc in), tức sau khi Nguyễn Du mất khoảng 69 năm. So sánh Nguyễn hầu liệt truyện với tiểu sử Nguyễn Du trong Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện thì giống nhau 90%. Có thể người nhà Nguyễn Du đã tham khảo Liệt Truyện mà viết ra. Trong khi chờ đợi những kết quả mới, chúng ta tạm xem bản Tiên Điền và bản Phạm Kim Chi là gần nguyên tác của Nguyễn Du nhất.
Theo Nguyễn Thạch Giang, sự khác biệt giữa các bản quốc ngữ và bản nôm không là bao nhiêu. Sự khác biệt chính yếu là khác biệt giữa bản Kinh và bản Phường.Ông viết:
Vậy theo đó giữa bản Kinh và bản Phường có gì khác nhau? Sự khác nhau chủ yếu là về mặt chữ nghĩa hàm ý tu từ. Có chỗ chỉ khác nhau một hai chữ, có chỗ khác nhau cả câu và có chỗ khác nhau cả một đoạn. Do đó mà số câu không đồng đều nhau; Tổng số câu của bản Kinh theo lời chú đã nói là 3.258 câu, và tổng số câu của bản Phường tiêu biểu là 3.254 câu(89).
Trần Trọng Kim khi so sánh bản Phường vànguyên bản của Nguyễn Du đã nhận định:
Chắc cũng có sửa đổi lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả. Vì vậy chúng tôi thiết tưởng rằng lấy bản Phường làm cốt, thì có lẽ không sai lầm là mấy.
Sau đây, chúng tôi thử nghiên cứu bản Phạm Kim Chi và bản Trần Trọng Kim qua một ngàn câu thơ phần đầu để xem xétsự khác biệt của hai bản này.
Bỏ qua những khác biệt nhỏ nhặt về cách đọc chữ Hán và phát âm địa phương như lạc/nhạc; chưn/chơn/chân; tính/tánh; tỏa/ khóa; vưng/ vâng; phũ phàng/ phụ phàng; kim thoa/kim xoa; rời/ dời; vưng/ vâng; xa xôi/xa xuôi v. v.. chúng ta có kết quả như sau:
TRÂN TRỌNG KIM - PHẠM KIM CHI
1. Số câu 3524 - 3526
2. Khác một vài chữ
SỐCHỮ Câu TTK PKC
2 37 Êm đềm Yêm niềm
1 50 vàng vó rắc bủa rắc
1 77 nếp tử nhiếp tử
3 78 Vùi nông một nấm Bụi hồng một nắm
1 95 khấn khứa khấn vái
2 96 Sụp ngồi đặt cỏ Sụp ngồi vài gật
2 102 Lại càng đứng lặng Lại còn đứng sững
1 160 Đố lá Đỏ lá
1 178 rộn dồn
2 186 Tựa ngồi Dựa nương
1 195 mái mé
1 272 dẫy đầy
2 319 Bậc mây dón bước Thang mây nhơn bước
1 321 Giữ ý Dỡ ý
1 325 Rũ mòn gầy mòn
2 351 Thỉ chung Năm trong
2 359 gắn bó vừa gắn
1 365 nông sờ nông trờ
3 374 biện dâng, xa đem cần dưng, quỳ đem
2 497 Hoa hương Ngọc lan
1 502 Dẽ cho Để cho
1 529 Cửa sài Cửa ngoài
3 582 Giọt liễu, gối mai Khung cửi, gói mai.
1 585 Ai buộc Bay buộc
2 586 Đàn dập Đan rậm
1 614 dặn nhủ
2 616 Vạ gió họa bốc
1 633 Thêm tức Đương tức
2 651 Búa rìu Phủ cân
2 782 Thấm áo, tơ chia Thấm đá, tóc chia
2 803 Đêm thu Điểm sầu
1 818 chọn soạn
2 863 Nỗi mình Đánh liều
1 872 Mở tiệc Gánh tiệc
1 911 Dặm khách Cõi khách
2 925 Lơi lả Bả lả
1 938 Đổi hoa Đũa hoa
2 945 Vẩn, bài Vượt, bày
1 948 Như màu Những màu
1 952 sang lạy thì lạy
1 967 Vô nghĩa Vô sỉ
2 972 Nhập gia Vào nhà
1 995 Rỉ rằng Biểu rằng
66 chữ
3. Khác nhau một câu.
CÂU TTK PKC
357 Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ Quạt vàng, khăn gấm,sẵn khi
414 Có người tướngsĩ đoán ngay một lời Cứ trông tướng pháp lắm thầy chê bai.
4. Khác nhau nhiều câu (khác một đoạn).
TTK
351. Đem tin thúc phụ từ đường
Bơ vơ lữ thấn, tha hương đề huề
Liêu Dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.
PKC
Mở xem thủ bút nghiêm đường,
Nhắn rằng: thúc phụ xa đàng mạng chung.
Hãy còn ký táng Liêu Đông,
Cố hương khơi diễn ngàn trùng sơn khê.
Rày đưa linh sấn về quê,
Thế nào con cũng phải về hộ tang.
TỔNG KẾT:
Toàn quyển: Bản TTK ít hơn 2 câu.
Số chữ khác biệt trong 1000 câu: 108/7.000; tỷ lệ 1,2%
Khác nhau toàn câu : 6/1000; tỷ lệ 0,6%
Công cuộc tìm kiếm cho thấy bản Phạm Kim Chi và bản chép tay của gia đình Nguyễn Du ở Tiên Điền là một. Và qua sự khảo sát số câu, số chữ giữa bản Phạm Kim Chi và Trần Trọng Kim- Bùi Kỷ, ta thấy giữa hai bản sự khác biệt rất nhỏ, khoảng 1% Suy rộng ra, nguyên tác và các bản khác cũng không có sự khác biệt là bao. Sự khác biệt chính là từ ngữ, là do phiên âm khác nhau, cách đọc tiếng Việt và tiếng Hán khác nhau và do lỗi chính tả trong bản quốc ngữ. Cũng có thể là do chép sai, đọc sai bản nôm. Việc sửa chữa các câu, các đoạn nếu có cũng rất it. Dẫu sao, sự sửa chữa từng chữ, tùng câu cũng chỉ là cách hành văn, cách tu từ có mục đích làm cho rõ hơn, đẹp hơn. Như đoạn trên, nguyên bản 6 câu sửa thành bốn câu và lời lẽ hay hơn nguyên bảøn. Có thể nói rằngø giá trị của các bản vẫn một chín, một mười. Một điều đáng chú ý là các chữ khác nhau của bản này có thể giống với bản khác. TấÁt cả như có một sự liên lạc và thân thuộc.
=====
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Đào Duy Anh. Khảo Luận về Kim Vân Kiều.Quan Hải
Tùng Thư, Huế, 1943.
Nguyễn Du. Truyện Thúy Kiều. Bùi Kỷ, Trần Trọng
Kim hiệu đính. Tân Việt, Sàigòn, 1973.
Nguyễn Du. Truyện Kiều. Nguyễn Thạch Giang hiệu
đính. ĐH&THCN, Hà Nội, 1973.
Nguyễn Du Kim Túy Tình Từ. Phạm Kim Chi chú
thích. Nguyễn Thành Điểm, Sàigòn, 1917.
Nguyễn Du. Kim Túy Tình Từ. Thuần Phong xuất bản,
Saigon. 1971?.
Nguyễn Du. Kim Túy Tình Từ. Phủ QVK, Saigon,
1972.
Trần Văn Giáp. Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm 2
quyển, KHXH, Hà NộÄi, 1984-1990.
Trần Văn Giáp. Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam,
2quyển. KHXH, Hànội, 1971
(DÒNG VIỆT # 18, 2005, CALIFORNIA, .206-220)
====
Từ khi có máy in và nhà in, và luật về tác quyền, các tác phẩm mới giữ được tính chất nguyên thủy của nó.Còn trước đó, việc phóng tác, sửa chữa là một hành động phổ biến trong văn chương chữ nghĩa. Sự thực, các tác phẩm ngày nay cũng đã biến thái, dù nhiều dù ít. Các ông sắp chữ, những người sửa bản in, và những người xuất bản một số đã vô tình hay cố ý sữa chữa trái với nguyên bản của tác giả. Những thi tập của Tản Đà, những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn đã không còn nguyên trạng như khi còn nằm trên báo, hay trong ấn bản đầu tiên. Nhất là trong xã hội chủ nghĩa, nhà xuất bản đã sửa chữa những tác phẩm mới và cũ để phù hợp với chủ trương, đường lối đảng.
Trải qua bao cuộc chiến tranh và thay đổi, nay ta không còn có được những thủ bút của Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Ngay cả những tác giả hiện đại cũng không còn những ấn bản đầu tiên của mình. Người ta may ra có thể tìm thấy những thủ bản, những ấn bản Việt Nam tại thư việân La Mã, Paris và Đông Kinh, hoặc tại thư viện tư nhân tại Việt Nam.
Sau khi Nguyễn Du viết xong truyện Kiều, người ta chuyền tay nhau đọc rồi đem khắc bản gỗ và bán tại các cửa hàng sách.Một số trong đó có vua Tự Đức tự động sửa chữa truyện Kiều . Phong trào cùng đọc, cùng sửa chữa này càng lan rộng, khiến truyện Kiều không còn giữ nguyên trạng thái đầu tiên khi ra khỏi nhà Nguyễn Du. Người ta thêm, bớt, sửa chữa và đem khắc in. Kết quả ngày nay chúng ta đã thu lượm được nhiều bản gỗ truyện Kiều và nhiều bản quốc ngữ khác nhau. Chưa kể sự khác nhau là do phiên âm chữ nôm khác nhau. Về quốc ngữ, chúng ta thấy có bản của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, BùØi Kỷ và Trần Trọng Kim. . . Một nhà văn tiền chiến đã cho rằng bản Bùi Kỷ và Tản Đà chú thích là hay nhất. Ở đây, chúng tôi không chú ý việc tìm hiểu và phê phán bản nào hay nhất, mà chỉ đi tìm nguyên bản truyện Kiều, nghĩa là đi tìm bản gốc của Nguyễn Du. Sau khi tìm được bản này, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược vài nét.
Trong văn học, nghệ thuật cũng như trong lịch sử, người ta chú trọng những ấn bản đầu tiên, những tác phẩm thật vì nó là chân diện mục của tác giả, nó có giá trị của sự thực, còn các ấn bản khác thường là bị thay đổi, hay bị giả mạo. Trong phạm vi tôn giáo và triết học cũng vậy. Đâu là những lời thuyết giảng của đức Phật thời tại thế? Những Kinh Thánh đã được sửa chữa nhiều lúc và nhiều nơi, vậy đâu là chân lý? Công việc phục nguyên rất khó khăn.
Tại Việt Nam, người ta đã đem bản Trần Trọng Kim ra giảng dạy vì Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ là những nhà văn, nhà giáo nghiêm túc. Hơn nữa, Trần Trọng Kim lúc bấy giờ có địa vị và uy tín lớn trong ngành giáo dục.Và lý do thứ ba, có lẽ lúc này bản của Trần Trọng Kim được nhiều người đọc nhất. Bây giờ, theo đúng nguyên tắc khảo cứu, chúng ta thử tìm đâu là bản chính của truyện Kiều nghĩa là đi tìm đứa con đẻ của Nguyễn Du , dù nó xấu xí, quê mùa, chứ không phải những đứa lai tạo rất đẹp, rất xinh. Sau, các nhà biên khảo, chú thích, gặp bản nào là làm việc với bản ấy, dường như chẳng ai quan tâm đi tìm chân bản của Nguyễn Du.
Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ trong lời Tựa Truyện Thúy Kiều viết rằng:
Hiện nay tập nguyên văn của tác giả làm ra thì không tìm thấy nữa, chỉ thấy hai bản khác nhau ít nhiều,là bản Phường, in ở phố hàng Gai, Hà Nội, và bản Kinh của vua Dực Tông bản triều đã chữa lại.Bản Phường là bản của ông Phạm Quý Thích đem khắc in ra trước hết cả.Oâng hiệu là Lập Trai, người làng Huê Đường ( nay đổi là làng Lương Đường),phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ về cuối đời Lê, cùng với tác giả là bạn đồng thanh đồng khí, cho nên khi quyển truyện này làm xong thì tác giả đưa cho ông xem.Chắc cũng có sửa đổi lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả. Vì vậy chúng tôi thiết tưởng rằng lấy bản Phường làm cốt, thì có lẽ không sai lầm là mấy. Còn những chỗ mà bản kinh đổi khác đi, hoặc những câu mà về sau người ta sửa lại thì chúng tôi phu lục cả ở dưới, để độc giả có thể xem mà cân nhắc hơn kém.Lại có một vài chữ người ta muốn đổi đi, nhưng không đúng với các bản nôm cũ, thì chúng tôi cũng thích xuống dưới, chứ không tự tiện mà đổi nguyên văn đi. Chủ ý của chúng tôi là muốn giữ cho đúng như các bản cũ, chứ không phải muốn cho hay hơn (vi).
Theo Trần Trọng Kim, như vậy là khoảng 1925
( lúc Trần Trọng Kim viết bài tựa này cho ấn bản thứ nhất, Việt văn thư xã, Vĩnh Hưng Long thư quán, Hà Nội, 1925) có hai bản Kinh và bản Phường. Nhiều nhà nghiên cứu ngày nay cũng nói như vậy.
Theo Trần Văn Giáp trong Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm II, có 28 văn bản thuộc 6 loại như sau:
1. Kim Vân Kiều : văn nôm
2. Kim Vân Kiều, văn nôm , có chú giải và phê bình.
3.Kim Vân Kiều, dịch nguyên văn chữ nôm ra chữ Hán.
4.Các sáng tác lấy truyện Kiều làm đề tài.
5.Các thơ văn đề vịnh các nhân vật truyện Kiều
6. Các bản truyện Kiều viết bằng văn xuôi chữ Hán.
Riêng các bản truyện Kiều chữ nôm ( loại 1 và 2), chúng ta có đến 12 bản, trong đó có một bàn viết tay, và một bản nôm in năm 1963. Tình trạng những quyển này khá bi đát vì một số rách nát, mất đầu mất đuôi. Tên truyện cũng khác nhau:
- 6 bản mang tên Kim Vân Kiều truyện,
- 2 bản mang tên Kim Vân Kiều tân truyện
- 1 bản Kim Vân Kiều Quảng Tập Truyện
- 1 bản Kim Vân Kiều Hợp Tập.
- 1 bản mang tên Đoạn Trường Tân Thanh.
- 1 bản Kim Vân Kiều truyện chú.
Về bản Kiều của Phạm Quý Thích (1760-1825) khắc in thì ý kiến quần chúng và các nhà biên khảo truyện Kiều đều đồng ý rằng bản này là ra đời sớùm nhấùt nhưng tiếc rằng nay đã tuyệt bản. Chúng ta phỏng đoán quyển này phải ra đời trước 1825 là năm Phạm Quý Thích từ trần, cho nên năm 1830, Nguyễn Văn Thắngở trong tù đã đọc truyện Kiều và viết Kim Vân Kiều án. Sau Phạm Quý Thích, tại Hàng Gai có bốn năm truyện Kiều được khắc in và phổ biến trong quần chúng ( Trần Văn Giáp, 136). Các nhà Liễu Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường, Quan Văn Đường, Phúc Văn Đường là những nhà khắc mộc bản nổi tiếng. Tất cà bản Kiều tại Hàng Gai, Hà Nội đều gọi chung là bản Phường. Theo bài Tổng từ của vua Tự Đức, bản Kiều của Hoa Đường ( Phạm Quý Thích) đã tuyệt bản trước 1871.
Trong tài liệu củaTrần Văn Giáp kể trên, các bản in cũ, thuộc loại 2 ( chú giải và phê bình), chúng ta nhận thấy những chi tiết và tên tuổi:
- Kim Vân Kiều tân truyện, ký hiệu VNB8, do Phúc Văn Đường tàng bản, in năm Khải Định mậu ngọ (1918).
- Kim Vân Kiều Quảng Tập Truyện, Ký hiệu VNV71; VNV 147; VNV208, do Liễu văn đường tàng bản, khắc in đời Khải Định (1924)
- Đoạn Trường Tân Thanh, ký danh AB 12, do Kiều Oánh Mậu in, sau khi tham khảo bản Kinh và bản Phường, có thơ vịnh Kiều của Phạm Quý Thích, có khảo dị giữa bản kinh và bản phường, có Vũ Trinh và Nguyễn Lượng phê bình, Kiều Oánh Mậu chú thích, in đời Thành Thái (1902) và bài tựa viết năm1898 của Đào Nguyên Phổ. Nguyên năm 1895, Đào Nguyên Phổ vào Huế học Quốc Tử Giám, được một người họ ngoại nhà vua tặng một bản Kiều, nhan đề Đoạn Trường Tân Thanh, sau ông mang bản này ra Hà Nội giao cho Kiều Oánh Mậu ( Trần Văn Giáp,133-138).
Theo Tân Khắc lệ ngôn trong Đoạn Trường Tân Thanh của Kiều Oánh Mậu, trước đó đã có bốn năm bản do Hàng Gai khắc, và được gọi là bản Phường (136).và Kiều Oánh Mậu tham khảo bản Kinh và bản Phường (Trần Văn Giáp,135), như vậy trước Kiều Oánh Mậu đã có nhiều bản Phường.
Theo địa phương, chúng ta gọi là bản Kinh và bản Phường, và các nhà biên khảo cũng ghi chú như vậy, song ít nhất có bốn năm bản Phường, vàlúc bấy giơ ít nhất có hai bản kinh là bản của Đào Nguyên Phổ và bản của Kiều Oánh Mậu.
Sau khi Kiều Oánh Mậu in truyện Kiều, đã có một bản Kiều nhan đề Kim Vân Kiều truyện chú, do vô danh chú, in năm ất tị Thành Thái (1905) tại huyện Chương Mỹ, Hà Đông, và bản Kim Vân Kiều tân truyện, ký hiệu VNB8, do Phúc Văn Đường tàng bản, in năm Khải Định mậu ngọ (1918). Vậy đầu thế kỷ XX, tại đất Bắc có it nhất 7 bản Kiều.
Bản Kim Vân Kiều của Phạm Quý Thích có trước, sau đó mới truyền vào Huế, các bậc đế vương và văn nhân tài tử sinh lòng yêu thích và cho khắc in.
Có lẽ năm 1830 người ta đã in truyện Kiều tại Huế vì lúc này vua Minh Mạng có bài Tổng thuyết. Đến năm 1871, vua Tự Đức viết bài Tổng từ, sửa chữa truyện Kiều và cho khắc in. Phải chăng bản này đã đưọc đem tặng Đào Nguyên Phổ? Hoặc bản Đào Nguyên Phổ là một bản khác? Vậy ít nhất, tại Huế ta thấy có hai bản Kinh.
Bản liệt kê của Trần Văn Giáp chỉ có một số , chứ không có nhiều các bản Kinh và bản Phường bởi vì trong thư viện không có, hoặc đã tuyệt bản. Theo nhiều nhà nghiên cứu, bản Hoa Đường, và bản Kinh của Đào Nguyên Phổ đã mất tích.Nhưng trong Truyện Kiều, Trần Trọng Kim đã dùng bản Kinh và bản Phường để làm khảo dị. Vậy là trong tủ sách dân chúng và các nhà trí thức, vẫn còn bản Kinh và bản Phường, Kiều Oánh Mậu và Trần Trọng Kim tỏ ra rất khoa học khi làm khảo dị, và không tự ý thêm bớt sủa chữa. Nhưng hai ông cũng như những nhà biên khảo về sau không nói rõ bản Phường nào, bản kinh nào vì có nhiều bản Phường và nhiều bản Kinh.
Và qua sự tìm hiểu này, chúng ta thấy những bản trên đều đã được sửa chữa, và cùng mang một kiếp giang hồ trôi nổi của Thúy Kiều bạc mệnh, và đó cũng là số phận long đong, và sự hóa thân của truyện Kiều:
1. Nguyễn Du sáng tạo: nguyên bản.
2. Phạm Quý Thích theo nguyên bản, rồi sửa chữa: bản Phường
3. Các vua Nguyễn theo bản Phạm Quý Thích, sửa chữa và ấn hành: bản Kinh.
Trong các bản truyện Kiều, theo thiển kiến, quyển Kim Túy Tình Từ là nguyên bản của truyện Kiều. Quyển này do Phạm Kim Chi sưu tập và chú thích, Nguyễn Thành Điểm xuất bản tại Sài gòn năm 1917. Sau này, giáo sư Thuần Phong Ngô Văn Phát tức thi sĩ Tố Phang đã tái bản khoảng1970 - 1973, có lẽ đó là tài liệu giảng dạy của ông tại Đại Học Cần Thơ. Cùng một lúc, Phủ Quốc VụÏ Khanh, Sài gòn được sự giúp đỡ của bác sĩ Phạm Kim Lương, thứ nam của ông Phạm Kim Chi đã ấn hành năm 1972 trong tủ sách Văn Hóa Tùng Thư . Quyển này ra đời rất sớm vào bình minh của văn chương quốc ngữ song không được chú ý vì cái tên Kim Túy Tình Từ nghe lạ hoắc. Và có lẽ cũng vì cái tâm lý kỳ thị mà các sĩ phu đất Bắc trước 1945 đã không để ý đến các tác phẩm xuất bản tại Nam Kỳ cho dù tác giả của nó là người của đất Thăng Long ngàn năm văn vật! Buồn cười nhất làkhoảng cuối 1974, trên tạp chí Bách Khoa, một người ( tôi đã quên bút hiệu) có lẽ có ân oán giang hồ với Thuần Phong đã viết bài mạt sát Thuần Phong và quyển này, cho rằng Thuần Phong là kẻ ăn chơi trác táng, và quyển này là sách khiêu dâm ( Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề). Người đó không biết rằng Thuần Phong là người tái bản, ông chỉ sao y bản chánh của người xuất bản là Phạm Kim Chi và những chú thích là chính của Nguyễn Du.
Người ta đã không xem kỹ, dù chỉ là xem trang bìa, lại hung dữ hồ đồ kết tội Thuần Phong, mà tờ báo Bách Khoa cũng thuộc loại khá lại đăng những bài như vậy!
Chúng tôi cho rằng quyển Kim Túy Tình Từ là chân bản vì quyển này vốùn ở trong tủ sách của gia đình Nguyễn Du.
Trong Lời báo dẫn, Phạm Kim Chi viết:
Tôi nhân vì việc quan, có ra ở ba năm tại Hà Tịnh, là quê quán ông Nguyễn Du Đức hầu.May gặp dịp đươc làm quen với cháu nhà ông ấy, là ông tấn sĩ Mai, mượn đặng bổn chánh '' Kim Túy Tình Từ'' có chú dẫn điển tích rõ ràng''
Phạm Kim Chi được tiến sĩ Nguyễn Mai là cháu của Nguyễn Du cho mượn sách, và cho phép in sách. Cụ Nghè còn vui vẻ viết bài tựa bằng chữ Hán vào tháng giêng năm Duy Tân thứ 9 ( 1915 ) cho quyển truyện Kiều của Phạm Kim Chi. Lời tựa này sau được Huỳnh Thúc Mậu dịch quốc ngữ đặt vào đầu sách. Trong bài tựa này, mở đầu, cụ Nghè viềt về tiểu sử Nguyễn Du, và việc viết truyện Kiều, sau nói về ông Phạm Kim Chi là phán sự toà muốn khắc in truyện Kiều, và đây là bản ''gia truyền'' mà ông thường đọc hằng ngày (11). Ta thấy quyển Kim Túy Tình Từ đã được gia đình Nguyễn Du gọi là'' bổûøn gia truyền'', còn ông Phạm Kim Chi gọi là ''bổn chánh''.
Bản này có điểm đặc biệt nữa là do Nguyễn Du chú thích bằng Hán văn, sau đó Phạm Kim Chi chú thích thêm và dịch những chú thích của Nguyễn Du như lời giới thiệu của Phạm Kim Chi bổn chánh '' Kim Túy Tình Từ'' có chú dẫn điển tích rõ ràng''.
Như trên đã trình bày, truyện Kiều của Nguyễn Du được thế nhân sửa chữa và khắc in tự do. Ngay tên sách cũng khác nhau.:
Kim Vân Kiều truyện
Kim Vân Kiều Tân Truyện
Đoạn Trường Tân Thanh
Xem bản liệt kê trên, ta thấy phần lớn đều ghi là Kim Vân Kiều truyện, Ngay quyển DTTT ký danh AB12 của Kiều Oánh Mậu hàng cuối cùng cũng ghi Kim Vân Kiều chung, cộng 1628 liên (Trần Văn Giáp, 136).
Bản Kim Vân Kiều truyện ký hiệu VNB60 trên trang sách có ghi bút lông hàng chữ:
Kim Vân Kiều truyện, bản Bắùc Quốc Thanh Tâm Tài Nhân Lục. Tiên Điền diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều Truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm, cải vi Đoạn Trường Tân Thanh (Trần Văn Giáp, tr.135). Như vậy, lúc đầu tên truyện là Kim Vân Kiều, sau cải là Đoạn Trường Tân Thanh, do lệnh của vua Minh Mạng và các bản Kinh đều theo đóø màgọi là Đoạn Trường Tân Thanh .
Trong khi đó, Trần Trọng Kim viết ngược lại:
Truyện Thúy Kiều này nguyên lúc đầu tác giả nhan lả ''Đoạn Trường Tân Thanh''. Sau nghe đâu ông Phạm Quý Thích đổi lại là ''Kim Vân Kiều Tân Truyện''(vi).
Phải chăng Trần Trọng Kim sai lầm?
CòØn tên Kim Túy Tình Từ ? Tại sao xưa nay không nghe ai nói đến Kim Túy Tình Từ ? Phải chăng do Phạm Kim Chi đặt ra? Trong tài liệu này, ta không thấy Nguyễn Mai nói đến bốn chữ Kim Túy Tình Từ, mà chỉ nói truyện Kim Trọng và Thúy Kiều.
Nguyễn Thạch Giang đã nghiên cứu Kim TuÙy Tình TừØ, và cho biết có bản chép tay của gia đình cụ Nghè Mai, mà ông gọi là bản Tiên Điền. Trong Truyện Kiều do ông khảo đính và chú thích, Hà Huy Giáp đề tựa, ông đã cho biết tháng 10 năm 1962, ông đã vào Tiên Điền, gặp hậu duệ của Nguyễn Du. Lúc này cụ Nghè Mai đã mất, cụ Lê Liêu ở chung cùng nhà đã cho mượn bản Kiều chép tay. Theo ông Nguyễn Châu, cháu xa đời của Nguyễn Du, thì sinh thời cụ Nghè Mai hay đọc quyển này (96-97). Như vậy, quyển này và quyển Phạm Kim Chi cùng một gốc. Rất tiếc là ông Nguyễn Thạch Giang không nói đến cái tên Kim Túy Tình Từ là do Nguyễn Du đặt hay Phạm Kim Chi sáng tạo. Theo sự khảo cứu của Nguyễn Thạch Giang, quyển của Phạm Kim Chi và bản chép tay Tiên Điền rất giống nhau. Ông viết:
Đối chiếu, so sánh giữa hai bản, kết quả như sau:
1.Cả hai bản đều có 3.256 câu. Những câu của bản Kinh và những câu khác hẳn các bản Kiều khác chép ở trong bản Phạm Kim Chi, thì ở bản Tiên Điền cũng ghi đúng như thế. Giữa hai bản có 12 câu là khác nhau một đôi chỗ về cách phiên âm hay cách nhận nhầm mặt chữ, nhưng đều có nghĩa cả.
2. Phần chú thích, bản Phạm Kim Chi đã phiên âm và dịch ra đầy đủ, không bỏ sót một chi tiết nào của bản Tiên Điền
3. Đáng chú ý hơn cả là 563 chữ của Nguyễn hầu liệt truyện, cả hai bản hoàn toàn giống nhau (96-98).
Việc so sánh của Nguyễn Thạch Giang cho ta tin chắc bản quốc ngữ của Phạm Kim Chi cùng với bản nôm chép tay Tiên Điền là chung một nguồn gốc. Dẫu sao, bản này cũng như bản Tiên Điền cũng là bản chép lại sau này chứ không phải là thủ bản của Nguyễn Du vì có thêm phần Nguyễn hầu liệt truyện của Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện. Mà Chánh Biên Liệt Truyện Sơ Tập, quyển 20, mục 17 trong đó có tiểu sử Nguyễn Du được viết xong năm Thành Thái nguyên niên 1889 ( chưa rõ năm khắc in), tức sau khi Nguyễn Du mất khoảng 69 năm. So sánh Nguyễn hầu liệt truyện với tiểu sử Nguyễn Du trong Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện thì giống nhau 90%. Có thể người nhà Nguyễn Du đã tham khảo Liệt Truyện mà viết ra. Trong khi chờ đợi những kết quả mới, chúng ta tạm xem bản Tiên Điền và bản Phạm Kim Chi là gần nguyên tác của Nguyễn Du nhất.
Theo Nguyễn Thạch Giang, sự khác biệt giữa các bản quốc ngữ và bản nôm không là bao nhiêu. Sự khác biệt chính yếu là khác biệt giữa bản Kinh và bản Phường.Ông viết:
Vậy theo đó giữa bản Kinh và bản Phường có gì khác nhau? Sự khác nhau chủ yếu là về mặt chữ nghĩa hàm ý tu từ. Có chỗ chỉ khác nhau một hai chữ, có chỗ khác nhau cả câu và có chỗ khác nhau cả một đoạn. Do đó mà số câu không đồng đều nhau; Tổng số câu của bản Kinh theo lời chú đã nói là 3.258 câu, và tổng số câu của bản Phường tiêu biểu là 3.254 câu(89).
Trần Trọng Kim khi so sánh bản Phường vànguyên bản của Nguyễn Du đã nhận định:
Chắc cũng có sửa đổi lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả. Vì vậy chúng tôi thiết tưởng rằng lấy bản Phường làm cốt, thì có lẽ không sai lầm là mấy.
Sau đây, chúng tôi thử nghiên cứu bản Phạm Kim Chi và bản Trần Trọng Kim qua một ngàn câu thơ phần đầu để xem xétsự khác biệt của hai bản này.
Bỏ qua những khác biệt nhỏ nhặt về cách đọc chữ Hán và phát âm địa phương như lạc/nhạc; chưn/chơn/chân; tính/tánh; tỏa/ khóa; vưng/ vâng; phũ phàng/ phụ phàng; kim thoa/kim xoa; rời/ dời; vưng/ vâng; xa xôi/xa xuôi v. v.. chúng ta có kết quả như sau:
TRÂN TRỌNG KIM - PHẠM KIM CHI
1. Số câu 3524 - 3526
2. Khác một vài chữ
SỐCHỮ Câu TTK PKC
2 37 Êm đềm Yêm niềm
1 50 vàng vó rắc bủa rắc
1 77 nếp tử nhiếp tử
3 78 Vùi nông một nấm Bụi hồng một nắm
1 95 khấn khứa khấn vái
2 96 Sụp ngồi đặt cỏ Sụp ngồi vài gật
2 102 Lại càng đứng lặng Lại còn đứng sững
1 160 Đố lá Đỏ lá
1 178 rộn dồn
2 186 Tựa ngồi Dựa nương
1 195 mái mé
1 272 dẫy đầy
2 319 Bậc mây dón bước Thang mây nhơn bước
1 321 Giữ ý Dỡ ý
1 325 Rũ mòn gầy mòn
2 351 Thỉ chung Năm trong
2 359 gắn bó vừa gắn
1 365 nông sờ nông trờ
3 374 biện dâng, xa đem cần dưng, quỳ đem
2 497 Hoa hương Ngọc lan
1 502 Dẽ cho Để cho
1 529 Cửa sài Cửa ngoài
3 582 Giọt liễu, gối mai Khung cửi, gói mai.
1 585 Ai buộc Bay buộc
2 586 Đàn dập Đan rậm
1 614 dặn nhủ
2 616 Vạ gió họa bốc
1 633 Thêm tức Đương tức
2 651 Búa rìu Phủ cân
2 782 Thấm áo, tơ chia Thấm đá, tóc chia
2 803 Đêm thu Điểm sầu
1 818 chọn soạn
2 863 Nỗi mình Đánh liều
1 872 Mở tiệc Gánh tiệc
1 911 Dặm khách Cõi khách
2 925 Lơi lả Bả lả
1 938 Đổi hoa Đũa hoa
2 945 Vẩn, bài Vượt, bày
1 948 Như màu Những màu
1 952 sang lạy thì lạy
1 967 Vô nghĩa Vô sỉ
2 972 Nhập gia Vào nhà
1 995 Rỉ rằng Biểu rằng
66 chữ
3. Khác nhau một câu.
CÂU TTK PKC
357 Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ Quạt vàng, khăn gấm,sẵn khi
414 Có người tướngsĩ đoán ngay một lời Cứ trông tướng pháp lắm thầy chê bai.
4. Khác nhau nhiều câu (khác một đoạn).
TTK
351. Đem tin thúc phụ từ đường
Bơ vơ lữ thấn, tha hương đề huề
Liêu Dương cách trở sơn khê,
Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang.
PKC
Mở xem thủ bút nghiêm đường,
Nhắn rằng: thúc phụ xa đàng mạng chung.
Hãy còn ký táng Liêu Đông,
Cố hương khơi diễn ngàn trùng sơn khê.
Rày đưa linh sấn về quê,
Thế nào con cũng phải về hộ tang.
TỔNG KẾT:
Toàn quyển: Bản TTK ít hơn 2 câu.
Số chữ khác biệt trong 1000 câu: 108/7.000; tỷ lệ 1,2%
Khác nhau toàn câu : 6/1000; tỷ lệ 0,6%
Công cuộc tìm kiếm cho thấy bản Phạm Kim Chi và bản chép tay của gia đình Nguyễn Du ở Tiên Điền là một. Và qua sự khảo sát số câu, số chữ giữa bản Phạm Kim Chi và Trần Trọng Kim- Bùi Kỷ, ta thấy giữa hai bản sự khác biệt rất nhỏ, khoảng 1% Suy rộng ra, nguyên tác và các bản khác cũng không có sự khác biệt là bao. Sự khác biệt chính là từ ngữ, là do phiên âm khác nhau, cách đọc tiếng Việt và tiếng Hán khác nhau và do lỗi chính tả trong bản quốc ngữ. Cũng có thể là do chép sai, đọc sai bản nôm. Việc sửa chữa các câu, các đoạn nếu có cũng rất it. Dẫu sao, sự sửa chữa từng chữ, tùng câu cũng chỉ là cách hành văn, cách tu từ có mục đích làm cho rõ hơn, đẹp hơn. Như đoạn trên, nguyên bản 6 câu sửa thành bốn câu và lời lẽ hay hơn nguyên bảøn. Có thể nói rằngø giá trị của các bản vẫn một chín, một mười. Một điều đáng chú ý là các chữ khác nhau của bản này có thể giống với bản khác. TấÁt cả như có một sự liên lạc và thân thuộc.
=====
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Đào Duy Anh. Khảo Luận về Kim Vân Kiều.Quan Hải
Tùng Thư, Huế, 1943.
Nguyễn Du. Truyện Thúy Kiều. Bùi Kỷ, Trần Trọng
Kim hiệu đính. Tân Việt, Sàigòn, 1973.
Nguyễn Du. Truyện Kiều. Nguyễn Thạch Giang hiệu
đính. ĐH&THCN, Hà Nội, 1973.
Nguyễn Du Kim Túy Tình Từ. Phạm Kim Chi chú
thích. Nguyễn Thành Điểm, Sàigòn, 1917.
Nguyễn Du. Kim Túy Tình Từ. Thuần Phong xuất bản,
Saigon. 1971?.
Nguyễn Du. Kim Túy Tình Từ. Phủ QVK, Saigon,
1972.
Trần Văn Giáp. Tìm Hiểu Kho Sách Hán Nôm 2
quyển, KHXH, Hà NộÄi, 1984-1990.
Trần Văn Giáp. Lược Truyện Các Tác Gia Việt Nam,
2quyển. KHXH, Hànội, 1971
(DÒNG VIỆT # 18, 2005, CALIFORNIA, .206-220)
====
Subscribe to:
Posts (Atom)
Blog Archive
-
►
2009
(691)
-
►
November
(53)
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 15
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 14
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 13
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 12
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 11
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 10
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 9
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 8
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 7
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 6
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 5
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 4
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 3
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI 2
- NƯỚC MẮT MỘT THỜI I
- XVIII. CƠN ĐẠI HỒNG THỦY
- XVII. CHIẾC ÁO GẤM THƯỢNG HẢI
- XVI. CUỘC LUẬN KIẾM TẠI NON TẢN
- XVI. HỘI HOA ANH ĐÀO
- XIV. CHIÊM TINH GIA ĐINH SƠN
- XIII. BÁO CÁO KHOA HỌC
- XII. HOÀNG ĐẾ TUẦN DU
- XI. SAU CƠN BÃO LỤT
- X. TRUNG CAN NGHĨA ĐẢM
- IX. BẠCH TUYẾT VÀ CHÍN CHÚ LÙN
- VIII. VƯƠNG LÃO SƯ
- VII. DÂN KHỔ KÊU THAN
- V. CHÂU TỬ LONG TIÊN SINH
- IV. MỘT CUỘC BỂ DÂU
- III.SỐNG KHÔN THÁC THIÊNG
- II. CẬU NĂM CHÓ
- I. TÔN THẤT TIÊN SINH
- SƠN TRUNG TRUYỆN KÝ
- XVIII. TÔI LÀ NGƯỜI KHÁCH LẠ
- XVII. TÔI ĐI XE BUS
- XVI. CHÙM KHẾ NGỌT
- XV. THƯ GỬI BẠN
- XIV. EM CHỢT ĐẾN
- XIII. SINH VIÊN VÕ BA
- XII. VỊ KHÁCH QUÝ
- XI. PHIÊN TÒA CHUỘT
- X. XUÂN NÀY KHÔNG VỀ
- IX. BỮA TIỆC TẤT NIÊN
- VIII. VỀ MIỀN TRUNG
- VII. NGƯỜI BỘ ĐỘI NĂM XƯA
- VI. CON XÀ-NIÊNG
- VI. CHUYẾN THĂM HỮU NGHỊ
- IV. NHỮNG HÀNG BIA LIỆT SĨ
- III. NGƯỜI BỐ LIỆT SĨ
- II. MỘT THỜI THI NHẠC
-
►
November
(53)
-
▼
2008
(539)
-
▼
October
(14)
- NGÔ THẾ VINH
- HOÀNG KHỞI PHONG và HAI NGƯỜI ĐỘI MŨ
- .“MẶT THẬT” CỦA BÙI TÍN
- ĐẶC TÍNH VĂN HỌC ĐỜI NGUYỄN
- TƯ TƯỞNG ĐÔNG PHƯƠNG TRONG VĂN HỌC TÂY PHƯƠNG
- THẦN THOẠI VIỆT NAM
- AI GIẾT THÂN TRONG ĐOẠN TUIYỆT?
- MỐI TÌNH ĐẦU CỦA TẢN ĐÀ
- CA DAO HUẾ
- THỐNG NHẤT VÀ MÂU THUẪN TRONG CA DAO
- LỤC VÂN TIÊN VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀO ĐỜI
- MỘT THÚY KIỀU, BA TÌNH YÊU
- NGUYỄN BÁCH KHOA PHÊ BÌNH NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU...
- ĐI TÌM CHÁNH BẢN TRUYỆN KIỀU của NGUYỄN DU (1765- ...
-
▼
October
(14)