Tuesday, February 7, 2012

TUYỂN TẬP TRUYỆN KÝ VIỆT KIỀU VII

TUYỂN TẬP TRUYỆN KÝ VIỆT KIỀU VII



NHIỀU TÁC GIẢ

TUYỂN TẬP TRUYỆN KÝ VIỆT KIỀU




NGUYỄN THIÊN THỤ
sưu tập



TẬP VII
XLV. Mối tình Việt– Pháp và điều kỳ diệu của tình yêu
Hương Thảo Nguyên.

28.01.2012 12:26

(NguoiViet.de) Chị là một nữ đạo diễn người Pháp đã từng nguyện sống cuộc đời độc thân. Anh là một người đàn ông Việt Nam nghèo khó, từng vấp ngã trong cuộc đời nhưng luôn mang trong mình một trái tim nhân hậu và khát khao phục thiện. Phải đến sau 13 năm quen nhau kể từ lần gặp đầu tiên, đến khi người đàn ông Việt Nam nghèo khó nhưng có trái tim nhân hậu ấy mắc phải căn bệnh nan y không thể cứu chữa, chị mới nhận ra rằng mình đã yêu chân thành người đàn ông đó và muốn ở bên anh – với tư cách là một người vợ trong những giờ phút cuối đời.

Bà Leslei và ông Nguyễn Văn Hùng trong ngày cưới

Bà Leslei và ông Nguyễn Văn Hùng trong ngày cưới

Chị đã có một cuộc hành trình xuyên đại dương để quay lại Việt Nam, để tổ chức lễ đính hôn với một người mà cuộc sống chỉ còn tính bằng ngày. Chị ở lại Việt Nam từ đó cho đến nay, kể cả khi người đàn ông ấy đã ra đi. Chị nhận lấy “nụ cười” mà anh để lại, với mơ ước mang “nụ cười” đó đến với những đứa trẻ có số phận bất hạnh đang lang thang trôi dạt trên khắp các hang cùng ngõ hẻm của thành phố.

Hùng “phở” và hành trình giã từ quá khứ

Nguyễn Văn Hùng là cái tên của người đàn ông sẽ là nhân vật chính trong câu chuyện tôi kể dưới đây. Khi anh còn sống, mọi người vẫn gọi anh là Hùng “phở”. Hơn 4 năm sau ngày anh mất, nhắc đến Hùng “phở”, gia đình của anh, nhiều người bạn của anh (cả những người bạn Việt Nam và nước ngoài) vẫn khóc; những đứa trẻ lang thang vẫn gọi anh là cha cũng khóc. Nhưng có một người không bao giờ khóc khi nhắc đến tên anh. Chị là Leslei Wiener – nữ đạo diễn người Pháp. Leslei là người đàn bà của Hùng, là người bạn đời của anh trong những ngày cuối đời.

Từ lúc anh nằm trên giường bệnh cho đến lúc anh trút hơi thở cuối cùng, từ lúc làm lễ cầu nguyện cho linh hồn anh được về với Chúa cho đến bây giờ - 4 năm sau ngày anh mất, chị chưa bao giờ rơi nước mắt. Khi nghĩ về anh, chị nghĩ đến nụ cười của anh, nghĩ đến nụ cười mà anh để lại cho chị, và “nụ cười” mà anh để lại cho cuộc đời. Làm sao chị được phép khóc khi nghĩ về những nụ cười ấy và những điều tốt đẹp diệu kỳ mà anh đã để lại cho cuộc đời này? Nguyễn Văn Hùng sinh năm 1956 tại Sài Gòn.

Trước giải phóng, mẹ anh có một tiệm bán phở kinh doanh phát đạt ở phường Đa Kao (quận 1, TP Hồ Chí Minh). Cái tên Hùng “phở” gắn liền với anh cũng bởi lẽ đó. Xưa kia, tiệm phở của gia đình Hùng rất phát đạt, kinh tế khá giả, Hùng được gia đình theo học ở trường Võ Trường Toản, một ngôi trường danh giá của Sài Gòn ngày đó. Bản chất của Hùng “phở” là người hiền lành, nhân hậu và có trái tim trong sáng.

Thuở nhỏ anh học giỏi, hiền lành, ngoan ngoãn, luôn được thầy yêu, bạn mến. Không ai nghĩ rằng cậu bé Hùng trong sáng, lương thiện ấy sẽ có ngày vấp ngã. Hùng “phở” bắt đầu bập vào ma túy khi đang chập chững bước vào tuổi 20 đẹp nhất của đời người. Khi đó, miền Nam mới giải phóng. Cuộc sống sau ngày giải phóng còn nhiều khó khăn khiến cha mẹ Hùng lơ là việc chăm sóc con cái. Một lần Hùng được bạn bè rủ hút xì ke.

Vì muốn chứng tỏ mình, vì sĩ diện nam nhi, Hùng gật đầu. Cái gật đầu ấy thay đổi hoàn toàn số phận của Hùng. Kể từ sau ngày hôm đó, Hùng trở thành một con nghiện ma túy ngày một nặng đô. Từ hút, hít, anh chuyển dần sang chích. Gần 20 năm nghiện ngập, Hùng đã chích nhiều đến nỗi gần như toàn bộ ven của anh đều bị vỡ; cánh tay anh nhằng nhịt vết kim tiêm.

Khi biết con trai nghiện ngập, tự vùi dập và hủy hoại tương lai của chính mình, mẹ anh đã khóc hết nước mắt. Bà đưa anh vào Trung tâm cai nghiện Bình Triệu. Nhưng sau mỗi lần cai nghiện, ra khỏi trung tâm được vài tháng, bị bạn bè rủ rê và một cái tặc lưỡi, Hùng lại tái nghiện. Vì thương mẹ, Hùng “phở” đã ra ra vào vào trung tâm đó không biết bao nhiêu lần, ra vào nhiều đến nỗi các bác sĩ ở trung tâm đã nhẵn mặt Hùng.

Nhưng cai nghiện ma túy đâu có dễ, bao nhiêu lần vào rồi ra, là bấy nhiêu lần Hùng thất bại. Đã từng có những lúc, những người xung quanh Hùng nhìn anh với ánh mắt xa lánh. Họ nghĩ về anh như về một thứ “đồ bỏ” của xã hội. Nhưng tự sâu thẳm trong lòng, Hùng vẫn biết Hùng không phải đồ bỏ.

Bởi Hùng vẫn biết tê tái trước ánh mắt thẫn thờ của mẹ già; bởi Hùng vẫn biết rùng mình sợ hãi mỗi khi nhìn chính mình trong gương, với hình ảnh phản chiếu là một kẻ gầy gò, ngơ ngáo, thân tàn ma dại… Đó là lý do khiến sau không biết bao nhiêu lần cai nghiện bất thành, Hùng vẫn tự nguyện nộp đơn xin cai nghiện ở Trung tâm Bình Triệu. Đầu những năm 1990, sau ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam, đại dịch HIV – AIDS đã lan nhanh như một thảm họa. Năm 1992, Quỹ Nhi đồng Anh (SCF) tổ chức chương trình Truyền thông phòng ngừa HIV – AIDS cho người nghiện ma túy tại TP Hồ Chí Minh.

Muốn làm được điều này, đòi hỏi các tình nguyện viên phải thâm nhập vào chính các “ổ” ma túy. Mà tình nguyện viên đáp ứng tiêu chuẩn đó và dám làm công việc đó, chỉ có thể là những người không hề xa lạ gì với ma túy, nhưng cũng phải là những người khao khát hướng thiện. Những thành viên của dự án đã đến Trung tâm cai nghiện.

Ở đó, sau một buổi trò chuyện, họ đã “phát hiện” ra Hùng. Nói là “phát hiện”, bởi khi đó, người ta đã nhìn thấy ở Hùng những tố chất bẩm sinh của một tình nguyện viên, của một người hoạt động xã hội nhiệt tình, tâm huyết. Trở thành tình nguyện viên của chương trình đã khiến cuộc đời Hùng “phở” thay đổi. '


Hùng đi vào những “động” ma túy, chia sẻ về những hiểu biết của mình về căn bệnh HIV – AIDS với những con nghiện khác và phát đến họ từng cái kim tiêm. Cũng từ những ngày tháng này, Hùng nhận ra rằng anh khao khát làm việc tốt đến chừng nào, khao khát được sống lương thiện đến chừng nào. Nhưng Hùng cũng hiểu, chừng nào anh còn nghiện ngập, còn mang tiếng là một “thằng nghiện” thì chừng đó những cố gắng của Hùng sẽ còn chưa được công nhận. Như lời Hùng đã nói lúc còn sống: “Nếu mình làm được 99/100 việc tốt, mà mình vẫn chưa bỏ được ma túy, thì mình vẫn bị xã hội phủ nhận”.

Kể từ ngày đó, Hùng đoạn tuyệt với ma túy. Khi đã rời bỏ được ma túy, nhìn lại quãng đời gần 20 năm chìm đắm trong nghiện ngập, để tuổi thanh xuân trôi đi hoài phí vô ích, Hùng khao khát được sống, được cống hiến, được làm những việc tốt đẹp cho đời, để gieo những hạt mầm tươi tốt đầu tiên lên mảnh đất tâm hồn đã quá nhiều lầm lỗi của mình. Hùng từng nói, thời trẻ khi còn “chơi” ma túy, anh đã “chơi” hết mình.

Nhưng khi tìm ra được lối thoát, được hướng đi của cuộc đời mình, anh cũng rất quyết liệt. Anh đã bắt đầu gieo những hạt mầm ấy bằng việc tham gia vào việc tập hợp và điều hành Chương trình Trẻ em đường phố Thảo Đàn từ năm 1993 và trở thành người phụ trách của nhóm này trong suốt 10 năm trời. Trong suốt quãng thời gian đó, Thảo Đàn đã trở thành một tổ chức thiện nguyện có tiếng, cứu giúp cuộc đời nhiều trẻ em đường phố, đặc biệt là những trẻ có số phận đặc biệt, những trẻ nghiện ngập và nhiễm HIV.

Khi trở thành người phụ trách của nhóm Thảo Đàn, Hùng chưa có người yêu, chưa có vợ, chưa có con, nhưng Hùng đã được tất cả những đứa trẻ ở nhà mở Thảo Đàn gọi là cha. Và anh cũng đã yêu thương tất cả những đứa trẻ đó như một người cha thực sự, với mong ước, những đứa trẻ này sẽ không bao giờ mắc phải những sai lầm mà anh đã gặp phải thời trẻ.

Họ gặp nhau vì định mệnh của họ là thế Nguyễn Văn Hùng gặp Leslei năm 1994. Lần gặp đó là mở đầu cho câu chuyện định mệnh của cuộc đời họ 13 năm sau này. Leslei là người Pháp nhưng sinh ra và lớn lên ở Mỹ. Leslei sinh năm 1951, chị hơn Hùng 5 tuổi. Từ bé, Leslei đã nghe nhiều về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Leslei cũng chứng kiến những người bạn thời thơ ấu của mình buộc phải sang Việt Nam chiến đấu và trở về với trạnh thái tinh thần hoảng loạn. Leslei căm ghét cuộc chiến tranh ấy và đã cùng với những người Mỹ tham gia vào những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam. Khi lớn lên, Leslei trở thành đạo diễn.

Chị đi khắp nơi trên thế giới để làm những phóng sự mà chị yêu thích. Từ năm 1994, Leslei bắt đầu đến Việt Nam và làm những bộ phim tài liệu về Việt Nam. Đề tài của chị là cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, là vẻ đẹp Việt Nam qua con mắt của một du khách Tây ba lô, là câu chuyện của những số phận chất độc da cam đầy ám ảnh. Leslei đến Việt Nam đúng những năm đầu Việt Nam bước vào thời kỳ mở cửa. Đó là một giai đoạn đánh dấu bước phát triển đầy mạnh mẽ của Việt Nam.

Và Leslei đã có một ý tưởng kỳ lạ và táo bạo: chị chọn 10 đứa trẻ, với 10 số phận khác nhau. Năm 1994, Leslei đã quay một phóng sự về 10 đứa trẻ ấy. Chị dự định 10 năm sau sẽ quay trở lại, để tìm lại những đứa trẻ đó và kể tiếp về số phận của chúng trong 10 năm sau. Leslei muốn thông qua số phận và sự thay đổi của 10 đứa trẻ đó trong 10 năm, để nói về sự thay đổi của một đất nước Việt Nam trong 10 năm đó.

Năm 1994, khi bắt tay vào thực hiện ý tưởng đó, Leslei đã quyết định sẽ lựa chọn một trẻ lang thang ở Việt Nam là 1 trong 10 nhân vật của mình. Người ta đã dẫn Leslei đến nhà mở Thảo Đàn, nơi tập trung những số phận trẻ lang thang đặc biệt nhất. Hùng “phở” đã giúp Leslei quay những thước phim về cuộc đời những đứa trẻ lang thang bằng sự nhiệt tình và tâm huyết hết mình.

Họ đã quen nhau và trở thành bạn của nhau trong quãng thời gian cùng cộng tác làm việc. Từ những hình ảnh vụn vặt đời thường đó, Leslei hiểu Hùng hơn và ngày thêm yêu quý người đàn ông Việt Nam này. Nhưng thời điểm đó, cũng vào năm 1994, khi Leslei từ Việt Nam trở về Pháp, sự yêu quý của Leslei dành cho Hùng vẫn chỉ là tình bạn của một người đàn ông và một người đàn bà đến từ hai đất nước xa xôi. Năm 2004, Leslei trở lại Việt Nam để thực hiện tiếp bộ phim tài liệu mà chị đang làm dang dở 10 năm trước đó. Leslei gặp lại Hùng. Sau 10 năm, Leslei ngạc nhiên là Hùng vẫn không hề thay đổi. Hùng vẫn không hề lấy vợ và chưa từng yêu bất cứ ai.

Hùng mê mải hạnh phúc với việc làm cha của những đứa trẻ mồ côi nhiễm HIV. Hùng ở bên những đứa trẻ đó, chăm sóc chúng, cần mẫn, cặm cụi và yêu thương, hệt như những gì Leslei đã từng thấy ở Hùng 10 năm về trước. Hùng mải mê với việc cống hiến cho cuộc đời, giúp đỡ cho những người xung quanh mà quên mất rằng chính Hùng đang rất nghèo so với hàng triệu người dân trong thành phố. Trong 2 năm sau đó, Leslei đã quay trở lại Việt Nam nhiều lần, và mỗi lần trở về, Leslei lại phát hiện ra thêm những điều thú vị ở Hùng. Leslei phát hiện ra rằng tuy chị sinh năm 1951, Hùng sinh năm 1956, nhưng chị và Hùng đều có cùng ngày sinh nhật là ngày 4/1. Leslei cũng phát hiện ra rằng Hùng có thói quen huýt sáo gió giống hệt người cha mà Leslei hết mực yêu quý.

Những phát hiện nhỏ bé, nhưng thú vị đó, cùng với hết lần này đến lần khác chứng kiến trái tim nhân hậu của Hùng đã khiến Leslei lần đầu tiên - vào những ngày đầu năm 2007 nhận ra rằng, chị đã yêu người đàn ông Việt Nam ấy – một người đàn ông không giàu có về tiền bạc nhưng đích thực là một tỷ phú của tình yêu thương.

Nhưng khi Leslei nhận ra tình yêu của mình thì cũng là lúc Hùng biết rằng mình mắc bệnh ung thư, một căn bệnh nan y vô phương cứu chữa. Nhà nghèo, không có tiền chữa bệnh, nên anh lần lữa việc vào bệnh viện điều trị hết lần này đến lần khác. Có rất nhiều người bạn của Hùng, cả những người bạn Việt Nam và nước ngoài, trong đó có Leslei sẵn sàng giúp đỡ tiền bạc để anh chữa bệnh. Họ yêu quý anh, yêu quý trái tim của anh, yêu quý những việc anh đã và đang làm.

Nhưng Hùng là một người đàn ông tự trọng. Anh quyết liệt với hướng đi mới của cuộc đời mình và quyết liệt cả với chính lòng tự trọng của mình. Anh lảng tránh những sự giúp đỡ đó vì không muốn vì không muốn bị áy náy bởi cảm giác mình đang làm phiền người xung quanh. Năm 2007, khi tình yêu vừa mới chớm nở, Leslei đã phải quay trở lại Pháp để thu xếp công việc. Chị dự định sẽ trở lại Việt Nam sớm nhất có thể.

Nhưng khi ngày quay lại Việt Nam chưa đến, chị đã nhận được tin từ một thành viên trong nhóm Nụ Cười báo tin Hùng nhập viện với tình trạng sức khỏe suy kiệt nặng vì bệnh ung thư giai đoạn cuối. Bỏ cả công việc còn dang dở, bỏ cả những dự định chưa thực hiện được khi về Pháp, ngay khi nhận được tin, việc đầu tiên và việc duy nhất mà Leslei làm là thu xếp hành lý và đặt vé máy bay trở về Việt Nam. Leslei lao ra sân bay với ý nghĩ phải về Việt Nam sớm nhất có thể để gặp Hùng, ở bên Hùng trong lúc anh bệnh tật, yếu đau.

Khi đến sân bay, Leslei mới phát hiện ra visa của chị đã hết hạn. Phải chờ thêm 3 ngày để cấp visa mới, Leslei mới về được với Hùng. 3 ngày đó là 3 ngày rất dài, rất dài trong cuộc đời chị. Chị gọi điện hàng giờ, liên tục hỏi về tình hình của Hùng trong bệnh viện. Khi chiếc máy bay đưa Leslei từ Pháp hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, Leslei ngay lập tức gọi xe đến thẳng bệnh viện nơi Hùng đang nằm điều trị. “Nụ cười” và tình yêu Gặp lại Hùng sau một thời gian ngắn, Leslei bàng hoàng. Căn bệnh ung thư đã khiến Hùng của chị trở nên ốm yếu, gầy gò như một đứa trẻ. Gia đình Hùng, những đứa trẻ ở nhóm Nụ Cười vẫn gọi Hùng là cha, và rất nhiều bạn bè của Hùng vẫn luôn thay nhau chăm sóc Hùng khi không có Leslei.

Nhưng khi Leslei sang Việt Nam, chị cương quyết đòi tự tay làm công việc đó. Những ngày Leslei sang, Hùng mê sảng. Anh không biết rằng Leslei đã tự tay thay quần áo, giặt giũ quần áo cho anh; tự tay tắm rửa rồi đổ bô cho anh. Leslei đi mua cháo cho Hùng ăn và Leslei cũng ngủ ngoài băng ca ở hành lang bệnh viện như bao người nhà bệnh nhân khác. Leslei bỏ tiền ra chữa bệnh cho Hùng. Mỗi khi Hùng phải đi khám bệnh, Leslei cương quyết bắt anh đi taxi. Những khi cần có việc gì đi đâu, Leslei lại chỉ dám đi xe ôm, vì Leslei lo lắng chặng đường chữa bệnh cho Hùng còn rất dài. Có một điều đặc biệt rằng, năm 1994 khi gặp nhau, Leslei không biết tiếng Việt, Hùng không biết tiếng Pháp hay tiếng Anh.


Họ “nói chuyện” với nhau bằng ánh mắt, bằng cử chỉ, bằng tay; họ yêu quý nhau qua những việc mà họ đã nhìn thấy nhau làm. Năm 2004 đến 2007, khi Leslei quay lại Việt Nam, đó vẫn là cách nói chuyện thường xuyên nhất của họ. Nhưng họ vẫn yêu nhau. Khoảng cách về ngôn ngữ chẳng còn nghĩa lý gì, khi họ tìm thấy ở nhau sự đồng cảm trong tâm hồn. Những ngày Hùng ở trong bệnh viện, Leslei vừa chăm sóc Hùng, vừa tích cực học tiếng Việt, chị muốn nói ra những lời yêu thương với người đàn ông của chị, bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của anh. Vì chị tin thốt ra những lời yêu thương đó, bằng ngôn ngữ đó, sẽ khiến cho lời yêu thương trở nên kỳ diệu, thiêng liêng.


Chị hi vọng tình yêu của chị sẽ giúp anh có thêm sức mạnh chiến đấu với bệnh tật. Một ngày, khi Hùng nằm thở yếu ớt trên giường bệnh, Leslei đã nói: “Mình làm đám cưới nhé” – bằng tiếng Việt bập bẹ của mình. Sợ Hùng không hiểu, Leslei cầm quyển từ điển, chỉ cho Hùng từng từ trong đó. Lẽ dĩ nhiên là Hùng hiểu hết từng từ, từng chữ mà Leslei nói. Anh chỉ không hiểu vì sao Leslei lại có quyết định đó, vào đúng lúc này, khi anh đang nằm trên giường bệnh và đang đếm ngược từng ngày để đi đến nơi cuối cùng của con đường đời mà anh đã đi. Khi hiểu được tình cảm chân thành của Leslei trong từng lời nói đó, Hùng đã gật đầu đồng ý.


Ở tuổi 51, lần đầu tiên, Hùng vừa hạnh phúc vừa thảng thốt nhận ra rằng mình sắp sửa có một người vợ, điều mà cả đời anh chưa bao giờ nghĩ đến, càng không bao giờ dám nghĩ đến trong hoàn cảnh trớ trêu này. Ngày 2/10/2007, lễ đính hôn của Hùng và Leslei diễn ra, với sự chứng kiến của người thân, bạn bè và những đứa trẻ ở nhóm Nụ Cười. Lễ đính hôn được tổ chức ngay trong căn phòng bệnh mà Hùng nằm ở bệnh viện Việt – Pháp. Trong buổi lễ đính hôn đó, Leslei mặc áo dài Việt Nam. Còn Hùng, phải cố gắng lắm mới có thể đứng dậy và trao nhẫn cho người bạn đời của mình. Hùng yếu ớt đến nỗi khiến tất cả mọi người xung quanh đều lo lắng cho anh.

Nhưng Leslei đã không làm mọi người phải lo lắng. Chị đứng bên cạnh anh, để anh tựa vào vai mình, như một lời khẳng định với mọi người: chị sẽ là chỗ dựa cho anh. Sau lễ đính hôn, dự định của Leslei là chị và Hùng sẽ kết hôn vào ngày 4/1, vào đúng ngày sinh nhật của cả hai. Đó là một ngày ý nghĩa cho một buổi lễ long trọng. Nhưng Leslei muốn tổ chức lễ cưới vào ngày đó, cũng phần vì muốn rằng Hùng sẽ có thêm một động lực để kéo dài sự sống của mình lâu nhất có thể.

Đáng tiếc rằng Hùng đã không thể chờ được đến ngày đó, dù anh khao khát điều đó vô cùng. 2 tuần sau lễ đính hôn, Hùng đã trút hơi thở cuối cùng. Ngày tang lễ của Hùng diễn ra, khi đứng bên cạnh cha xứ và nghe cha xứ rửa tội và cầu nguyện cho Hùng, Leslei không khóc. Bởi Leslei biết rằng Hùng đã hoàn toàn mãn nguyện với những gì anh đã làm được trong những năm cuối của đời mình. Tang lễ của Hùng, Leslei mặc áo tang theo đúng phong tục của người Việt Nam. Những đứa trẻ ở nhóm Nụ Cười để tang Hùng như những đứa con để tang cha. Hùng đã làm được điều mà anh mong muốn. Anh đã dành 15 năm cuối của đời mình, để ươm những mầm cây tốt đẹp.

Đám tang của ông Nguyễn Văn Hùng

Đám tang của ông Nguyễn Văn Hùng

Và những ngày cuối cùng của cuộc đời, anh đã được nếm những quả ngọt sau 15 năm kiên trì gieo trồng và vun xới, dù có lẽ chính anh cũng không hề đợi đến ngày hái quả. Leslei làm vợ Hùng chính thức được 2 tuần. Nhưng chị hoàn toàn hạnh phúc với quyết định của mình. Chị biết chị sẽ sớm trở thành góa phụ. Nhưng chị không ân hận vì đã lấy được người đàn ông mà chị yêu, người đàn ông đã dạy chị biết thế nào là sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn khi làm được những việc tốt cho cuộc đời và cho những người xung quanh.

Làm vợ Hùng, Leslei muốn rằng mình sẽ giữ được những điều đẹp nhất về người đàn ông mà chị yêu, sau một phép thề thiêng liêng - phép thề chồng và vợ. Hùng còn nhiều tâm nguyện dang dở trước khi chết. Và sau khi Hùng qua đời, Leslei đã nối tiếp những công việc dở dang của Hùng. Chị ở lại Việt Nam, thay anh làm trưởng nhóm Nụ Cười mà anh đã sáng lập và để lại trước khi ra đi. Chị đã thay “cha Hùng” trở thành “mẹ” của những đứa trẻ ở ngôi nhà Nụ Cười. Hùng đã để lại cho Leslei “nụ cười” đẹp nhất của đời anh. Đó chính là lý do vì sao, Leslei không bao giờ khóc khi nói về Hùng. Khi nhắc đến anh, chị chỉ mỉm cười và khi đó ánh mắt chị tràn ngập yêu thương.
Hương Thảo Nguyên
XLVI. Thư gửi con
Pierre Antoine, Việt Kiều Pháp
« vào: 04:19 chiều, 10.10.2011 »


Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vung vãi... Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc... Xin con hãy bao dung!

Con hãy nhớ những ngày, giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé.

Nếu như bố mẹ cứ lập đi lập lại hàng trăm lần mãi một chuyện, thì đừng bao giờ cắt đứt lời bố mẹ... mà hãy lắng nghe!
Khi con còn ấu thơ, con hay muốn bố mẹ đọc đi đọc lại mãi một câu truyện hằng đêm cho đến khi con đi vào trong giấc ngủ... và bố mẹ đã làm vì con.


Nếu như bố mẹ không tự tắm rửa được thường xuyên, thì đừng quở trách bố mẹ và đừng nên cho đó là điều xấu hổ.

Khi con thấy sự ít hiểu biết của bố mẹ trong đời sống văn minh hiện đại ngày hôm nay, đừng thất vọng mà hãy để bố mẹ thời gian để tìm hiểu.

Bố mẹ đã dạy dỗ con bao điều... từ cái ăn, cái mặc cho đến bản thân và phải biết đương đầu với bao thử thách trong cuộc sống.


"Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ."

Nếu như bố mẹ có đãng trí hay không nhớ hết những gì con nói... hãy để bố mẹ đôi chút thời gian để suy ngẫm lại và nhỡ như bố mẹ không tài nào nhớ nổi, đừng vì thế mà con bực mình mà tức giận... vì điều quan trọng nhất đối với bố mẹ là được nhìn con, đưọc gần bên con và được nghe con nói, thế thôi!

Nếu như bố mẹ không muốn ăn, đừng ép bố mẹ!... vì bố mẹ biết khi nào bố mẹ đói hay không.

Khi đôi chân của bố mẹ không còn đứng vững như xưa nữa... hãy giúp bố mẹ, nắm lấy tay bố mẹ như thể ngày nào bố mẹ đã tập tềnh con trẻ những bước đi đầu đời.

Và một ngày như một ngày sẽ đến, bố mẹ sẽ nói với con rằng... bố mẹ không muốn sống, bố mẹ muốn từ biệt ra đi.

Con đừng oán giận và buồn khổ... vì con sẽ hiểu và thông cảm cho bố mẹ khi thời gian sẽ tới với con.

Hãy cố hiểu và chấp nhận, đến khi về già, sống mà không còn hữu ích cho xã hội mà chỉ là gánh nặng cho gia đình!... và sống chỉ là vỏn vẹn hai chữ "sinh tồn".

Một ngày con lớn khôn, con sẽ hiểu rằng, với bao sai lầm ai chẳng vướng phải, bố mẹ vẫn bỏ công xây dựng cho con một con đường đi đầy an lành.

Con đừng nên cảm thấy xót xa buồn đau, đừng cho rằng con bất lực trước sự già nua của bố mẹ.

Con chỉ cần hiện diện bên bố mẹ để chia sẻ những gì bố mẹ đang sống và cảm thông cho bố mẹ, như bố mẹ đã làm cho con tự khi lúc con chào đời.

Hãy giúp bố mẹ trong từng bước đi vào chiều...

Hãy giúp bố mẹ trong phút sống còn lại trong yêu thương và nhẫn nại...

Cách duy nhất còn lại mà bố mẹ muốn cảm ơn con là nụ cười và cả tình thương để lại trong con.

Thương con thật nhiều...

Bố mẹ..."

http://diendan.bacninhpro.net/lam-cha-me/thu-gui-con-tac-gia-pierre-antoine-viet-kieu-phap/?PHPSESSID=01937e396ce022c10744bba8c0e5400f


XLVII.Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ
Ly Vũ

Theo afamily.vn - 1 năm trước

Marc có thể “bắn” tiếng Việt như gió trong khi vợ, một Việt kiều Pháp lại ngượng ngùng vì vốn từ mẹ đẻ còn chưa nói sõi.
Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ
Thân hình cao gầy, mái tóc xoăn màu hạt dẻ, mắt xanh lơ thực sự không mấy gây thiện cảm với tôi hay cho những ai gặp anh lần đầu tiên. Nhưng đáp lại câu chào và hỏi thăm bằng tiếng Pháp của tôi là một giọng nói với âm điệu chẳng khác nào một người Hà Nội mà tôi khó có thể quên "Em ngồi tự nhiên đi, uống gì bảo anh, đừng làm khách nhé".

Rồi một quãng thời gian dài, chúng tôi không gặp lại anh chị cho đến ngày hôm qua, khi cùng ngồi ăn phở cuốn, uống trà đá trên phố Mạc Đĩnh Chi ngay cạnh căn hộ trên tầng 4 mà hai vợ chồng anh sắp chuyển đi. Và chúng tôi có một buổi chiều đẹp ngồi nghe câu chuyện tình thú vị cùng những chuyến đi du lịch mạo hiểm, cuộc sống thường nhật và bí mật nho nhỏ của Marc và Tuyết Lan.

"Tiếng Việt khó nhất trần gian"

Tôi quen Marc và Tutu (tên gọi thân mật của chị Huỳnh Tuyết Lan) cách đây chừng một năm khi theo bạn trai đến nhà anh, trèo lên căn gác trên tầng thượng được sửa sang thành phòng tập leo núi. Và đây cũng là địa điểm duy nhất, đầu tiên tại Hà Nội dành cho những ai thích leo núi, muốn tập luyện bộ môn thể thao này.
Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ
Marc miệt mài trong phòng tập leo núi

Hai người quen nhau 7 năm trước khi Marc còn đang sống và làm việc ở Slovakia, còn Tutu đang là sinh viên ở Pháp. Chuyến đi du lịch ở Tây Ban Nha đã đưa hai người đến với nhau."Đi phượt mà em, bạn bè dựng lều ngủ qua đêm trong khi anh chị thì không có. Thế là cả đêm hai đứa ngồi cạnh nhau tâm sự rồi đâm ra thích và yêu nhau", Marc chia sẻ.

Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ

Mấy tháng sau, một mình bắt tàu đến Slovakia thăm Marc, Tutu muốn dành cho anh một bất ngờ thì Marc lại nhìn trước được những khó khăn của một tình yêu xa xôi, cách trở. Dù nhiều lần chị thuyết phục anh quay về Pháp nhưng anh một mực từ chối vì muốn sống và làm việc, trải nghiệm ở một môi trường mới lạ. Chia tay là lựa chọn lúc đó của cả hai người nhưng cuối cùng, Marc nhận ra khó có thể quên được hình bóng và mối tình với cô gái người Pháp gốc Việt.

Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ

Cuối cùng, Việt Nam lại là sự lựa chọn cho tương lai của hai người. "Lúc đó, chị muốn về Việt Nam để tìm hiểu quê hương, thăm những người bà con trong gia đình, còn Marc thì đã kết thúc công việc ở Slovakia, hoàn toàn tự do và muốn theo chị về sống ở đây".

Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ

Tuy mang dòng máu Việt nhưng từ nhỏ lớn lên ở Pháp khiến Tuyết Lan không thể giao tiếp trôi chảy với mọi người khi về sống và tìm việc ở Việt Nam. Vậy là học tiếng Việt được xếp vào danh mục những việc quan trọng đầu tiên hai người phải thực hiện. "Mất gần 2 năm để anh có thể nói, hiểu tiếng Việt và Tutu thích ứng được với cuộc sống ở Hà Nội".

Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ

Khoảnh khắc đáng yêu của cô dâu, chú rể
Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ

Marc có thể nói thành thạo tiếng Pháp, Anh, Đức, Slovakia và tiếng Việt. “Tiếng Việt khó nhất trần gian, anh học từ nhà ra ngõ, từ ông xe ôm đến bác bán bún”. Nói vui vậy chứ Marc rất ham học, có lần đến nhà anh chơi, đã 9h tối mà tôi thấy anh vẫn còn ngồi tập ghép từ, viết một đoạn văn tả cảnh buổi sáng đi chợ.

"Nói sõi tiếng Việt, ăn được tiết canh thì có thành người Việt nổi không?"

Câu hỏi anh dành cho tôi mà tôi chưa kịp trả lời thì trong ánh mắt của một người nước ngoài, gắn bó và yêu mến Việt Nam từ ngày đầu đặt chân đến đây thoáng chút buồn bã.

"Việt Nam mang đến cho anh một cảm giác rất lạ. Như thể là nhà, là nơi chốn cũ thân quen. Nhưng dù nói sõi tiếng Việt, ăn được tiết canh (cười lớn), ngày ngày luôn nỗ lực để là... người Hà Nội thì đối với mọi người, anh vẫn chỉ là một... anh Tây. Khó lắm!"

Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ
Không phải kiệu đỏ, cũng chẳng phải ô tô, anh rước nàng về dinh bằng... xe máy.

Hỏi chị Tuyết Lan thì trong nhà, anh mới là người hay đi chợ, nấu nướng: "Bọn mình không quan trọng nấu đồ việt hay đồ tây, Marc tự thiết kế các món hết. Marc thích ăn măng cụt nhất. Cứ đến mùa là anh ấy phóng xe ra chợ Hàng Da, mua đến vài cân mang về nhà ăn dần".

Vừa nhắc đến măng cụt, anh lại thêm luôn: "Hết mùa, giá là 60.000 một cân, thèm ăn nhưng đắt quá anh không dám mua".

Công việc của chị là nha sĩ, còn anh làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin, hễ rảnh là anh lại tụ tập bạn bè, rủ vợ đi... leo núi. Đã đi nhiều nơi để khảo sát địa hình như Cát Bà, Hạ Long... nhưng với anh, những ngọn núi ở Quốc Oai, Hà Tây thực sự là một địa điểm rất đáng giá: "Chỉ cách Hà Nội 15 km, nếu đi đường mới Láng Hoà Lạc thì chỉ mất chừng 20 phút là tới. Anh leo núi ở đây 3 năm rồi, bọn trẻ con, người làng cũng rành hết. Hay nhất là họ nói giọng Hà Tây, anh nói giọng Hà Nội, chả ai hiểu vậy mà vẫn quý nhau lắm. Mà chỉ có chỗ này tìm được xiên thịt nướng thì to và dài gấp mấy lần chợ Hà Nội."


Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ
Những lúc mệt vì vừa leo núi xong, Marc "bắt chước" ngay mấy bác xe ôm, đặt lưng lên xe ngủ ngon lành!

Bí mật nằm trong bụng vợ !

Không biết anh chị có phải là những người theo chủ nghĩa xê dịch hay không, nhưng đã ba lần chúng tôi đến nhà thăm anh chị thì cả ba lần anh chị sắp chuyển nhà. Vui vì đi tìm được một căn hộ mới, rộng rãi hơn 2 phòng ngủ, 1 phòng khách, đồ đạc cũng đầy đủ mà giá thuê cũng vừa phải nhưng niềm vui sướng nhất là khi anh chị biết mình sắp được làm bố mẹ.

“Anh chị mới đi du lịch Trung Quốc về thì chị biết mình có em bé. Ngày trước, anh có tập thể thao xong, leo lên giường chị cũng không thấy gì. Bây giờ thì chịu không nổi, bắt phải đi tắm ngay”.

Cảm giác làm Marc sốc nhất là khi anh đưa chị đi siêu âm, nhìn thấy đứa con đang hình thành. “Nó có cái đầu, cái chân, cái tay rồi, chắc cứ thế mọc lên dần dần. Rồi nó cử động, anh… đứng tim vì sung sướng”.


Chuyện tình chàng rể Pháp nói tiếng Việt sõi hơn cả vợ
Hai người đang hồi hộp chờ đón đứa con đầu lòng

Từng nghe những câu chuyện nhiều cặp vợ chồng ở Việt Nam tìm đến thầy bói xem ngày giờ đẻ em bé, rồi gọi điện cho bác sĩ lúc nửa đêm để mổ… lấy con ra, anh chia sẻ “Đó là điều kỳ dị và kinh hoàng nhất anh biết ở Việt Nam. Anh muốn đó là một bí mật trong bụng vợ. Anh chị không cần biết đó là bé trai hay bé gái, chỉ cần biết là con mình, một em bé khoẻ mạnh”.

“Khi nói chuyện với con, chị chỉ gọi là “le bebe” (em bé). Và cũng không lo chọn màu sắc quần áo, sơn phòng vì là con trai hay con gái, chị sẽ chọn màu trắng thôi”.

Tuy nói vô tư vậy, nhưng rồi Marc lại quay ra hỏi tôi “nhưng anh nghe nói đẻ con gái năm Dần không tốt à? Rồi quay sang vợ đùa “Thế quyết định em phải đẻ thằng cu nhé”.

Dự tính em bé sẽ chào đời trước dịp Tết nguyên đán, Marc và Tuyết Lan dự định sẽ sống thêm ở Việt Nam một năm nữa khi con ra đời: “Anh muốn con anh sinh ra ở Việt Nam, để nó có thể hiểu và yêu đất nước này như bố mẹ nó”.

Chúng tôi dự định có thể chụp một vài tấm ảnh về tổ ấm nhỏ của họ để có thể chia sẻ với bạn đọc nhưng mọi đồ đạc đã được đóng gói và chuẩn bị chuyển sang nhà mới. Tạm biệt Marc và Tuyết Lan với lời hứa sẽ đến giúp anh chị chuyển đồ, dọn phòng cho em bé, chúng tôi mong một ngày gần nhất đến thăm anh chị và khám phá “bí mật nằm trong bụng vợ” anh.

Ly Vũ



XLVIII. Nhật ký viết về mẹ chồng của một cô dâu Việt tại Nhật Bản

HUỆ LÂM

Ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật” – những câu nói như thế không biết giờ đây còn đúng với xu hướng Đa văn hóa tại nhiều nước trên thế giới hay không, bởi càng ngày càng có nhiều gia đình có vợ hay chồng là người nước ngoài, mang lại nhiều nét văn hóa mới cho thế hệ sau. Ấy nhưng nhắc đến nước Nhật, ngoài sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, ngoài những nét tinh tế trong văn hóa, nhiều người vẫn còn nghĩ ngay đến những sự phục tùng của người vợ đối với chồng trong gia đình hay những bà mẹ chồng hà khắc như trong bộ phim Oshin một thời nổi tiếng trên truyền hình Việt Nam.

“Cú sốc” lần đầu tiên gặp mẹ chồng Nhật

Có một điều đặc biệt thú vị và đáng yêu trong gia đình nhỏ của Thuý Hồng và Maki tại xứ sở hoa Anh Đào: Đó là cả nhà đều sinh năm Tí. Chính vì vậy mọi người vẫn gọi gia đình nhỏ tràn đầy yêu thương ấy là “Gia đình ba con chuột”. Cách đây cũng tới gần chục năm, Thuý Hồng và Maki là hai bạn trẻ cùng tuổi ở hai đất nước khác nhau, chủ yếu liên lạc thông qua những bức thư. Từ tình bạn đầy đồng cảm và chia sẻ, họ đã tiến tới một tình yêu đẹp và xây dựng được một gia đình nhỏ đầm ấm với cậu con trai Yuuki vừa tròn 2 tuổi.

Điều đặc biệt hơn nữa, dù trong quãng thời gian ở Việt Nam khi vừa cưới xong, hay sau này đã sang định cư ở Nhật, có một người dường như không thể thiếu trong cuộc sống của cô dâu Việt Thuý Hồng, người có thể nói có rất nhiều ảnh hưởng tới cuộc sống mới của đôi vợ chồng trẻ, đó là mẹ chồng cô. Cô đã viết những dòng nhật ký để chia sẻ những cảm nhận về người mẹ chồng Nhật của mình với tất cả bạn bè tại Việt Nam.

“Lần đầu tiên tôi gặp bà là khi chồng tôi đưa tôi về ra mắt. Trước đó, bà có thể đã đoán ra chồng tôi có ai đó khi những chuyến thăm Việt Nam ngoài công tác cứ tăng dần. Và đến khi chồng tôi quyết định sang hẳn Việt Nam làm việc – một quyết định mang đầy tính hy sinh (đã làm cho tôi “đổ” đến 90%) thì bà nói “Con cứ tiến lên đi”. Ngày tôi bước chân vào cửa nhà, bà đứng đón ở cổng với bộ quần áo cực kỳ trẻ trung, một chiếc áo sơ mi thụng và quần bò kẻ. Dáng vẻ ấy làm bay đi mọi sự lo lắng về lễ nghi của người Nhật trong tôi. Thế là tôi “thả phanh” trong suốt chuyến thăm với suy nghĩ AQ là mình cứ thể hiện hết “bản chất xấu xa” đi, về sau mọi người đỡ phải thất vọng. Sáng ngủ muộn, đi chơi cả ngày, về nhà ăn uống no say mà không nấu nướng hay rửa bát…

Lần thứ hai là mẹ chồng tôi cùng bố chồng sang Việt Nam năm 2005 khi chúng tôi làm đám cưới. Khác với tiết mục thi trao quà cưới giữa hai bên thông gia trước quan khách tại nhiều tiệc cưới, mẹ chồng tôi lặng lẽ tặng nữ trang trước đó nhưng lại dặn đừng đeo nó trong đám cưới. Bà cũng không quên chuẩn bị luôn chuỗi hạt trai cho tôi để tránh đeo đồ kim khí trong ngày cưới. Trong tiệc cưới, ai nhìn thấy mẹ chồng tôi cũng nói tôi giống con gái của bà.

Lần thứ ba là sau khi kết hôn, chúng tôi quay trở lại Nhật thăm gia đình. Trước khi kết hôn, tôi vẫn tâm niệm một điều rằng chuyện mẹ chồng nàng dâu là muôn thủa và không nghĩ mình sẽ “gặp may”. Vậy mà tôi đã lầm, mẹ chồng tôi thương tôi như con gái của bà.

Người mẹ Nhật của tôi

Sau này chúng tôi quyết định chuyển qua Nhật sống, phần vì chúng tôi không còn trẻ nữa, cơ hội để hoà nhập sẽ ngày càng hẹp hơn đối với tôi, phần vì tính chuyện có con cái. Cũng như các nước phương Tây, con cái lớn trưởng thành có công ăn việc làm ổn định thường ở riêng dù đã kết hôn hay chưa. Nhưng tôi được ở với mẹ chồng một năm để quen dần với cuộc sống bên này. Chồng tôi về nước trước tôi một năm để “dọn ổ” và tôi cũng phải ở lại để hoàn thành nốt khoá học của mình. Về đến nơi, tôi thấy mẹ chồng đã dọn sẵn một căn phòng riêng cho tôi ở tầng một nhìn ra vườn dưới vòm cây hoa hồng.

Bà nấu bữa cơm đầu tiên cho hai chúng tôi, những món ăn Nhật cầu kỳ chẳng khác gì khách sạn. Chiếc bàn thấp Kotatsu và chiếu Tatami đã được bà sửa lại để tôi ngồi thêu thùa, một trong các sở thích của tôi, bà còn kêu người đục sàn bên dưới gầm bàn để tôi thò chân xuống ngồi cho thoải mái, trang bị thêm lò sưởi dưới chân bên cạnh cái lò sưởi ngay dưới gầm bàn. Trong phòng có một cái tủ quần áo đã xếp gọn gàng toàn đồ đạc của tôi và một chiếc tủ tường (Oshire) trống để tôi đựng đồ của mình.


Chồng tôi đi làm cả ngày, mẹ chồng làm part time, ngoài ra bà phải đến các lớp tập nhảy để chuẩn bị cho các cuộc thi mặc dù cúp bà giành được đã chất đầy nóc tủ. Thời gian còn lại bà cố lôi tôi ra ngoài đi đây đó. Bà đưa tôi đi tàu xe cả tiếng đồng hồ chỉ để mua một chiếc gương treo tường vì bà nghĩ con gái thì phải điệu và có gương tử tế.

Bà sợ tôi buồn nên cố gắng làm mọi thứ tôi thích, trồng nhiều hoa hơn trong vườn vì tôi thích chụp hình hoa, ngày tết nói bạn bè của bà gửi Nengajyo (thiệp chúc mừng từ người thân bạn bè) cho tôi vì sợ tôi tủi thân khi trong nhà ai cũng nhận được một tập dày cả trăm cái. Cứ cuối tuần là bà nhắc chồng tôi phải đưa tôi đi chơi. Mỗi chiều đi làm về, bà mở cửa và gọi réo rắt tên tôi dưới tầng một, lúc thì bà lôi thứ gì đó ra khoe vừa mới mua được hay ríu rít kể chuyện khi tôi loay hoay tra từ điển để cố hiểu.

Chỉ vì tôi thi thoảng trầm trồ khi xem đấu vật Sumo trên TV, bà ngay lập tức mua đôi vé và dắt tôi đến tận nhà thi đấu. Mẹ chồng tôi bao giờ cũng giành phần khó khăn, đi shopping thì phải giành phần xách nặng, khi chưa cưới, tôi giành xách hộ thì bà nói khi nào làm con dâu bà tha hồ mà xách. Nhưng con dâu bà cũng chẳng bao giờ được xách nặng cả. Bà biết sở thích đồ thủ công của tôi, nên thi thoảng mua cho tôi con chỉ, cái thước dây thêu Goblen hay quyển sách…Từ khi lấy chồng, thi thoảng tôi vẫn giận chồng nhưng chưa bao giờ giận mẹ chồng. Ngược lại bà luôn ôm tôi vào lòng an ủi mỗi khi tôi khóc vì giận chồng. Tính tôi không phải là người nói cho được bởi lẽ hơn nhau câu nói lúc cả hai đều giận mất khôn thì được gì. Nên bao nhiêu ấm ức tôi trút cả vào nước mắt. Bà bao giờ cũng bênh vực và đứng về phía tôi.

Khi tôi mang bầu Yuuki, khỏi phải nói bà vui mừng thế nào. Hầu như đồ của hai mẹ con đều do bà sắm cả vì ba tháng đầu tôi bị “cấm cung”, chỉ ra ngoài đi khám định kỳ ở bệnh viện vì sợ lây cúm, sợ ảnh hưởng tới con. Về khoe cái ảnh siêu âm mờ tịt hồi mấy tháng, thấy bàn tay be bé giơ lên, bà nói những ngón tay của Yuuki dài giống mẹ và hôm sau bà mang về một tờ rơi quảng cáo lớp học piano cho trẻ em.

Hết thời gian “cấm cung”, bà tiếp tục đưa tôi đi chơi đây đó, rồi đi chùa cầu cho được mẹ tròn con vuông. Những tuần cuối cùng trước khi sinh Yuuki, bệnh viện chuyển ngày hẹn khám định kỳ qua ngày thường và tăng lên mỗi tuần một lần, chồng tôi không thể nghỉ làm như thế được nên bà đã nghỉ làm và đưa tôi đi. Lúc này bố mẹ đẻ tôi đã sang Nhật để chờ mong cháu ngoại chào đời. Và vì tôi bụng to quá rồi không thể đưa bố mẹ để đi chơi được, bà lại gánh vác việc ấy, thậm chí rủ thêm bạn bè để đi chơi cùng bố mẹ tôi cho vui.

Những ngày ở bệnh viện, bà rất hay đến thăm tôi, nếu không vì bố mẹ đẻ và chồng tôi ngày nào cũng đến “quấy quả” phòng hậu sinh thì có lẽ bà đã đến hàng ngày. Được đón về nhà, bữa cơm mừng Yuuki đồng thời cũng là sinh nhật luôn cho ông ngoại Yuuki. Mẹ chồng tôi không để bố tôi lỡ sinh nhật ngay cả khi tới Nhật, chiếc bánh sinh nhật chung cho ông và cháu. Đến tuần thứ ba sau khi sinh, tôi bị sốt tới 39 độ do lây cảm của chồng.

Đến hôm sau thì hết, chỉ còn 37 độ. Trước khi đi làm, chồng tôi gọi điện thoại tới bệnh viện và được họ tư vấn là giữ ở nhà theo dõi. Nhưng mẹ chồng tôi nhất định dựng bố chồng tôi dậy sớm chở tôi đi bệnh viện. Yuuki ở nhà với ông bà ngoại. Bệnh viện ở đây nếu không có hẹn trước với bác sĩ thì chờ khám có khi đến 3-4 tiếng đồng hồ. Mới xa con lần đầu, tôi ngồi ở bệnh viện như lửa đốt trên ghế và tự trách mình đã để con ở nhà mà không mang theo. Hết kiểm tra flu rồi thử máu… lại phải chờ lấy kết quả, mẹ chồng tôi kêu taxi cho tôi về nhà cho Yuuki bú rồi lại trở lại bệnh viện, tiện tay lấy thêm ít đồ ăn cho tôi. Mẹ đẻ tôi bảo: “Tao chưa thấy ai như mẹ mày, bóc quả chuối đưa tận miệng con dâu”. Mẹ tôi vẫn gọi mẹ chồng tôi là “mẹ mày” thay vì “mẹ chồng mày” cứ như bà là mẹ đẻ của tôi chứ không phải mẹ chồng.


Hết một năm, chúng tôi dọn ra ở riêng. Khi ấy Yuuki được 1 tháng tuổi. Bố mẹ đẻ tôi chuẩn bị về nước. Mẹ chồng tôi tới ôm lấy bố mẹ tôi rồi khóc, bà nói bà sẽ tới chăm hai mẹ con thường xuyên để bố mẹ tôi yên tâm. Và đúng như thế, mỗi tuần bà tới hai lần sau khi tan làm. Lúc nào cũng tay xách nách mang đủ thứ. Thường thì sau khi có cháu, các bà hay dồn hết sự quan tâm cho cháu mà bớt phần của các con, nhưng bà đối với tôi vẫn y nguyên như ngày đầu. Khi tôi đã quen với nơi ở mới và Yuuki đủ lớn để ra ngoài nhiều hơn, bà mới rút xuống tuần một lần.


Thi thoảng tôi vẫn than thở là Yuuki nhỏ bé, nhưng bà bảo “không, nó bình thường” và luôn khen nó cao lên mỗi khi tới thăm. Thay vì trách tôi vẫn để cho con ăn ở chế độ cơm mềm gần như cháo, bà nói với Yuuki “cháu sướng quá đấy, mẹ nấu cho mà ăn nóng, các bạn phải ăn cơm rồi, còn ăn cả đồ nguội cơ”. Mẹ chồng tôi luôn động viên tôi những câu như “có con nhỏ bận rộn lắm” rồi “nuôi con trai vất vả hơn con gái vì các bé trai yếu hơn và hay ốm hơn, lại nghịch hơn”. Mẹ chồng tôi hỏi tôi có cần gì không, có muốn thứ gì đó không, tôi nói nửa đùa nửa thật là chỉ thấy thiếu thời gian mà thôi. Vậy là hầu hết những lần tới thăm bà luôn nấu sẵn món gì cho bữa tối của chúng tôi. Đấy là cách bà cho tôi thời gian!

Nếu câu “ngu si hưởng thái bình” mà đúng, thì có lẽ kiếp sau tôi vẫn muốn “ngu ngơ” thế này để lại được gặp may, lại được làm con dâu của “mẹ tôi”!”

Huệ Lâm

http://www.dangyeu.com/index-450.htm


XLIX.Việt Kiều hồi hương

Du sinh hồi hương.. (Sau khi học 5 năm ở Nga-Xô)
VÔ DANH

Tôi du học Tây về! Câu đơn giản thế nhưng lanh lảnh như tiếng chuông mới đúc. Chữ “Tây” không chính xác về địa lý nhưng chuẩn xác về sự phân chia cấp bậc cũng như cái nhìn trong xã hội. Có điều tôi chỉ đi “Tây” Nga về chứ không “Tây” Mỹ, “Tây” Úc hay “Tây” Đức, Pháp... Cái “thiệt thòi” hôm nay là “ưu đãi” trước kia của Bộ đại học dành cho tôi.

Chả gì nước Nga cũng “ông anh cả” của Việt nam – “nước cộng hòa thứ 16 của Liên xô”.
Tôi là kỹ sư kinh tế ở Nga về. Nghe không vang như câu trên. Phải thôi. Kinh tế Nga chục năm nay lu mu, chả ra “kế hoạch quốc gia”, chả ra “kinh tế thị trường”. Sách vở là phương tiện cãi nhau của các nhà “đổi mới”. Năm năm đèn sách nhét thứ đó vào đầu không ngớ ngẩn là may.
Tôi mang chiếc bằng đi xin việc. Đầu tiên tôi mua báo, nghiên cứu “tuyển người”, đánh dấu xanh đỏ những chỗ “khả thi” và bắt đầu gọi điện.

Nhà có điện thoại lợi đủ đường. Tuy nhiên, mỗi lần “bắt” được giọng đầu dây kia, hiện tượng này chiếm 30% số lần gọi, mẹ và bà chị dâu đều “ý tứ” xem đồng hồ. Nào tôi có ham “nấu cháo điện thoại” mà tại phí điện thoại “cấu” vào đồng lương gớm quá. Tôi đi Tây, tưởng “kinh tế” cho gia đình mấy năm sinh viên. Nào đâu đúng thời kỳ khó khăn. Việt nam qua thời “tem phiếu” từ lâu mà nước Nga bắt đầu “talon”*. Tháng 2 kg đường, 7 lạng thịt, 2 chai vôtka là tiêu chuẩn sinh viên! “

Talon” đường, rượu tạm đủ còn thịt thiếu nặng. Ra chợ, có đấy, nhưng học bổng eo hẹp. Chẳng nhẽ để con gái chết đói ở đất nước Xã hội chủ nghĩa, mẹ tôi đành tiếp viện. Năm năm “hạch toán” ra chắc cũng lõm của mẹ tôi ối. Biết thân, biết phận, về nước tôi không dám làm mình, làm mẩy “quen ở Tây” thế nọ, thế kia. Chỉ duy nhất cái “màn tra tấn” 6 giờ sáng bị khua bằng đủ âm thanh “nội” “ngoại” là tôi “choáng” hẳn. “Nội” là tiếng mẹ tôi mở cửa sắt đi tập thể dục, chị dâu tranh thủ sáng có nước bơm giặt giũ.

Xô chậu “duyệt binh” xủng xoảng ra trữ nước dùng trong ngày. “Ngoại” là tiếng rao bán. Từ “mỳ nóng”, “bánh cuốn”, “xôi” các loại đến gạo tẻ, gạo nếp “tên tuổi” nghe như tiếng Thổ, hoặc mắm muối kèm mùi khó tả... Điên nhất là ông mãnh “mỳ nóng” sáng nào cũng như “đồng hồ Tây”. Nó đứng dưới cửa sổ tôi gào “mì nóng” lanh lỏi, kết thúc bằng chữ “ròn”.

Chao ôi, khâm phục độ nẩy của lưỡi nó. Đồ rằng, cả miền Bắc có mình nó biết phát âm chữ R! Không trốn được những âm thanh đó, tôi chúi đầu vào đống chăn chịu đựng qua “cơn bĩ cực”. Nhưng giờ “thái lai” đến là lúc mẹ tôi đi tập thể dục về. Nhìn con gái còn “giương đò”, bà lại ca “dậy sớm có lợi cho sức khỏe” là lá la... Thôi thà dậy béng cho xong.
Chuyện xin việc không thể gọi điện thoại. Tôi đã qua bài học thứ nhất khi tổng kết thông tin qua điện thoại là con số 0 tròn trĩnh. Mấy người trực điện thoại hoặc nhấm nhẳng hoặc chẳng trả lời câu nào cho ra hồn.


Tôi mò tới “Trung tâm giới thiệu việc làm” và thấy ngay mình là con ngớ ngẩn. Vừa lộ “tốt nghiệp ở Nga về”, họ hỏi ngay:
- Sao không ở lại, về làm gì?
- Làm việc.
- Việc gì mà làm?
Tôi trố mắt nhìn họ, thầm điểm lại xem mình có vào nhầm chỗ.
- Ở đây không giới thiệu việc à? Sao ngoài kia cả chục người làm hồ sơ?


- Họ làm hồ sơ xin đi ra nước ngoài lao động, làm ăn. Đi Hàn quốc, Libi, Iran... có cả đi Nga đấy. Cô có muốn...
Tôi xua tay cám ơn rồi chuồn thẳng ra cổng.
Bài học thứ hai. Tránh lai vãng ở “Trung tâm giới thiệu mờ ám”. Không khéo bị lẫn vào hàng ngũ các cô gái “sính” chồng Đài Loan.


Sau hai bài học, 50% nhiệt tình “phục vụ đất nước” đã đi tong. Tôi chuyển sang “xu hướng” nghe ngóng chứ không đâm đầu làm theo báo nữa. Người thân mong ngóng tôi về sau những năm xa cách, qua 5 tháng, tình cảm cũng vơi đi. Đến mẹ tôi còn sốt ruột khi thấy con gái thất nghiệp nằm chỏng gọng ở nhà. Bà rỉ rả “nhàn cư vi rồi đấy con ạ”. Đúng quá, nhàn đến “rách việc” đây. Sáng chiều cơm nước. Từ ngày tôi về, tự dưng “Osin” về quê. Chả hiểu bà chị dâu tốt nghiệp khoa kinh tế ở đâu mà giỏi tính thế. Tôi hậm hực cũng chịu, nhăn nhó mẹ tôi chả “hát” nửa tiếng đến ong thủ mất. Bạn bè, đứa có việc đi cả ngày, đứa chưa có việc lại có người yêu, chồng con. Tôi trơ thổ địa, chẳng nhẽ trách ông Trời. May còn dăm ba đứa “lơ lửng giữa trời”. Tối tối tôi xách xe chạy qua nhà chúng tán gẫu, chia xẻ “mánh khóe sống đời”.

Tôi hiểu giờ người ta xin việc là xin vào chỗ có “mầu”. “Mầu” là bổng lộc. Khoản này không thể có ngay khi mới làm mà phải nhích lên “lão làng”. Không phải ai cũng nhấp nhổm lên được. Chỉ những “tinh hoa” thôi. “Mầu” nữa là “mầu đi Tây” theo suất “nâng cao”. Tụi bạn tôi may mắn có việc thấy chí tiến thủ của chúng nhuộm sắc “hướng ngoại”. Chúng cong mông theo các lớp tiếng Anh, tiếng Pháp như lũ “sống gấp”, xem ngoại ngữ là cái “cánh” mang chúng ra bầu trời tự do. Sau mấy tháng “thất nghiệp” từ một con “Nga ngố” tôi kết hợp tính nói thẳng, nói thật của Tây với ngoa ngoắt của mấy bà hàng rau, hàng thịt mà mỗi ngày hai lần tôi nhẵn mặt thành một dạng “củ chuối” mà mẹ tôi không chấp nhận được. Bạn bè bầu tôi là “huấn luyện viên phụ huynh” tầm cỡ.

Từ chỗ mẹ tôi muốn lấy lại hình ảnh đứa con gái út thùy mị của trước ngày đi Tây, chuyển sang tôi “biến” bà phải chấp nhận triết lý “cái gì cũng có thể với con gái mình”, thậm chí là cướp biển! Một kết quả đôi bên cùng có lợi. Tôi được tự do, mẹ tôi khỏi thấp thỏm khi khuya khoắt. Nhưng một cái lợi nữa mà tôi chưa lường được. Tình trạng “bụi đời” của tôi khủng bố tinh thần cả nhà nên họ huy động toàn bộ các mối quen biết họ hàng từ “bắn đại bác” đến “phi dao” để tìm việc cho tôi. Vào một bữa cơm chiều, ông anh trai yêu quý thông báo một tin quan trọng rằng ông giám đốc, bạn cũ hồi phổ thông, dù mới tìm lại nhưng có nhiều duyên nợ, nhận tôi vào công ty ông ta. Mà đó là công ty nhà nước trăm phần trăm, thuộc Bộ khoa học và Công nghệ môi trường cơ mà. Cả nhà xôn xao, khởi sắc.

Tôi cũng hí hửng như sắp thành “ông nọ, bà kia”. Thêm bài học thứ ba. Muốn xin được việc phải quen biết. Tổng quát, muốn được bất kỳ việc gì đều phải có “quan hệ”. Cứ kiểm chứng bằng những buổi tôi “đánh quả” nhà bạn bè là biết. Chị dâu hay mẹ tôi đi chợ, y rằng bọn bán hàng nó giúi cho rau già, bí xơ, thịt dai nhoách. Không có “quan hệ khách hàng thường xuyên” tôi xây dựng mấy tháng nay làm sao có đồ ăn ngon. Tôi giờ ra chợ mua cả tuần không trả tiền là cứ vô tư. Quen thế, không chừng khi nào cưới, tôi phát đại cho chúng thiếp mời cũng chẳng có gì muối mặt hết!

Ông anh giục tôi tới Bộ Giáo dục và Đào tạo xin giấy chứng nhận tốt nghiệp làm hồ sơ. Tôi ngoạc mồm cãi “bằng sờ sờ ra còn chứng nhận, chứng nhiếc gì” liền bị cả nhà xúm vào sỉ vả ác liệt. Mỗi người một giọng lên lớp hòng dẹp cái thói “ngông nghênh” của tôi.

Mười giờ sáng tôi có mặt ở cổng Bộ Giáo dục và Đào tạo. “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” có khác, nhà cửa của Bộ đàng hoàng, khang trang. Khu vườn thênh thang giữa thủ đô tấc đất, tấc vàng nhìn sướng mắt. Tôi tiến đến khu nhà 5 tầng, bắt đầu một chuỗi những “xin lỗi chú”, “xin lỗi cô” và cuộc “việt dã” theo cầu thang. Giờ tôi mới biết người Việt nam nào có tính “nhúng mũi” vào chuyện người khác. Tất cả các câu hỏi của tôi đều được trả lời u ơ “không rõ”, “hình như”. Tôi khùng người vì leo thang nhưng ngộ ra vì sao mẹ tôi về hưu rồi còn tập chạy(!). Cuối cùng tôi cũng mò ra phòng phụ trách lưu học sinh tốt nghiệp. Tôi gõ cửa dõng dạc, bước vào sau tiếng hừm. Tôi chào lịch sự dù chỉ nhận lại chiếc gật hay lay động cơ cổ.
- Cô cần gì?

Một trong hai người đàn ông đang đọc báo hất hàm hỏi.
- Thưa, cháu xin chứng nhận tốt nghiệp để làm hồ sơ xin việc.
- Về bao giờ?
- Dạ, gần một năm.
- Sao giờ mới lên đây?
- Dạ... chẳng ai bảo cháu phải lên ngay cả.

- Cô này vô tổ chức, nguyên tắc về nước phải báo cáo ngay, còn chờ ai bảo.
Bị mắng “ngứa tai” lắm nhưng bài học cả nhà dạy hôm qua còn nguyên nên tôi im như hến. Tôi rút bằng, sổ điểm cùng giấy sứ quán cấp trình ông ta.
Ông ta cầm tấm bằng, không đọc mà lật qua, lật lại. Lật chán ông quay nhìn tôi. Nhìn như đánh giá mặt hàng, không khác gì tôi chọn cá. Thậm chí còn bĩu môi. Tôi nghĩ, ông này mua cá mà “thể hiện” thế, bọn hàng cá chửi cho tanh người. Nghĩ gì thì nghĩ tôi vẫn làm mặt khép nép. Chợt ông ta ném bẹt cả bằng lẫn giấy tờ của tôi xuống bàn, hỏi gọn lỏn:
- Học gì? Ở đâu?
- Dạ kinh tế, trường Plekhanov ở Matxcơva.
- Học từ năm nào? Tốt nghiệp năm nào?
- Dạ... những điều đó có cả trong bằng rồi, sao chú còn hỏi.
- Tôi hỏi là việc của tôi. Cô không trả lời được phải không?
Ông ta ngẩng nhìn tôi mãn nguyện. Chả hiểu ông ta phát minh được cái quái gì từ mấy câu hỏi trẻ con đó mà mắt ông chợt ánh lên ranh mãnh.
- Cô học hành cái gì. Sang chỉ lo đi buôn, bằng thì mua.


Tôi há hốc mồm còn chưa tin ông ta đang “vu cáo” mình. Ông ta dồn tiếp:
- Cô nói tôi nghe, bằng này cô mua bao nhiêu?
Đến nước này tôi chịu hết nổi. Bao kinh nghiệm cãi nhau với mấy bà ngoài chợ chợt loang loáng trở về. Tôi vênh mặt không kém ông ta, mắt cũng “đèn pha ôtô” xoáy áp đảo:
- Chú nói bằng này giả? Chú nói bằng này mua? Nghĩa là bảng điểm cũng giả, giấy chứng nhận của chú trưởng phòng Lưu học sinh Matxcơva cũng mua nốt. Vậy chú làm ơn ghi cho cháu mấy chữ vào đây. Tiện ký và đóng dấu luôn cho cháu. “Nói có sách, mách có chứng”, mai kia có người sang Matxcơva, cháu kiểm chứng lời chú.


Vừa nói tôi vừa rút xoạch tờ giấy và cây bút đặt trước mặt ông ta. Ông ta đứng bật dậy, há hốc mồm chẳng khác gì tôi lúc trước, lắp bắp:
- Cô... cô ăn nói với tôi thế hả. Giọng lưỡi con buôn...
- Chú nhìn người như thần. Cháu học kinh tế chú nói đi buôn. Bằng chú lật qua mà biết giả, thật kém gì người buôn “xanh”...


Ông ta đập bàn đánh rầm:
- Cô tưởng đây là chợ, cô phát biểu vô tổ chức... biết đây là đâu không?
Tôi suýt nữa cũng học bà bán thịt bò kèm 70% thịt trâu ngoài chợ chống tay vô hông, “quạc” lại:
- Cháu biết... thì chỉ có chợ mới nói “giả, thật, giá bao nhiêu” chứ.
Mặt ông ta đỏ rần như người có triệu chứng huyết áp “quá tải”. Tôi trót “cưỡi lưng hổ”, tự biết không đường lui. Cuộc đấu khẩu sẽ đến đâu nếu không có tiếng cười của người đàn ông thứ hai trong phòng. Cả hai “đối thủ” cùng dồn mắt sang ông ta. Người đàn ông chậm rãi tới bên tôi. Nét mặt hòa nhã nhưng mắt giấu vẻ khoái chí sau cặp kính.


- Cháu nói với chú Đạo thế là không được. Chú Đạo người lớn chẳng chấp cháu “trẻ người, non dạ” làm gì. Đứa nào mới đi Tây về chẳng thế. Đưa bộ copy đây chú vào sổ. Chiều mai lên lấy giấy ở phòng 32. Thôi, chưa xin lỗi chú Đạo còn chờ gì?
Nghe vậy là tôi đủ “thông minh” hiểu ý. Một trọng tài kinh nghiệm thổi còi đúng lúc nhắc hai cầu thủ “fair play”! Tôi chuyển tần số lời nói:


- Chú Đạo bỏ qua cho cháu mấy lời láo lếu vừa rồi. Ở nhà cháu vẫn bị mẹ mắng suốt vì tội cãi bướng mà.
“Chú Đạo” kia mặt vẫn đỏ nhưng lẽ nào không “miễn cưỡng bắt tay đối thủ”. Ông ta lầm lỳ chẳng ra gật, ra lắc ngồi xuống cầm tờ báo đọc tiếp. Tôi lại gần người đàn ông mang kính để ký vào sổ, khẽ nói nhỏ:
- Cháu cám ơn chú nhiều.
Ông ta mỉm cười với tôi:
- Molodec! (Cừ lắm!)


Bữa cơm chiều, tôi “tường thuật” lại chuyện “chú Đạo”. Chị dâu tôi khoái bất ngờ tới mức trước mặt mẹ chồng dám vỗ đùi đôm đốp. Tôi ngờ rằng bà này cũng từng bị cái Bộ kia “đì” rồi nên giờ được “trả thù quá khứ”. Mẹ và anh tôi nhăn nhó. Mãi sau mẹ mới chép miệng:
- Mày thật chả khác bố mày ngày xưa.
Bố tôi ra đi sớm khi tôi mới 10 tuổi. Tôi chẳng còn nhớ nhiều về bố. Nhưng tôi tin, nếu ông còn, ông sẽ xoa đầu con gái rượu chứ chẳng mắng đâu.


Đầu tuần, theo lời ông giám đốc tôi đến cơ quan làm việc. Không biết nếu tôi đi làm dâu mẹ tôi có lo như tối hôm trước ngày tôi đi làm. Bà đi ra nhắc, đi vào dặn. Anh trai tôi răn đe:
- Mày làm thế nào cho tao còn gặp lại được bạn bè. Bớt mồm đi. Người ta hỏi, trả lời cho ngoan ngoãn. Lớn rồi, nghe hỏi phải biết ý họ mà trả lời.
Con bạn thân đọc “lesson” cho tôi lĩnh hội. Nào bánh kẹo, thuốc lá, trà ra sao, chào ai cô chú, ai anh chị... Đặc biệt khoản “ngoại hình”:


- Mặc đầm cho nữ tính. Đầm dài bớt ganh ghét của đồng nghiệp nữ nhưng mất cổ động viên nam. Độ ngắn của đầm tỉ lệ thuận với trình độ văn hóa.
Tôi lục tung valy tìm ra chiếc đầm xanh. Màu hơi ngớ ngẩn nhưng có vẻ nữ tính. Độ dài của nó vừa khéo để không sexy cái đầu gối củ lạc, lại chứng tỏ tính kín đáo của bằng Đại học.


Tôi đi sớm, lởn vởn chờ phòng số 4 có người. Theo lời giám đốc, tôi xông tới “làm quen”. Ở nhà mẹ vẫn khen tôi có đức “trơ tráo”. Tôi còn nhiễm tính “tự tin mù quáng” của người Nga nên chả bối rối chút nào khi bước vào.
- Chào các chị, các anh - Tôi hơi nghêng người và nở nụ cười bài bản – Em là Thu, anh Bình giám đốc nhận em vào làm công ty mình từ hôm nay.


Năm người, định vị năm bàn quay nhìn tôi. Một giây, hai giây... năm giây. Tôi chợt thấy nụ cười trên môi mình vô duyên trước 10 chiếc mắt dọi vào. Từ hôm về nước, tôi xem nhiều phim Việt nam và không chịu được vẻ vô cảm của các “sao” điện ảnh. Giá họ học được vẻ mặt của năm người đang chiếu tướng tôi đây chắc nền điện ảnh Việt nam sẽ phất kém gì Holywood. Sang giây thứ sáu, muốn hay không nụ cười của tôi cũng không le lói hơn được nữa. Tôi đứng đực ra chờ phản hồi nhưng hình như họ cố làm vẻ nghễnh ngãng. Tôi thầm rủa số mình đi đâu cũng không xuôi xẻ.
- Sao tôi chả biết gì nhỉ?
Một giọng nam chất kim vang lên phá tan bầu không khí “mặc niệm”.
- Ông Bình làm những chuyện lạ đời. Đùng đùng cái gì cũng theo ý mình, hay dở thế nào cho người khác đổ vỏ.

Giọng nữ ồ ồ cằn nhằn.
- Em có nghe loáng thoáng - giọng cô gái khá trẻ ngồi bàn gần cửa – Anh Bình nói nhận người về. Sắp tới công ty mình ký hợp đồng với công ty thiết bị y học của Nga.
- Ôi dào, viện này thiếu gì kỹ sư học Nga về. Toàn thằng chẳng làm được việc gì lại còn nhận thêm.
Giọng kim vừa nẫy nhưng tôi đã phát hiện ra của người đàn ông ngồi góc phải. Dù cửa sổ mang ánh sáng ban mai vào nhưng khuôn mặt ông vẫn không vì thế bớt già nua và nhăn nhó như quả táo Tàu. Kinh nhất là cặp mắt kẻ chỉ, khó đăm đăm đang tranh thủ “miệt thị” tôi.

Tôi vẫn đứng vì chả có ai định mời mình ngồi xuống chịu trận. May hôm nay tôi mặc chiếc đầm xanh. Tuy ngớ ngẩn nhưng theo các nhà “tâm lý học”, màu sắc có tác dụng giải tỏa. Màu xanh lờ lợ đó như lá chuối đặt trên thùng nước đang sánh qua sánh lại. Khổ nỗi “chiếc lá chuối” này không mảy may tác dụng “tâm lý” ông giọng kim. Ông chán bâng quơ, chuyển sang chĩa mũi dùi vào tôi:
- Ai bảo cô tới đây?
Kinh nghiệm ở Bộ Giáo dục và Đào tạo đã dạy tôi chẳng nên ngạc nhiên trước câu hỏi thừa. Ngoan ngoãn như lời ông anh dặn, tôi thỏ thẻ:

- Dạ thưa, anh Bình dặn sáng nay em tới làm quen với các anh chị.
Tình hình nghe ra chẳng sáng sủa hơn sau câu trả lời nhún nhường của tôi. May cô gái gần cửa bước tới kéo ghế mời tôi. Tôi đầy cảm kích. Tôi liếc tìm bộ ấm pha trà, lấy mấy gói bánh kẹo, thuốc lá ra đặt trên bàn, mạnh dạn hỏi cô gái còn đang đứng gần tôi:
- Cho mình mượn mấy chiếc đĩa được không?

“Đồng minh trong hy vọng” của tôi nhanh nhẹn mở tủ lấy đồ và giúp tôi. Tôi thầm cám ơn Trời. Dù thái độ của tôi giờ không còn tự tin như trước nhưng tôi vẫn đủ “khả năng” bê ra từng bàn mời các vị đang chiễm chệ đọc báo và bình luận chuyện không đâu. Tất nhiên họ uống trà. Tất nhiên họ gặm nhấm bánh kẹo và coi sự phục vụ của tôi là “tất nhiên” khỏi cần cảm ơn. Còn tôi “tất nhiên” phải quên thói lịch sự của Tây mà coi đó là văn hóa Việt nam!
Người đàn ông ngồi gần cửa sổ chợt cắt ngang câu chuyện về giá xe máy Thái lan đang xuống
:
- Em học ngành gì bên Nga?
- Dạ em học Kinh tế.
- Lại Kinh tế - giọng kim lần này hơi méo có lẽ do chiếc kẹo Hải châu còn mắc trong răng – Đâu cũng nhan nhản kỹ sư kinh tế. Mang tiếng học hành mà chả biết “đếch” gì. Làm hợp đồng viết ngu bỏ mẹ. Cháu ông Viện phó học Kinh tế vừa vào Viện, con bà Hoài phòng “Công nghệ nguyên tử” cũng đang làm hợp đồng bên đó.
Tôi khẽ nhăn mặt. “Lại gặp bạn “chú Đạo” rồi. Giờ mà ông hỏi giá bằng Đại học, mình phải hô bao nhiêu đây?”.
- Cô ở đâu đến đây?

Chiếc kẹo đã chui tọt vào họng nên câu hỏi vang lên lanh lảnh. Một câu hỏi đơn giản như bài học đầu tiên của chương trình học ngoại ngữ, ông có hỏi bằng tiếng Anh tôi vẫn trả lời vô tư.
- Em ở Hà nội ạ.
Những khuôn mặt “đầy ấn tượng” hiện ra. Cáu kỉnh là của ông giọng kim:
- Ai chả biết Hà nội. Quen ai mà tới đây?
- Á... – hơi ngượng vì sự “chậm hiểu” nhưng tôi chữa ngay- Dạ, em chỉ quen anh Bình giám đốc thôi ạ.
- Quen mỗi ông Bình mà xin được vào Viện lớn thế này. Giọng ồ ồ thắc mắc kèm theo cái nhìn nghi vấn rất “nữ tính”.
Tôi còn quen thêm được ai từ ngày về nước ngoài mấy bà buôn ngoài chợ.
- Thế cô con ai?
Cái hất hàm đầy tính “khảo sát” của ông giọng kim chĩa vào tôi. Tất nhiên lần này tôi đã “thấu” câu hỏi. Ông anh tôi chả dặn phải xem ý người ta mà trả lời là gì. Tôi dõng dạc:
- Dạ em không con ai cả ạ.

Có bịt tai tôi cũng nghe tiếng cô gái “đồng minh” cười váng lên. Tiếng ho khục khục giấu tiếng cười “thiên nhiên” là của ông ngồi kế cửa sổ, anh chàng trung niên từ đầu chưa nói gì chợt rút kính lau lấy, lau để. Chỉ còn lại hai khuôn mặt của hai chất giọng “ngược đời” là thộn ra. Giọng kim rít lên:

- Cô học đâu kiểu nói trêu ngươi thế hả? Cô biết tôi là ai không?
Tôi nghệt mặt chả hiểu mình có tội gì. Tôi quay sang “đồng minh” cầu cứu nhưng cô ta còn mải cười đến mức chạy bắn ra hành lang, vội vàng lao ngay vào ông Bình đang bước tới. Cô khẽ “Ối”, ngượng nghịu. Bốn người còn lại kéo ghế đứng lên chào đồng loạt. Chỉ có tôi đang ngẩn ngơ vì “quả mắng” nên ngồi tại chỗ khẽ lúng búng.
- Chào mọi người! - Giọng sang sảng đúng chất Sếp - Làm quen vui quá. Nhân viên mới có quà cho anh em hả. Được đấy.

Quay sang bên, ông giám đốc nói:
- Anh Trung tổ chức và chị kế toán lên phòng tôi có việc cần bàn nhé!
Hai người đứng dậy theo ông lên phòng. Tôi toát mồ hôi. Thôi xong. Ông anh nhắc “khéo lời với ông trưởng phòng tổ chức mới hòng được vào biên chế”. Loạng quạng thế nào tôi “trêu ngươi” ông ta rồi. Vụ này khéo đứt!
Ngày sau, tôi đến, chẳng có chỗ riêng của mình trong phòng, chẳng có việc cụ thể. Giám đốc bảo làm quen công việc nhưng có ai nói năng gì với tôi đâu. Cô “đồng minh” trở nên giữ kẽ. Mặt ai cũng như bức tường. Cảm tưởng tôi bị tẩy chay.

Tôi ra hành lang nghe chim sẻ chíu chít trên nhánh xà cừ, buồn bã như giữa đảo hoang. Vài ngày sau, giám đốc chỉ tôi phòng nhỏ, kêu dọn dẹp, kê bàn vào lấy chỗ làm việc. Sáng 8 giờ đi, trưa cơm nhà, chiều lại công ty. Việc duy nhất là ngồi và ngó qua cửa sổ. “8 giờ vàng ngọc” thoải mái tiêu. Chán, tôi lò dò xuống phố thăm tình hình Model của Hà nội.
Từ ngày tôi đi làm, dù tập sự không lương, mẹ yên lòng hẳn. Tôi thành “thất nghiệp” toàn phần. Hiếm hoi gặp bọn bạn chẳng biết kể chuyện gì.

Chẳng lẽ kể chuyện “năm anh em trên chiếc xe tăng” hở ra là nã đạn vào tôi. Hay kể chuyện Sếp sáng đảo qua công ty vài phút là biến. Thỉnh thoảng, ông định vị trong phòng thì toàn thấy “họp... kín”. Có lần không nén được tò mò, tôi ghé tai nghe trộm. Hoá ra các bố chơi “tá lả”. Tôi chán ngấy đóng vai người thừa. Ho hoe tính chuyện xin thử chỗ khác đã bị ông anh dạy thế nào là đức kiên tâm “trường kỳ kháng chiến”. Tiền tiêu do mẹ tài trợ đủ ăn sáng, bơm xe, tình rỗng tuyếch, công việc đuổi ruồi. Tôi tù túng trong mọi ràng buộc từ nhà đến công ty. Mẹ tôi nhắc khéo chuyện “gia đình”. Tôi tỉnh queo:
- Mẹ chi tiền. Con ra chợ coi thằng nào “sạch nước cản” mua về làm chồng.

Bà chán. Tôi buồn, tôi nhớ nước Nga. Khi ở đó tôi chỉ nhìn thấy những điều đen tối mà chê nhưng khi về rồi, tôi biết, tôi thiếu nó. Cho dù ngày đó có bơ vơ, có khó khăn, khắc nghiệt nhưng tất cả thật rõ rằng để mình phải vượt qua. Còn sống nơi quê hương sao tôi lạc lõng. Ai giúp tôi mài bớt những sù sì, góc cạnh để có thể lăn tròn trong xã hội này?
Tối thứ bảy, tôi ngồi nhà xem vở tuồng “tân cổ giao duyên”, ngoan như bà góa thủ tiết với chồng. Chuông điện thoại kêu, tôi uể oải nhấc.
- Thu hả?
- Thu đây, ai đó?
- Còn nhớ Thắng “mập” không? Tao đây.
- Ôi Thắng, mày đang ở đâu vậy? Tôi reo lên khi nhận ra thằng bạn thân từ ngày học phổ thông đến suốt năm tháng ở Nga.

- Matxcơva chứ ở đâu. Mày thế nào, nghe tụi nó bảo đi làm rồi hả?
- Làm khỉ gì, chán muốn bỏ. Tao đã thấy lời mày khuyên ở lại là “chân lý”.
- Thế mày còn thích đến với “chân lý” không?
- Thích cũng phải qua ối “cửa” mới tới được “chân lý”. Còn mày thế nào?
- Tao gọi về hỏi mày chịu qua giúp tao phụ trách phần kế toán cho công ty của tao ở Matxcơva không? Đồng ý tao gửi giấy tờ về làm hộ chiếu. Tao điểm ra chỉ mày đủ khả năng, đúng nghề và tính “bà la sát” của mày mới trị được bọn trong công ty. Nghĩ sao?

Tôi bất ngờ chẳng nói được lời nào. Hơn một năm qua, tôi đã biết, ở Việt Nam “nghề” sáng giá nhất là “nghề đi Tây”, “nghề xuất ngoại” dù ngắn hạn, dài hạn. Những ai chê “nghề” này chắc chắn là Sếp. Mà Sếp chỉ chê “dài hạn” vì đi lâu dễ “vênh cạ” chứ “ngắn hạn” Sếp OK đầu tiên.
- Ê, chán nước Nga chưa mà im như thóc vậy?
- Không... tao đang tính – tôi lúng túng không biết nên nói kiểu gì để hợp “phong cách người Hà nội”- mẹ tao lo đi nữa sẽ “ê sắc ế”...

- À... mày định lấy chồng kiểu gì tao không biết nhưng nếu định lấy thằng yêu mày thì lấy tao đi. Tao yêu mày lâu rồi.
Lần này tôi “cấm khẩu” hoàn toàn. Thắng chợt chuyển giọng:
- Nói thật đấy.
Trời ạ, mẹ tôi nói cấm có sai “Ngưu tầm ngưa, báng bổ như mày, chỉ gặp thằng ngang ngửa”. Nhưng dù “củ chuối” cỡ nào tôi cũng không thể tưởng tượng ra được màn tỏ tình “mày” “tao” qua điện thoại quốc tế!
- Thu ơi, suy nghĩ đến trưa mai nhé! Thời Edison chỉ cho suy nghĩ 5 phút thôi mà -Thắng cười hì hì- không đùa đâu, 100% nghiêm túc. Hẹn mai!

Máy bay cất cánh, mảnh đất quê hương chao nghiêng. Dòng sông Hồng kia rồi, quanh năm đỏ đậm phù sa. Hà nội li ti, nhấp nhô mái ngói. Tôi lại ra đi lần nữa. Chút nhơ nhớ, bâng khuâng về Hà nội, về mẹ.
Giọng cô chiêu đãi viên Nga nhắc người ngồi cạnh đeo dây an toàn nghe quen như mới hôm qua. Nhưng hình như vẫn có gì là lạ. Có lẽ, lạ vì không ngơ ngác như khi xưa sang học. Con đường phía trước sẽ không trải thảm, sẽ không ít khó khăn, nhưng tôi biết, ở đó tôi có thể sống và làm việc mình mong muốn. Cảm giác tự do ngọt ngào.
Hà nội mờ dần qua làn mây mỏng. Quê hương ơi, ta sẽ về như tìm bóng cây giữa con đường chang nắng. Sẽ về để thêm động lực ra đi. Về để hiểu ta Người Việt Nam và Quê hương ngàn đời vẫn một!

(Không biết tác giả)

ST
http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m=493538


L.VIỆT KIỀU TẠI LIÊN XÔ
DƯƠNG THU HƯƠNG

Tàu đỗ lại đột ngột khiến người đàn ông răng bạc và tôi cũng bật ngửa về phía sau. Nó chạy thêm vài chục thước nữa, rồi dừng hẳn lại. Ga mới đứng sừng sững dưới ánh đèn. Ga này vắng khách. Trên đường kè xi măng, chỉ có dăm người đủng đỉnh lên tàu. Những chiếc vali nhỏ nơi tay họ giống như hộp đựng đồ hóa trang của diễn viên. Ga không lớn, nhưng kiểu kiến trúc nặng nề. Chúng giống những tảng đá xếp xô lệch, chồng chất lên nhau.

Và những cây cột đèn đứng thành hàng đều đặn trên khoảng sân rộng, trông trơ trọi, chẳng ăn nhập vào đâu. Tuyến đường này, tôi đã đi vài lần. Tên các nhà ga, tôi không nhớ hết. Những cái tên Nga, dài lòng thòng, trúc trắc đối nghịch tâm hồn giản dị của họ. Nhưng bù vào đó, địa thế và kiến trúc các nhà ga, tôi nhớ như in. Ga này xấu xí. Không hiểu vì sao, cứ nhìn thấy nó tôi đã có cảm giác nặng nề, u uất. Dường như những dáng thô lậu, thiếu hài hòa ấy hăm dọa con người, đem cho họ những dự cảm không may mắn.


Tàu dừng ở ga khá lâu, có lẽ do bảng điều phối chung của ngành đường sắt. Trong khoảng thời gian chờ đợi, tôi móc trong túi được một nắm kẹo. “Chìa khóa vàng.” Tôi mời khách đồng hành. Ông ta cười váng lên:
- Răng tôi sắp hỏng hết rồi. Kẹo là kẻ thù số một đấy.
Tôi nhí nhách bóc kẹo, mong cho con tàu nhanh nhanh rời ga.

Rồi cũng tới lúc tàu rời ga thật. Những khối đen nặng nề từ từ trôi về phía sau. Cả các cột đèn trơ trọi, với những bình thủy tinh chụp hình trái anh đào lộn ngược. Cả cái bồn hoa hẹp và dài, chạy dọc theo kè xi măng, rùm ròa loài cây gai đầy hoa nở.
Người đàn ông mở sổ ra xem, và nói:
- Còn ba ga nữa thôi. Khoảng một giờ bốn mươi phút nữa ta sẽ tới Mátxcơva.
Tôi đáp,
- Vâng.
Ông ta hỏi,
- Có người chờ cô ở đấy chứ?
Tôi lúng búng đáp,
- Không biết. Có thể có.
Ông khách liếc nhìn tôi, rồi nhún vai:
- Một con chuột nhắt như thế này mà không có ai ra đón ư?


Tôi mỉm cười, thay cho câu trả lời. Còn ông ta rung đùi nhìn tôi, mắt nheo lại đầy hoài nghi. Lúc ấy, có tiếng mở cửa. Hai gã trai trẻ bước vào. Một gã cao to, lưng gấu, tóc vàng. Gã kia tóc đen, lông mày đen, ria mép đen, kiểu như người xứ Grudia. Toa tàu tràn ngập mùi rượu. Người đàn ông ngồi bên tôi ngả người ra phía sau, duỗi dài đôi cẳng chân. Rồi ông ta đưa mắt nhìn hai gã trai trẻ. Ngược lại, hai gã không nhìn ông ta mà nhìn tôi:
- A...
Gã tóc đen cất tiếng reo rồi xô tới:
- Mày có quần bò mốc không? Tao mua.

Tôi lắc đầu,
- Không có.
Dường như gã không nghe tôi trả lời, gã cao giọng nhắc lại lần thứ hai.
- Quần bò mốc, quần bò hoa. Tao mua cho.
Tôi đáp lại, to tiếng hơn.
- Không có.
Gã tóc vàng, lưng gấu cúi đầu xuống:
- Tao trả 130 rúp, bán đi. Ở Mátxcơva chúng nó mua rẻ hơn. Chỉ 115 rúp thôi.

Tôi đáp,
- Tôi đã bảo là tôi không có.
Gã tóc đen cau mày, hàng ria mép đen đụng đậy,
- Mày không muốn bán cho chúng tao, phải không?
Gã móc túi, chìa ra một nắm bạc,
- Chúng tao không ăn cắp, chúng tao trả tiền. Nhìn đây.
Hơi rượu phả vào tận mũi tôi. Tôi thấy óc não bắt đầu quay cuồng, hai thái dương nóng rừng rực.


- Tôi đã bảo là tôi không có. Mấy người điên hay sao?
Mắt gã trai tóc đen long lên, tức giận. Gã nhét tiền vào túi, tiến lên một bước, đứng chặn ngay trước mặt người đàn ông răng bạc. Rồi gã xỉa ngón tay vào trán tôi:
- Mày không chịu bán, phải không? Tụi Việt Nam chúng mày không bán, còn ai bán. Lần trước, một con bé giống mày bán cho tao chiếc áo phông tồi. Đem về nhà, em gái tao mặc. Một lần, đã rách hết đường chỉ. Ở đường phố Áccbát ấy, biết không, chỉ có chúng mày và tụi digan bán hàng rong.

Nước mắt và muối cùng lúc tràn lên che kín mắt tôi. Người đàn ông răng bạc đứng lên, làm gì đó, hình như túm cổ gã trai. Tôi nghe tiếng ông ta hét:
- Cút ngay, cút ngay, không ta cho chúng mày xuống đường tàu.
Tiếng ông ta bập bùng như gõ trống bên tai. Hình ảnh ông cũng lờ mờ, bị lủi chìm trong màn nước mắt. Tôi trùm tấm khăn len lên đầu, khóc nức nở, khóc như bị đòn oan, không còn kiềm chế được. Người khách đồng hành vỗ vai tôi nhẹ nhẹ, ra chiều an ủi. Rồi sau đó, ông ta khoanh tay, ngồi im lặng với vẻ mặt của một người từng trải, kiên nhẫn chờ đợi.

Bây giờ, tôi không hiểu vì sao tôi đã khóc như thế. Nhưng lúc ấy, nước mắt như dòng lũ không ngăn được. Lần đầu tiên, trong đời, tôi khóc trước một người khách lạ. Ông ta lại rút thuốc ra châm. Còn tôi, khi đã khan hét giọng, tôi rũ xuống như tàu lá héo, ngã vật vào góc toa tàu. Bên ngoài, những thị trấn, những phố lẻ lác đác ánh đèn trôi qua. Giống như những đốm lửa lạnh lẽo, xa cách, chúng nhắc nhở sân ga Mátxcơva năm trước.

Năm ngoái, cũng bà Vêra trao cho tôi bức điện:
“Hằng đến ngay Mátxcơva. Khách sạn Ratxia. Phòng 607.”
Tôi biết cậu Chính đã sang Nga, vì từ ba tháng trước, mẹ tôi viết thư báo. Tôi cũng ngồi trên con tàu này, vượt qua hàng ngàn cây số để tới Matxcơva vào một sớm lạnh lẽo. Tuyết chưa rơi, nhưng những đám lá vàng cuồi cùng của mùa thu đã ngả sang nâu sạm. Trên hè, những mảnh lá úa tàn bị gió lùa theo gót khách vãng lai. Trên không, thỉnh thoảng lại có vài chiếc lá vàng hiếm hoi bay lượn, như mảnh ước mơ của mùa thu bay lượn trước cửa ngõ mùa đông. Áo mỏng quá, tôi rét. Tôi phải giở bản đồ thành phố, nhanh chóng tìm bến xe điện ngầm gần nhất để xuống. Dưới các đường hầm ấm hơn trên mặt đất nhiều. Tìm được bến, tôi cắm đầu cắm cổ chạy. Lúc ấy, dân Mátxcơva chưa đi làm.

Đường phố vắng, chỉ có những cảnh sát giao thông đứng trực trên các ngã tư, và trên quảng trường. Vừa chạy, tôi vừa ước ao một chén chè nóng pha đường. Nhưng lúc ấy, có tài thánh cũng không kiếm nổi một chén chè. Chưa tới giờ các quán ăn công cộng cũng như các bútphét mở cửa. Xuống ga, tôi ném đồng năm xu vào cửa tự động rồi bước qua hàng rào, vào trong. Tuyến đường tôi đi ngay gần đó. Hai phút sau, tôi đã ngồi trong toa, tở dồn dập vì mệt và lạnh. Da dẻ tôi dần dãn ra trong bầu kkhông khí ấm.

Ngả người ra phía sau, tựa vào lưng ghế, tôi nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng bánh xe nghiến lúc tới các bến đỗ, tiếng của các hành khách mới lên. Khách vắng, cả toa chỉ dăm người. Tuy thế, tôi không thấy côi cút, tôi mong mỏi giờ gặp gỡ. Tôi sẽ biết tin mẹ tôi, và mọi chuyện bên nước nhà,


Mỗi ga, người phát thanh viên lại xướng lên trong loa phóng thanh. Nhờ đó tôi có thể mở mắt đứng dậy vào đúng ga cần tới.

Tàu dừng hẳng, tôi bước lên bờ kè. Ở đó, phải nhảy một lúc cho ấm người, tôi mới đủ dũng khí ra đi. Từ ga tàu điện ngầm tới khách sạn rất gần, chỉ qua vài khúc phố với một vườn cây nhỏ, ngả nghiêng những thân liễu mềm, thân bạch dương trắng óng. Cỏ đã trụi, đất phơi ra màu đen xỉn như xỉ than nghiền vụn. Những con chim câu già lông cánh xác xơ kiếm ăn sớm, kéo lê bộ đuôi bẩn thỉu dọc hè phố. Dưới bờ sông đào, con sông đang ngủ, làn nước màu chì phẳng lặng, không gợn sóng xao. Có một người đàn ông cao lớn, thọc hai tay vào túi, đi dọc theo bờ kênh. Vừa đi, ông ta vừa huýt sáo khe khẽ.

Đó là giai điệu một ca khúc đang được ưa chuộng “Tình Yêu Màu Xanh.” Tôi đi sau người đàn ông, lắng nghe tiếng huýt sáo vọng trong không gian yên tĩnh như mơ ngủ. Tiếng sáo làm tôi bớt lạnh. Giờ này, có tới, người gác khách sạn cũng không cho vào. Vì lẽ đó, tôi đã mê mải đi theo thứ âm nhạc dân dã kia. Tôi đuổi theo nó mãi, tới khi người đàn ông dừng lại trước một tòa nhà cao tầng, ngẩng lên tìm kiếm một địa chỉ nào đó, và ông ta thôi không còn huýt sáo nữa. Sang đường, tới khách sạn, tôi phải đợi hơn nửa giờ sau mới được vào.

Cậu tôi đã chờ tôi ở phòng khách tầng dưới, cùng với một chàng trai. Anh ta là phiên dịch của đoàn. Nhờ anh ta năn nỉ với người gác phòng, tôi được đưa lên tầng gác thứ sáu, nơi cậu tôi ở. Hành lang trải dạ thẫm màu, vắng tanh. Khách còn đang ngủ. Cậu Chính nói oang oang:


- May quá, nhờ cậu chú cháu tôi khỏi phải đứng dưới nhà. Thôi nhé, lúc nào cần tôi sẽ gọi.
Tôi nói.
- Cậu khe khẽ thôi. Có phải ở nhà mình đâu?
Cậu há miệng.
- Ờ ờ...
Rồi đưa tay chào người phiên dịch. Tôi thấy anh liếc tôi, mủm mỉm cười trước khi mở cửa phòng mình. Chúng tôi còn phải đi xa nữa, người phiên dịch ở phía đông , cậu Chính ở phía tây. Qua gian sảnh chung, tôi thấy hai phụ nữ trẻ đang ngồi đan áo. Cậu bảo:
- Giá cháu giỏi tiếng Nga, bán được mấy chiếc áo len cánh dơi cho các cô này thì tốt.

Tôi nhìn cậu, không nói gì. Tới trước cửa phòng, cậu rút chìa khóa, mở cửa.
- Vào đi cháu.
Tôi vào trước, cậu vào sau. Cậu khóa cửa cẩn thận rồi mới đưa tôi vào phòng. Tôi hỏi:
- Cậu ở một mình?
- Ờ, tiêu chuẩn của cậu.
Ngẫm nghĩ tí chút, cậu nói thêm:
- Ở một mình là tiện nhất.

Nói xong, cậu đưa mắt liếc ra ngoài cửa sổ. Nơi đó, những mái nhà thành phố hiện lên trong làn ánh sáng trắng như sữa của bình minh. Cậu ngó nghiêng lần nữa, vẻ yên tâm. Lúc đó, cậu nói:
- Cháu đem giải quyết mớ hàng này.
Rồi quì xuống, cậu lôi chiếc túi du lịch nhét trong ngăn dưới cùng của chiếc tủ gỗ ra.
- Hàng mợ chuẩn bị đầu đủ lắm cơ.
Kéo phécmơtuya roạt một tiếng, cậu sắp sửa lôi các thứ hàng xếp bên trong ra.

Tôi vội nói:

- Từ từ đã cậu.
Cậu bảo.
- Nhưng lát nữa cậu còn phải họp đoàn, còn làm việc với bạn.
Tôi bảo.
- Chẳng đi đâu mà vội, ở đây, người ta không thức dậy sớm như bên mình.
Cậu băn khoăn.
- Nhưng lỡ tay phiên dịch nó sang.
Tôi nói.
- Chẳng sang người ta cũng thừa biết.
- Hằng..
Cậu quát lên, mặt tái mẹt.
- Mày nói gì thế!
Tôi đáp:
- Cháu nói thật.
Cậu gằn giọng.
- Cháu mấy chắt, đồ mất dạy.


Tôi lặng im. Cậu hùng hổ đi tới trước cửa sổ, vén tấm rèm lên, chẳng hiểu cậu tìm thấy gì trong khung cảnh của thành phố sớm mai yên tĩnh? Hai tay chống nạnh, đôi vai nhô lên, chắc cậu đang trút những hơi thở dài, bực bội. Lát sau, cậu quay vào, giọng hiền từ hơn.
- Thôi... Nhưng lẽ ra, cháu cũng không nên nói thế.
Tôi lặng im, không đáp. Cậu khẽ nói.
- Hằng này, cậu không muốn nhờ người khác, hoặc họ dìm giá, hoặc họ thóc mách, đồn thổi. Cháu giúp cậu.


Tôi bỗng thấy mỏi mệt đến nỗi muốn lăn ra giường ngay. Các đầu khớp xương nhức buốt. Da nổi gai ốc đầy lưng, và những cơn ớn lạh liên tục chạy dọc theo xương sống. Cảm giác giá lạnh cộng với cơn đói dày vò, khiến các cơ bắp như chảy lan ra, không có cơ hồ giữ lại. Tủi cực chăng? Khóc chăng? Nước mắt đã cạn.

Tôi nhìn cậu, nói khe khẽ:

- Đáng lẽ, cậu nên thông báo cho cháu tình hình gia đình, sức khỏe mẹ cháu ra sao? Đáng lẽ, cậu nên cho cháu một chén nước chè. Cháu từ hàng nghìn cây số tới đây.
Cậu đứng ngẩn người ra, rồi ờ ờ... những tiếng vô nghĩa, tay cậu trở nên thừa thãi. Lát sau, cậu đi đến tủ lạnh, mở cánh cửa. Bên trong, lổng chổng một đống bánh mì tròn, thứ bánh mì bán trong các bútphét, hai xu một chiếc.
Tôi nói:
- Cám ơn cậu.
Nói đoạn, tôi đứng lên.
- Cậu làm ơn mở khóa cửa cho cháu.


Cậu mở cửa. Tôi đi dọc hành lanh, tới gian sảnh. Hai người phụ nữ trẻ vẫn đang đan. Tôi hỏi họ bútphét ở đâu? Họ chỉ đường cho tôi. Đi tới cuối mút hành lang, xuống tầng thứ 3. Bútphét đã mở. Khách ăn còn vắng. Chỉ vài ba người đàn ông to béo ngồi ăn dămbông với phomát. Bàn trong cùng, một cặp trai gái cao gầy, tóc bạch kim, có lẽ người Bắc Âu đang uống bia. Tôi mua một phần tư con gà, một đĩa trứng ốplếp với một chiếc bánh ngọt phết mứt dâu.

Chừng ấy, đủ cho tôi chống cơn rét mệt. Ăn sáng xong, tôi trở về phòng, mang theo túi hoa quả. Trong phòng, chừng non một chục người ngôi. Đó là đoàn công tác của cậu tôi sang họp. Anh chàng phiền dịch ngồi sát cửa, ghé mắt nhìn xuống phố xá. Những người khác, vừa nghe vừa nặn trứng cá hoặc gãi mụn ruồi. Người nào cũng có vẻ bồn chồn. Chắc chắn họ đang tính cách nào bán hàng hóa nhanh nhất và nhờ ai mua được nhiều hàng hóa nhất. Cậu Chính đang cao giọng nói:

- Tôi yêu cầu các đồng chí nêu cao tinh thần gương mẫu trên đất nước bạn. Tất cả phải có ý thức tổ chức.

Tôi lặng lẽ quay ra. Tới gian sảnh tôi ngồi vào một góc ghế bành, chờ đợi. Nhưng trong góc chiếc ghế bành êm ái bọc nhung đỏ, tôi thấy côi cút. Tôi thấy cực nhục. Cơn đói và rét qua rồi, chỉ còn lại cơn xâm kích của các làn sóng tê tái. Chúng giống như các làn sóng biển thực sự, cứ ào tới rồi lại rút ra xa, lặp đi lặp lại triệu triệu lần. Nhưng không phải nước mặn, mà một thứ muối xót xa, một nỗi đau quằn quại,1 mỗi buồn thê thảm, không thể cắt nghĩa... ..[...]

Tới ga xe điện ngầm, tôi đáp chuyến đi thứ hai trong ngày. Toa tôi ngồi có chừng trên một chục khách, Họ vừa đọc báo, vừa nhai bánh mì kẹp thịt. Có lẽ họ từ một nhà máy nào vừa đi ra, Tới ga thứ ba , bọn họ xuống hết. Còn một mình tôi. Tôi ngắm mình trong tấm kính đối diện, lấy lược ra chải lại tóc. Rồi rút bánh trứng trong túi du lịch, ăn.

Lần này khôn ngoan hơn, tôi phải chuẩn bị đồ ăn từ nhà. Giá có một chén chè nóng với lát chanh thì tốt. Ăn xong, tôi mở sổ ra xem địa chỉ. Năm trước, cậu Chính cùng đoàn công tác đi ngắn ngày, ở khách sạn năm Rátxia. Lần này cậu xin đi tập huấn bốn tháng, ở trường Đảng Aôn, ngoại thị. Không hiểu sao, người ta cho một ông già ngót nghét 60 tuổi như cậu đi học? Có lẽ, đó là một trong những chính sách tuyệt diệu nhất. Sực nhớ gương mặt cậu trong lần gặp gỡ trước, tôi không khỏi mỉm cười.

Chuyền tàu mấy lần, tôi mới tới được nơi cậu ở. Aôn đây là trường học được biệt ưu ở nước Nga. Không có một trường học nào được dành cho mọi sự thuận tiện về sinh hoạt, phương tiện học tập và giao tiếp như ở đây. Tôi đã nghe nói nhiều về nó. Tôi biết ở đây, mỗi học viên được sử dụng một phòng, điều mà sinh viên các trường khác, kể cả đại học Lômônôxốp không dám mơ ước. Tôi hy vọng được vào căn phòng riêng của cậu, để uống một chén chè nóng pha đường. Nhưng người ta báo cho tôi biết cậu không có nhà.

Tôi hỏi:
- Cậu tôi, ông Đỗ Quốc Chính nằm bệnh viện?
Người trực ban ngạc nhiên nhìn tôi:
- Viện nào? Đồng chí ấy gửi cho chúng tôi mảnh giấy này.
Một mảnh bìa nhỏ, trên đó ghi vài dòng chữ Việt:
“ Hằng có đến, tìm cậu ở nhà anh Khoa, nghiên cứu sinh ở...”


Giờ, tôi không nhớ rõ địa chỉ ấy. Nó ở gần đại lộ Lômônôxốp mang tên nhân vật có họ Ulivanốp, có lẽ là em của Lênin. Một tòa nhà cao tầng, kiến trúc tầm thường, kiểu kiến trúc phổ thông sau thế chiến thứ hai . Cửa chính tòa nhà giáp một cửa hàng bách hóa cỡ nhỏ. Trong đó, người ta bán một số đồ dùng lặt vặt như cốc chén, thìa nĩa, xoong nồi, bàn chải răng, các loại xà phòng thơm và xà phòng giặt... Có cả bơ, cả phómát.

Nhưng lớn nhất là quầy bia rượu. Người bán hàng, một ông già cao lớn, vạm vỡ, mặc áo blu trắng, đội mũ trắng. Ông đi đi lại lại sau các quầy hàng, lấp lánh đủ thứ chai rượu và các giấy trang kim, trông như một trái núi tuyết di động. Khách mua hàng rất đông, từ chai nước quả chục kôpếch đến chai cônhắc nhãn năm sao mấy chục rúp.

Ông giao hàng và nhận hàng cùng với dáng vẻ vô cảm như nhau. Đôi mắt của ông còn rất trong, xanh lơ, đưới hai tràng mày bạc trắng. Hai bàn tay to, rắn rỏi, với những vết đồi mồi lớn và các đường tĩnh mạch nổi phồng lên. Tôi đã đứng sau lưng đám người mua hàng, nhìn ngắm ông rất lâu.

Trong khoảng thời gian đó, tôi bị giằng co giữa ý nghĩ bước vào khu nhà xa lạ kia và trở lại ga, lên tàu về tỉnh lỵ của chúng tôi. Rõ ràng, cậu Chính không ốm. Cậu đã bịa ra cớ ấy để gọi tôi lên Mátxcơva. Không lẽ bên nhà có tin đột xuất? Nếu có, hẳn mẹ tôi đã đánh điện thẳng cho tôi. Từ ngày bị cụt một chân, không còn đi lại xông xáo được. mẹ đã ngồi ở nhà, mở quán bán chè chén. Khung cửa sổ của chúng tôi đã được đục to thêm, trát xi măng phẳng phiu. Để tạo thành một khoảng không gian rộng rãi.

Ở ô cửa ấy, mỗi sáng mẹ ngả tấm ván gỗ có chân chống xuống, biến thành chiếc bàn bán hàng. Gáng hàng khô xưa đã bán hết. Vốn buôn cụt dần đi, chỉ còn đủ mua vài chiếc lọ thủy tinh lớn nhỏ đựng lạc, kẹo vừng, thuốc lá cuốn rẻ tiền, bánh đậu xanh và bánh rán không nhân bán dỗ trẻ con, chừng một chục chiếc chén vại Bát Tràng. Dăm túm bánh chưng và bánh gai của các hàng bán đem gửi.

Một ấm chè Thái ủ trong giỏ lót bông. Thêm chiếc điếu cày là đủ lệ bộ. Khách đa phần là dân trong ngõ. Họ bán hết gánh bún xong, trở về ngồi ăn chiếc bánh chưng, hoặc bán chè rồi tới ăn chiếc kẹo vừng cho lạ miệng. HọÏ đi nhặt những đồng bạc lẻ, nhàu nát của dân thành phố, rồi đem về ngõ xóm nuôi nhau. Có khi, uống một chén chè chiếu lệ, họ ngồi chuyện vãn với mẹ tôi cả buổi. Và mẹ tôi, cũng bòn những đồng bạc lẻ của họ, bỏ vào chiếc bị cói nhỏ, như người ta làm một nghĩa vụ không hào hứng bao nhiêu. Số tiền lời ấy, mẹ có thể mua đủ xuất gạo.

Dương nhiên, tiền ăn tiêu trông cả vào những hòm hàng gửi qua tàu biển hoặc bưu kiện của tôi. Cuộc đời sinh viên của tôi đã kết thúc, kể từ buổi chiều xuân mưa dầm dề, khi người hàng xóm tới báo cái tin độc địa...

Giờ đây, tôi tới thăm cậu Chính làm gì? Người mà tôi bị trói bởi một mối liên quan không thể tháo gỡ. Ông già bán rượu vẫn đi lại trước mặt tôi, luôn tay giao hàng. Dáng đi của ông bồn chồn như con gấu đợi mồi. Tia nhìn chậm rãi, nhưng đôi mắt còn rất trẻ, rất xanh. Những người khách mua hàng xong đều lặng lẽ ra đi. Ngay trước cửa hàng, là bến xe buýt.

Xe tới, xe đi, hầu như không có tiếng động. Khác hẳn Hà Nội, một thành phố luôn luôn bị lên cơn co giật thần kinh bởi những tiếng còi xe hỗn độn, man rợ. Thêm vào đó, là tiếng pháo nổ bất thường, không cần luật lệ và tiếng rú thất thanh của một gã say rượu hứng chí hoặc của một vụ cãi cọ, đánh đấm nhau. Những người dân Nga im lặng xếp hàng, mua hàng, im lặng ra bến xe chờ đợi, im lặng lên xe.


Những con người hiền lành, tuân thủ luật tắc. Trong cái trật tự của đời sống ở xứ này, hàm chứa cái gì đó trì đọng. Một thứ an bình của làn nước hồ không gió bão, không luân chuyển. Một thứ êm ả của núi cao, của cỏ cây trong thung lũng, làn không khí trong trẻo nhưng thiếu dưỡng khí cho sức triển nở, sức sáng tạo và sự thăng hoa của con người. Nhưng dẫu sao, nhìn những người dân với vẻ mặt êm hòa, nhiều chịu đựng ấy, tôi vẫn thấy họ đã được nhào nặn qua một từ trường của văn hóa, của một xã hội chí ít cũng tạo nên những thành trì của văn minh vật chất và tinh thần.

Xe buýt đã tới. Đám người đứng chờ trong trạm ghép gỗ nối nhau lên. Họ không chen lấn, xô đẩy. Lúc này, tôi phải quyết định: nhảy lên xe buýt ra ga hoặc vào khu nhà kia. Một chàng trai từ trong cửa hàng chạy bổ ra, va phải tôi. Anh ta ngoái cổ lại:

- Xin lỗi nhé.
Rồi sải những bước chân rất dài, anh ta lên xe. Hai nách kẹp hai chai rượu. Chai thứ ba thò thò lên từ miệng túi quần. Tôi đang nhìn anh, xe đã lăn bánh. Tôi thầm nghĩ:
- Trễ rồi.
Vậy là trời đã bắt ta phải gặp cậu Chính thêm lần nữa. Tôi đi ngược lên chừng 50 thước. Ở đó, cổng ngôi nhà đã khép kín.

Tôi đành đi vòng lại cổng sau, ở phố bên kia. Trước cổng này, có một đám đông thanh niên. Họ đứng túm tụm lại, nhưng rất ít chuyện trò. Hóa ra họ ăn kem. Quày bán kem ngay gần đó thụt sâu vào một khu vườn. Có khoảng trên một chục người đang xếp hành trước khuôn cửa gỗ hình tổ tò vò, chờ mua kem. Đa số là người Việt. Tôi chắc họ là những nghiên cứu sinh hoặc cán bộ thực tập trong ngôi nhà kế đó.

Tôi chọn người đàn ông tóc muối tiêu, mặc complê màu xám nhẹ, sơmi trắng có đường thêu hoa văn dọc từ vai xuống gấu để hỏi thăm:
- Thưa chú, trong nhà này có anh Khoa, nghiên cứu sinh năm thứ hai không ?
Người đàn ông tóc muối tiêu ăn mốt miếng kem cuối cùng, rút mùi xoa lau miệng, lau tay rồi hỏi lại:
- Khoa nào? Trong nhà này toàn các nghiên cứu sinh cả. Người nhà em làm luận án về môn gì?
Tôi im lặng. Lúc ấy, tôi chưa kịp nghĩ tới địa chỉ cụ thể của cái ông nghiên cứu sinh tên là Khoa kia. Tôi vẫn nghĩ, đám người làm luận án phó tiến sĩ chắc không bao nhiêu và họ quen biết nhau cả.

Người đàn ông chăm chú nhìn tôi và hỏi:
- Em ở xa mới về Mátxcơva, đúng không?
- Vâng. Xa lắm.
- Tiếc cho em quá. Ở đây có Khoa Điện-cơ, Khoa Sinh-Hóa, Khoa Ngữ-văn. Nghĩa là chừng ấy ông Khoa được gắn liền với môn khoa học làm luận án thành biệt hiệu.
- Cháu có địa chỉ của anh ấy.


Tôi đáp và đưa cho người đàn ông tấm bìa. Ông ta đọc, rồi đưa mắt nhìn tôi rất nhanh. Tôi không đoán được ý nghĩa của cái nhìn đó. Nhưng tôi biết chắc chắn nó hàm chứa một hiện thực không bình thường. Người đàn ông nói:
- Khoa Sinh-Hóa. Tôi có thể đưa em đếxn tận nơi. Em có mang đủ giấy tùy thân theo không ? Ở đây, người ta nguyên tắc máy móc lắm.


Tôi gật đầu:
- Cảm ơn chú. Cháu chuẩn bị rồi.
Người đàn ông giúp tôi xách túi du lịch. Ông ta bước lên bậc tam cấp, đẩy cánh cửa gỗ luôn khép kín cho tôi vào. Qua một phòng gỗ hẹp ngăn cách giữa cửa lót bên trong, như kiểu kiến trúc thông dụng các tòa nhà ở đây, chúng tôi bước vào gian tiền sảnh.

Đó là một căn phòng rộng, có những chiếc ghế gỗ cũ và xoàng xĩnh kê sát tường cho người lên xuống ngồi chờ. Một tấm bình phong giá ghép bởi các khung gỗ có căng vải sơn vẽ hình trang trí, ngăn cách gian tiền sảnh chính rộng hơn. Bên trái gian tiền sảnh, một phòng trực ghép gỗ, khung cửa vuông. Một ông già ngồi trực bên trong.

Ông đang đọc sách chăm chú, mái đầu trắng phơ cúi xuống, những chòm lông bạc đâm tua tủa từ hai lỗ tai lớn ra hai bên. Người đàn ông tóc muối tiêu bước tới gõ gõ vào khuôn cửa gỗ. Tôi chắc ông lão nặng tai. Quả nhiên, người đàn ông gõ tới lần thứ ba , ông mới ngẩng lên:
- A... Có việc gì vậy?
Ông hỏi với giọng nặng và trầm, không giống giọng nói của dân Mátxcơva. Thay vì trả lời, người đàn ông hỏi lại, với cách phát âm và ngữ điệu Nga một trăm phần trăm.


- Bố già lại vùi đầu vào sách. Ai vậy?
Ông già lật tấm bìa lên. Đó là cuốn Chàng Ngốc của Đốtxtôiépxki. Người đàn ông tóc muối tiêu xốc cổ áo nói:
- Con người khổng lồ của nước Nga.
- Đúng, đúng.


Ông già dật đầu tán thưởng với một niềm hân hoan sâu sắc. Ông chìa bàn tay hồng như bị cước, đầy những vết đồi mồi ra bắt tay người đàn ông tóc muối tiêu. Họ gật gù nhìn nhau. Sau đó, người dẫn đường của tôi nói:
- Có một cô bé từ tỉnh xa tới, cần gặp anh Khoa Sinh-Hóa. Giấy tờ của cô ta đây. Bố già vào sổ giúp cho.
Ông ta đưa giấy tùy thân của tôi cho ông già. Rồi quay lại vẫy tôi lên:
- Cô bé ấy đây.

Ông già đưa mắt nhìn tôi một cách nghiêm khắc. Sau đó ông lấy cuốn sổ trực to tướng, cẩn thận mở ra, ghi tên họ và số giấy tùy thân của tôi vào những hàng cột dọc. Ghi chép xong, ông bỏ tất cả vào ngăn kéo và gật đầu nhìn tôi:
- Đi đi.

Tôi cúi chào ông, bước đi. Ánh mắt của ông vẫn đuổi theo, tôi linh cảm thấy điều đó. Nhưng tôi không dám quay lại nhìn. Chúng tôi vào buồng thang máy, lên tầng tư, tới tận cửa sổ nhà của ông nghiên cứu sinh tên là Khoa.

- Đây rồi.
Người đàn ông tóc muối tiêu nói. Chúng tôi cùng đứng lại. Một lần nữa ông ta đưa mắt nhìn tôi, cái nhìn hàm chứa điều bí ẩn nào đó. Hình như ông ta định nói, nhưng sau phút giây lưỡng lự, lại thôi.
- Tôi đã làm xong phận sự với em rồi. Thôi, xin chào.
Ông ta chìa tay ra:

- Và chúc mọi sự bình an.
Đó là lời nói sau chót. Người đàn ông quay đi, và biến mất ở khúc rẽ của hành lang.
Tôi gõ cửa, chuẩn bị tinh thần để gặp một người đàn ông xa lạ. Nhưng người mở cửa chính là ông cậu tôi.
- Cháu Hằng, vào đây. May quá, cậu mong cháu từ chiều hôm qua. Ở đàng Aôn, người ta có nhắn gì cậu không?
Tôi bước vào, lẳng lặng treo áo, lẳng lặng ngồi xuống ghế rồi đáp:
- Cháu không gặp ai cả. Người trực ban đưa cho cháu mảnh giấy này.
- Thế hả, thế là tốt.

Cậu nói, và thở phào. Lúc ấy, tôi mới nhìn cậu. Một tay cậu cầm con dao lưỡi to bản, chắc đang thái thịt. Bụng cậu quấn tạpdề làm bếp. Chân cậu đi dép lê của đàn bà, thứ dép thêu từ Việt Nam xuất khẩu sang, bán có hai đồng rúp một đôi. Căn phòng vắng, chủ nhân nó đã để lại chiếc giường với đống chăn gối nhàu nát, chưa thu dọn. Tấm vải trải xiên lệch, bên mép đầy những vét chùi chân. Đầu giường treo tấm áp phích quảng cáo quần lót phụ nữ của HàLan. Một cô gái, đứng ưỡng rốn vào mặt khách, ở cái vị trí dễ thấy nhất trong căn phòng.

Cô gái có đôi mắt đen hoang dã, riềm mi dày và mái tóc uốn xù đổ xuống lưng. Góc tấm áp phích ấy là tấm ảnh cỡ chín-sáu của chủ nhân, dược dán ép vào cùng với dòng chữ: “ Mùa đông đầu tiên ở Mạc Tư Khoa. Nhớ em Nga của anh.” Cuối giường, một chiếc bàn cao chân, trên để các chồng đĩa hát ép nghiêng giữa đống sách báo và tường nhà. Vài bông cẩm chướng khô héo. Vài chiếc dao cạo râu vứt bừa bãi với chiếc mùixoa bẩn và dụng cụ tránh thai của đàn ông.

Tôi nóng mặt. Tôi chợt hiểu ánh mắt người đàn ông tóc muối tiêu, Tôi chợt hiểu cái nhìn nghiêm khắc thầm lặng của ông già dưới gian tiền sảnh. Tiếng nói của cậu Chính vang lên:
- Hằng uống gì nào? Bia hay nước quả?

Tôi chưa kịp trả lời, cậu nói thêm:
- Uống nước kơvát nhé. Ở đây tha hồ xả láng.
- Cho cháu chén nước chè.
Cậu cười:
- Con bé này giản dị nhỉ!
Nói rồi cậu đi pha trà nóng cho tôi. Chưa pha xong chén nước, đồng hồ treo tường đã thong thả điểm nhịp. Mười một giờ ba mươi. Con chim cúc cu thò mỏ gỗ ra mổ làm nảy bật một âm thanh trong như tiếng hạc. Cậu Chính kêu:

- Chết thật, đến giờ rồi.
Nói đoạn, cậu hấp tấp bưng chén trà tới đặt trước mặt tôi:
- Cháu uống nước, ngồi chơi nhé. Cậu đang dở tay một tí. Chúng nó về bây giờ.
- Cậu nói ai cơ?
Thay vì trả lời tôi, cậu lặp lại như cái máy:


- Chúng nó về bây giờ.
Và cậu ngồi xuống, thái tiếp miếng thịt bò đang thái dở. Hai cái bếp điện đang cháy, thanh cácbon đỏ rực. Một nồi áp suất đang sôi. Bếp kia, vẫn để không . Cậu Chính thái thịt nhanh như một tay bán phở. Cậu đập tỏi, gia thêm mì chính, muối tinh ướp thịt. Sau đó, cậu quay sang thái khoai tây. Khoai tây đã gọt vỏ, cậu xắp hình con chì.

Còn súplơ cậu cũng xắt lát dày trên năm li. Con dao đưa thoăn thoắt dưới bàn tay cậu, chắc chắn còn khéo léo và thành thục hơn 50 phần trăm số đàn bà Việt Nam thời nay. Còn lại hai củ cà rốt, cậu lách mũi dao tỉa sơ hình chiếc lá rồi thái sao. Cả cần và tỏi tây cũng được tỉa chè hình hoa một cách cầu kỳ. Xong các động tác chuẩn bị, cậu đặt chảo mỡ lên chiếc bếp để không. Chừng hai phút sau, mỡ đã sôi. Cậu thả mớ khoai tây vào. Tôi hỏi:
- Khoai tây xào thịt bò hả cậu? Sao lại thái hình con chì?

Cậu bảo:
- Ngốc. Khoai tây thái con chì mời dòn dều. Để ăn kèm với rau sống và thịt bò rán. Còn bát thịt ướp tỏi kia để xào súplơ và cần tỏi tây.
Trong lúc chờ khoai tây chín, cậu vừa đảo đều lên bằng chiếc bàn sảm, vừa lôi trong gậm bàn một chiếc xoong nhôm mới. Hóa ra xoong đựng đầy nhân nem, bao gồm thịt băm trộn với miến vụn, rau bắp cải thái, trứng, hành tiêu cùng ướp. Mở ngăn kéo, cậu rút ra vài tập bánh đa nem, như người làm ảo thuật. Và trước cặp mắt ngỡ ngàng của tôi, cậu cuốn nem thoăn thoắt. Tôi trầm trồ:
- Cậu giỏi thật. Ai dạy cậu thế?

Trán cau lại, cậu làu bàu đáp:
- Ai dạy? Không biết làm thì có mà...
Tới đó, cậu ngừng lại. Ngoài hành lang, vang lên những bước chân ồn ĩ. Có vật gì đó va đập rất nặng nề. Cậu Chính ngừng tay, ngẩng lên nghe ngóng:
- Chúng nó về đấy.

Cậu nói, lần này là lần thứ ba . Ngay tức khắc sau đó, tiếng gõ cửa vang lên. Cậu nói to:
- Có đây.
Đoạn bảo tôi:
- Ra mở cửa đi cháu.
Tôi ra chưa tới cứa, đã nghe tiếng một cậu con trai gắt bên ngoài:
Mau lên chứ! Ông ngủ trong ấy à!


Cánh cửa vừa mở, tôi đứng dẹp sang một bên, cả tốp người đã ào vào như cơn lốc. Họ lần lượt đặt những gói, những hòm, những túi đựng hàng hóa xuống góc phòng, rồi mới ngẩng lên. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại. Vẻ mặt họ mệt mỏi và cáu kỉnh.
- Đói quá, xong chưa bố già?


Vẫn cái giọng gắt gỏng ban nãy gào lên. Câu trai lùn nhất trong bọn, vai ngang, lưng to, và khuôn mặt đỏ rực với quai hàm rất nở, vừa gào xong, chợt nhìn thấy tôi bên cánh cửa, cậu ta khựng lại. Cậu Chính đáp.
- Sắp xong rồi. Nem vào xào phải ăn nóng.

Đoan, cậu đứng lên:
- Xin giới thiệu: cháu Hằng. Còn đây là chú Khoa, anh Hải, anh...
Họ chào tôi. Tôi chào lại từng người. Hải, anh chàng thấp lùn quay lại bảo cậu Chính:
- Bố già chơi khăm. Có phái yếu thì phải giới thiệu trước chứ?

Ông nghiên cứu sinh Khoa, cười.
- Phải cho những cô gái chứng kiến cơn háu đói của anh mới thú vị. Khi xuất hiện trước các cô, anh nào cũng như siêu nhân.
Đáp lại lời Khoa, cái anh chàng cao dong dỏng, da ngăm đen khóe miệng đẹp như khóe miệng của vị thần săn đuổi tình ái mỉm cười:
- Đừng chế riễu, ông anh. Chúng em chẳng muốn làm siêu nhân, cũng chẳng muốn làm ma quỷ.

Con người là con người. Những ai thích răn dạy thiên hạ, luôn luôn khoác áo thày tu và miệng đọc kinh: Nam nữ thụ thụ bất thân, tới khi tha hóa họ ngủ với con gái không cần đắn đo 15 phút. những kẻ ấy, đã trượt là trượt tới đáy bùn.
Nói xong, anh ta kéo ghế mời tôi:
- Mời cô.

Rồi anh ta ngồi xuống chiếc ghế đối diện, dáng điệu như chủ nhân chính thức của căn phòng. Còn ông nghiên cứu sinh Khoa thì cười cười như để chống đỡ lực tấn công nào đó, tay lùa vào mái tóc:
- Tôi là con người hành động. Tôi không ưa lý luận đâu.
Anh chàng da ngăm vẫn nhếch môi cười, lộ hai hàm răng trắng như ngọc.
- Đúng rồi, sau khi đã ban phát cho lũ đàn em chúng tôi mọi thứ lý luận cao siêu thì các ông anh phải gấp gấp hành động. Không hành động thì thiệt thòi. Tuổi 50 đuổi sồng sộc sau lưng. Mà cuộc đời còn nhiều thú vui quá, và các cô con gái cứ mỗi ngày là một lạ lùng hơn.

Nói xong, anh ta lại cười. Làn môi thanh tú nhếch lên. Đôi mắt nheo nheo nhìn ông nghiên cứu sinh Khoa lúc ấy giả tảng cúi xuống đẩy những hòm hàng vừa mua được vào gầm giường.

Tôi không thể rời mắt khỏi nụ cười ấy. Nó làm tôi nhớ tới một nhân vật trong bộ phim, 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Nhân vật ấy là lãng tử Yến Thanh, một tài nhân siêu việt, cầm kỳ thi họa giỏi mà võ nghệ cũng cao cường.

Đáng người thanh tú, gương mặt đẹp, điệu đi uyển chuyển mềm mại, anh ta xuất hiện giữa đám ca công, kỹ nữ cũng như xuất hiện giữa phường lục lâm thảo khấu, hoặc đám hảo hớn cùng với một dáng điệu ung dung tự tại và nụ cười hàm chứa vẻ mỉa mai lẫn sự độ lượng trên môi. Nụ cười đó vừa là nụ cười của con sói giò đã vượt qua bao nhiêu hoang nguyên, đã tử sinh qua bao nhiêu cuộc chiến, coi hòn đạn mũi tên như cốc rượu quân cờ, lại vừa là nụ cười của một chàng trai trẻ đang độ thanh xuân, một cánh rừng trinh trắng và quyền rũ. Chưa có người nào gợi cho tôi sự liên tưởng mãnh liệt như vậy.

- Ối giời ơi...
Anh chàng to béo tên Hải lại quát tướng lên:
- Thôi đừng tranh luận nữa. Tôi đói quá rồi.
Đoạn quay sang tôi, anh ta hạ giọng:
- Vả lại, cũng còn phải chiếu cố tới vị khách này nữa chứ? Ông Chính đã mời em ăn gì chưa? Chắc là chưa phải không? Ông ấy có thể ngậm một đồng kôpếch từ sáng đến chiều trong miệng nếu như vì thế mà bớt được hai bữa cơm. Nào bố già, dọn ra đi.
- Xong tất cả rồi. Chỉ ba phút nữa là có thể chạm cốc.

Miệng nói, tay cậu trải miếng nhựa hoa lên bàn. Rồi cậu lần lượt đặt đĩa thị bò xào súplơ, cà rốt, cần tỏi. Sau đó tới đĩa khoai tây rán với bítết. Một đĩa rau sống cùng với dọc tỏi muối, thứ thực phẩm mua ở các chợ nông trường. Một tô canh lớn sườn ninh. Cuối cùng là nem rán, xếp trong chiếc giỏ nhựa màu trắng rất xinh, trông như đồ chơi của thiếu nhi. Nước chấm nem được làm đúng theo kỹ thuật Việt Nam: nước mắm khô, chanh ớt, tỏi giã, mì chính, đường. Mọi người ngồi vào bàn, Cậu Chính lấy bát đũa, cốc thủy tinh cỡ lớn và một chục chai bia. Anh chàng Hải xoa ba tay, nói.


- Được dược. Sau một buổi sáng đi chiến đấu, cứu nước cứu nhà ăn bữa cơm như thế này mới là xứng đáng. Nào, các ông. Kìa bố già chưa mở biara sao? Chậm trễ thế. Ông phải nhớ thời buổi này làthời buổi chuyên môn hóa cao độ. Không ý thức được điều ấy sẽ bị loại trừ khỏi cuộc sống. Chúng tôi mà cứ rù rờ như ông có đến Tết cũng không mua nổi 12 chiếc nồi áp suất trong một giờ đồng hồ. Thôi, tôi phải làm cái nem đã.

Anh ta cúi xuống bốc một chiếc nem ăn vã. Hai người kia ngồi im. Trong khoảng thời gian đó, cậu Chính cố thao tác mở bia, rót bia vào các cốc cho tật nhanh. Tay cậu run từng chập. Có lẽ, sức khỏe của cậu cũng không thể phục hồi hoàn toàn sau thời kỳ mắc bệnh. Rót tới cốc của tôi, cậu làm bia rớt xuống bàn. Anh chàng to béo háu đói sau khi nuốt hết chiếc nem ngẩng lên.


- Nào, ta chạm cốc.
Tất cả cầm cốc bia. Anh chàng da ngăm quay sang tôi.
- Mời cô.
Tôi cầm cốc lên, cùng chạm với bọn họ.
- Nào chúc sức khòe.
- Chúc cho đội quân cứu nước cứu nhà.
Giọng cười bỡn cợt. Tiếng cốc chạm lanh canh. Bia lắng dần lớp bọt trắng phau như tuyết, để lại thứ nước trong suốt màu vàng. Màu của cánh đồng xứ sở, ngày mùa. Màu của nhớ nhung.
Đám đàn ông đã uống cạn. Họ bắt đầu cúi xuống ăn, bình phẩm các món ăn.

- Nem hôm nay hơi mặn đấy bố già nhé.
- Tôi sẽ rút kinh nghiệm.
- Xào thì được. Khá hơn lần trước.
- Lần trước thì là tại thị bò già, thớ nhão mà dai quá.
- Ờ, anh Khoa, bảo anh dúi cho con Irina năm rúp trước ngày mua thực phẩm, sao anh không đưa?
- Tớ quên.
- Đừng có vờ. Anh chỉ quên một thứ : là tên các em dưới tỉnh lên thôi. Anh liệu đấy, không xấu chơi được đâu.
- Hôn ấy tao hết tiền đi taxi.
- Bỏ kiểu ấy đi, lần sau phải đưa tiền trước cho nó nghiêm chỉnh. Nó sẽ giành cho mình thịt loại một . Hôm nọ tôi tặng nó cả một chai Lúa Mới 15 rúp hôm nay mới có thịt ngon như thế này.
- Thế à. Rượu cậu lấy của ai?
- Sứ quán.

Tôi uống ngụm bia. Bỗng dưng tôi thấy căn phòng chòng chành chao đảo. Các chai bia, những cốc thủy tinh màu vàng rơm, những đĩa thức ăn, làn khói bay trên tô canh nóng. Tất cả hòa trộn, quay đảo cùng với các gương mặt đang đỏ dần lên vì men bia.

Cô gái Hà Lan ném vào tôi cái nhìn khiêu khích, mái tóc đe bồng bềnh như đám huyền thảo trong thế giới ảo mộng phiêu lãng nào đây. Chiếc quần tắm màu đỏ có các đường ren kim tuyến óng ánh kẻ một lằn thẳng căng trên làn da hồng. Cái chụp đèn gục trên chồng sách.Tất cả bắt đầy quay. Trong tôi, từ từ dâng lên những lượn sóng không màu sắc, không mùi vị nhưng dồn dập hết cơn sóng này tới cơn sóng khác, nhấn chìm tôi xuống, làm tôi nghẹn thở.

Tôi cố gắng chống ta đứng dậy.
- Có lẽ...
Tiếng chàng trai da ngăm cất lên:
- Cô ấy ốm rồi. Mặt tái xanh thế kia.
Tôi thấy bónh anh nhào tới. Bàn tay anh đặt trên vai tôi, dìu tôi lại chiếc giường. Lúc gương mặt anh sáp gần, tôi chớt thấy hiện lên một gương mặt của quá khứ. Nhất định tôi đã gặp anh ta. Nhất định thế... lãng tử Yến Thanh, tôi đặt cho anh ta cái tên đó, và chìm trong cơn sốt...

Tôi không rõ mình đã nằm mê bao lâu. Lúc tôi tỉnh dậy, ánh đèn sáng chói rọi vào mắt khiến tôi vội nhắm mắt lại. Ánh đèn chói như kim đâm. Lúc ốm, mọi cảm giác đều sai lạc và khủng khiếp. Tôi kéo chăn, trùm kín đầu. Tuy thế, vẫn ngửi thấy mùi khói thuốc, toàn thuốc N.B. hôi khét, khiến đầu tôi nặng như chì. Nhưng cảm giác chòng chành như say sóng không còn nữa. Tôi thấy rõ rệt là mình đang nằm trên giường, bằng phẳng và chắc chắn, không bị các con sóng đu đẩy. Tiếng máy quay đĩa văng vẳng bên tai. Chợt, giọng anh Hải béo oang oang:
- Tính xong chưa mày?
- Xong.

Đó là chàng lãng tử đáp lại. Lại giọng ông nghiên cứu sinh Khoa:
- Tớ phải trả cậu bao nhiêu nữa?
- 120 rúp chẵn.
- Gay quá nhỉ. Kỳ này bà xã thúc gửi hàng ráo riết, lương hết nhẵn như chùi.
- Thôi, anh không cần nhăn nhó, tôi cho anh chịu.

Chàng lãng tử ngừng lại một chút rồi nói tiếp:
- Nhưng tiền ăn phải nạp cho sòng phẳng. Tuần này mỗi người hết 28 rúp.
Ông nghiên cứu sinh kêu thảng thốt:
- Sao lại những 28 rúp?
- Nghe đây, 84 rúp rưỡi, không phải mỗi người 28 rúp thì bao nhiêu? Cái phần nửa rúp đương nhiên tôi chịu cho.
- Còn ông Chính.
- Anh ngu quá...

Giọng anh chàng lãng tử rành rọt:
- Ông ta đã tới làm thuê cho mình, lại còn bắt nộp tiền ăn. Anh thấy đời nào có chuyện ấy không?
Anh Hải cười khanh khách:
- Đúng quá. Các ông anh toàn giỏi những lý luận trên trời dưới biển, luật sống tối thiểu thì không chịu biết. Quên, còn tiền công của bố già Chính, góp vào thanh toán luôn.
- Lão ấy đòi à?
- Phải, ông ta đòi trả ngay tức khắc.


Chàng lãng tử cười:
- Ông ta thích cầm chắc đồng rúp trong tay. Nào các vị, mỗi người hai rúp bỏ lên bàn cho tôi. Được rồi, lát nữa ta sẽ chứng kiến nụ cười của lão Grăngđê tái sinh. Ông ấy đang làm gì? Bát đĩa rửa sạch từ nãy cơ mà?
- Ông ấy đang giặt nốt hai cái áo Pantô của ông và tôi.
- Sao lại giặt? Phải chải xăng chứ?
- Đúng. Nhưng tôi bước vào phòng tắm đã thấy ông ấy đập bồm bộp, bọt xà phòng bắn tung tóe lên. Đành chịu chứ sao. Khi nào khô phải đem chải và hấp lại lần nữa.


- Đúng là mua việc.
- Lần trước ông ấy cũng làm cháy cái áo thun của toi. Hàng Ý xịn hẳn hoi. Hôm nhờ cắt khẩu hiệu cũng không cắt nổi. Ông anh tôi cùng học trong trường Aôn bảo ông ấy lên lớp toàn ngủ gật. Nhưng về tới nhà, nhanh như cắt đi lùng mua hàng căngtin. Thứ nào quý, ông ấy mua được trước tiên. Có lẽ, khả năng vĩ đại nhất trong con người ông ta là khả năng đầu bếp.
- Phải, nhờ khả năng ấy ông ta chiếm được lòng cấp trên, nhờ được lòng cấp trên ông ấy nhảy lên cấp lãnh đạo

Lúc ấy, có tiếng bước chân lẹt xẹt. Chắc của cậu Chính. Cậu thở hào hển, kêu:
- Khiếp, vắt hai cái áo nặng quá. Mỏi nhừ cả tay.
Chàng lãng tử cười.
- Một chiến công. Xin chúc mừng ông. Đây, sáu rúp tiền công, mời ngài cầm lấy.


Tôi nghe cậu hẹ hẹ, không rõ ra tiếng cười hay tiếng hắng giọng. Rồi, cậu bảo:
- Hôm nay các anh tiến bộ thật.
Chàng lãng tử hỏi.
- Tiến bộ gì?
- Không mở nhạc nhảy. Từ ngày tới đây mới có buổi tối yên tĩnh. Tôi cứ nghe thứ chát sình ma quỷ ấy là điên đầu. Chẳng hiểu hay ho ở chỗ nào mà các anh nghiện như nghiện thuốc lá?
- Ra thế. Trong con mắt ông, chúng tôi là lũ trai hư hỏng, phải không?
- Thời chúng tôi, không ai thích những thứ nhạc nhẽo trụy lạc như vậy.


- Ở cùng số nhà với bố mẹ tôi, có một ông phó giám đốc, cỡ tuổi gần như ông. Ông ấy mặc quần ống rộng, đũng rộng và dài. Không phải thứ quần bó chịt, làm nổi mông nổi đùi như lũ chúng tôi. Áo kiểu Tôn Trung Sơn gài khuy tận cổ, cũng không giống thứ áo xẻ bụng, xẻ nách in hình chim cò sặc sỡ như áo tụi tôi. Ông ấy được tiếng là nghiêm nghị. Mở miệng là nói lời giáo huấn. Đầu óc toàn nghĩ tới chuyện cao cả: Nào là tinh thần cách mạng, nào là ý thức tổ chức, nào là nghĩa vụ quốc tế và nghĩa vụ công dân. Số nhà tôi ở gồm sáu hộ, 27 nhân khẩu lớn nhỏ, không ai có bộ mặt quyền uy như ông ấy.

Ông ấy có hai đứa con gái và một đứa cháu ngoại. Bà vợ kém ông ta vài tuổi, hai ngày một lượt leo lên xe con đi chợ, mắt chẳng bao giờ ngó xuống đám láng giềng. Rồi bỗng một hôm, chúng tôi đi đá bóng buổi trưa về, cả lũ tắm truồng lông nhông ngoài sân. Nghe có tiếng kêu vang trong nhà tắm công cộng. Một đứa giật cửa, nhưng cửa gài chặt. Mà tiếng kêu ú ớ bên trong cứ vẳng ra. Lũ chúng tôi bèn công kênh nhau, ghé mắt qua lỗ thông hơi sát nóc nhà tắm, nhìn vào. Ông phó giám đốc tôn kính đang ở trong đó, trần như nhộng, trên một con bé 14 tuổi. Con bé ấy vẫn ú ớ kêu, còn ông ta ông ta vẫn tiếp tục làm việc.

Lũ mất dạy chúng tôi, thoạt đầu thích chí cười rinh rích. Hết thằng nọ tới thằng kia đổi nhau, xem trò vui. Nhưng con bé giãy giụa mãi, chắc nó đau. Ông ta bịt chặt miệng nó lại không thể kêu to. Đó là một con bé mắc chứng tâm thần. Nó học hết lớp năm thì phải bỏ về nhà. Nó cũng là một đứa mồ côi. Cha nó làm nghề lái tàu điện bị chứng hậu bối chết từ khi nó lên ba . Mẹ nó ở sát số nhà tôi, làm nghề bán dưa chua cà muối. Hồi nhỏ, lúc nó chưa mắc chứng tâm thần, chúng tôi vẫn chơi trò ú tim, trò nhảy dây, trò đá cầu với nhau. Nó không đẹp, nhưng mũm mĩm xinh xắn, lại thảo ăn.

Có quả nhót, quả ổi nào cũng chia cho bạn. Lúc ấy tôi chợt thấy mình dã man. Tôi chợt nhớ rằng con bé bị hãm hiếp kia cũng 14 tuổi như mình, cũng chỉ là một đứa bé con, không có gì che chắn và bảo vệ, dù một mảnh chai sắc hay nắm đấm của một gã đàn ông thô bạo cũng chẳng đủ sức chống đỡ. Tôi không tham gia trò đùa nhẫn tâm ấy. Tôi chạy sang nhà bà hàng xóm, gọi bà Cứ đang thái dưa cải, nghe tin, thét lên như bị chọc tiết. Cứ thế, vẫn con dao nhọn trong tay, chạy sang...

Chàng trai ngừng lời. Không ai lên tiếng. Gian phòng im phăng phắc. Tôi chỉ còn nghe tiếng đồng hồ tích tắc kêu. Rồi lát sau chàng lãng tử hắng giọng nói tiếp.
- Thế đấy ông Chính ạ. Cái lão hiếp dâm ấy không tới sàn nhảy bao giờ. Chắc chắn cũng răn dạy công nhân xí nghiệp của hắn là nhảy nhót là trụy lạc, rằng thế hệ của hắn không bao giờ tham dự những trò vui hư hỏng như thế, rằng cuộc đời hắn chỉ là để phục vụ cách mạng cao cả cho tới hơi thở cuối cùng. Hắn cũng cùng quan niệm và sở thích như ông. Nói thế, tôi không muốn xúc phạm ông. Tôi biết ông không phải là kẻ hám gái. Nhưng những người như ông và hắn có gì đó rất giống nhau.

Cậu Chính hỏi, giật giọng.
- Anh nói cái gì?
Chàng trai đáp, bình thản.
- Ông cứ bình tĩnh. Và nếu ông định dọa nạt tôi ở đây thì ông sẽ phí công. Cho dù ông có tới tòa đại sứ nịnh hót, tố cáo, vu khống tôi đủ điều. Cái trò đó, nhiều kẻ đã diễn rồi. Hãy ngồi xuống ghế, uống đi một cốc kơvát, và tôi sẽ tiếp tục hầu chuyện ông.

Lại một khoảng khắc im lặng. Rồi giọng chàng trai cất lên.
- Chính những người như hắn hoặc như ông ra lệnh săn đuổi chúng tôi trên đường phố, cắt ống quần loe khi các ông không mặc quần loe, cắp ống quần tuýp khi các ông không mặc quần tuýp. Phẩm cách con người được các ông định khuôn bằng chiều rộng của ống quần. Nếu các ông mặc quần ống 23 thì 18 triệu thanh niên chúng tôi phải mặc ống quần cỡ 23. Chật hay rộng hơn đều là phản Đảng, phản quốc. Tôi không bao giờ quên được cảnh tượng ấy, khi tôi còn nhỏ, tôi đã nhìn thấy anh chị tôi và đám bạn của họ bị rượt đuổi, bị chặn đứng ở các ngả tư đường phố, bị soát xét hạch lạc như những kẻ trốn tù.

Vẻ mặt nhớn nhác của họ, con mắt bạc nhược hay hờn căm của họ, những lời họ van xin hoặc gào thét phản ứng. Lúc ấy, tôi đứng nép vào chân cột điện, tôi nhìn họ và tay chân tôi run bắn. Đường như chính tôi cũng sắp bị lấy dao xẻ rách ống quần. Tại sao con người lại bị đọa đầy vô lý thế? Vết thương ấy không thành sẹo trong tim tôi.

Nhát chém nào trong tuổi thơ cũng không thể lành. Tôi lớn lên. Và dần dần tôi chứng nghiệm rằng những con người từng có sức khống chế lũ chúng tôi như lão phó giám đốc kia hoàn toàn không giống hình ảnh kinh sợ và cao cả mà chúng tôi đã hình dung. Họ là những diễn viên đại tài. Họ định ra bao nhiêu niêm luật khắt khe. Nhưng trong bóng đêm, họ sống cuộc sống nhầy nhụa không đạo lý và luật tắc. Này ông Chính, ông vẫn cứ bảo thứ nhảy nhót của chúng tôi là trụy lạc. Đã bao giờ ông chứng kiến những cuộc nhảy nhót vô hình còn trụy lạc gấp triệu triệu lần thế không ?

Cậu Chính đáp, giọng khô khan.
- Anh đừng nói tầm phào. Làm gì có những cuộc nhảy nhót vô hình?
Chàng lãng kử cười khe khẽ nói.
- Có đấy. Tôi đã chứng kiến vài lần. Những kẻ cao sang, sau một thời gian bày mưu tính kế hãm hại các đối thủ, chạy chọt, o bế quan trên, đã tới được cái đích của họ, một chức tước nào đó đủ cả quyền uy và bổng lộc. Đêm hôm cuối cùng của cuộc hạ sát ấy, họ ngồi hút thuốc lào sòng sọc hoặc đốt thuốc lá cho tới buổi sáng mà quyết định bổ nhiệm họ được đọc lên. Đêm ấy, chắc chắn tim óc họ sẽ nhảy nhót. Chúng tôi nhảy thì ôm bạn gái. Còn họ ôm cái bóng của chính mình, ôm cái ghế mà họ khao khát. Ấy là điệu nhảy vô hình mà tôi muốn nói. Theo ông, điệu nhảy ấy có trụy lạc hơn điệu nhảy của chúng tôi không ?
- Tôi không nói chuyện ấy với anh. Các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, cơ quan chúng tôi không có.
- Cứ tin là cơ quan ông không có. Vậy khi cơ quan ông không có, ông cũng không thèm để tâm tới các hiện tượng xã hội? Thế các ông làm gì?
Cậu Chính gay gắt.
- Anh lạ thật. Chúng tôi làm công tác tư tưởng.
Lúc ấy, có tiếng gõ cửa. Chàng lãng tử hỏi.
- Ai đấy? Kìa anh Khoa ngồi gần mở cửa xem ai?
- Thôi tớ đang viết dở, Hải ra hộ vậy.
Hải béo đáp.
- Được.
Tiếng bước chân anh ta huỳnh huỵch. Cửa kẹt mở. Giọng rụt rè của một cô gái.
- Cho em hỏi anh Khoa.
Hải hỏi.
- Cô tên gì?
Giọng đáp lại e dè.
- Em là Chương. Em ở Kiép.
- Chờ nhé.
Đoạn anh ta quay vào.
- Anh Khoa.
Tiếng ông nghiên cứu sinh thì thầm.
- Bảo tớ vắng nhà. Bảo cô ta đi đi.
- Được rồi.
Tiếng chân anh ta ngay đầu giường tôi nằm. Chợt, giọng chàng lãng tử vang lên.
- Khoan đã.
Hải dừng lại. Nghe tiếng anh ta thở ngay đầu giường tôi nàm. Rồi anh hỏi, ngạc nhiên.
- Có chuyện gì vậy?


Chàng lãng tử đáp.
- Chờ đã.
Rồi anh ta cười khảy và nói.
- Này anh Khoa. Anh đuổi một đứa con gái giữa lúc đên khuya dễ dàng như thế sao?
- Không đuổi thì để nó vào làm gì? Có cho nó ngủ nhờ cũng chẳng còn chỗ. Cậu treo nó lên đầu cậu được không ?
- Nếu cần, treo cô ta lên đầu anh. Bất cứ người con gái nào anh chưa lừa được lên cái giường của anh đều có giá. Và ngược lại... Chí ít anh cũng phải có một chút lương tri chứ?
Khoa cười nhạt, phì một tiếng, đáp:
- Cậu ít nhời đi. Còn đủ thời gian lý luận.
- Tôi không tranh cãi. Nhưng anh phải để cho cô ta vào. Mười giờ đêm cô ta biết đi đâu?


Khoa quát.
- Cậu ra lệnh cho tôi phải không ? Tôi là chủ căn phòng này.
Chàng trai cười khảy.
- Anh là chủ căn phòng này. Đúng. Nhưng tôi lại là chủ thứ khác có giá trị hơn. Nói chung, anh thích nghe những lời thô lỗ. Giờ, muộn sao?
Trong phòng im lặng. Chỉ còn nghe tiếng tích tắc của đồng hồ. Rồi, giọng ông nghiên cứu sinh nặng nề.
- Thôi được. Hải, gọi cô ta vào hộ tôi.
Hải bước ra khỏi cửa. Rồi quay vào oang oang nói.

- Biến rồi.
Chàng lãng tử bảo.
- Cậu đuổi theo cô ta. Chắc cô ta còn ở phòng trực.
Anh chàng to béo mở cửa, đi ra. Tiếng bước chân nặng nề mất hút dần ngoài hành lang. Căn phòng yên lặng. Không ai nói với ai nữa. Tôi lơ mơ như muốn ngủ lại. Nhưng chừng 10 phút sau, tiếng chân ồn ĩ của anh chàng to béo đã khua ngoài cửa. Anh ta vào, nói.
- Biến rồi. Tôi trễ thang máy. Xuống phòng trực, họ bảo cô ta vừa lấy giấy tờ xong. Chạy ra cửa không thấy bóng dáng ai. Có lẽ cô ta đã vớ được chuyến xe buýt cuối ngày.


Không ai nói gì. Chừng năm phút sau, anh chàng Hải béo lại lên tiếng.
- Thôi đi ngủ các vị. Mai tiếp tục cuộc chiến đấu. Được ngày nào vét ngày ấy không tới kỳ thi lại đâm đầu vào học.
Anh ta ngáp thật to rồi nói.
- Ối giời ơi, thế này mà ở bên nhà mọi người cứ nghĩ mình đi học nước ngoài là sung sướng lắm đấy. Thật là thân trâu cày ngựa cưỡi... Oàm oàm...

Anh ta lại ngáp thật to, nghe như tiếng gầm của một con hổ bị nhốt trong cũi sắt. Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy, căn buồng trống vắng. Nhưng lúc tôi quờ tay, làm rớt vật gì đó xuống sàn, anh chàng da ngăm chợt xuất hiện ở cửa thông sang khu vực phụ. Anh ta hỏi.
- Tỉnh rồi hả?
- Vâng.
Mặt và đầu anh ta ướt ròng. Chắc vừa ở trong phòng tắm. Hôm nay anh ta mặc sơ mi carô nâu nhạt và quần jin nhung. Tôi chợt nhớ một hình ảng đã gặp. Tôi ngơ ngác. Anh ta nhìn tôi, tủm tỉm cưới.
- Có phải cô đang nghĩ xem đã gặp tôi ở đâu, phải không ?


- Sao anh biết?
- Tôi đang học nghề phù thủy hiện đại. Nói đúng hơn, tối đang muốn thử nghiệm khả năng ngoại cảm của mình. Cô đã nhớ ra chưa?
Tôi lắc đầu.
- Chịu.
Chàng lãng tử cười.

- Trí nhớ tồi qua. Hôm khai trường, cô mặc chiếc áo đầy những dây và khóa cài màu tím nhạt, và đi đôi guốc trắng vẽ hoa.
Tôi bất chợt reo lên.
- À! tôi nhớ rồi.
Anh ta ở nhóm sinh viên lớn đã đùa cợt tôi.
- “Ai vẽ cho em kiểu áo đẹp thế?”
Nhưng dạo ấy, anh gầy hơn bây giờ, trông như cây lau.

- Tôi là sinh viên khóa Sử. Lúc cô vào, tôi vừa học xong một năm ngoại ngữ, chuẩn bị sang đây.
- Anh vẫn học?
- Tất nhiên. Phi vụ này là công việc của tụi tôi. Trách nhiệm với gia đình. Còn cô tại sao bỏ học?
- Mẹ tôi bị tai nạn giao thông, cụt chân. Tôi đành bỏ trường để kiếm sống.
- Làm gì?
- Thợ dệt.
Anh ta lắc đầu.
- Còm nhom thế chịu sao được rét. Kiếm được miếng cơm ở xứ này cũng nhọc nhằn lắm cô bạn ạ.
- Tôi biết. Nhưng không còn cách nào khác.

Anh ta xoa mạnh chiếc khăn mặt lên đầu, đôi mắt thờ thẫn nhìn đâu đó. Mắt anh ta màu hạt dẻ, mơ màng. Rồi chợt thở một hơi mạnh, hỏi.
- Còn ông Chính là thế nào với cô?
- Cậu ruột.

Chàng trai nhún vai.
- Thế à?
Tôi im lặng. Anh ta lại hỏi.
- Cô lên chơi với ông cậu? Nhưng tôi thấy cô còn đang ốm.
- Tôi vừa ở bệnh viện về được 10 hôm. Cậu ấy điện cho tôi lên.
- Điện thế nào?
- Điện là : “Cậu ốm. Hằng lên ngay.”

Anh nhếch môi cười. Lúc ấy tôi thấy như chàng lãng tử Yến Thanh hiện về, với tất cả vẻ kiêu mạn trẻ trung đầy quyến rũ. Anh thong thả vắt khăn mặt lên ghế, kéo ghế tới gần giường, ngồi đối diện với tôi.
- Cô biết ông cậu của cô gọi cô lên Mátxcơva làm gì không ?
Tôi không đáp, nhìn anh chờ đợi. Anh nói tiếp:
- Ông ta chuẩn bị đóng hòm gửi biển. Việc ấy, cần phải giỏi tiếng Nga và giỏi chi tiêu. Cả hai thứ ông ta đều kém.

Chàng lãng tử ngừng lại, suy ngẫm hồi lâu rồi tiếp.
- Đám người như thế, tôi soi kính lúp vào tận ruột họ. Nhưng dù sao, tôi cũng không thể hiểu được, với một cô gái mảnh khảnh yếu ớt như cô.
- Boong...
Chuông ngân nga. Đã chín giờ rưỡi. Chàng lãng tử nói.
- Ông ấy đi ra cửa hàng thực phẩm sắp về.
Rồi móc trong túi một xấp bạc, đưa cho tôi.

- Cô cầm lấy.
Tôi kêu lên.
- Không được. Sao anh kỳ cục thế?
Chàng lãng tử nhếch mép cười.
- Không kỳ cục đâu, cô bạn. Nghe tôi nói đã. Cô không thể ở đây giúp ông cậu gửi hàng vì việc đó tốn sức và tốn tiền. Mặt cô xanh mét, và tiền chắc cũng không dư dả. Lát nữa, khi ông ta ngỏ lời nhờ cậy, cô hãy đưa nắm tiền này ra và nói: Cháu phải về làm việc, không thể ở lâu. Cháu giúp cậu tiền cước.

Tôi lắc đầu.
- Không phải vậy.
Anh chàng quả quyết.
- Không phải, cho cô chặt đầu tôi. Cứ cầm lấy. Ông ấy về ngay bây giờ.
Dúi nắm tiền vào tay tôi xong, anh ta quay đi luôn. Tôi nhét số tiền ấy dưới gối. Chàng lãng tử pha một cốc sữa nóng với mấy viên trợ lực đưa cho tôi.
- Uống đi.

Tôi cầm cốc sữa, không dám nói lời cảm ơn vì thấy rõ sự nhạt nhẽo của ngôn từ. Uống sữa xong, người tôi nóng dần lên, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương và trên trán. Chừng năm phút sau, lúc tôi nằm trùm chăn, chàng lãng tử cạo râu trước gương, cậu Chính về. Ném làn thực phẩm xuống sàn, cậu hỏi.
- Anh thấy con cháu tôi nó tỉnh chưa?
- Quái lạ, đã uống thuốc mà cứ sốt li bì. Lẽ ra, nó phải dậy rồi mới đúng.
- Chỉ có mấy viên cảm làm sao đủ trị sốt. Ông phải cho cô ấy ăn uống gì nữa chứ? Không ăn, mẻ cũng chết.
- Ờ ờ... Tí nữa tôi sẽ nấu mì cho nó ăn.
Tôi nghe chàng lãng tử thu dọn đồ vật gì đó, rồi chừng năm phút sau, anh ta bảo cậu Chính:
- Tôi đi. Một giờ tôi về.


Cánh cửa mở rồi đóng, rung sàn. Tôi ngồi lên. Cậu Chính mừng rỡ bảo.
- Cháu khỏe rồi hả? Có ăn gì không ?
- Cháu không muốn ăn gì.
- Ừ, tới bữa ăn cả thể cũng được.
- Bao giờ cậu về trường?
- Ngày mai.
- Cậu gọi cháu lên đây có việc gì?
Cậu gật đầu ờ ờ... Rồi bước tới gần tôi vcậu nói:
- Cậu sắp về, chỉ hai tuần nữa thôi. Cháu còn ở lại lâu, cháu có khả năng làm kinh tế. Cậu muốn nhờ cháu giúp cậu...

Tôi lặng im, cậu tiếp.
- Khi đi, mẹ mày dặn: khó khăn gì đã có con Hằng. Cháu giỏi ngữ. Cậu chẳng biết tiếng tăm.
Tôi vẫn ngồi im, cậu hắng giọng, lại tiếp.
- Hàng họ cậu đã chuẩn bị hòm. Nhưng gay go nhất là khoản cước.
Tôi lại muốn nằm, tôi muốn kết thúc nhanh chóng. Tôi rút nắm tiền dưới gối.

- Đây, cậu cầm lấy.
Cậu nhìn, ngần ngừ hỏi:
- Bao nhiêu? Sao nhiều thế?
- Cậu cứ cầm lấy, cháu chưa đếm.

Cậu cầm nắm bạc, bắt đầu đếm. 134 rúp. Cậu xếp nắm tuyền thứ tự: tờ 50 rúp ngoài, tới tờ 25 rúp bên trong, tới tờ 10 rúp, năm rúp, một rúp. Một công việc cẩn trọng và say mê. Khuôn mặt cậu hiện ra lồ lộ trước mắt tôi: đường lượn của quai hàm, tràng mày, đường cong đuôi mắt, sống mũi. Những dáng nét quen thuộc từ phút giây gặp gỡ đầu tiên. Phút giây ấy, tôi đã yêu cậu với một tình yêu sung sướng.

- A à à...
Cậu bỗng buông tiếng thở dài khoan khoái, đoạn bỏ số tiền đã xếp gọn ghẽ vào túi áo. Tôi trùm kín chăn để khỏi nhìn thấy cậu. Trong bóng tối, hình ảnh một ngày quá vãng trở về.[....]


Có một bàn tay đập rất mạnh vào vai tôi.
- Dậy, dậy đi Hằng. Cậu nấu trước bát mì, ăn đi cho mau khỏe.
Tôi co mép chăn, để cậu khỏi giật ra được, và tôi đáp.
- Không, cháu không muốn ăn, cậu để cho cháu nằm.
Trong bóng tối ấm áp của tấm chăn, tôi được tĩnh lặng Tôi quên mọi gương mặt, tôi xóa mọi âm thanh. Trí nhớ như căn phòng hoang vắng. Và tôi chìm vào giấc ngủ.

Hôm sau, chàng lãng tử ngỏ ý đưa tôi ra ga thay cậu Chính. Không một phút đắn đo, tôi gật đầu ưng thuận, dù trong thâm tâm tôi biết rắng người con gái cư xử như thế thật chẳng hay ho gì. Tôi không muốn trước khi bước lên tàu, chịu đựng một cuộc hành trình buồn tẻ lại phải nhìn thấy ông cậu ruột. Chàng lãng tử đã mua sắm đồ ăn đường và mua vé cho tôi. Anh cũng mua cho anh tấm vé vào ga để đưa tôi ra tận kè đá chờ tàu.

Tôi thấy anh ta nói tiếng Nga giỏi chẳng kém gì người đàn ông tóc muối tiêu đã đưa tôi tới căn buồng của ông nghiên cứu sinh Sinh Hóa. Với ngữ điệu đặc sệt Nga, nước da rám đen và gương mặt thanh tú anh chàng khiến cho nhiều cô gái Nga chú ý. Họ ném theo những ánh mắt hoặc vội vã thầm lén, hoặc công nhiên và dai dẳng. Chàng lãng tử giữ vẻ mặt phớt tỉnh Ănglê. Tôi thầm cười anh ta vì dẫu sao, anh cũng chỉ hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi đứng bên nhau chờ tàu, nói đủ thứ chuyện, trừ chuyện về bản thân. Giờ từ biệt, cuối cùng cũng tới. Tôi xiết chặt tay anh.
- Cảm ơn anh. Cảm ơn anh rất nhiều.

Chàng lãng tử cười.
- Đừng, cảm ít thôi còn để dành cho lần sau.
Mắt anh lóe lên tia lửa tinh nghịch, ranh mãnh. Tôi bật cười theo. Anh hỏi.
- Có gửi gắm gì cho cậu không ?
- Không.
Rồi sau chút đắn đo, tôi hỏi.
- Cậu ấy làm thuê cho các anh từ bao giờ?
- Mấy tháng nay. Trước, chúng tôi thuê một ông khác. Ông ấy về nước và giới thiệu ông Chính. Hai người này có quen biết nhau. Ở đây chúng tôi coi là việc hợp lý hóa lao động.

Tôi lắc đầu.
- Dù sau , tôi cũng không thể hiểu. Ngày hôm qua, sự việc diễn ra đúng như anh dự đoán.
Chàng lãng tử đưa tay kéo món tóc xòa xuống mắt tôi lên, rồi nói.

- Người ta nên hiểu biết hết mọi sự trên đời cô bé ạ, dù cho là sự thực đau buồn. Ông cậu của cô giống như một loạt người tôi từng gặp. Họ là những kẻ đã phung phí gần hết đời sống của mình vào việc vẽ nên một thiên đường dưới trần ai, nhưng trí khôn ngắn ngủi của họ lại không đủ để hiểu thiên đường ấy ra sao và con đường nào đưa tới nó. Vì thế khi biết công việc ấy hão huyền thì họ hối hả tìm kiếm những miếng ăn thực, nhặt nhạnh những hạt ngũ cốc thực trên mảnh đất bùn lầy, Họ làm việc ấy, bất kể bằng cách nào. Họ là tấn thảm kịch cho chính họ, tấn thảm kịch cho thế hệ chúng ta.

Tàu đến, anh xiết chặt tay tôi lần nữa, rồi xách túi đưa tôi lên toa. Khi tôi ngồi vào chỗ, anh trở lại bờ kè. Ở đó, anh đứng chờ cho con tàu tư từ lướt qua và hình bóng anh nhòa dần sau ô cửa kính.. .



Dương THu Hương (Những Thiên Đường Mù)


LI.Người Việt ở Nga thắt lưng buộc bụng
Vũ Điệp

Hàng hóa ế ẩm khiến nguồn thu eo hẹp, nhiều người Việt Nam kinh doanh ở Ural, Nga, đang phải cố gắng tiết kiệm chi tiêu, thậm chí gửi vợ con về nước sống cho đỡ tốn kém.

Tại trung tâm thương mại Tagansky Ryad ở thành phố Ekaterbinburg, không khí nhộn nhịp mua bán không còn hiện diện trong những ngày này, khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu quét đến cả những vùng xa xôi của Nga. Trong các quầy hàng rộng rãi, sạch sẽ, những người bán hàng Việt, Trung Quốc, Trung Á đang ngồi ngóng chờ khách hàng. Người mua thực sự là “thượng đế” trong thời buổi khó khăn.

Nguyễn Văn Chinh, quê Gia Lâm, Hà Nội, chuyên kinh doanh hàng vải Việt Nam, tâm sự: “Mọi năm tháng này làm ăn khá dễ dàng, vào mùa mà. Nhưng năm nay thì không, người dân đi chợ vẫn đông nhưng họ không có tiền hay sao, ít mua sắm lắm, chỉ ngắm thôi".

Chinh cho biết những người kinh doanh như anh hiện giờ kiếm được đủ tiền thuê chỗ trong chợ và tiền ăn tiền ở là may. "Tôi đã gửi vợ về nước để đỡ tốn. Các khoản chi được siết lại, không phải là tiết kiệm nữa mà là đại tiết kiệm”.

Anh Phạm Thụ, quê Hưng Yên, chủ quầy quần jeans, lý giải việc làm ăn chật vật là vì USD lên giá nhiều so với đồng ruble. Trước đây nếu anh bán được 100 ruble thì đổi được khoảng 4 USD, nay chỉ được 3. "Người Nga thời khủng hoảng cũng rành khảo giá, mặc cả, nâng lên đặt xuống. Cái quần nếu tôi phát ra 100 ruble thì họ chỉ trả 70 ruble, không bán thì thôi”", Thụ kể.

Kết quả là Thụ tạm thời nghỉ kinh doanh, cho thuê quầy lấy một khoản tiền đủ để sống tằn tiện và chờ thời. Thắt lưng buộc bụng là giải pháp trước mắt mà phần lớn những người kinh doanh Việt Nam ở Ekaterinburg chọn nhằm vượt qua cơn bĩ cực.

Thụ đã cho vợ và một đứa con về nước. Anh Lê Xuân Hào, quê Hà Tĩnh, kinh doanh ở chợ ngoài trời bên cạnh trung tâm thương mại cũng có kế hoạch “giảm biên chế gia đình”. Vợ và con anh sẽ về Việt Nam vài ba tháng, vừa nghỉ ngơi, thăm thú, vừa để tiết kiệm khoản chi tiêu đắt đỏ ở nước Nga.

Tiền công của người bán hàng thuê giảm từ 300 ruble mỗi ngày (tương đương 150.000 đồng) nay xuống còn 200, thậm chí 150 ruble. Chị Hồng Vân, đồng hương với anh Thụ, kinh doanh quần áo thể thao, tâm sự: “Đầu vụ bỏ vốn ra bao nhiêu nay chỉ mong thu về bấy nhiêu, không có lãi, mất công sức và lỗ tiền thuê chỗ. Trước khủng hoảng ba mẹ con tôi bán hàng thì ăn luôn ở căng tin của trung tâm thương mại, nay thì mang cơm đi, đỡ một nửa chi phí”.

Giảm giá mặt bằng kinh doanh cũng là biện pháp chống khủng hoảng mà người kinh doanh rất kỳ vọng. Ông Lê Quý Quỳnh, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Ekaterinburg, cho biết thành phố này là trung tâm bán buôn của cả vùng Ural mênh mông. Hàng hóa từ Mátxcơva đổ về đây rồi tỏa đi các tỉnh, thành miền Đông nước Nga. Việc kinh doanh của 700 người Việt nơi đây trước khủng hoảng chỉ thua mỗi chợ Vòm, hơn hẳn các thành phố khác. Cũng vì thế mà giá mặt bằng tại các chợ, trung tâm thương mại, trong đó có Tagansky Riad, bị đẩy lên khá cao. Bây giờ khủng hoảng, người dân địa phương giảm mua sắm, bà con buôn bán chật vật, nếu các khoản chi không giảm thì khó bám trụ. Vai trò trung tâm bán buôn cũng vì thế mà sẽ suy giảm.

Mặc dù chưa thấy đáy của khủng hoảng, song không phải ai cũng chỉ nhìn thấy màu xám. Anh Việt, chị Vân khẳng định rằng đối với riêng họ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2009 chưa nghiêm trọng bằng sự kiện tỷ giá USD so với ruble tăng vọt chỉ trong một ngày năm 1998. Hầu hết người kinh doanh Việt ở Ekaterinburg không nghĩ đến chuyện bỏ cuộc mà chấp nhận sự thử thách, coi đó là điều không thể tránh khỏi khi làm ăn ở thị trường Nga luôn luôn biến động.

vnexpress Felix Savon15-06-2009, 12:50 AMLực lượng an ninh Nga đã bắt giữ lượng lớn hàng lậu chứa trong khoảng 6.000 container có trị giá gần 2 tỷ USD tại khu chợ Cherkizov mà người Việt thường gọi là chợ Vòm.

Ủy ban điều tra thuộc Viện Công tố Liên bang Nga đang điều tra hình sự hoạt động buôn lậu các loại hàng hóa dành cho trẻ em có những hóa chất độc hại đối với sức khỏe và đe dọa tính mạng con người tại khu chợ Cherkizov, Matxcơva.

Tổng Công tố Liên bang Nga Yuri Chaika khẳng định một khối lượng lớn hàng lậu chứa trong 6.000 container, với trị giá ước tính lên tới gần 2 tỷ USD đã được nhập về khu chợ này.

Số hàng hóa bất hợp pháp này đó được cất giữ trong các kho của Công ty AST thuộc quyền sở hữu của tỷ phú Telman Ismailov. Hiện cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được danh tính chủ hàng cũng như người nhận hàng.

Trước đó, Thủ tướng Nga Vladimir Putin đã yêu cầu Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang và các viện công tố nước này phải cải thiện triệt để tình hình liên quan đến cuộc chiến chống nạn buôn lậu, vốn đang hoành hành trên thị trường Nga, mà các khu chợ ở thủ đô Mátxcơva chính là nơi chứa chấp khối lượng hàng hóa buôn lậu khổng lồ.

TTXVN Naidongque10-07-2009, 03:57 PMMoscow thu hàng và đóng chợ Vòm

http://news.tialia.com/thumbnail.php?file=090626125010_russialuzhkov226_3 05247961.gif&size=article_medium
Thị trưởng Moscow, ông Yury Luzhkov nói sẽ cho đóng cửa chợ Cherkizovsky mà người Việt quen gọi là Chợ Vòm

Nga nói sẽ xử lý hai tỷ đô hàng nhập 'không hợp lệ' từ Trung Quốc và đóng cửa chợ bán buôn lớn nhất Moscow, làm ảnh hưởng nặng đến kinh doanh của người Việt.

Trong khi dư luận Trung Quốc bày tỏ sự ngạc nhiên vì công tố viện Nga quyết định xử lý hàng chục nghìn container hàng có xuất xứ từ Trung Quốc, nhà chức trách Nga nói thẳng rằng hàng nghìn kiện hàng đã bị đưa vào nước họ không có đủ giấy tờ hợp lệ hoặc kém phẩm chất.

Trưởng Công tố Liên bang Yury Chaika nói với đài truyền hình Rossya rằng tại chợ Cherkuzovsky, mà người Việt Nam gọi là Chợ V̀om, chừng 6000 container "hàng nhập lậu" đã bị giữ.

Ông cũng nói theo kiểm tra của nhà chức trách Nga thì hàng hóa có cả "quần áo. giày trẻ em có chất độc".

Tin từ Nga hôm 25/06 cũng nói khu chợ nổi tiếng này rộng 200 hectare và là nơi buôn bán của người Trung Quốc, Việt Nam, Israel và nhiều sắc dân châu Á cùng Đông Âu.

Nhà chức trách đã cử đội đặc nhiệm OMON kiểm tra và bắt hàng hóa tại đây.

Báo chí Nga cũng không quên nhắc rằng hồi tháng 8/2006 có vụ nổ bom tại chợ này khiến 14 người thiệt mạng.

Thủ tướng Vladimir Putin hỏi vì sao cuộc điều tra không đem lại kết quả gì.

Báo Moscow Times

Nay, vẫn nguồn tin của Nga nói thị trưởng Moscow, ông Yury Luzkov tuyên bố thành phố sẽ cho đóng chợ này.

Theo tờ Moscow Times, ý kiến chỉ đạo về "hàng lậu Trung Quốc" đến từ cấp cao nhất là Thủ tướng Vladimir Putin.

Báo này trong bản điện tử hôm 19/06 vừa qua nói ông Putin đã yêu cầu các cấp các ngành liên quan ở Nga giải thích vì sao việc điều tra hàng hóa bị thu giữ "không đem lại kết quả gì".

Nguồn sống quan trọng

Nhưng với hàng chục nghìn người Việt sống nhờ kinh doanh hàng Trung Quốc tại Nga, đây là một vấn đề mang tính sống còn.
Người bán hàng Việt tại Chợ Vòm, Nguyễn Hữu Tam

http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/06/26/090626125014_russianguyenhuutam_hung226.gif
Người bán hàng Việt như ông Nguyễn Hữu Tam sẽ gặp khó khăn khi Chợ Vòm bị đóng cửa

Từ nhiều tháng qua, tại Nga, việc bắt giữ hàng Trung Quốc đã diễn ra nhưng quyết định mới nhất này cho thấy vụ việc, chủ yếu nhắm vào khu Chợ Vòm tại Moscow đã ảnh hưởng đến kinh doanh của người Việt Nam tại Nga vốn thường nhập hàng từ Trung Quốc.

Nhà báo tự do Lan Hương cho BBC biết về câu chuyện nhập hàng từ Trung Quốc nhưng không đủ các loại giấy tờ hải quan hay chất lượng sản phẩm đã có từ lâu.

Phần nào đây cũng là lỗi của phía nhà chức trách Nga trong giai đoạn kinh tế chuyển đổi với nhiều hoạt động kinh doanh nói chung, không chỉ của người nước ngoài, chưa có tiêu chuẩn.

Nhưng càng gần đây, tình hình kiểm soát càng trở nên gay gắt.

Thậm chí, nhiều container hàng Trung Quốc tại khu chợ nổi tiếng của người Việt ở thủ đô Liên bang Nga đã bị niêm phong từ cuối 2008.

Vẫn theo nhà báo Lan Hương, tình hình khủng hoảng kinh tế khiến Nga cần xem xét việc thu thuế từ nhập khẩu.

Các đợt kiểm tra nay được đưa lên truyền thông, khiến các quan chức cấp dưới, dù muốn cộng tác với các doanh nhân ngoại quốc nhập hàng theo hình thức tham nhũng không thể nào làm ăn được nữa.

Nhiều doanh nhân Việt Nam nay không thể lấy ra số hàng đã bị giữ.

Nhà báo Lan Hương tin rằng sau khi Chợ Vòm bị đóng, người Việt tại Nga, chủ yếu sống bằng buôn bán, cần phải mất 2 đến 3 năm nữa để tái thích nghi và tìm ra mô hình kinh doanh mới.

Theo BBC Naidongque10-07-2009, 04:13 PMCòn nhiều lao động bên Nga “kêu cứu” xin về
http://news.tialia.com/thumbnail.php?file=images1809130_2_488354375.jpg&size=article_medium
36 lao động bên Nga của Trung tâm hợp tác lao động đang sống vạ vật nơi đất khách

5 tháng làm việc cật lực nhưng bị trừ hết tiền, chỉ còn vỏn vẹn 67USD, những lao động này còn bị doanh nghiệp bên Nga đơn phương cắt hợp đồng. Mấy ngày này, 36 lao động của Trung tâm hợp tác lao động với nước ngoài (Tổng Công ty thép VN) liên tục gọi điện về nhà cầu cứu. Tiền lương không vừa tiền phạt

Hiện tại, 36 lao động này đang phải tạm trú ở Trung tâm thương mại Emeral (Matxcơva) để chờ được về nước. Số lao động này được Tổng công ty Thép VN đưa sang Nga thành hai đợt vào thời điểm cuối tháng 12/2008 và đầu tháng 1/2009.

Hợp đồng của họ được Tổng công ty Thép VN ký với Công ty TNHH APC tại Nga để làm việc trong ngành xây dựng.

Theo đơn “giải cứu khẩn cấp” viết từ Matxcơva ngày 12/6/2009, lao động Chu Văn Quân (quê tại huyện Yên Phong, Bắc Ninh) cho biết, từ tháng 1 đến tháng 5/2009, Công ty APC không thanh toán tiền lương cho lao động, trong khi làm việc không có bảo hiểm y tế, bảo hiểm lao động.

Cũng theo trong đơn thư kêu cứu, đến ngày 29/5/2009, Công ty APC đã có thư khẳng định gửi tới 36 lao động nêu rõ APC chấp nhận hủy bỏ hợp đồng. Ngày 30/5 là thời điểm APC đơn phương chấm dứt hợp đồng…

Nguyên nhân đơn phương hủy hợp đồng lao động với 36 lao động, theo phía APC đưa ra là không tuân thủ hợp đồng lao động. Nhưng theo phản ánh từ các lao động này với VietNamNet thì: Phía APC tìm mọi cách bắt lỗi, quy trách nhiệm và phạt tiền nhằm nhanh chấm dứt hợp đồng.

Lao động Nguyễn Hùng Vỹ cho biết: “Trong 5 tháng làm việc bên Nga thì tháng 1, 36 người không những không có lương mà còn bị tiền phạt 1.443 USD mà theo như đại diện APC, vì họ đã... làm hỏng công trình xây dựng biệt thự 5022. Tiền lương của tôi từ tháng 2 đến tháng 4 là 1.500 USD nhưng do bị trừ tiền phạt tháng 1 là 1.143 USD nên sau 5 tháng tôi chỉ còn lại…67 USD”.

Xong việc về sớm cũng bị phạt

Theo tìm hiểu của PV VietNamNet thì trong số 36 lao động tại Nga kêu cứu về nước thì tất cả đều không được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ và kỹ năng sống trong môi trường nước ngoài.

Ông Đặng Văn Việt, Giám đốc Trung tâm hợp tác lao động với nước ngoài (Tổng Công ty Thép VN) cũng đã thừa nhận thiếu sót này. Chính những “thiếu sót” đã dẫn đến hậu quả 36 lao động bị Công ty APC qua mặt và ép lao động vào thế đường cùng.

Trong hồ sơ mà các lao động gửi về nước có những biên bản xử phạt về các lỗi không đúng quy định như phân công dọn rác mà không thực hiện. Lỗi lớn hơn là khi tham gia làm việc tại công trường, cứ hoàn thành xong công việc là lao động về trước thời gian cho phép. Tất cả những sai phạm quy định này, phía APC đều lập biên bản. Trong đó có cả những lỗi bị phạt tiền khá nặng so với mức lương của công nhân.

Cụ thể, trong những lỗi bị phạt tiền, có những tháng lao động bị phạt không có tiền lương như tháng 1, tháng 2. Ngoài ra, do lỗi chung mà phía Công ty APC gán vào mỗi lao động bị trừ 1.143 USD.

Trao đổi với VietNamNet, ông Đào Công Hải - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Lao động ngoài nước (Bộ LĐTB&XH) cho biết: "Cục mới nhận được thông tin và sẽ có công văn yêu cầu bên Trung tâm hợp tác lao động với nước ngoài của Tổng công ty Thép VN xử lý kịp thời. Trong một tuần, kể từ ngày nhận được công văn của Cục, bên Trung tâm phải có công văn trả lời".

Ông Hải nhấn mạnh, trước hết doanh nghiệp phải cử đại diện sang Nga tìm việc làm mới cho lao động để tránh thiệt hại cho cả hai bên. Còn nếu lao động chỉ muốn về nước thì trách nhiệm của doanh nghiệp phải đưa lao động về.

Ông Hải cũng cho biết thêm, hiện tại có trên 1.000 lao động phải chuyển việc tại Nga do khủng hoảng kinh tế.

"Với các ngành như công nghiệp ô tô, xây dựng, dệt may thì các hợp đồng xuất khẩu lao động tiềm ẩn nguy hiểm nhiều hơn” - ông Hải cảnh báo.

*
Vũ Điệp
*



No comments: