Saturday, October 24, 2009

QUỐC KỲ VIỆT NAM



==



(Tại Phu Văn Lâu, Huế, cờ Long tinh trong lễ khánh thọ vua Khải Định năm 1924)



QUỐC KỲ VIỆT NAM

Sơn Trung


I.TỔNG QUÁT

Truyền thống Việt Nam cũng như một số các nước Á châu là không có quốc kỳ, quốc ca . Tây phương thì khoái dùng cờ và biểu tượng. Ngày xưa, tại Tây phương, các vương hầu, bá tước mỗi xứ đều có cờ hiệu và huy hiệu riêng. Ngày nay, các tiểu bang Mỹ, các tỉnh bang Canada đều có cờ riêng.

Truyền thống Việt Nam không dùng quốc kỳ nhưng dùng cờ trong nhiều trường hợp:
-Cờ ngũ sắc, cờ đuôi nheo treo trong lễ hội
-Cờ đỏ: chỉ huy
-Cờ: ghi tên họ, chức vụ vị chỉ huy hay khẩu hiệu của đoàn quân

Chúng ta không có quốc kỳ, không có huy hiệu nhưng chúng ta có nhiều loại cờ. Cờ được dùng trong dân chúng và trong quân đội. Ngày tết, ngày lễ, ngày hội, ngày giỗ họ đại tôn người ta treo cờ ngũ sắc và cờ tứ linh tại đình, miếu, chùa, nhà thờ họ để cho long trọng. Trong những cuộc lễ lớn, người ta treo một lá đại hồng kỳ ở giữa sân, xung quanh sân, dọc hàng rào, ngoài cổng là cờ ngũ sắc hay cờ tứ linh. Thường cờ ngũ sắc hình vuông, hay tam giác, xung quanh có tua lưọn sóng, và giải dài. Trong dám ma ở thôn quâ, người ta dùng đòn có chạm hình rồng làm kiệu khiêng quan tài, vị đô quan đứng trên kiệu đánh trống, phất cờ đỏ chỉ huy, ra lệnh nhấc lên, lùi xuống, tiến lên. ..

Trong phụ đồng chi, trẻ con cũng dùng cờ .
Đồng ca có bài:
Phụ đồng phụ chổi,
Thổi lổi mà lên.. . . . . . . . . . . .
Đi mũ đi tế ,
Là quan chưởng đô
Đánh trống phất cờ,
Là phụ đồng chổi!


Trong quân đội, người ta dùng cờ để nêu danh hiệu của vị chỉ huy hoặc danh hiệu của đoàn quân. Thí dụ quân đội Mãn Thanh có Bát kỳ, và bọn Thái Bình Thiên quốc có nhiều nhóm mang những màu cờ khác nhau như Hoàng Sùng Anh cờ vàng, Lưu Vĩnh Phúc cờ đen, Bàn Văn Nhị , Lương Văn Lợi cờ trắng quấy nhiễu ở miền bắc nước ta thời Tự Đức (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, tr. 507).

Cờ chỉ đơn thuần là thế, không có một biểu tượng nào giữa là cờ. Có thể giữa cờ đề chữ để nói rõ danh xưng hay mục đích của chủ nhân lá cờ.

Cờ của Trần quôc Toản không biêt màu gì nhưng đề chữ:' Phá cường địch, báo hoàng ân'(Trần Trọng Kim, 143).

Mỗi đoàn quân đếu có cờ như cờ của Lê Lợi khi khởi binh có lẽ đề ' Bình Định Vương', cờ của Nguyễn Huệ khi ra đánh quân Thanh có lẽ đề Quang Trung. Còn cờ của Trần Hưng Đạo có lẽ đề một chữ Trần, hoặc Tiết Chế, Hưng Đạo vương, hoặc Sát Đát.

Cờ được dùng để chỉ huy, để ban hiệu lệnh. Bình Định vương đã ra nghiêm lệnh cho quân đội có đoạn như sau:

3. Lúc lâm trận, nghe trống đánh, thấy cờ phất mà chùng chình không tiến..
4.Thấy kéo cờ dừng quân mà không dừng... thì phải tội chém

(Trần Trọng Kim, 218).

Trong dân chúng và quân đội , người ta thường dùng cờ đỏ để chỉ huy. Khi báo ân báo oán cho Thúy Kiều, Từ Hải đã dùng cờ đỏ:
Ba quân trỏ ngọn cờ đào,
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri.

Và Tào Tháo trong trận đánh Ký Châu cũng dùng cờ đỏ để chỉ huy (Tam Quốc Chí III , . 34).

Vậy cờ đào, cờ thắm của vua Quang Trung cũng chỉ là cờ chỉ huy của quân đội, không phải là quốc kỳ như quan niệm bây giờ.

Sở dĩ cờ lệnh là cờ đỏ vì màu đỏ là màu truyền thống vì cổ nhân ta thích màu son: tốt vàng son, ngon mật mỡ.

Màu đỏ đuợc dùng trong lễ cưới, ngày tết:Lễ tơ hồng, khăn hồng, quả đỏ,'Câu đối đỏ, bánh chưng xanh'Y phục cũng dùng màu đỏ:-
khăn đỏ:
Mẹ già hết gạo treo niêu,
Anh còn áo trắng, khăn điều vắt vai.

Quần hồng:
Hồng quân với khách hồng quần
Đã xoay đến thế còn vần chưa tha ( Kiều)


II.ĐI TÌM TÀI LIỆU


Chúng ta tạm chia lịch sử cận đại thành hai giai đọan:
1/ Độc lập: 1802 - 1885
2/ Ngoại xâm: 1886-1945
Nhìn chung các tài liệu trước 1945 là không rõ rệt, thiếu bằng chứng.
Có nhiều người đã viết về cờ Việt Nam, chúng tôi sẽ trình bày các tài liệu.

A. BEN CAHOON

Ben Cahoon, một học giả Mỹ. tác phẩm điện tử xuất bản năm 2000

* BEN CAHOON. http://www.worldstatesmen.org/Vietnam.html .


Một số tài liệu hơi giống nhau, có lẽ cùng xuất xứ Ben Cahoon, gồm những công trình sau:

* WIKIPEDIA , 2006
http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_k%E1%BB%B3_Vi%E1%BB%87t_Nam

*NGUYỄN ĐÌNH SÀI , 2004
http://www.vpac-usa.org/flag/The%20National%20Flag%20of%20VN.pdf

*ENCYCLOPEDIE FRANCAISE
, 2006
(Drapeau de la République du Vietnam)
http://www.encyclopediefrancaise.com/Drapeau_de_la_R%C3%A9publique_du_Vietnam.html



*NGUYỄN CAO ĐƯC , 2008
Le drapeau vietnamien
sous la dynastie des Nguyễn
http://aejjrsite.free.fr/
Magazine Good Morning 4 mai 2008
© G. Nguyen Cao Duc

*PHIL NELSON , FOTW FLAGS OF THE WORLD WEB SITE 2008


Nguyễn Đình Sài ghi chú về Ben Cahoon như sau:



Ghi chú: Dữ kiện là Cờ Vàng hiện hữu từ 1890-1920 được tìm thấy trên website của World Statemen. Chủ website này là Ben Cahoon, một chuyên gia Mỹ, tốt nghiệp đại học University of Connecticut. Muốn biết thêm về ông, xin vào đây: http://www.worldstatesmen.org/AUTHOR.html


World Statemen là một website khổng lồ, chứa các lịch sử chính trị của hầu hết quốc gia trên thế giới, trong đó có VN. Tài liệu trong website này vô cùng phong phú, khá chính xác về các phần khác của VN, như các triều vua, các đời quan toàn quyền Pháp, v.v.., với sự đóng góp của nhiều giáo sư danh tiếng.



Người viết nghĩ rằng ngoài sự căn cứ vào các tài liệu, các sử gia còn cần phải cân nhắc, phân tích các sự tường thuật có khi mâu thuẫn, đối chiếu các biến cố thời sự để tìm ra các dữ kiện hợp lý nhất, với ý hướng rằng việc gì cũng có cái nguyên ủy của nó chứ không phải tự nhiên mà có. Lịch sử VN từ ngàn năm trước được viết bởi các sử gia thời hiện đại, mỗi người mỗi khác, và cũng khác với sử ký do người Hoa viết (như bộ Sử Ký Tư Mã Thiên chẳng hạn). Những sử gia thời sau dùng các sử liệu của người thời trước cho công trình nghiên cứu của mình, có khi lại thêm những khám phá mới. Đó là sự phát kiến về lịch sử vậy. Phát kiến (innovation) là tìm ra sự kiện mới dựa trên tài liệu cũ, chứ không phải phát minh (invention), hay bịa đặt sự kiện (fabrication). Các bộ sử của Sử Gia Phạm Văn Sơn viết gần đây nhất, rất dày, có nhiều chi tiết khá lý thú và mới lạ, không hề tìm thấy nơi sách khác, có lẽ đã được viết theo phương pháp "phát kiến" ấy.






Sau khi đối chiếu với các sử sách, bằng vào trí thức và sự chân thành của Ben Cahoon, người viết không nghĩ tác giả website đã bịa đặt ra sự kiện Cờ Vàng đã hiện hữu năm 1890-1920, cũng như Cờ Đại Nam bằng chữ Hán xoay 90 độ nghịch chiều. Hiển nhiên Cahoon đã tìm thấy trong hàng đống tài liệu hay thư khố Pháp và Mỹ hoặc các đại học, nhưng lại không trích dẫn rõ ràng tài liệu nào. Riêng cờ chữ Hán "Đại Nam" thì ông cũng không trích dẫn xuất xứ và diễn tả là gì (có lẽ vì không hiểu chữ Hán), nên lúc nhìn qua không ai hiểu được là gì. Về sau, loay hoay xoay chuyển các chữ Đại và Nam, người viết mới khám phá ra cái thâm ý của tiền nhân triều Nguyễn.



Các tài liệu này cho rằng từ 1802 nước ta đã có quốc kỳ, là cờ Long Tinh.
Cờ Long tinh thay hình đổi dạng nhiều lần.
Cờ vàng ba sọc đỏ có từ Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân.


Theo Ben Cahoon, từ trước đến nay có những cờ sau:
1. Cờ Long Tinh nền vàng, tua xanh, ngôn sao tròn đỏ ở giữa( 1802-1879) Emperor's flag to 1863




2. Cờ Đại Nam, nền vàng, hai Hán tự Đại Nam màu đỏ, 1878-1890 (approx design)
3. Cờ vàng ba sọc đỏ (1890- 1920 Annam)




4.Cờ Long Tinh, nền vàng, một sọc đỏ nằm ngang (1920- 30-Aug-1945)
5.Cờ Đông Dương, nền vàng, trên góc là cờ tam tài của Pháp (1929-Mars 1945)
6. Cờ quỷ Ly, nền vàng, ba vạch đỏ, vạch giữa đứt (9Mars 1945-22Aug, 1945)
7.Cờ Việt Minh(Cộng sản, 45-54
8. Cờ quốc gia, nền vàng, ba sọc đỏ(2 Jun 1948-30 Apr, 75)
9. Cờ Cộng sản , cờ đỏ sao vàng (30-Nov, 1954- đến nay, khác nhau ở ngôi sao)

Các nhà biên khảo thuộc nhóm này cũng có vài điểm khác nhau:

1. CỜ VÀNG.
Cũng có người cho rằng từ lâu, Việt Nam dùng cờ vàng, Wikipedia bảo là cờ thời Minh Mạng.



Có nguồn cho biết Hai bà Trưng (40-43) và


Triệu Thị Trinh (222-248) đã dùng cờ màu


vàng trong các cuộc khởi nghĩa của họ. Wikipedia cũng cho rằngvua Gia Long (1802-1820) dùng màu vàng cho là cờ tiêu biểu của vương triều mình.


2. CỜ LONG TINH

WIKIPEDIA CHÉP:

"Có nguồn cho biết vua Khải Định (1916-1925), khi sang Paris dự hội chợ đấu xảo, cùng các quan Nam triều sáng chế tại chỗ cờ Long Tinh (thêm hai vạch đỏ tượng trưng cho hình rồng vào giữa lá cờ vàng) vì cần thiết cho nghi lễ. Tuy nhiên, từ "cờ long tinh" có lẽ đã xuất hiện từ thời vua Gia Long. Cụ thể, nó có tên

(H1. Cờ vàng)

(H2. Cờ Long Tinh nền vàng, ngôi sao tròn đỏ)


Hán "Long Tinh Kỳ" với "Kỳ" là cờ; "Long" là rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng với râu tua màu xanh dương, tượng trưng cho Tiên và đại dương là nơi rồng cư ngụ; "Tinh" là ngôi sao trên trời, cũng là màu đỏ, biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành, chấm ở giữa. Tóm lại "Long Tinh Kỳ" là cờ vàng có chấm đỏ viền tua xanh.






Khi Pháp mới tấn công Việt Nam, Việt Sử Toàn Thư (trang 467) ghi "Từ Trung ra Bắc, cờ khởi nghĩa bay khắp nơi"; có tác giả chú thích rằng cờ này chính là cờ long tinh của nhà Nguyễn."


Đoạn này lẫn lộn, không cho biết xuất xứ tài liệu, và trước sau không thống nhất, lúc thì bảo Lon g tinh vào đời Gia Long, lúc nói đời Khải Đinh, lúc thì chấm đỏ, lúc thì hai vạch đỏ. Việt Sử Toàn Thư là sách của ai, không thấy ghi ở phần chú thích hay tham khảo. nếu là của Phạm Văn Sơn thì ông có lẽ cũng theo Ben Cahoon thôi.

3. CỜ ĐẠI NAM


Wikipedia chép:



"Từ khi Pháp tấn công lãnh thổ Việt Nam, cờ long tinh (nền vàng viền lam chấm đỏ) vẫn được dùng như biểu tượng quyền lực của nhà Nguyễn. Đến năm 1885, người Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh Kỳ nữa vì lá cờ này thể hiện sự chống đối Pháp (vua Hàm Nghi dùng


( H3. Cờ vàng, có hai chữ Đại Nam màu đỏ.)


lá cờ này khi chống Pháp). Triều đình Đồng Khánh dùng lá cờ mới cũng có nền vàng, nhưng màu đỏ thì gồm hai chữ Hán Đại Nam, quốc hiệu của nước Việt Nam lúc đó, và lá cờ có tên Đại Nam Kỳ. Tuy nhiên, những chữ viết trên lá cờ không thực sự giống với các nét chữ Hán của quốc hiệu Đại Nam (大南). "


Theo thiển kiến, tài liệu trên không chính xác, không biết họ căn cứ vào đâu. Cờ Đại Nam như trên là một điều bi hài.
Các quan ta thường thích rõ rệt, chân phương. Hơn nữa, viết thiếu nét và sai chữ thì phạm trường quy, thí sinh bị đánh hỏng, quan lại bị tù và giáng chức, làm sao quốc kỳ lại có thể ngang nhiên vi luật như vậy? Hai chữ Đại Nam này có lẽ do do một ông quanTây đầy uy quyền mà không giỏi chữ Hán viết ra giao cho một ông họa sĩ không biết Hán văn và có óc Picasso nên vẽ quốc kỳ ra như thế! Than ôi, quốc kỳ và chữ nghĩa gì mà quay ngang nằm ngược như thế! Thực là một điều nhục nhã cho con Rồng cháu tiên. Quốc kỳ ta mà lại do mấy gã bôi bác, do ngoại bang áp đặt? Hoặc do ai tưởng tượng ra? Không biết thực hư như thế nào
!



Theo Wikipedia, năm 1890,năm 1890, vua Thành Thái đổi sang dùng lá cờ có nền vàng ba sọc đỏ vắt ngang. Lá cờ này tồn tại qua các đời vua Thành Thái và Duy Tân, những ông vua chống đối Pháp, và do đó cũng được coi là biểu tượng chống Pháp. Sau khi Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đi đày, Khải Định lên ngôi theo quan điểm thân Pháp đã thay đổi cờ. Ông dùng cờ nền vàng và một sọc đỏ lớn vắt ngang, và cũng gọi cờ này là cờ long tinh.

Theo thiển ý, điếu này thiếu bằng chứng về cờ vàng ba sọc đỏ vào thời này. Còn cờ Long tinh nền vàng có một vạch đỏ thì nhiều thuyết nói đến.

(H4. Cờ vàng ba soc đỏ)
. (H5. cờ long tinh, nền vàng, một vạch đỏ)















4. Cờ vàng ba sọc đỏ





Quốc kỳ của Quốc gia việt Nam và Việt Nam Cộng hòa


Như trên đã nói, cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện từ 1890, do vua Thành Thái chế ra. Và đó lần lần đầu tiên cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện. Nhưng không thấy tài liệu nào nói đến việc này. Lịch sử ghi nhận cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện vào năm 1948. Tự Đển Bách Khoa Pháp viết như sau:



Dans le 1890 , le Thành Thái d'empereur a passé un décret, changeant le drapeau avec les caractères chinois en nouveau drapeau. Le drapeau jaune avec trois raies rouges a été créé et a employé pour la première fois comme drapeau national (drapeau national 1890-1920 de Đại Nam). Il convient noter que le drapeau jaune avec trois raies rouges (appelées le drapeau jaune pour le short) est le premier " vrai ; flag" national ; des personnes vietnamiennes pour lui reflète l'aspiration et l'espoir des personnes, pas simplement les empereurs, pour l'indépendance et l'unification de la nation de Viet.


Dans le 1916 - le 1925 , après des empereurs Thanh thaï et Duy Tan ont été exilés en Afrique et obéir les Français, Khải Định d'empereur a publié un décret pour changer le drapeau national, le drapeau jaune, qui a signifié les trois régions unifiées (du nord, central, et des sud) a été remplacé par un drapeau jaune par une raie horizontale rouge. Ce drapeau jaune avec une raie rouge s'est également appelé le drapeau de « long Tinh » parce qu'il a été transformé du long drapeau original de Tinh de la dynastie de Nguyen.



( Drapeau de la République du Vietnam ,Encyclopédie française )



Theo Wikipedia, lá cờ vàng ba sọc đỏ do một họa sĩ nổi tiếng thời Thế chiến thứ haiLê Văn Ðệ vẽ và đã được vua Bảo Ðại chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau trình lên trong một phiên họp ở Hồng Kông vào năm 1948. Buổi họp đó ngoài nhà vua còn có đại diện các đoàn thể chánh trị và tôn giáo cùng một số thân hào nhơn sĩ ủng hộ quốc gia Việt Nam. Lá cờ có nền vàng với ba sọc đỏ và hai sọc vàng chen nhau nằm vắt ngang ở giữa, tượng trưng cho quẻ Càn trong Bát Quái, giống như cờ của An Nam trong thời gian từ 1890 đến 1920, với ý nghĩa rằng màu vàng trên lá cờ tượng trưng cho màu da người Việt, cho quốc gia dân tộc Việt Nam và ba sọc đỏ còn tượng trưng cho ba miền của Việt Nam. Có thông tin khác theo Tiziano Terzani kể lại là Linh mục Trần Hữu Thanh nói với ông ta là lá cờ vàng ba sọc do linh mục vẽ ra và ba sọc đỏ tượng trưng cho ba miền của Việt Nam: Bắc, Trung Nam – Sau này luận cứ này được thiếu tướng Đỗ Mậu, cựu phó thủ tướng Việt Nam Cộng hòa trích dẫn lại[Tuy nhiên ngoài 2 người trên, ý kiến này không được nhiều người chia sẻ."


Bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằng nhau và bề ngang chung của năm sọc bằng một phần ba bề ngang chung của lá cờ. Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chính phủ lâm thời của thủ tướng Nguyễn Văn Xuân chính thức dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam. Lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ sau này tiếp tục là quốc kỳ chính quyền Quốc gia Việt Nam (1949-1955), và sau đó là quốc kỳ cho suốt thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng hòa (1955-1975).






5. (Cờ Đông Dương, nền vàng, trên có
cờ tam tài của Pháp).




Theo Wikipedia, trong thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ Pháp trên toàn Liên bang Đông Dương sử dụng lá cờ có nền vàng và ở góc trái trên cao là hình quốc kỳ Pháp, từ năm 1923 đến khi bị Nhật lật đổ vào 9 tháng 3 năm 1945.


Tại từng vùng thuộc địa trên lãnh thổ Việt Nam, Nam kỳ dùng quốc kỳ Pháp (còn gọi là cờ tam sắc hay tam tài).

Theo Nguyễn Bá Trác, cờ Bảo hộ ra đời tháng 8 năm 1885,Hàm Nghi nguyên niên. Phải chăng là cờ này?(Hoàng Việt Giáp Tý Niên biểu, Bộ QGGD, Saigon, 1963.tr. 351.)



6.Cờ Nam Kỳ Quốc nền vàng,
ba vạchxanh, hai vạch trắng)














Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống được cai quản bởi Anh. Anh sau đó đã giao lại cho Pháp tiếp tục quản lý. Chính quyền Pháp đã khuyến khích phong trào Nam kỳ tự trị. Ngày 26 tháng 3 năm 1946, Nam kỳ Cộng hòa quốc (tiếng Pháp: République de Cochinchine) đã thành lập. Từ ngày 1 tháng 6, quốc gia này dùng quốc kỳ nền vàng, với 5 sọc vắt ngang ở giữa, gồm ba sọc xanh và hai sọc trắng chen nhau. Ý nghĩa của lá cờ là ba phần Việt, Miên, Lào trong Liên bang Đông Dương sống hòa bình thịnh vượng (màu xanh lammàu trắng).



Lá cờ này tồn tại được 2 năm cho đến khi chính quyền Nam kỳ quốc giải thể và sát nhập vào Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại ngày 2 tháng 6 năm 1948.




H7 . Cờ đỏ sao vàng

là lá cờ của Việt Minh khi giành chính quyền ở Bắc kỳ tháng 8 năm 1945.











Cuối năm 1940 phong trào kháng chiến chống Thực dân PhápPhát xít Nhật diễn ra mạnh mẽ ở các tỉnh Nam kỳ. Từ 21 đến 23 tháng 9 năm 1940, Xứ ủy Nam kỳ họp mở rộng bàn kế hoạch khởi nghĩa. Để tiến tới khởi nghĩa, một vấn đề được đặt ra là cần có một lá cờ để khẳng định tổ chức, thống nhất hiệu lệnh chỉ huy và động viên quần chúng.


Một giả thuyết cho rằng Nguyễn Hữu Tiến, Mẫu cờ được ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa gồm Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ... chuẩn y ngay sau đó.



Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa nổ ra, nhưng nhanh chóng bị thất bại. Nguyễn Hữu Tiến bị bắt và bị quân Pháp giết ngày 28 tháng 8 năm 1941 cùng các đồng chí của ông như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai.


Giả thuyết thứ hai mới đặt lại vấn đề tác giả quốc kỳ trong thời gian gần đây: ông Lê Quang Sô. Trong công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa - thông tin Lưu Trần Tiêu ký ngày 18-4-2001 có ghi: "Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc".



Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký sắc lệnh quyết định quốc kỳ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng. Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 2 tháng 3 năm 1946 đã biểu quyết nhất trí cờ đỏ sao vàng là quốc kỳ của nước Việt Nam.




(H8. CỜ ĐỎ SAO VÀNG )
Cờ đỏ sao vàng sau 1954 thì ngôi sao gầy và thẳng, là cờ của CHXHCN Việt Nam. Hay đó chẳng qua là hai cách vẽ khác nhau, chẳng có gì nhất định?

(H.9. cờ MTGP)














B*GIÁO SƯ NGUYỄN NGỌC HUY


Bài của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy khá đầy đủ. , viết năm 1986. Giáo sư coi cờ Long tinh của vua Bảo Đại là quốc kỳ thứ nhất.



1. Quốc kỳ xuất hiện đầu tiên: cờ long tinh của Hoàng Ðế Bảo Ðại



Ở Việt Nam trước đây cũng như ở các nước quân chủ cổ thời khác, các lá cờ được dùng để biểu tượng cho một nhà lãnh đạo. Hiệu kỳ của một vị tướng cầm đầu một đạo quân thường có màu phù hợp với mạng của vị tướng đó: người mạng kim thì cờ màu trắng, người mạng mộc thì cở màu xanh, người mạng thủy thì cờ màu đen, người mạng hỏa thì cờ màu đỏ, người mạng thổ thì cờ màu vàng. Màu cờ của các triều đại thì được các nhà sáng lập chọn lựa theo sự tính toán dựa vào thuyết của học phái Âm Dương Gia nghiên cứu về sự thạnh suy của ngũ hành lưu chuyển trong vũ trụ sao cho triều đại mình hợp với một hành đang hưng vượng. Ngoài cờ chung của triều đại, mỗi nhà vua đều có thể có lá cờ riêng của mình. Nhưng các lá cờ này chỉ để biểu tượng cho hoàng gia. Về ý niệm quốc kỳ biểu tượng cho cả dân tộc Việt Nam, nó chỉ xuất hiện ở nước ta khi dân tộc ta bị lọt vào ách thực dân Pháp.



Tuy nhiên, trong gần suốt thời kỳ Pháp thuộc, dân Việt Nam vẫn chưa có quốc kỳ. Lúc ấy, Nam Việt (được gọi là Nam Kỳ) là thuộc địa Pháp và phải dùng cờ tam sắc của Pháp, Bắc Việt và Trung Việt (được gọi là Bắc Kỳ và Trung Kỳ) trên lý thuyết là lãnh thổ của nhà Nguyễn. Các nhà vua Việt Nam thời đó đều có lá cờ biểu tượng cho mình như thời còn độc lập, nhưng cờ này chỉ được treo nơi nào có nhà vua ngự đến chớ không phải ở mọi nơi trong nước và dĩ nhiên không có tánh cách một quốc kỳ. Mãi đến thời Thế Chiến II, Hoàng Ðế Bảo Ðại mới ấn định quốc kỳ đầu tiên.



Nguyên lúc đó, người Pháp đã thua Ðức và rất suy kém. Họ không còn đủ quân lực để bảo vệ các thuộc địa xa xôi. Riêng ở Ðông Dương thì người Nhựt lợi dụng sự suy kém của Pháp đòi quyền đem binh vào chiếm đóng đất này để lấy nó làm bàn đạp phong tỏa phía nam Trung Quốc và tiến đánh Ðông Nam Á Châu với dụng ý chinh phục cả Á Châu. Chánh phủ Pháp không thể từ chối lời đòi hỏi của Nhựt và viên Toàn Quyền thời đó là Ðề Ðốc Decoux có nhiệm vụ phải chịu hợp tác với quân chiếm đóng Nhựt, đồng thời cố gắng đến tối đa để bảo vệ quyền lợi Pháp ở Ðông Dương. Ý thức rằng chánh sách thực dân Pháp trước Thế Chiến II làm bất mãn người Việt Nam mọi giới, Toàn Quyền Decoux đã áp dụng một chánh sách hai mặt: một mặt triệt để đàn áp các phần tử cách mạng chống Pháp, một mặt xoa dịu người Việt Nam nói chung. Trong khuôn khổ của mặt thứ nhì trong chánh sách này, ông đã có những biện pháp nâng cao uy tín của các nhà vua Ðông Dương.



Hoàng Ðế Bảo Ðại nhơn cơ hội này đã đưa ra một vài cải cách và ban chiếu ấn định quốc kỳ của nước Ðại Nam. Quốc kỳ này tên là cờ long tinh, nền vàng với một sọc đỏ nằm vắt ngang ở giữa, bề ngang của sọc đỏ này bằng 1/3 bề ngang của cả lá cờ. Cờ long tinh được dùng trên lãnh thổ Ðại Nam, nghĩa là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vì Nam Kỳ lúc đó vẫn là thuộc địa Pháp và vẫn phải dùng lá cờ tam sắc của Pháp.



2. Quốc kỳ thứ nhì: cờ quẻ Ly của chánh phủ Trần Trọng Kim




















Chánh quyền thuộc địa Pháp ở Ðông Dương đã bị quân đội Nhựt lật đổ ngày 9 tháng 3 năm 1945. Hai ngày sau, Hoàng Ðế Bảo Ðại tuyên bố độc lập. Chánh phủ độc lập đầu tiên được thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945 do nhà học giả Trần Trọng Kim cầm đầu. Quốc hiệu được đổi là Ðế Quốc Việt Nam và theo chương trình hưng quốc được chánh phủ Trần Trọng Kim ban bố ngày 8 tháng 5 năm 1945 thì quốc kỳ được chọn gọi là cờ quẻ Ly. Cờ này cũng nền vàng, ở chính giữa có một quẻ Ly màu đỏ. Ly là một trong 8 quẻ của bát quái và gồm một vạch liền, một vạch đứt và một vạch liền, bề rộng của các vạch này chỉ bằng một phần bề rộng chung của lá cờ.



Cờ quẻ Ly trên nguyên tắc là cờ của cả nước Việt Nam gồm có ba kỳ. Nhưng trong thực tế, nhà cầm quyền quân sự Nhựt đã không trao trả Nam Kỳ ngay cho triều đình Huế. Việc trao trả này chỉ thực hiện ngày 14 tháng 8 năm 1945, nghĩa là 4 ngày sau khi chánh phủ Nhựt quyết định đầu hàng Ðồng Minh và 10 ngày trước khi Hoàng Ðế Bảo Ðại thoái vị. Do đó, đại diện của triều đình Huế chưa bao giờ được thật sự cầm quyền ở Nam Việt và cờ quẻ Ly đã không được dùng ở đó.



3. Cờ đỏ sao vàng của tập đoàn Cộng Sản Việt Nam (CSVN)


Khi cướp chánh quyền ở Bắc Việt hồi tháng 8 năm 1945, tập đoàn CSVN dưới tên Việt Minh đã dùng cờ đỏ sao vàng. Cờ này sau đó được họ dùng ở những nơi họ chiếm đoạt được và cho đến nay, vẫn được họ tiếp tục xem là quốc kỳ.

4. Cờ của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc



Khi chiếm lại được các thành phố lớn ở Nam Việt, chánh quyền Pháp đã khuyến khích phong trào Nam Kỳ tự trị. Ngày 26 tháng 3 năm 1946, họ đã cho thành lập Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc, tên Pháp là République de Cochinchine và Cộng Hòa Quốc này đã có một quốc kỳ nền vàng, với 5 sọc vắt ngang ở giữa gần như quốc kỳ của ta hiện tại, nhưng thay vì ba sọc đỏ và hai hai sọc vàng như quốc kỳ của ta, nó gồm ba sọc xanh và hai sọc trắng chen nhau. Xét về mặt thẩm mỹ, cờ này rất khó coi. Bởi đó, trong những bài trào phúng trong báo Ðuốc Việt là cơ quan ngôn luận bán chánh thức của Xứ Bộ Nam Việt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng lúc ấy, tôi đã đặt cho nó cái biệt danh là lá cờ sốt rét.



5. Quốc kỳ của chúng ta hiện nay



Quốc kỳ của chúng ta hiện nay do một họa sĩ nổi tiếng thời Thế Chiến II là Lê Văn Ðệ vẽ và đã được Cựu Hoàng Bảo Ðại chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau được trình cho ông trong một phiên họp ở Hongkong năm 1948, gồm có ông và đại diện các đoàn thể chánh trị và tôn giáo cùng một số thân hào nhơn sĩ về phía người quốc gia Việt Nam. Như mọi người đều biết, nó có nền vàng với ba sọc đỏ và hai sọc vàng chen nhau nằm vắt ngang ở giữa, bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằng nhau và bề ngang chung của năm sọc bằng 1/3 bề ngang chung của lá cờ. Cờ vàng ba sọc đỏ đã được dùng làm quốc kỳ cho quốc gia Việt Nam khi chánh phủ lâm thời Việt Nam được thành lập ngày 2 tháng 6 năm 1948 dưới sự chủ tọa của Tướng Nguyễn Văn Xuân. Nó đã tiếp tục được dùng suốt thời Ðệ Nhứt và Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam, cho đến ngày nay.



http://doanket.tripod.com/tongquat/quocky.html


C. CÁC Ý KIẾN KHÁC


1. QUỐC KỲ ĐẦU TIÊN.



Như đã trình bày ở trên, các tài liệu không có dẫn chứng xuất xứ, cho nên không có giá trị nhất là từ thời Gia Long đến Duy Tân. Chúng tôi không chuyên về sử, nhưng cũng cố gắng tìm tòi và xem xét lại vấn đề.



Có lẽ trước thời Pháp thuộc, ta chưa có quốc kỳ. Tại hoàng thành và các thành trì có cột cờ và treo cờ vào ngày rằm và mồng một và vào các đại lễ, nhưng là các loại cờ truyền thống chứ không phải quốc kỳ.



John White một người Mỹ nhận định như sau:

Sur le côté Nord de la porte orientale, était un bastion avec un mât de pavillon(1) où les couleurs annamites sont déployées, le premier jour de la nouvelle lune et en d'autres occasions.(2)

(Les citadelles dans le Viet-nam du XIXe siècle
par Nicolas MICALLEF
http://www.net4war.com/e-revue/dossiers/vietnamxix/citadelles05.htm)
Theo J.White, cột cờ được dựng từ năm 1790 theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí đời Tự Đức và được sửa chữa nhiều lần vào đời Minh Mạng.



(La géographie de Tu-Duc(2) (Dai Nam Nhut Thông Chi) nous donne la réponse, le côt-co ou poteau du drapeau était à l'origine en 1790, un mât à trois étages en forme de boisseau ayant huit côtés où il était maintenu par des cordes. Des soldats y étaient mis en faction ; ainsi en cas de danger, le jour on déployait le drapeau comme signal d'alerte et la nuit, on pendait une lampe. Par la suite avec la construction des citadelles en pierre à la Vauban, construites de fait pour durer, le côt-co s'est transformé en tour de briques donnant lieu à un style architectural franco-viêtnamien (la France avec sa maîtrise des citadelles à la Vauban et le Viêt-Nam avec son architecture militaire traditionnelle. . . Construite à ses débuts en terre, la citadelle a subi peu à peu de nombreuses innovations : les remparts percés de dix portes ont été élevés en briques de 1818 à 1822 et les miradors (cot-cô) sont élevés de 1824 à 1831 sous le règne de Minh-Mang ibid).



Rất tiếc John White viết kỹ về thành trì và kỳ đài mà không tả màu sắc lá cờ.

Sau đây là hình ảnh các thành trì nhưng ảnh đen trắng chụp xa nên không thấy rõ.


("Ðồn Hai" ở Ðà Nẵng treo cờ nhưng không rõ màu sắc.
Bức ảnh đầu tiên về nước Việt-Nam do người Tây Phương (Jules Itier) chụp ngày 31-05-1845 với máy Daguerreréotype, phát minh năm 1839. Phim là một tấm kim loại bằng đồng có tráng bạc.Những tấm hình nầy được trích ra từ cuốn "Ðất Việt Trời Nam" xuất bản ngày 22-08-1960 tại Sàigòn của Việt-Ðiểu Thái-Văn-Kiểm )http://nguyentl.free.fr/html/photo_la_plus_vielle_vn.htm

(Cờ tang trong tang lễ vua Khải Định. vào những ngày 29-30-31 tháng 1 năm 1926 (dựa theo ngày tháng ghi trên hình) http://nguyentl.free.fr/html/photo_epoque_funerailles_KD_vn.htm



(Lễ Đăng quang của vua Bảo Đai, treo cờ, bá quan trên sân rồng ngày 8 tháng 1 năm 1926 dựa theo ngày tháng ghi trên hình. Theo xuât xứ như trên.

http://nguyentl.free.fr/html/photo_epoque_intronisation_BD_vn.htm



Có lẽ vào thời Tự Đức, nước ta phải giao thiệp với Pháp cho nên phải có quốc kỳ để ứng xử theo phong cách ngoại giao Tây phương. Vì vậy, quốc kỳ ra đời lúc này.

Thật vậy, lần đầu tiên nước ta có quốc kỳ có lẽ là đời Tự Đức. Ngày 16-5-1862, phái bộ Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với Pháp về ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường bị Pháp chiếm. Phái đoàn xuống tàu Hải Bàng, trương quốc kỳ màu vàng, từ Huế tới cửa Hàn , rồi theo tàu Đan Loan nhờ tàu Forbin kéo vào Gia Định. Vì nước ta không có quốc kỳ như người Pháp đòi hỏi cho nên Phan Thanh Giản mới phải dùng cái thắt lưng màu vàng của ông làm quốc kỳ vì ông nghĩ màu vàng là màu của nhà vua (Trần Quốc Giám, Cuộc đời Phan Thanh Giản. Sử Địa, số 7-8, SG,1967, tr. 96-148.).

Ông Nguyễn Văn An cũng có giai thoại tương tự nhưng ông Lê Văn Lân bác bỏ. Ông viết:

Có một giai thoại rất khó tin và khôi hài bôi bác là khi sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp vào tháng 6 năm Quý Hợi 1863 trên tàu Européen để chuộc 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ, lúc tàu chạy qua kinh Suez phải theo luật lệ là kéo “quốc kỳ Ðại Nam” lên và hú còi, nhưng không có nên túng thế, sứ bộ bèn dùng tấm vải vàng mà vua Tự Ðức ban cho cụ Phan Thanh Giản làm tay nải hành lý thay quốc kỳ vậy! Có người nói đó là tấm lụa vàng trên ghi chữ đỏ “Ðại Nam Khâm sứ”, theo tôi có vẻ đáng tin hơn! (Phụ chú về Lịch sử cờ xứ ta - trong tập Quốc kỳ Việt Nam in phát không của Quốc Duy Nguyễn Văn An 1992)




Có nhiều giai thoại về cái thắt lưng hay tay nãi, màu đỏ hay màu vàng. Tuy nhiên cũng có những chứng nhân của lịch sử.

Khi Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, rời Sài gòn ngày 21-6-1863, sứ bộ đi tàu European tới Alexandrie, rồi sang tàu Labrador, đến hải cảng Toulon ngày 9-9-1863 khá khuya về đêm. Các tàu đậu ở hải cảng Toulon đều treo cờ Việt Nam ( Nguyễn Duy Oanh. Chân Dung Phan Thanh Giản . BỘ VHGD&TN, Saigon, 1974. 187.) Điều này ông thấy ở BSEI, q.XVI, số 2, Saigon, 1941,tr.63, chú thích1, và BAVH, tháng 1-2, 1926,tr.69.

Theo Tôn Thất Tho, tạp chí BAVH (Bulletin Des Amis Du Vieux Hue 1926 ) và trong cuốn Abrege de l’histore d’Annam của Alfred Schreiner , xuất bản năm 1905 đã tường thuật khá chi tiết về chuyến đi của Phan Thanh Giản.


Tôn Thất Tho ghi rằng tài liệu củaBAVH viết về việc này như sau:


Tàu Eropeen rời bến Sài Gòn ngày 17-7 năm 1863, cập bến kênh Suez ngày 17/8. Từ cảng Alexandrie ( Ai Cập ), đoàn sứ đổỉ sang tàu Labrador để tiếp tục lộ trình và tới bến tàu Toulon ( Pháp) vào ngày 10/9/1863; tại đây, đoàn được đón tiếp bằng 17 phát súng đại bác. Tất cả tàu Hải quân của Pháp đang đậu tại bến này đềù được lệnh kéo cờ màu vàng vì màu vàng biểu hiện hoàng tộc nước Đại Nam (...); tại đây ,tàu Ville de Pari của Hải quân Pháp đã chào mừng đoàn sứ bằng một màn thao diễn quân sự, súng nỗ vang rền...” (Theo BAVH 1-3/1926 tr 73-74 và Abrege..Sdd tr 262).

Tạp chí BAVH cũng tả tỷ mỉ về hành trình của Phan Thanh Giản:
Sau gần hai tháng hải hành, ngày 17-8-1863 thuyền chở đoàn sứ vào cảng Suez. Cảng này thuộc nước Ai Cập, phía Đông nam là châu Á. Phía tây bắc là Địa Trung Hải, cảng rộng độ 10 hải lý. Ngày 18-8-1863 chiếc tàu nhỏ của lãnh sự Suez đưa phó đại sứ Alexandre , ông Aloinghi đến sát tàu, họ mời đoàn xuống để lên đất liền. Vị chỉ huy ra lệnh cho quân đội dàn trên sàn tàu và hô 5 lần “ Hoàng đế vạn tuế “. Trên cột cờ chính, treo cờ của phái doàn. Khi đến bờ, ông Lý- a -nhi báo cho đoàn biết là hành trình của đoàn đều đã được báo trước cho các thành phố đoàn đi qua, từ Suez đến Chau Âu. Họ chào mừng đoàn bằng những phát đại bác, và quy ước là đoàn sẽ đáp trả bằng cách kéo cờ của phái đoàn. Trong “ Nhật ký đi Tây “ có ghi rõ: ” Chúng tôi trả lời cho ông ấy là lá quốc kỳ’ (1) ( Theo BAVH 1919, sdd , tr 35 ). Sau khi xem xét, ông Lý A Nhi tỏ ý lo ngại vì lá cờ nước Đại Nam nhìn xa có thể nhầm lẫn với lá cờ của Ai Cập, vì thế Lý A Nhi đã đề nghị nên ghi thêm chữ. Sau khi hội ý,đoàn cho thêu thêm trên cờ 4 chữ ” Đại Nam Khâm Sứ” ở cả hai mặt của lá cờ. Phía trước tàu treo cờ Ai Cập.
Đoàn đến bến đò, Thống đốc thành phố đứng đợi ở khách sạn. Ông báo cho đoàn biết, cuộc tiếp dón có chào bằng đại bác; nhưng do giờ đã quá muộn, nên xin khất lại ngày mai. Sáng hôm sau, đoàn lại lên tàu tiếp tục cuộc hành trình. Chính quyền địa phương đã bắn 19 phát đại bác để chào đưa tiển đoàn lên đường đến Cairo, kinh đô của Ai Cập. Ngày 20-8-1863, đoàng được hoàng đế Ai Cập tiếp kiến tại cung điện Arelolexide. Sau đó , đoàn đi tham quan cung điện trên bờ sông Nin.

Tôn Thất Tho viết:

Trên đây là những nội dung được ghi lại trong tạp chí BAVH-1919 có tựa là “ L’Ambassade de Phan Thanh Gian” , bài này chép lại từ “ Như Tây sứ trình nhật ký” (bản được chép tay ) . Còn đưới đây là những sự tường thuật trong cuốn “ Tây hành nhật ký’ của cụ Phạm phú Thứ:
“ Ngày mồng 5…lãnh sự ở Xu- ết là Ết-vi-gia và Phó lãnh sự đi thuyền lửa nhỏ đến mời chúng tôi lên bộ. Các quan viên trên thuyền cho binh lính đứng sắp hàng ở chân cột buồm to hô lớn lời chúc 5 lần. Ở cột buồm giữa của thuyền, treo cờ Khâm sứ( đầu tiên, lúc sắp đến cửa này, Lý A Nhi nói từ thành này đến phương tây, nghe sứ bộ đi ngang qua, người ta đều bắn đại bác để chào đón, nên cần có lá cờ của sứ bộ để gặp dịp đó thì treo lên; chúng tôi nói chỉ hiện đem theo lá cờ của nước ta. Lý A Nhi lấy xem rồi bảo các cờ hiệu của nước Y- điệp ( tức cờ Thổ Nhĩ Kỳ- vì Ai Cập bấy giờ là thuộc địa cuả TNK- TTT ) cũng nhuộm màu này, sợ không phân biệt được, nên yêu cầu thêm chữ nước ta vào; sau khi bàn bạc, chúng tôi lấy lụa đỏ cắt làm 4 chữ “ Đại Nam Khâm Sứ’ đính ở hai mặt cờ. . Đầu thuyền, treo cờ hiệu của nước Y- điệp…”( sdd, trang 90)


(http://dactrung.net/Phorum/printable.aspx?m=406657)

Điều này cho biết vào thời Tự Đức nước ta có quốc kỳ màu vàng còn giai thoại về cái thắt lưng hay tay nãi của Phan Thanh Giản là thực hay hư không quan trọng.





(Lễ đăng quang của vua Bảo Đại)

==


(Lễ đăng quang của vua Bảo Đại, cờ treo, bách quan quỳ giữa sân rồng.
http://nguyentl.free.fr/html/photo_epoque_intronisation_BD_vn.htm


Những tấm hình trên là hình đen trắng không rõ rệt, nên ta không biết màu sắc cờ. Nếu ta có dụng cụ tối tân, may ra có thể thấy.

2. CỜ LONG TINH, nền vàng một sọc đỏ.


Có nhiều ý kiến khác nhau.


Lê Văn Lân trong bài Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

viết về cờ Long Tinh như sau:


"Tôi đã đặc biệt nhớ đến lá cờ Long tinh được chính thức ban bố làm quốc kỳ có nền vàng ở giữa có một vạch đỏ chạy dọc, vạch này dày khoảng 1/3 chiều ngang của lá cờ. Sở dĩ tôi còn nhớ như vậy là vì lũ học sinh tiểu học chúng tôi phải làm thủ công hay được phát lá cờ này khi có lễ lạc đón tiếp hay được đi diễn hành trước cửa Ngọ môn chúc mừng lễ Vạn thọ của vua Bảo Ðại hằng năm. Nhà vua sanh vào ngày 22 tháng 10 năm 1913 (Quý Sửu). Mỗi khi phất cờ thì chúng tôi phải đồng thanh hô lớn: “Hoàng đế vạn tuế”.


http://lopxahoihoc.com/viet/?p=111 )


Ông Lê Văn Lân viết trong Lời giới thiệu vài cảm nghĩ về quyển sách của một bạn văn về quyển Vua Khải Định – Hình ảnh & Sự kiện, của Võ Hương An, có đoạn nói về sách này có hình chụp cờ Long Tinh thời Khải Định


- ở trang 135, có hai tấm hình về các đoàn hát về giúp vui lễ Tứ Tuần Đại khánh có chụp rõ lá quốc kỳ Việt Nam thời bấy giờ. Về lá cờ Long tinh vào đời vua Khải Định này, tôi đã hỏi nhiều vị cao niên trên 80 tuổi nhưng ít ai còn nhớ chắc chắn về hình thức và kích thước. Theo hình thì chi tiết về cờ Long Tinh như sau: chiều ngang bằng 2/3 chiều dài, một băng màu đỏ nằm giữa chạy dọc giữa hai băng màu vàng, băng đỏ rộng gấp đôi băng vàng.


http://www.art2all.net/tho/tho_vha/khaidinh/levanlan_gioithieu.html

Theo ông Quốc Duy Nguyễn Văn An trong tài liệu dẫn trên, cờ này do Tứ trụ của Cơ Mật viện triều đình Huế (thành lập từ 1834) bàn và ấn định “lấy nền vàng và thêm một gạch son trên ấy để biến thành lá cờ Long Tinh tiêu biểu cho uy quyền Triều đình Quốc gia trên hai phần đất còn lại của Việt Nam (Bắc và Trung) trong suốt thời Pháp thuộc”.

(Lê Văn Lân. Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
http://lopxahoihoc.com/viet/?p=111


Về cờ Long tinh, sự nhìn thấy của Lê Văn Lân là đúng, là cờ nền vàng, một soc đỏ có từ thời Khải Định.Trong lễ khánh thọ thất tuần của Khải Định (1924) và lễ đăng quang của vua Bảo Đại ta thấy có cờ Long Tinh (xem hình vẽ dưới đây:






(Cờ Long Tinh trong lễ tứ tuần khánh thọ vua Khải Định 1924)




(Lễ đăng quang của vua Bảo Đại)


(Đám hộ giá vua Bảo Đại)



3. CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ


Ông Tôn Thất Bình ở Úc , trong bài Quốc Kỳ Việt Nam có đoạn:
Tình cờ tôi xem bài tham khảo có giá trị của tác giả Minh Vũ Hồ Văn Châm có tựa đề "Câu chuyện xoay quanh lá quốc kỳ " đăng ở tạp chí "Cách mạng"số 12. Vì là tài liệu lịch sử nên tôi phải đính chính chỗ sai lầm.

Mở đầu bài tác giả viết: "Lá quốc kỳ nói ở đây là cờ vàng ba sọc đỏ. Cờ vàng ba sọc đỏ do họa sĩ thời danh Lê Văn Đệ vẽ đệ trình cựu hoàng đế Bảo Đại, và sau đó được đưa ra thảo luận biểu quyết tại hội nghị chính trị Hồng Kông giữa năm 1948 để làm quốc kỳ cho Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc Trưởng. Cờ vàng ba sọc đỏ được chính thức kéo lên tại Saigòn ngày 2 tháng 6 năm 1948 trong buổi lễ thành lập chính phủ lâm thời quốc gia Việt Nam do Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng. Năm 1955, Ngô Đình Diệm, Thủ Tướng đương nhiệm với toàn quyền dân sự và quân sự của quốc gia Việt Nam, đã tổ chức trưng cầu dân ý, truất phế Bảo Đại khỏi ngôi vị Quốc Trưởng và thiết lập nước Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 tháng 10 năm 1955. Cờ vàng ba sọc đỏ vẫn là quốc kỳ.".




(Di ảnh Cụ Tôn Thất Sa (1881-1980)


Sự sai lầm tôi muốn đưa ra đây là nguồn gốc lá quốc kỳ. Người vẽ ra lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ không phải là danh họa Lê Văn Đệ mà là danh họa Tôn Thất Sa (3). Cuộc thảo luận biểu quyết lá quốc kỳ tại Huế chứ không phải tại Hồng Kông. Khi hội nghị nhất trí lựa chọn xong lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ thì phái đoàn mới đi Hồng Kông bái kiến và đệ trình lá cờ quốc gia lên vua Bảo Đại. Cờ vàng ba sọc đỏ được vua Bảo Đại chính thức chấp thuận là quốc kỳ của nước Việt Nam .

http://luyenchuong.net/forum/showthread.php?p=322080


Trương Thúy Hậu viết:

Trong hai bài viết về Quốc kỳ Việt Nam như đã nói trên, cũng như nhiều bài viết khác, cho rằng người vẽ mẫu quốc kỳ Việt Nam: Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là họa sĩ Lê Văn Đệ (1906-1966). Điều này không đúng. Trái lại, người sáng tạo ra Quốc kỳ Việt Nam: Cờ Vàng Ba Sọc là Họa sĩ nổi tiếng Lê Văn Miến (1873-1943), (4)

người họa sĩ đầu tiên của nền hội họa Việt Nam , vẽ vào năm 1890, khi đang học tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Quốc Gia Pháp (École nationale supérieure des Beaux Arts). Quốc kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ có từ năm 1890, so với năm sinh của họa sĩ Lê Văn Đệ, thì chắc chắn là không phải. Vả lại, ở giai đoạn này, triều đình Huế còn xử dụng chữ Hán trong các công văn, và cho đến năm 1917 mới bỏ khoa thi chữ Hán, nên có thể có sự nhầm lẫn khi đọc chữ Miến và chữ Đệ, nhất là trong lối viết thảo thư của chữ Hán
(QUỐC KỲ VIỆT NAM )




(Ảnh Lê Văn Miến)


(QUỐC KỲ VIỆT NAM CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ)

http://www.docsu14.net/national_flag.htm

(http://www.docsu14.net)

* * *





===















Cờ quốc gia lấy nền vàng làm bối cảnh cho nên có tính hiền lương, quý phái. Còn phe cộng sản lấy màu đỏ làm nền, và ngôi sao ở giữa. Cờ cộng sản giống nhau màu đỏ và sao vàng . Màu đỏ cộng sản là màu máu của nhân dân vô tội.. Lá cờ cộng sản đã biểu thị và chứng minh hai tính chất:

-1.Máu tanh cuồng sát, làm khổ nhân dân.
Tài liệu Quốc tế cho biết cộng sản đã diệt chủng:

Le Livre noir du communisme: Crimes, terreur, répression (tạm dịch: "Quyển sách đen của Chủ nghĩa Cộng sản: Tội ác, khủng bố, đàn áp"), là một quyển sách liệt kê các tội ác của các chính phủ cộng sản từ xưa đến nay, kể cả đàn áp dân chúng, giết người ngoài pháp luật, trục xuất, và nạn đói nhân tạo. Được xuất bản lần đầu tại Pháp năm 1997, quyển sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng (bản tiếng Anh được xuất bản bởi Nhà xuất bản Đại học Harvard dưới tựa The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression), tác phẩm đã bán đến gần 1 triệu bản đến năm 2001.


Được biên soạn bởi một đội ngũ các nhà nghiên cứu và chuyên gia quốc tế, quyển sách dùng tài liệu từ văn thư lưu trữ mật của KGB, cơ quan an ninh của Liên Xô, mới được công bố lúc đó. Kết luận của quyển sách là "các chế độ cộng sản đã...biến tội ác hàng loạt thành một hình thức chính thể" và ước tính gần 100 triệu người đã bị giết dưới các chế độ cộng sản, cao hơn cả chủ nghĩa phát xít.

- 2. Cộng sản dùng sao là ban đêm là tối tăm, gian trá, thiếu quang minh chính đại.


====


KẾT LUẬN

Bài viết này chỉ là việc thu thập các tài liệu. Các tài liệu từ 1945 về trước thiếu sót, không rõ rệt. Tôi nghĩ lúc này, người Tây phương đã đến Việt Nam, họ đã thấy và đã ghi chép. Xin các bạn tìm ở các tài liệu chữ Pháp để làm sáng tỏ vấn đề.

Sơn Trung

===

CHÚ THíCH


(1). Le Cot-Cờ ou mât du drapeau
(2)John White séjourna à Saigon, du 7 Octobre 1819 au 30 Janvier 1820. Voir, Malleret, Eléménts d'une monographie des anciennes fortifications et citadelles de Saigon. BSEI, tome X, numéro 4, 1935 ; p. 65-66. [retour au texte]

(3)Cơ duyên nào đã đưa cụ Tôn Thất Sa vẽ lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ ?

Tháng 3 năm 1945, Pháp đầu hàng Nhật tại Đông Dương. Nhật giao quyền hành chánh cho Hoàng Đế Bảo Đại. Nội các dân sự đầu tiên của Viẽt Nam ra đời do cụ học gỉa Trần Trọng Kim được chỉ định thành lập, gồm toàn trí thức nổi tiếng chứ không có chính trị gia hay người hoạt động cách mạng.

Ngày 14-4-1945, Nhật thua trận và đầu hàng đồng minh.

Ngày 19-8-1945, lợi dụng người dân lúc đó còn chất phác về chính trị, Việt Minh quỷ quyệt lẹ tay cướp chính quyền qua mặt các đảng phái quốc gia thiếu thủ đoạn và kinh nghiệm về chính trị.

Ngày22-8-1945, Trần Huy Liệu ra Huế thuyết phục, lừa phỉnh Hoàng Để Bảo Đại nên thoái vị vì Việt nam đã có chính phủ độc lập tại Hà Nội rồi.

Ngày 25-8-1945, Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố: "Thà làm dân nước độc lập hơn làm vua nước nô lệ " và trao ấn kiếm Hoàng triều cho Trần Huy Liệu.

Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập và thành lập chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cựu hoàng Bảo Đại và Giám mục Lê Hữu Từ được mời làm Cố Vấn để lừa gạt dân chúng và che mắt quốc tế.

Ngày 12-9-1945, quân Pháp theo chân quân đội Anh, có nhiệm vụ giải giới quân Nhật, xua quân chiếm Nam bộ.

Ngày 6-3-1946, tại Đà Lạt Hồ Chí Minh ký thỏa hiệp với Sainteny, đại diện chính phủ Pháp và đồng ý để 15 ngàn quân Pháp được đóng quân tại Hà Nội, Hải Phòng và một số các tỉnh khác. Ông Nguyễn Tường Tam, ngoại trưởng và là lãnh tụ VNQDĐ không chịu ký và phản đối thỏa hiệp.

Ngày 16-3-1946, Hồ Chí Minh yêu cầu Hoàng Đế Bảo Đại dẫn đầu một phái đoàn qua Trùng Kháng, Trung quốc, nhờ Tưởng Giới Thạch hỗ trợ. Bảo Đại được khuyên nên ở lại Hồng Kông và đừng trở về nước.

Ngày 18-3-1946, các đoàn thể và đảng phái quốc gia biểu tình lên án Việt Minh phản quốc, cấu kết với quân xăm lược Pháp. Việt Minh đã đàn áp phe quốc gia bằng vũ lực.

Ngày 7-5-1946, Pháp lập ra Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ và chỉ ̣định bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh làm Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Nam Kỳ tự trị. Làm Thủ Tướng được vài tháng, bác sĩ Thinh thấy giả tâm của thực dân Pháp lập chính phủ bù nhìn để che mắt khi thế giới đang có phong trào trao trả độc lập cho các nước bị đô hộ. Ông thất vọng thấy Việt nam đang bị Pháp đô hộ một cách tinh vi. Ông đã tự sát. Pháp liền đưa bác sĩ Lê Văn Hoạch lên thay thế.

Ngày 29-9-1946, bác sĩ Lê Văn Hoạch từ chức Thủ Tướng Chính Phủ Nam Kỳ Tự Trị bù nhìn vì có danh mà không có quyền.

Ngày 01-10-1946, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân được Pháp chỉ định làm Thủ Tướng thay thế bác sĩ Lê Văn Hoạch.

Ngày 19-12-1946, quân Pháp chiếm Bắc Bộ và cử ông Nguyễn hữu Trí làm Chủ tịch Hành Chánh Bắc Bộ.

Tháng 2 năm 1947, quân Pháp chiếm Huế và cử cụ Trần Văn Lý làm Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Chính Lâm Thời Trung Bộ. Cụ Trận Văn Lý nguyên là Tuần Vũ Hà Tĩnh. Cụ Lý kêu gọi nhân sĩ bỏ hàng ngũ Việt Minh trở về với quốc gia và các ẩn sĩ hãy tham gia tái thiết đất nước. Cụ Tôn Thất Sa là người thời danh ở Huế nên được mời. Cụ Sa là thi sĩ kiêm họạ sĩ và điêu khắc gia. Cụ là bạn thơ với các vị thông nho như cụ Tổng Đốc Tiểu Cao, thân sinh của Linh mục thời danh Nguyễn Văn Thích, cụ Huỳnh Như Văn, Chánh Án tỉnh Quảng Nam, cụ Ưng Bình, bác của cựu Thủ Tướng Bửu Lộc...

Cụ Tôn Thất Sa là Giáo Sư kỹ thuật Trường Bách Nghệ ở Huế, Giáo sư Hội Họa tại nhiều trường Trung Học ở Huế. Từ năm 1916 đến năm 1925, cụ đã chiếm nhiều giải nhất trong các cuộc thi như tranh họa nạn lụt ở miền Bắc năm 1916, đài chiến sĩ trận vong ở Huế năm 1920, đài chiến sĩ trận vong ở Hải Phòng năm 1921. Cụ đã chiếm 6 giải nhất TEM bưu điện Đông Dương, 2 giải nhất về nghệ thuật trang trí tại Hội chợ Paris.

Danh tiếng của cụ đã vang dội vào miền Nam khiến cụ Lê Phát An, một phú hộ thời danh ở Nam bộ đã đi xe hơi ra Huế tìm gặp cụ Sa vì ngưỡng mộ.

Cụ Tôn Thất Sa là tác gỉa những công trình điêu khắc như: tượng vua Duy Tân triển lãm tại Hội chợ Paris ( giải nhất ), tượng sư huynh Albert de Marie tại trường Pellerin (Huế), tượng nhà Bác học Pasteur ở bệnh viện Huế, tượng Thánh Giuse ở nhà thờ Đốc Sơ (Thừa Thiên). Rất nhiều vị Giám mục đã nhờ cụ Sa vẽ huy hiệu (armories). Như Hồng Y Trịnh Văn Căn, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Công Lý và Hòa Bình tại Tòa Thánh Vatican, các Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Văn Đoàn, Trần Văn Dực, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Ngô Đình Thục. Cụ Tôn Thất Sa là tác giả Văn Miếu Khổng Tử tại thành phố Hội An. Đó là một di tích văn hóa nghệ thuật thu hút du khách bốn phương.

Cờ quẻ ly của chính phủ Trần Trọng Kim

Quốc kỳ thời Nội Các Trần Trọng Kim là cờ "quẻ LY". Lúc vẽ lá quốc kỳ này cụ Tôn Thất Sa khựng lại vì không đồng ý. Cụ bàn với Linh mục Trần Hữu Thanh, Dòng Chúa Cứu Thế rằng quẻ LY có gạch giữa bị đứt đoạn là điềm không lành cho Đất Nước. Chữ LY có một nghĩa khác là ly tán. Đó là điềm xui xẻo cho Đất Nước trong khi đang kêu gọi nhân sĩ bỏ chiến khu trở về hợp tác. Cụ đề nghị đổi quẻ LY thành quẻ CÀN , nghĩa là nối lại gạch giữa bị đứt đoạn. Linh mục Thanh góp ý nên bổ túc thêm con rồng ở giữa lá cờ vì dân tộc Việt Nam là con Rồng, cháu Tiên. Lá cờ theo ý nói trên được trình lên Hội Nghị trước khi qua Hồng Kông bệ kiến vua Bảo Đại. Ông Trương Văn Huế, Tổng Thanh Tra Công Chánh miền Trung , Chủ tịch Liên đoàn Công giáo VN thời đó, không đồng ý có thêm con rồng ở giữa cờ vì cầu kỳ. Đa số tán thành ý kiến bỏ con rồng. Ngày 21-12-1947, phái đoàn do cụ Trần Văn Lý dẫn đầu qua Hồng Kông bệ kiến vua Bảo Đại và đệ trình lá cờ quẻ CÀN thay cho lá cờ quẻ LY . Vua Bảo Đại chấp thuận.Từ giờ phút đó lá cờ vàng ba sọc đỏ trở thành lá quốc kỳ của Việt Nam. Cơ duyên của cụ Tôn Thất Sa với là cờ vàng là ở chỗ được nhờ vẽ bức tranh đoàn người tiến lên theo lá cờ (quẻ LY), đã giúp cụ nghĩ ra lá quốc kỳ (quẻ CÀN) hôm nay.

Cờ vàng ba sọc đỏ dựa theo quẽ Càn do cụ Tôn Thất Sa họa


Ngày 02-6-1948, Pháp dùng lá bài Bảo Đại. Một Đại hội nhân sĩ và đại diện các đảng phái nhóm họp tại Saigon. Trung tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính phủ Nam Kỳ tự trị, đọc chiếu chỉ của Hoàng ̣Đế Bảo Đại. Sau đó tất cả đồng thanh bầu Trung tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng của Chính phủ lâm thời Quốc gia Việt nam.

Ngày 05-6-1948, Hoàng Đế Bảo Đại từ Hồng Kông về Việt nam. Phi cơ Calatina của hãng hàng không Anh đáp xuống chiến hạm của Pháp tại vịnh Hạ Long. Hoàng Đế cùng Trung Tướng Xuân và Đại diện Chính phủ Pháp ký Hiệp Định Hạ Long. Tỉếc rằng người Pháp không thành thật. Hiệp Định này không đem lại độc lập và thống nhất cho Việt nam. Pháp vẫn nắm trọn chính trị và quân sự. Về ngoại giao thì Việt nam chỉ được đặt đại diện tại ba nơi mà thôi : Paris ( Pháp ), Washington ( Hoa Kỳ ) và London ( Anh ). Như thế chủ quyền ngoại giao của VN hoàn toàn không có và nằm trong tay của Pháp. Hoàng Đế Bảo Đại ở lại Hạ Long một đêm rồi đi Bangkok để qua Pháp.

Ngày 01-7-1949, Chính phủ Quốc gia Việt nam được thành lập do Quốc Trưởng Bảo Đại kiêm Thủ Tướng lãnh đạo. Phó Thủ Tướng là Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân kiêm bộ trưởng Quốc phòng.

http://luyenchuong.net/forum/showthread.php?p=322080


(4). HỌA SỸ - NHÀ GIÁO LÊ VĂN MIẾN

Lê Văn Miến sinh năm 1873 trong một gia đình có truyền thống khoa bảng tại làng Ông La, xã Kim Khê (nay là xã Nghi Long), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Từ rất sớm Ông đã được tiếp xúc, làm quen với học vấn và sách vở, được sự dạy dỗ của người thầy và cũng là cha mình - cử nhân Lê Huy Nghiêm. Ngoài học chữ, Lê Văn Miến còn học đ­ợc nhân cách từ người cha đáng kính, đặc biệt là được mở rộng tầm mắt để sớm hiểu được sự an nguy của n­ớc nhà cùng sự lo toan của những con người có nghĩa khí khi triều Nguyễn suy vong.
Tháng 10/1888, Lê Văn Miến lên đường sang Paris để theo học Tr­ờng thuộc địa (école Coloniale). Mặc dù nhỏ tuổi nhất nhưng Ông vẫn học rất giỏi, luôn đứng đầu lớp và sớm bộc lộ bản lĩnh, nhân cách của mình (thấy Hiệu trưởng Trường thuộc địa lúc đó có óc thực dân, kỳ thị chủng tộc, thiên vị học sinh người Pháp, Lê Văn Miến đã từng lãnh đạo học sinh các xứ thuộc địa học cùng lớp bãi khóa, kéo đến Bộ thuộc địa đấu tranh...). Sau khi tốt nghiệp Trường thuộc địa, Lê Văn Miến không chịu về n­ớc làm quan mà ở lại xin theo học Trường cao đẳng mỹ thuật Paris - một trường mỹ thuật danh giá của châu Âu thời đó. Có lẽ trước hết đây là cái cớ để Ông thoái thác nghiệp làm quan cai trị ở chính quê h­ơng mình! Do đã từng tham gia phong trào bãi khóa trước đó nên Ông bị cảnh sát theo dõi rất chặt, nhiều khi bị gây khó dễ, nhưng Lê Văn Miến đã vượt qua tất cả, học tốt tất cả các môn. Sau khi tốt nghiệp vào loại xuất sắc, Ông được Hội đồng mỹ thuật nhà trường đề nghị chọn đi trang trí và vẽ tranh cho Tòa thánh Vaticăng, nhưng bị Bộ tr­ởng Bộ thuộc địa bác bỏ. Sau này, khi về n­ớc Lê Văn Miến đã nói: “Không học thì thôi, mà đã học thì phải cố gắng học cho thiên hạ biết: Dù trong lĩnh vực nào - nhất là về học vấn - nếu muốn, thì người Việt Nam cũng không chịu thua kém một ai cả. Tôi không muốn học để làm quan, song học để dằn mặt người Pháp thì tôi sẵn lòng”. Sau 7 năm du học trở về nước, con đường công danh mở rộng trước mắt, nhưng Lê Văn Miến đã không về Huế để trình diện mà về thẳng xứ Nghệ quê nhà. Lúc này phong trào Cần Vương đang b­ớc vào giai đoạn thoái trào, bị thực dân Pháp đàn áp rất khốc liệt. Lê Văn Miến chỉ l­u lại mấy tháng rồi quyết định ra Bắc. Tại Hà Nội Ông xin làm thuê cho Nhà in Sehneider của Pháp với chức trách họa sĩ trình bày. Công việc này kéo dài đến năm 1899 thì Ông được Đào Tấn - một sĩ phu rất có uy tín lúc bấy giờ đang làm Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh) mời về làm việc. Cũng trong năm 1899, Tr­ờng Pháp - Việt ở Vinh được thành lập, Lê Văn Miến được cử làm Đốc giáo (hiệu trưởng). Ba năm sau, Ông chuyển về làm việc tại Bộ công và đ­ợc cử giữ chức Thượng thư Bộ này. Đây chính là dịp để Lê Văn Miến phát huy những kiến thức về hội họa, kiến trúc đã được học tại Pháp. Năm 1904, sau khi việc chuẩn bị đánh Pháp của Vua Thành Thái bị bại lộ, Nhà vua bị quản thúc, Đào Tấn bị bức về hưu, Lê Văn Miến bị đẩy ra Nghệ An giữ chức Đốc giáo lần thứ hai (1904-1907). Từ năm 1907 đến 1913 Ông được điều về Trường quốc học Huế dạy Pháp văn và vẽ. Năm 1913 Trường Hậu Bổ được thiết lập, Lê Văn Miến được cử làm trợ giáo, đồng thời được thăng hàm “Hàn lâm viện thị giảng”, đến cuối năm 1914 đ­ợc thăng chức Phó đốc giáo và năm 1919 được làm Đốc giáo. Hai năm sau, Lê Văn Miến được cử làm Tế tửu (Hiệu trưởng) Quốc Tử Giám và giữ chức vụ này đến lúc về hưu (1929). Theo lệ triều đình, sau khi về hưu Lê Văn Miến được thăng Lễ bộ thượng thư trị sự Thiện đại phu và đến đầu năm 1943 được thăng Hiệp tá đại học sĩ - Vinh lộc đại phu.
Là một họa sĩ có tài, Lê Văn Miến vẽ tranh từ khi còn là sinh viên Tr­ờng cao đẳng mỹ thuật Paris. Ông đã vẽ nhiều tranh mà một trong những bức được nhiều người biết đến là bức sơn dầu vẽ chân dung Nguyễn Văn Mại trong chuyến đi sứ của ông này sang Pháp. Nhưng đặc sắc hơn cả là bức “Bình văn”, một bức tranh đã được nhà nghiên cứu mỹ thuật Thái Bá Vân đánh giá: “...họa sĩ Lê Văn Miến với bức tranh Bình văn là một cái mốc mà lịch sử mỹ thuật nước nhà chỉ có thể coi là thuận lợi và đẹp đẽ. Nó làm cho hội họa hiện đại Việt Nam có thêm một phần tư thế kỷ tuổi đời và thêm một học vấn vững chãi không lặp lại một lần thứ hai nào nữa”.
Là một nhà giáo lớn, Lê Văn Miến đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhân tài của đất nước.. Ngay từ khi còn dạy học tại Trường Pháp - Việt ở Nghệ An, Lê Văn Miến đã là một trong những người lập ra Hoan Châu học hội, đóng tiền cho Triêu Dương thương điếm, quan hệ với nhiều sĩ phu văn thân yêu nước trong phong trào Đông kinh nghĩa thục như Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân...
Lê Văn Miến mất ngày 6/6/1943

No comments: