Showing posts with label NGUYỄN THIÊN-THỤ *TRUNG ĐẠO CHÁNH PHÁP. Show all posts
Showing posts with label NGUYỄN THIÊN-THỤ *TRUNG ĐẠO CHÁNH PHÁP. Show all posts

Wednesday, June 6, 2012

NGUYỄN THIÊN THỤ * TRUNG ĐẠO



NGUYỄN THIÊN-THỤ

TRUNG ĐẠO CHÁNH PHÁP

BUDDHA'S MIDDLE PATH


 
Gia hỘI © 2012


    

NGUYỄN THIÊN THỤ *TRUNG ĐẠO * LỜI NÓI ĐẦU



NGUYỄN THIÊN THỤ


TRUNG ĐẠO CHÁNH PHÁP
   Buddha’s middle path
Vietnamese and English



 

LỜI NÓI ĐẦU



Khi đức Pht chuyn Pháp Luân, ÇÃt tri rung động. Bài thuyết pháp đầu tiên đến nhân thế là bài ging v Trung Đạo cho bn ông Trn Kiu Như. Và sut cuc đời, đức Pht luôn ging v Trung Đạo. Trung Đạo là ct xương sng ca tri‰t lš Pht giáo cũng như Trung Dung là huy‰t mch ca tri‰t hc Khng môn.

Trung đạo là con đường đưa ta đến hånh phúc. Mc đích quyn sách này là trình bày thuy‰t trung đạo ca đức Pht.. Sau 1975, chúng tôi mới chú tâm nghiên cứu Phật học.  Trong khi nghiên cu các kinh đi‹n Nam Tông và Bc tông, chúng tôi đã nÄy ra mt vài š ki‰n mà có thể khác với kiến giải của các thiện trí thức. Chúng tôi månh dån trình bày vì tư tưởng là khám phá và t do.

  Công trình này ÇÜ®c viết xong, và sa cha ti Sài Gòn næm 1985,  sau đó ÇÜ®c sa ch»a ln th hai ti Sài Gòn 1992.  Song mỗi khi coi lại, chúng tôi thấy cần phải sửa chữa, bổ túc. Vì vậy tác phẩm này vẫn chưa xuất bản được vì nhiều lý do khác. Chúng tôi viết bằng tiếng Việt và bằng tiếng Anh để được phổ biến khắp nơi, cho độc giả Việt Nam va độc giả quốc tế. 

Kinh tạng Pali rất quý báu trong kinh điển Phật giáo. Các sa môn, và các học giả Phật học thế giới  đã dịch ra Anh văn. Tại Việt Nam,  Hòa thượng Thích Minh Châu đã dịch các kinh tạng Pali ra tiếng Việt nhưng xem kỹ chúng tôi thấy có nhiều chữ khác với bản Anh văn, cho nên chúng tôi một đôi khi phải theo bản Anh văn.
Xin chân thành cäm tå Ti‰n sï NguyÍn Quš B°ng Çã xem låi phÀn Anh væn,. Chúng tôi cũng xin cảm tạ Hòa thượng Thích Chơn Thiện, GS Nguyễn Hữu Doãn   trong tiŠn ki‰p Sàigòn Çã cho mÜ®n kinh sách .
                                                  Thû Çô Ottawa ngày 8- tháng 6 năm 2012                                
                                                                      Nguyn Thiên Th
 

PREFACE

            In the Buddhist treasure, there are many canons, many studies and discussions. Why? There are a lot of reasons:
            First, Buddhism is a philosophy as well as a religion of freedom which does not demand that anyone accept its teachings on trust.
            Second, Buddhist has a liberal tradition of free inquiry. It is a non-dogmatic tradition, therefore, there are many Buddhist schools based on the Buddha’s teachings.
            Third, Buddhism emphasizes on finding out for oneself, so it emphasizes upon direct religious experiences, not a blind faith.
            The Buddha said:

"So, as I said, Kalamas: 'Don't go by reports, by legends, by traditions, by scripture, by logical conjecture, by interference, by analogies, by agreement through pondering views, by probability, or by thought, "This contemplative is our teacher." When you know for yourselves that, "These qualities are unskillful; these qualities are blameworthy; these qualities are criticized by the wise; these qualities, when adopted & carried out, lead to harm & to suffering"  then you should abandon them.' Thus was it said? And in reference to this was it said. (Anguttara 3,   3.65.)
            Indeed, Buddhism is a way for finding out for ourselves. After 1975, my life became empty; I spent my time by reading various Buddhist canons. So I realized  that the Buddha’s Middle Path  is the great river  of the Buddhist Universe, and in this book, my aim is clarify  this theme. Because of the idea of freedom, now I try to present my opinions to my readers. I began to write this book in May, 1984 and finished in October, 1985. After many times of revising,  I finished this book with an English version. 
My ideas are only the repetition of  Buddha‘s teachings, and the sayings of the great monks in the past.  I hope the readers consider this book as a useful document on the way of studying Buddhism.

I welcome this opportunity to thank Ven Thích Chơn Thiện, and Prof. Nguyễn Hữu Doãn for lending me   books,  Buddhist canons and documents when I was in Vietnam.  I am especially grateful to Prof. NguyÍn Quš B°ng for  revising my English version.
                                                NguyÍn Thiên Thø


           
  Møc løc
           
phÀn I.   LЮc Sº PhÆt giáo                     1
ChÜÖng I.   n ж trܧc khi ÇÙc PhÆt ra Ç©i                 2
ChÜÖng II.    ñÙc PhÆt ra Ç©i                                         5
ChÜÖng III. ñÙc PhÆt Chuy‹n pháp luân                     10
ChÜÖng IV. ViŒc ki‰t tÆp kinh Çi‹n                              15
ChÜÖng V. ViŒc phân phái                                           22
ChÜÖng VI. PhÆt giáo trên th‰ gi§i                                32          
Chương VII.  Tôn giáo và Triết học                           41
phÀn  II. THUYT TRUNG ñåO                             64
ChÜÖng VIII. Tránh các c¿c Çoan                                 65
ChÜÖng IX.  Chánh đåo                                                79
ChÜÖng X. Hòa ÇÒng                                                   85
Chương XI. Thuyết Trung dung của Khổng Tử           94
Chương XII. Tác hại của sự thái quá                            98
PHẦN III. ÁP Døng THUYT TRUNG ñåO     100
 ChÜÖng XIII. Tông và phái.                                         101
ChÜÖng XIV. H»u thÀn và vô thÀn                             108
ChÜÖng XV. T¿ L¿c và Tha L¿c                                 124
ChÜÖng XVI. H»u và không                                     137
ChÜÖng XVII. Tâm phân biŒt                                     147
ChÜÖng XVIII. Chay và m¥n                                      154
ChÜÖng XIX. ñåo và Ç©i                                            157
PH„N IV. phÜÖng pháp tu tÆp                170
ChÜÖng XX. Vào thiŠn                                               171
ChÜÖng XX. Phương pháp  thiền                               178
 ChÜÖng XXI. Kinh nghiŒm thiŠn                           191-200
Contents
PART I .THE HISTORY OF BUDDHISM   202
Chapter 1. The  Indian background 203
Chapter II.    The life of the Buddha. 205
Chapter III. The councils of the Sangha and the  rise of the schools .                                                   214
Chapter IV.The development of Buddhism. 219
Chapter V .Philosophy and Religion. 225.
PART II .THE BUDDHA ‘S MIDDLE  PATH. 234
Chapter VI. Avoiding the extremes. 235
Chapter VII. The right way. 246
Chapter VIII. The Harmony. 257
Chapter IX. Confucius ‘s Zhongvong. 261
Chapter X. The dangers of extremism. 264
PART III. FOLLOWING THE BUDDHA’S TEACHINGS..       266
Chapter XI. The Buddhist schools. 267
Chapter XII .Theism and Atheism.  270.
Chapter XIII .Self  reliance and  faith   in god  or goods.276
Chapter XIV.   Nililism and Sunyata,.281

Chapter XV. Buddhism and  Vegetarianism.300

Chapter XVI. Buddhism and  Society.302

PART IV.THE PRACTICE OF ZEN. 310
Chapter XVII. A Short  history. 311.
Chapter XVIII. Preparations for  Meditation.315.
 Chapter.XIX.  Methods of  meditation  321.
 Chapter XX. Experiences .331
 CONCLUSION. 344.
 

       

NGUYỄN THIÊN THỤ * TRUNG ĐẠO I







LƯC S PHT GIÁO


chÜÖng i
     N Đ TRƯC
   THI ĐC PHT RA ĐI
          n Độ là mt quc gia vĩ đại, đã có mt nn văn minh sm nht nhân loi. Trước 1947, n Độ là mt quc gia thng nht, din tích bn triu cây s vuông, vi bn trăm triu dân cư, gm 250 th ng. Phía bc n Độ có dãy Hy Mã Lp Sơn (Himalaya), dài 2250 km, chy t đông sang tây, vi đỉnh Everest cao 8.882 m, quanh năm tuyết ph. Đó là đỉnh núi cao nht thế gii. T đây phát xut hai con sông, cũng thuc loi sông ln nht thế gii. Sông Indus dài 2.900 km, và sông Gange dài 3.100 km.
            Khi thy, mt trong nhng ging người cư ng đầu tiên đây là ging Dravidiens. H đã to dng nên mt nn văn minh rc r. Người ta đã đào được ti các vùng h lưu sông Indus di tích nhng thành ph rng ln được thành lp khong hai hay ba ngàn năm trước Tây lch. Theo mt s gi thuyết, dân Aryen phát xut t phía bc sông Caucase di cư dn xung phía đông châu Âu, sang Á châu, vượt dãy Hymalaya mà tràn vào n Độ. H là người da trng, mũi cao, mt xanh, tóc vàng trong khi dân Dravidien có màu da sm. \

Càng ngày càng tiến v phương nam, ging Aryen b ánh mt tri vùng nhit đới, ri li do pha trn vi ging  Dravidien nên màu da ca h tr nên đen sm. Người ta ước tính rng ging Aryen vào n Độ khong thế k 17 trước Tây lch. Đến thế k 10 trước Tây lch, h đã to được mt truyn thng tâm linh, hòa hp vi dân Dravidien. Đó là truyn thng Veda, Upanishad, Bhagavadgita, Vedanta. .  . để sau này thành Bà La Môn giáo, n Độ giáo. Tt c tư tưởng truyn thng n Độ được th hin kinh Vedas. Đến nay, b kinh này tri qua hơn ba ngàn năm, là nòng ct cho Bà La Môn giáo. B thánh kinh này có bn phn:
            1.Rig Veda: gm nhng bài cu nguyn và xưng tng thn thánh. B này dành cho các tu sĩ cao cp tng nim khi hành l.
            2.Sama Veda: gm nhng bài ca hát khi hành l.
            3.Yajur Veda: ghi chép nhng nghi thc cúng tế.
            4. Atharva Veda: Gm nhng bài kinh cu đảo, cu phúc. cu tài. B này cũng có nhng câu chú dành cho pháp sư.
            Bn b Veda này là công trình sáng tác và sưu tm liên tc t năm 1000 đến năm 500 trước Tây lch. Qua b này, chúng ta thy Bà La Môn là mt tôn giáo th nhiu thn (Đa thn giáo).
            -Thn Thái dương :Surya, Savitriti, Pusan
            -Thn Ban mai : Usas. -Thn Sm : Indra.
            -Thn nưc: Apas,  -Thn bão t :Rudra.
            -Thn gió :Vayu,   -Thn mưa :Parjanya. .  .
Trên tt c các thn này là Thưng Đế (Brahman). Vì l này, Bà La Môn cũng là nht thn giáo.Vì có nhiu thn linh nên có nhiu nghi thc cúng tế.
            V mt xã hi, Bà La Môn giáo chia xã hi thành bn giai cp:
1.      Brahmana (Bà La môn: tu sĩ)
2.      Ksatriya (Sát Đế Li: quš tc)
3.      Vaisya (T Xá, Th dân)
4.      Sudra ( Th Đà La, nô l)
Giai cp này có tính cách vĩnh vin, t đi này sang đi khác. Bà La Môn giáo gii thích vic phân chia giai cp là do phúc phn hay ti nghip t kiếp trưc. V tôn giáo cũng như chính tr, ngưi Aryen là giai cp thng tr, còn Dravidien là k b tr. Ngưi giai cp cao không bao gi ngi chung hay kết hôn vi giai cp h tin.


chÜÖng II
 CU¶C ñ©I ñ­ỨC PHẬT
(563BC-483BC)

Đức Pht thuc h C Đàm (Gotama), tên là Tt Đạt Đa (Siddhartha), sinh ti thành Ca T La V (Kapilavatthu) thuc vương tc Thích Ca (Sakya) là thái t ca quc vương Tnh Phn ( Suddhodana). Quê hương ca Đức Pht và mt vương quÓc nh phía tây nam x Népal, cách thành Bénares khong 100 dm.
            Có nhiu tài liu khác nhau nói v năm sinh cua Đức Pht.  Tài liŒu tây phÜÖng ghi næm 563 tr.TL. Tài liu Trung Quc cho rng đức Pht sinh năm 557 trước tây lch k nguyên, tc là ln hơn Khng t sáu tui. Trước đây, Trung Hoa và Vit Nam ly ngày mng tám tháng tư âm lch làm ngày Pht đản. Các nhà nghiên cu Tây Phương dùng tài liu s Hy Lp, và căn c vào các bia đá tìm thy ti n Độ vào thi vua A Dc, đi đến kết lun rng đức Pht ra đời năm 624 trước tây lch, và mt năm 483 tr. tây lch ( Lương Khi Siêu, 41). Ngày nay Pht giáo thế gii quyết định ly năm 624 tr. Tây lch làm năm sinh ca đức Pht, và ly ngày rm tháng tư âm lch làm ngày đản sinh.
            Thân mu ca đức Pht là bà Maya, hoài thai mười tháng thì sinh ngài. Khi gn ngày sinh, bà v quê m để sinh con, nhưng khi đi đến vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), cnh thành Kapilavatthu thì sinh. Sau khi sanh được by ngày, thân mu ca đức Pht t thế. Bà dì ca Ngài là Mahapajapati Gotami nuôi nng ngài cho đến khi khôn ln.
Trưng B  Kinh III nói rng dây là ln th by đức Pht h sinh cõi đời này để cu độ qun sinh.
            1. Trong 91 kiếp trước, ngài là đức Thế tôn Vipassi ( T bà thi), thuc giai cp Sát Đế Li, danh tánh là Kondanna (Câu Ly Nhã). Lúc này tui th ca loài người là 80 ngàn năm. Ngài lp ba tăng hi, mt tăng hi 60 ngàn người, mt tăng hi 100 ngàn, và mt tăng hi 80 ngàn người.
2. Trong 31 kiếp v trước, tin thân là đức Thế tôn Sikki ( Thi Khí), dòng Sát Đế Li, danh tánh à Kondanna. Lúc này tui th ca loài người là 70 ngàn năm. Ngài lp ba tăng hi: mt tăng hi 100 ngàn người, mt tăng hi 80 ngàn người và mt tăng hi 70 ngàn người.
3.Trong 31 kiếp trước, Ngài là Thế tôn Vessabkhu
( T Bà Xá), giòng Sát Đế Li, danh tánh là Kondanna. Lúc này tui th ca loài người là 60 ngàn năm. Ngài lp ba tăng hi, mt tăng hi 80 ngàn, mt tăng hi 70 ngàn và mt tăng hi 60 ngàn.
4.Trong 31 kiếp trước, Ngài là Thế Tôn Kakunsandha ( Câu lâu tôn) dòng Bà La Môn, danh tánh là Kassapa, tui th loài người là 40 ngàn năm, ngài lp mt tăng hi 40 ngàn người.
5. Ngài là Thế tôn Konagamana ( Câu na hàm), dòng Bà La Môn, danh tánh là Kassapa (Ca Diếp), tui th loài người là 30 ngàn năm, ngài lp mt tăng hi 30 ngàn người.
6. Ngài là Thế tôn Kassapa ( Ca Diếp), tui th loài người là 20 ngàn, tăng hi ca Ngài có 20 ngàn.
7. Trong kiếp này, Ngài là thế tôn Thích Ca, dòng Sát Đế Li, danh tánh C Đàm, tui th loài người là 100 năm, tăng hi có 1250 t kheo ( Kinh Đi Bn, 15).
Thái t Tt Đạt Đa có 32 tướng quš. Có đạo sĩ đoán là nếu thái t xut gia s thành bc chánh đảng chánh giác, nếu ngài làm vua thì s thành bc Chuyn luân thánh vương, đem li an lc, hòa bình cho thế gii. Vua cha nghe li tiên đoán, lo s thái t s b nhà đi tu cho nên  đã  cho thái t hưởng mt cuc đời vương già để gi chân ngài. Năm 17 tui, Ngài kết hôn cùng công chúa x Kosala (Câu Tát La), tên là Yasothra ( Da du đà la). Ngài luôn trong cung cm, tuy nhiên, mt vài ln đi du ngon bên ngoài, Ngài đã thy được cuc sng thc.

Ln th nht, Ngài thy mt ông già lm khm. Ln th hai, Ngài thy mt bnh nhân nm rên r, ln th ba,   mt xác chết, và ln th tư, mt tu sĩ. Ngài bèn hi mc đích ca người  tu hành. T  đó , Ngài luôn luôn suy nghĩ. Ngài nhn thc rng sinh, lão bnh t là ni kh ca con người, cn phi tìm bin pháp chm dt. Lúc này, đứa con trai đầu lòng ca Ngài ra đời, Ngài đặt tên là Rahula (La hu la). Na đêm, Ngài cùng tên hu nga Channa b nhà ra đi tìm đường gii thoát. Lúc này, Ngài  29 tui. Khi ti bìa rng, Ngài ci b  y phc sang trng, đui tên hu nga tr v. Khi nghe tin thái t b cung đin đi tu, vua sai người đi tìm, song thái t vn gi vng lp trường. Sau cùng vua cha  bèn chp nhn š kiến để cho bn năm người ông  Kondana (Trn Kiu Như) theo thái t tu tp.
Trên đường cu đạo, thái t đã theo các bc đạo sư tu kh hnh. Có hai bc đạo sư ni danh thi by gi. Trước tiên, Ngài theo hc đạo sư Alara Kalama ( A la la ca lam), và v này đã dy ngài pháp môn vô s hu x thin. Ngài đã thành công nhưng ngài nhn thy phương pháp này không đưa đến gii thoát. Ngài bèn t giã đạo sư Alara Kalama mà đến hc đạo sư Udaka Ramaputta (Ut đà già ma la), và được truyn th pháp môn Phi tưởng phi phi tưởng x thin. Thái t cũng thành công nhanh chóng, song ln na, Ngài nhn thy pháp môn này không đưa đến gii thoát. Ngài bèn t giã bc đạo sưđến nước Magadha (Ma Kit đà), và trú ti vườn Uruvelu (Ưu lu tn loa). 

Nơi đây núi rng yên tĩnh mà cũng không xa dân chúng. Ban đầu Ngài tu kh hnh. Mc du thân th m yếu, Ngài vn không chng ng. Ngài bèn t b li tu kh hnh mà lp nên mt con đường khác là trung đạo. Li tu này không kh hnh nhưng cũng không theo dc lc. Lúc này, mt tín n tên là Sujata con gái ca Nandika chưởng binh Uruvela, dâng sa khuy vi mt ong. Ung xong, Ngài thy thân th khe mnh, tinh thn sáng sut. Ngài bèn xung sông tm ra, và cm bát đi kht thc. Bn năm người ông Trn Kiu Như thy đức Pht t b kh hnh, bèn t thái độ khinh khi,  rÒi h b đi nơi khác.
Trong khi n¢m ng, Ngài thy năm gic mng báo hiu Ngài sp chng được vô thượng chánh gi ác ng.
1.Ngài thy ly đất làm giường, Tuyết Sơn làm gi, tay trái nm bin đông, tay mt bin tây, hai chân bin nam.
2.  l‡ rún, c Tirya mc ra chm đến tri
3. Các sâu trng đầu đen bò ra t chân đến đầu gi và che kín c hai ch ân.
4. BÓn con chim màu s¡c khác nhau tØ bÓn hܧng
bay ljn ÇŠu rÖi xuÓng chân Ngài và trª thành tr¡ng toát.
5. Ngài Çi kinh hành trên m¶t hòn núi ÇÀy phân nhÜng Ngài không bÎ lÃm phân (Tæng Chi B¶ Kinh III, 203-204). 
Sau  49 ngày thiŠn ÇÎnh dܧi cây Tala (BÒ ñŠ), thái tº TÃt ñåt ña Çã giác ng¶. Ma vÜÖng bèn ljn quÃy phá, song Çã thÃt båi. Ngài Çi tØ sÖ thiŠn, lên nhÎ, tam, tÙ thiŠn và vô s¡c thiŠn. ñêm mÒng 8 tháng hai âm lÎch, Ngài Ç¡c Çåo, danh hiŒu là Thích Ca Mâu Ni PhÆt, vào tu°i Ç©i là 35 tu°i. PhÆt (Buddha) là  bÆc giác ng¶, là bÆc Çåi giác. Danh hiŒu này Çã có trong Bà La Môn giáo. NgÜ©i ta tôn xÜng ÇÙc PhÆt b¢ng nhiŠu danh hiŒu khác nhÜ NhÜ Lai (Tathagata), Th‰ Tôn. Khi Ngài thành Çåo, Ngài phân vân không bi‰t nên im l¥ng nhÆp Ni‰t Bàn hay ª låi cõi trÀn truyŠn bá chánh pháp. Lúc bÃy gi© ñåi Phåm Thiên (Brahma) và ñ‰ Thích (Indra) ª trên tr©i, bi‰t tâm š ÇÙc PhÆt nên hiŒn xuÓng trܧc m¥t ÇÙc PhÆt, cÀu xin vì chúng sinh mà thuy‰t pháp. 

Vì vÆy mà ÇÙc PhÆt quy‰t ÇÎnh Çi truyŠn chánh pháp. Ngài suy nghï ljn hai vÎ thÀy ÇÀu tiên, nhÜng h† Çã ch‰t. Ngài bèn nghï ljn truyŠn chánh pháp cho næm ngÜ©i ông TrÀn KiŠu NhÜ. Ngài bèn Çi ljn thành Bénares, tåi vÜ©n L¶c Uy‹n. MÃy vÎ này thÃy ÇÙc PhÆt Çi ljn, bèn bàn ÇÎnh së ngÒi im, không ÇÙng dÆy, không chào hÕi. NhÜng khi ÇÙc PhÆt låi gÀn, cä b†n h† ÇŠu ÇÙng dÆy chào hÕi, lÃy nܧc rºa chân và sºa soån ch‡ ngÒi cho ÇÙc PhÆt. ñÙc PhÆt bèn thuy‰t pháp cho h†. ñÃy là bu°i thuy‰t pháp ÇÀu tiên cûa ÇÙc PhÆt, mª ÇÀu cho tri‰t lš PhÆt giáo và thành lÆp giáo h¶i  PhÆt giáo ÇÀu tiên.






CHÐ÷NG  III
ñÙc phÆt Chuy‹n Pháp Luân 
và  lÆp giáo h¶I phÆt giáo

          Bu°i thuy‰t pháp ÇÀu tiên cûa ÇÙc PhÆt ÇÜ®c g†i là Chuy‹n pháp luân ( quay bánh xe pháp). Khi nghe ÇÙc PhÆt thuy‰t pháp, h† tÕ vÈ th© Ö. ñ‰n lÀn thÙ ba, h† m§i chú tâm nghe PhÆt giäng dåy. H† trª thành næm ÇŒ tº ÇÀu tiên cûa ÇÙc PhÆt. Bài thuy‰t pháp ÇÀu tiên mà ÇÙc PhÆt truyŠn giäng cho h† là thuy‰t trung Çåo, là con ÇÜ©ng tu tÆp do ÇÙc PhÆt sáng khªi. Thuy‰t này chû trÜÖng tránh xa hai c¿c Çoan, m¶t là khoái låc chû nghïa, và m¶t là kh¡c k› chû nghïa. Khi ÇÙc PhÆt chuy‹n pháp luân, ba ngàn th‰ gi§i chuy‹n Ƕng, chÜ thiên mØng vui. Sau næm ngày nghe thuy‰t pháp, næm ngÜ©i b†n ông TrÀn KiŠu NhÜ ÇŠu Ç¡c quä A La Hán.
            TØ Çó ÇÙc PhÆt Çi kh¡p nÖi Ç‹ truyŠn chính pháp. Ngài thÜ©ng ljn thuy‰t pháp tåi thành Rajagana (VÜÖng Xá ) nܧc Magadha (Ma kiŒt Çà), thành Vesali ( PhŒ Xá lÎ), thành Shavasti  (Xá VŒ) nܧc Kosala ( Câu Tát La) v. v. . . SÓ ÇŒ tº cûa ÇÙc PhÆt lên ljn 1250 vÎ, trong Çó có nh»ng vÎ n°i danh nhÜ :
-Sariputta ( Xá L®i PhÃt): ñåi trí tuŒ
- Maha Moggaliana ( ñåi Møc KiŠu Liên): ñåi thÀn thông.
-Maha Kassapa (ñåi Ca Di‰p): ñŒ nhÃt hånh ÇÀu Çà
-Upali (Ðu Bà Li): trì luÆt ÇŒ nhÃt
-Ananda ( A Nan): Ça væn.
-Anuruddha ( A na luÆt Çà): ÇŒ nhÃt thiên nhãn.
NgÜ©i ÇŒ tº cuÓi cùng ÇÜ®c ÇÙc PhÆt thu nhÆn là Suddbad- dha. Th©i PhÆt tåi th‰, có 500 ÇŒ tº Ç¡c quä A la hán.
            PhÆt giáo lan r¶ng trong ƒn ñ¶. Vua Pasehadi nܧc Kosala, vua Seniya Bimbisara nܧc Magadha Çã tôn kính ÇÙc PhÆt, do Çó tåi hai vÜÖng quÓc này, Çåo PhÆt månh nhÃt. Næm ÇÙc PhÆt th† 80 tu°i, tåi rØng cây Sala (song th†), ngoài thành Kusihara (Câu thi na), ÇÙc PhÆt tÎch diŒt. Trܧc khi nhÆp Ni‰t Bàn, ÇÙc PhÆt tóm t¡t cu¶c Ç©i cûa Ngài nhÜ sau:
Này Subhadda, năm 29 tuổi,Ta xuất gia hướng tìm chân, thiện, đạo. Trải 50 năm với thêm một năm.Từ khi xuất gia, này Subhadda, Ta là du sĩ tu trí, tu đức     (Trường Bộ Kinh 3, Kinh Đại Niết Bàn, 151A)
Trong gi© phút cuÓi cùng, ÇÙc PhÆt ân cÀn dåy bäo ÇŒ tº:
ñây là gi§i, Çây là ÇÎnh, Çây là tuŒ. ñÎnh cùng tu v§i gi§i së ÇÜa ljn quä vÎ l§n, l®i ích l§n. TuŒ cùng tu v§i ÇÎnh së ÇÜa ljn quä vÎ l§n. Tâm cùng tu v§i tuŒ së ÇÜa ljn giäi thoát hoàn toàn các món vô lÆu ho¥c, tÙc là døc lÆu, h»u lÆu ( tri ki‰n lÆu), vô minh lÆu ( TrÜ©ng B¶ Kinh III, 127)
Ngài khuyên các ÇŒ tº chuyên cÀn tu tÆp nh»ng pháp môn Ngài Çã giäng dåy:
Chính là bÓn niŒm xÙ, bÓn chánh cÀn, bÓn thÀn túc, næm cæn, næm l¿c, bäy bÒ ÇŠ phÀn, tám thánh Çåo phÀn, này các tÿ kheo, chính nh»ng pháp này do ta chÙng ng¶ và giäng dåy mà các ngÜÖi phäi khéo léo h†c hÕi, th¿c chÙng tu tÆp và truyŠn r¶ng Ç‹ phåm hånh ÇÜ®c trÜ©ng tÒn, vïnh cºu, vì hånh phúc cho chúng sinh, vì lòng thÜÖng tܪng cho Ç©i, vì l®i ích l§n, vì an låc cho loài ngÜ©i và loài tr©i (TrÜ©ng B¶ Kinh III,119B).

Tôn giä Ananda hܧng dÅn dân Malla ª Kusinara khâm liŒm ÇÙc PhÆt và hÕa táng Ngài m¶t cách tr†ng th‹:
RÒi nh»ng ngÜ©i Malla ª Kusinara vÃn tròn thân Th‰ Tôn v§i väi m§i. Sau khi vÃn väi m§i xong, låi vÃn thêm v§i väi gai bŒn. Sau khi vÃn väi gai bŒn, låi vÃn thêm v§i väi gai m§i, và ti‰p tøc nhÜ vÆy cho ljn næm træm l§p cä hai loåi väi. Ròi Ç¥t thân NhÜ Lai vào trong m¶t hòm dÀu b¢ng s¡t, Çây hòm s¡t này vào m¶t hòm s¡t khác, d¿ng lên m¶t dàn hÕa gÒm m†i hÜÖng và Ç¥t thân Th‰ Tôn trên dàn hÕa (TrÜ©ng B¶ Kinh III, Kinh ñåi Bát Ni‰t Bàn, 156-157).

Lúc bÃy gi© Ngài Maha Kassapa ( ñåi Ca Di‰p) và næm træm tÿ kheo Çang Çi gi»a ÇÜ©ng. Sau khi nghe tin Th‰ Tôn tÎch diŒt, các tÿ kheo than khóc. BÓn vÎ t¶c trܪng g¶i ÇÀu, m¥c áo m§i rÒi châm lºa dàn thiêu nhÜng lºa không cháy. Khi tôn giä Ca Di‰p và các tÿ kheo vŠ ljn ÇŠn Makuta Bandhana, choàng áo vŠ m¶t bên vai, chÃp tay, Çi nhiÍu phía tay phäi xung quanh dàn hÕa ba lÀn, cªi mª chân ra và cúi ÇÀu Çänh lÍ Th‰ Tôn. Khi ñåi Ca Di‰p và các tÿ kheo Çänh lÍ xong, dàn hÕa t¿ nhiên bÓc cháy.
NhÜ sanh tô hay dÀu bÎ cháy, tÃt cä cháy såch, không có tro, không có than. CÛng vÆy, khi thân Th‰ Tôn cháy, tØ da ngoài cho ljn da mÕng, thøt, dây gân hay nܧc gi»a kh§p xÜÖng, tÃt cä ÇŠu cháy såch, không có tro, không có than, chÌ có xÜÖng xá l®i còn låi. Và næm træm tÀng l§p väi gai bŒn, cä hai l§p trong nhÃt và ngoài nhÃt ÇŠu bÎ cháy thiêu. Khi thân Th‰ Tôn bÎ thiêu cháy xong, m¶t dòng nܧc tØ hÜ không chäy xuÓng tܧi t¡t giàn hÕa Th‰ Tôn, và m¶t giòng nܧc tØ kho nܧc (hay tØ cây sala) phun lên tܧi t¡t dàn hÕa Th‰ Tôn, và các ngÜ©i Malla ª Kusinara dùng nܧc v§i m†i loåi hÜÖng tܧi t¡t dàn hÕa Th‰ Tôn. 


RÒi các ngÜ©i Malla xÙ Kusinara Ç¥t xá l®i Th‰ Tôn trong giäng ÇÜ©ng, dùng cây thÜÖng àm hàng rào, dùng cây cung làm bÙc thành xung quanh, và trong bäy ngày tôn tr†ng, cung kính Çänh lÍ, cúng dÜ©ng v§i các ÇiŒu múa, hát, nhåc, vòng hoa, hÜÖng (nhÜ trên ).
            CuÓi cùng, xá l®i cûa ÇÙc PhÆt ÇÜ®c chia làm 8 phÀn, gºi ljn các nÖi Ç‹ lÆp tháp cúng dÜ©ng.
            ñÙc PhÆt ra Ç©i Çã mª ra m¶t k› nguyên m§i cho nhân loåi.  PhÆt giáo là m¶t tôn giáo l§n bÆc nhì tåi ƒn ñ¶ sau Bà La Môn giáo, và Çã truyŠn bá sang nhiŠu nܧc trên th‰ gi§i. ñåo PhÆt có nh»ng Ç¥c Çi‹m sau:
            -ñåo PhÆt thØa hܪng phÀn l§n Bà La Môn giáo sau này là ƒn ñ¶ giáo. Chính ÇÙc PhÆt trܧc Çó là thành viên cûa Bà La Môn giáo, và các ÇŒ tº cûa Ngài ÇŠu xuÃt thân tØ Bà La Môn giáo ho¥c các giáo phái khác ÇÜÖng th©i. Tuy nhiên, ÇÙc PhÆt Çã tåo ra m¶t ÇÜ©ng lÓi riêng khác v§i Bà La Môn giáo.
            -Bà La Môn giáo th© ThÜ®ng ñ‰, ÇÙc PhÆt không th© thÜ®ng lj vì Ngài quan niŒm thÜ®ng lj là vÎ chû t‹ m¶t cõi tr©i trong tam thÆp tam thiên th‰ gi§i. Sau m¶t th©i gian cai trÎ, thÜ®ng lj cÛng phäi ÇÀu thai trong løc Çåo luân hÒi. ñÙc PhÆt muÓn hoàn toàn thoát khÕi luân hÒi, nghïa là hܧng ljn cõi Ni‰t Bàn thanh tÎnh, là m¶t siêu cänh gi§i, cao hÖn løc Çåo luân hÒi. Ÿ Çây, ÇÙc PhÆt chû trÜÖng phÀn chính y‰u là t¿ l¿c Ç‹ Çåt giäi thoát, trong khi Bà La Môn và các tôn giáo chû trÜÖng cÀu khÄn thÀn linh.
            -ñÙc PhÆt chû trÜÖng trung Çåo, khác v§i ÇÜ©ng lÓi kh° hånh cûa Bà La Môn ƒn ñ¶.
            -ThiŠn có nguÒn gÓc ª Bà La Môn giáo, ÇÙc PhÆt ti‰p thu phÜÖng pháp ThiŠn cûa truyŠn thÓng ƒn ñ¶ song møc tiêu không phäi cÀu thÀn thông, hay vŠ cõi tr©i, mà cÀu chÙng ng¶ Ni‰t Bàn.
- ñÙc PhÆt chÓng låi  s¿ phân chia giai cÃp trong truyŠn thÓng ƒn ñ¶. Ngài tuyên bÓ con ngÜ©i trong xã h¶i ÇŠu bình Ç£ng (Trungbo 2, kinh Madhura)
-Khác v§i Bà La Môn giáo chuyên cÀu khÄn ThÀn linh, ÇÙc PhÆt  dåy các ÇŒ tº  Çåo ÇÙc và tu tÆp. Tri‰t lš cûa Ngài sâu xa và phong phú: TÙ diŒu lj, Bát chánh Çåo, ThÆp NhÎ Nhân Duyên. .  .  .  


 .

           
            CHÐ÷NG IV
 viŒc ki‰t tÆp kinh Çi‹n


Khi ÇÙc PhÆt tåi th‰, ƒn ñ¶ Çã có væn t¿. Khi ÇÙc PhÆt thuy‰t pháp, Ngài Ùng khÄu mà giäng giäi, không hŠ có s¿ biên soån, ghi chép. Sau này, chúng ÇŒ tº cÛng nh§ n¢m lòng theo truyŠn thÓng mà tøng džc, và cÛng không ai ghi chép.
          Sau khi ÇÙc PhÆt nhÆp diŒt, chÜ tæng Çã cùng nhau h¶i h†p Ç‹ tøng džc kinh Çi‹n. Có bÓn Çåi h¶i.
I. KIT TẬP I ( thế kỷ V trước Tây lịch)
Sau khi ÇÙc PhÆt tÎch diŒt 3 tháng, các Çåi ÇŒ tº Çã nghï ljn viŒc triŒu tÆp m¶t Çåi h¶i PhÆt giáo ÇÀu tiên Ç‹ tøng džc kinh Çi‹n. ViŒc này ÇÜ®c các sº sách PhÆt giáo g†i là kÿ ki‰t tÆp thÙ nhÃt, gÒm 500 vÎ A la hán ÇŒ tº cûa PhÆt, tåi Ƕng Saltapani, gi»a rØng Migradha gÀn thành  Radjargriha (VÜÖng Xá). Các vÎ trܪng lão A la hán này Çã tôn  Ngài ñåi Ca Di‰p làm h¶i chû tæng h¶i. Ngài ñåi Ca Di‰p cº tôn giä Ananda ÇÙng ra trông coi viŒc sÜu tÆp l©i PhÆt dåy thành b¶ kinh tång (Sutra); cº Upali trông coi viŒc thu thÆp nh»ng gi§i luÆt mà ÇÙc PhÆt Çã quy ÇÎnh thành b¶ LuÆt tång (Vinaya), còn Ca Di‰p t¿ chû trì viŒc giäi thích Çåo lš trong kinh Çi‹n, mà thành b¶ LuÆn tång (Ahbidharma). 

Ba b¶ Kinh tång, LuÆt tång và LuÆn tång ÇÜ®c g†i là tam tång kinh Çi‹n ( Tripitaka) cûa PhÆt giáo. Sau bäy tháng làm viŒc, công cu¶c trùng tøng kinh Çi‹n Çã thành t¿u tÓt ÇËp. Theo Phan Væn Hùm, cÛng vi‰t r¢ng cu¶c ki‰t tÆp lÀn ÇÀu ÇÜ®c t° chúc vài  tháng sau khi PhÆt tÎch diŒt ( 39). ñiŠu này có lë Çúng vì PhÆt nhÆp Ni‰t Bàn næm 80 tu°i, mà Ca Di‰p cÛng l§n tu°i, và Ç‹ lâu thì  m†i ngÜ©i quên h‰t. HÖn n»a, theo lŒ do truyŠn thÓng ƒn ñ¶, các ÇŒ tº h¢ng ngày phäi tøng džc kinh Çi‹n, nhÃt là vào ngày r¢m và mÒng m¶t hàng tháng, trong lÍ Uposatha (B Tát trai gi§i), phäi tÆp h†p Ç‹ tøng džc kinh Çi‹n và gi§i b°n. ñÙc PhÆt Çã dåy chÜ tæng:
-Này các tÿ kheo! Các pháp do ÇÜ®c nghe b¢ng tai, do tøng džc b¢ng l©i, do š quan sát, do ki‰n khéo th‹ nhÆp có bÓn l®i ích ÇÜ®c ch© Ç®i (Tæng Chi b¶ kinh I,327-328)

-Này các tÿ kheo, bän tøng džc này gÒm hÖn 150 h†c gi§i, cÀn phäi džc nºa tháng m¶t lÀn. Ÿ Çây, các thiŒn nam tº muÓn ÇÜ®c l®i ích, h†c tÆp bän tøng džc Ãy (Tæng Chi B¶ Kinh, 267.)
            Th©i ÇÙc PhÆt tåi th‰, Ngài thÜ©ng sai Xá L®i PhÃt và Ananda nh¡c låi các bài giäng cûa ÇÙc PhÆt ( TrÜ©ng B¶ Kinh IV, kinh Phúng tøng, kinh ThÆp thÜ®ng, kinh T¿ hoan hÌ ). ViŒc này Çã h»u ích cho viŒc ki‰t tÆp sau này.
II. KIT TẬP II ( Thế kỷ IV trước tây lịch)


Sau  cuộc kiết tập lần thứ nhất 100 næm, các trܪng lão låi tÆp h†p lÀn thÙ hai do trܪng lão Yaga ( cÛng vi‰t là Yasa) làm chû t†a. Ngài ljn Vesali, thÃy các sÜ vùng này sÓng buông thä,  nhÜ chÃp nhÆn tiŠn båc, trái v§i gi§i luÆt cûa ÇÙc PhÆt. Ngài là m¶t vÎ cao tæng, có tu°i th† l§n nhÃt là 165 tu°i, ÇÎa di‹m là thành Vesali, gÒm 12.000 tæng sï ( Thích Quäng Liên, 22-23).  CÛng có tài liŒu ghi là Çåi h¶i có 700 tæng sï ( Phan Væn Hùm, 30-31).

 Cu¶c ki‰t tÆp này ÇÜa ljn nhiŠu bÃt ÇÒng š ki‰n, gây ra vài vn đề tranh cãi v gii lut, có 10 điu mi phát sinh: Diêm tnh, ch tnh, t lc gian tnh, tr x tnh, tùy š tnh, cu tr tnh, sinh hòa hip tnh, bt ích lũ ni sư đàn tnh, thy tnh, kim tin tnh. Nhng v cho 10 điu trên là phi pháp đã tách riêng thành Thượng ta b, nhng v ch trương thc hin 10 điu ci cách thì tách riêng thành Đại chúng b . Tuy vÆy, hai phái  vÅn sº døng kinh đin và vn duy trì bng phương thc đọc tng thuc lòng ch không viết thành văn. Đây là ln kiết tp kinh đin th hai.Tæng chúng chia làm hai phái. M¶t phái là ThÜ®ng t†a b¶ (Sthaviras) gÒm các thành phÀn bäo thû) , và ñåi chúng b¶ ( Mahasamghikas) gÒm nh»ng thành phÀn cÃp ti‰n.
           
III. KIT TẬP III (250 tr.tây lịch)

ñ‰n Ç©i vua Asoka ( A Døc) (274-227BC)[1], nhà vua là ngÜ©i sùng bái Çåo PhÆt, Çã xây d¿ng nhiŠu chùa chiŠn, bäo tháp, và ra lŒnh cho các tæng sï Çi ra nܧc ngoài truyŠn bá PhÆt pháp. Do Çó Çåo PhÆt phát tri‹n månh. Vào næm thÙ 18, tåi thành Pataliputta ( nay là Patna), dܧi s¿ bäo tr® cûa nhà vua, cu¶c ki‰t tÆp lÀn thÙ ba ÇÜ®c t° chÙc gÒm m¶t ngàn trܪng lão, do Ngài Moggaliputta Tissa  chû t†a. ñåi h¶i làm viŒc trong 9 tháng Çã hoàn thành ba tång kinh Çi‹n nhÜng cÛng chÌ ª trong tình trång khÄu truyŠn. Ln kiết tp kinh đin th ba vào khong năm 200 đến 234 năm sau khi Đức Pht nhp Niết-bàn. Lúc này, hai b phái chính là Thượng ta và Đại chúng sn sinh ra nhiu b phái, gm khong 20 b phái. Giáo lš được gii thích tùy theo khuynh hướng ca b phái.

 Lúc này, Đại Thiên (Mahadeva), mt hc gi Pht t khá ni tiếng đã đưa ra 5 điu gii hn ca qu v a-la-hán:  A la hán  còn m¶ng tinh, còn nghi, còn phäi h†c, thi‰u ki‰n thÙc, còn than van (Dư s d, vô tri, do d, tha linh nhp và đạo nhân thanh c khi ). Ý ki‰n này làm mi người hoang mang vì tÜ tܪng cûa ông và Bà La Môn giáo Çã Çi vào PhÆt giáo, pha tr¶n v§i PhÆt giáo. Vua A-dc quyết định triu tp đại hi Pht giáo dưới s ch ta ca ngài Moggalipputta Tissa (Mc-kin-liên Đế-tu), thy ca vua A-dc. K này gi là ln kiết tp th ba, chn chnh li s pha tp trong giáo lš. Thượng ta b lúc by gi được gi là Phân bit thuyết b (Vibhajyavada), được vua A-dc đỡ đầu và ng h mnh m. Phân bit thuyết b là cha đẻ ca Đồng dip b, chính Đồng dip b (Tamrasatiyah) đã kiết tp 5 b Nikàya rt đầy đủ

IV. KIT TẬP IV ( 30 tr.tây lịch-100 sau tây lịch)

Mt h phái khác khá mnh cũng phát xut t Thượng ta b là phái Thuyết nht thiết hu b (Sarvastivada) không được vua A-dc ng h vì h ch trương lun lš hơn là kinh lut. H chuyn dn lên Đông bc n, đặt căn c địa ti Ca-thp-di-la (Kasmira), dn dn h truyn bá chánh pháp toàn cõi biên cương phía Bc và sang các nước lân cn. 
Sau khi vua A Døc bæng, các triŠu Çåi sau khûng bÓ PhÆt giáo. Mãi ljn Ç©i vua Kanishka (Ca ni s¡c ca), PhÆt giáo m§i phøc hÜng. Vua thÜ©ng m©i chÜ tæng vào cung thuy‰t giäng, nhÜng vua thÃy chÜ tæng lš luÆn khác nhau, tÜ tܪng khác nhau bèn hÕi  Hi‰p tôn giä ( Parsva). VÎ này giäi thích r¢ng PhÆt giáo có nhiŠu b¶ phái khác nhau cho nên m‡i b¶ phái có giáo lš, giáo nghïa khác nhau.Vì vÆy nhà vua có š ÇÎnh h®p nhÃt các phái b¢ng triŒu tÆp ki‰t tÆp kÿ tÜ . 

Nhà vua tÆp h†p 500 vÎ cao tæng, tinh thông tam tång kinh Çi‹n, h†p tåi tinh xá Hoàn Lâm (Kundalavana- samagharama) nܧc Kasmitra Ç‹  ki‰t tÆp tam tång. Ngài  Vasumitra (Th‰ H»u) chû trì Çåi h¶i, gÒm các danh tài nhÜ Dharmatrata (Pháp CÙu), Ghosa (DiŒu Âm ), Budhadeva (Giác Thiên ), và Parsva ( Hi‰p tôn giä). VŠ niên Çåi kÿ ki‰t tÆp này, nhiŠu tài liŒu nói khác nhau, là 400, 500 hay 600 næm sau ngày PhÆt tÎch diŒt (Thích Thanh Ki‹m, LÜ®c Sº PhÆt Giáo ƒn ñ¶, 107-111). CÛng có thuy‰t nói ln kiết tp kinh đin th tư  xäy vào khong đầu thế k th II sau Tây lch.  ñåi h¶i thu thÆp ÇÜ®c thành quä tÓt ÇËp:
            -Kinh tång : 10 vån bài tøng
            -LuÆt tång: 10 vån bài tøng.
            -LuÆt tång: 10 vån bài tøng.
TÃt cä 30 vån bài tøng, 660 vån l©i. TÃt cä ÇŠu ÇÜ®c kh¡c in vào bän ÇÒng, trܧc sau phäi 12 næm m§i hoàn thành. Sau khi công viŒc hoàn tÃt, tam tång kinh Çi‹n ÇÜ®c cÃt trong m¶t bäo tháp m§i xây. It lâu sau, kinh tång và luÆt tång bÎ thÃt låc, chÌ còn phÀn chú thích LuÆn tång.
NhÜ Çã trình bày, kÿ ki‰t tÆp III Çã sÜu tÆp næm b¶ Nikàya. Năm b Nikàya này được hoàng t Mahinda sau khi xut gia đem khu truyn Tích Lan, cho đến khi mt đại hi kiết tập  khác được tổ chc ti Tích Lan làng Aluvihata.
NhÜ vÆy là có hai Çåi h¶i IV. Đây là ln đầu tiên  tng Pàli được chép bng ch trên lá buông vào năm 83 trước Tây lch. Ln này cÛng ÇÜ®c gi là ln kiết tp kinh đin th tư (Kinh tng Nikàya).
Các tài liŒu chÌ nói ljn bÓn kÿ ki‰t tÆp. Riêng phái  PhÆt giáo Nguyên Thûy ( Theravada) , vÓn thu¶c ThÜ®ng T†a b¶  có hai Çåi h¶i n»a:
·         -ñåi h¶i 1871 ( Çåi h¶i 5): t° chÙc tåi Madalay Mi‰n ñiŒn du§i triŠn Mindon có møc Çích xem låi các kinh Çi‹n do ÇÙc PhÆt truyŠn dåy, kinh nào bÎ bÕ sót hay Çem lÅn vào. ñiŠu này thÆt s¿ khó th¿c hiŒn.
·         -ñåi h¶i 1954 (Çåi h¶i 6), t° chÙc tåi Kaba Aye ª Yangon, vÓn là  Rangoon næm  1954,  83 næm sau Çåi h¶i 5 tåi Madalay.
Kinh tång Pali là kinh cûa Nguyên Thûy PhÆt giáo, vÓn ÇÜ®c truyŠn khÄu, ÇÜ®c chép tay vào kÿ ki‰t tÆp thÙ tÜ vào th‰ k› thÙ nhÃt tru§c tây lÎch, sau ÇÜ®c ngÜ©i Anh sÜu tÀm và do h¶i The Pali Text Society dÎch Anh ng»,  ljn th‰ k› 19 m§i ÇÜ®c in, và nay thì Çã ÇÜ®c vào chÜÖng trình ÇiŒn toán.
Trܧc th©i ÇÙc PhÆt, ngÜ©i ta Çã dùng væn t¿ chép kinh Çi‹n Bà La môn. Trong các kinh Çi‹n PhÆt giáo, các vÎ Bà la môn ÇÜ®c mô tä là nh»ng ngÜ©i thông hi‹u kinh Çi‹n, væn phåm (Trung B¶ Kinh II.ThÜÖng già kinh 168A) Và th©i PhÆt tåi th‰, ngÜ©i ta Çã chÖi trò ÇÓ ch» (TrÜ©ng B¶ Kinh I, Kinh Phåm võng, 6). Theo W.Durant, khoäng th‰ k› thÙ 8 hay 9 trܧc công nguyên, các thÜÖng nhân ƒn ñ¶ Çã Çem tØ Tây Á thÙ ch» Sémitique Ç‹ tåo ra mÅu t¿ ƒn ñ¶. Và trong nhiŠu th‰ k›, væn t¿ chÌ ÇÜ®c dùng trong thÜÖng måi và hành chánh ( LÎch sº Væn Minh ƒn ñ¶, NguyÍn Hi‰n Lê dÎch, 66), 
Sanskrit là ngôn ng» cûa dân Népal và ƒn ñ¶, và là væn t¿ cûa ƒn ñ¶ giáo, PhÆt giáo và m¶t sÓ tôn giáo khác. Khªi ÇÀu  Sanskrit  tØ 1700 trܧc tây lÎch trong kinh Veda, là ngôn ng» cûa Indo-Aryan. ñ‰n th‰ k› 18, ch» Sanskrit ÇÜ®c  Latin hóa các mÅu t¿. Væn t¿ Sankrit ra Ç©i trܧc, sau Çó m§i xuÃt hiŒn ch» Pali, cÛng là væn t¿ xÙ ƒn ñ¶ và Nepal. Theo T.W. Rhys Davids trong sách Buddhist India, và Wilhelm Geiger trong sách "Pali Literature and Language", ch» Pali  Çã ÇÜ®c dùng vào th©i PhÆt giáo. M¶t sÓ h†c giä cho r¢ng ch» Pali xuÃt hiŒn vài th‰ k› trܧc khi kinh tång Pali ra Ç©i. Kinh tång Pali ÇÜ®c truyŠn ª PhÆt giáo nguyên thûy (Theravada), và theo m¶t sÓ nhà khäo cÙu, kinh Pali ÇÜ®c chép vào th‰ k› thÙ nhÃt trܧc tây lÎch (T¿ Çi‹n Wikipedia).

ñåo PhÆt ra Ç©i sau Çåo Bà La môn cho nên kinh Çi‹n cÛng chÌ m§i ÇÜ®c chép sau khi PhÆt tÎch diŒt. M¶t sÓ h†c giä cho r¢ng kinh tång PhÆt giáo ÇÜ®c chép ª th‰ k› thÙ ba trܧc tây lÎch k› nguyên, nghïa là phäi ba træm næm sau khi ÇÙc PhÆt nhÆp Ni‰t Bàn, kinh Çi‹n PhÆt giáo, b¶ Pali kinh Çi‹n m§i ÇÜ®c ghi chép. B¶ này m¶t phÀn ÇÜ®c truyŠn qua Trung Hoa là các b¶ A Hàm, nhÜng phÀn l§n  b¶ kinh Pali bÎ mai m¶t, gÀn Çây m§i ÇÜ®c tìm thÃy và do cô  L. B. Horner cûa h¶i Pali Text Society và các vÎ khác, nht là các sa môn dÎch ra Anh ng». 

               



 CHÐ÷NG V
CÁC TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO

            Sau kÿ ki‰t tÆp thÙ ba khoäng 200 næm, tÙc là sau khi ÇÙc PhÆt tÎch diŒt 500 næm, b¶ Bát Nhã Ba La MÆt ña (Prajna Paramita Sutra ) ra Ç©i, gÒm 600 quy‹n không bi‰t tác giä là ai, lÃy l©i PhÆt dåy  Subhuti (Tu BÒ ñŠ)  vŠ không tính.  Trong th©i Çåi Kanishka, m¶t danh tài xuÃt hiŒn là ngài Asvaghosa ( Mã Minh). NhiŠu tài liŒu khác nhau vŠ Mã Minh. Có tài liŒu nói Ngài ÇÒng th©i v§i Hi‰p tôn giä, chính Mã Minh Çã tham d¿ kÿ ki‰t tÆp IV, Çäm trách viŒc nhuÆn s¡c væn chÜÖng. Mã Minh là tác giä cûa nhiŠu b¶ sách kinh, luÆn, gÒm 100 b¶, hiŒn nay còn 8 b¶:
-          PhÆt Hånh Sª Tán, 5 quy‹n.
-          ñåi Trang Nghiêm LuÆn Kinh,   15 quy‹n.
-          ThÆp BÃt ThiŒn NghiŒp ñåo Kinh, 1 quy‹n.
-          Løc Thú Luân Hòi Kinh, 1 quy‹n.
-          S¿ sÜ pháp ngÛ thÆp tøng, 1 quy‹n.
-          Ni KiŠn Tº VÃn Vô K‰ Ngã Nghïa Kinh, 1 q.
-          ñåi Tôn ñÎa HuyŠn Væn bän LuÆn, 20 q.
-          ñåi ThØa Khªi Tín LuÆn, 1 quy‹n.
Thích Thanh Ki‹m cho bi‰t có nhiŠu thuy‰t vŠ Mã Minh. Có thuy‰t nói Ngài thu¶c Ti‹u ThØa, thuy‰t khác nói ñåi ThØa. Có thuy‰t nói Ngài sinh trܧc Tây lÎch k› nguyên, có thuy‰t låi nói sau tây lÎch (114-121).
Ÿ Çâu, con ngÜ©i cÛng có nhiŠu loåi khác nhau vŠ tÜ tܪng, ki‰n thÙc và có những tham, sân, si, ngã mạn... ñÙc PhÆt Çã thÃy rõ ÇiŠu này khi Ngài trä l©i Thiên chû Sakka khi Thiên chû hÕi PhÆt:
-Båch Th‰ Tôn, có phäi tÃt cä các vÎ sa môn, Bà la môn ÇÒng m¶t tÜ tܪng, m¶t gi§i hånh, ÇÒng m¶t mong cÀu, ÇÒng m¶t chí hܧng?
-Này Thiên chû, tÃt cä sa môn, Bà la môn không ÇÒng m¶t tÜ tܪng, không ÇÒng m¶t gi§i hånh, không ÇÒng m¶t mong cÀu, không ÇÒng m¶t chí hܧng.
-Båch Th‰ Tôn, vì sao tÃt cä sa môn, Bà la môn không ÇÒng m¶t tÜ tܪng, không ÇÒng m¶t gi§i hånh, không ÇÒng m¶t mong cÀu, không ÇÒng m¶t chí hܧng?
-Này Thiên chû, th‰ gi§i này có nhiŠu loåi gi§i, nhiŠu gi§i sai biŒt. Trong th‰ gi§i gÒm nhiŠu loåi gi§i , nhiŠu gi§i sai biŒt.này, các h»u tình t¿ nhiên thiên chÃp m¶t loåi gi§i nào, và khi thiên chÃp Çã thành kiên trì, cÓ thû v§i ÇÎnh ki‰n ‘ñây là s¿ thÆt, ngoài ra là si mê’’. Do vÆy tÃt cä sa môn, Bà la môn không ÇÒng m¶t tÜ tܪng, không ÇÒng m¶t gi§i hånh, không ÇÒng m¶t mong cÀu, không ÇÒng m¶t chí hܧng.
-Båch Th‰ Tôn, có phäi tÃt cä các vÎ sa môn, Bà la môn ÇÒng m¶t cÙu cánh,  không ÇÒng  m¶t an °n, không ÇÒng m¶t møc Çích?
-Này Thiên chû, tÃt cä các vÎ sa môn, Bà la môn không ÇÒng m¶t cÙu cánh,  không ÇÒng  m¶t an °n, không ÇÒng m¶t møc Çích.
-Båch Th‰ Tôn, vì sao tÃt cä các vÎ sa môn, Bà la môn không ÇÒng m¶t cÙu cánh,  không ÇÒng  m¶t an °n, không ÇÒng m¶t møc Çích?
-Này Thiên chû, chÌ nh»ng vÎ sa môn, Bà la môn nào Çã giäi thoát tham ái, nh»ng vÎ Ãy m§i ÇÒng m¶t cÙu cánh,  ÇÒng  m¶t an °n,  ÇÒng m¶t phåm hånh,  ÇÒng m¶t  møc Çích. Do vÆy, tÃt cä vÎ sa môn, Bà la môn không ÇÒng m¶t cÙu cánh,  không ÇÒng  m¶t an °n, không ÇÒng m¶t phåm hånh, không ÇÒng m¶t møc Çích.
( TrÜ©ng B¶ Kinh III, Kinh ñ‰ Thích sª vÃn, 236)
                Ÿ Çâu có con ngÜ©i, dù là chÓn tu hành  là có  trí tuệ khác nhau, kiến thức khác nhau, ý kiến khác nhau, và có ngã mån, có ganh tÎ, ghen ghét. Ngay th©i ÇÙc PhÆt tåi th‰, Ngài Çã nhìn thÃy s¿ phân hóa trong lòng các sa môn. Do Çó ÇÙc PhÆt Çã dåy các tÿ kheo tôn tr†ng lÅn nhau, sÓng trong hòa h®p:
Nhưng đây, này chư Hin, có nhng T-kheo chuyên tâm v Pháp, ch tán thán các T-kheo chuyên tâm v Pháp, không tán thán các T-kheo tu Thin. Và đây, các T-kheo chuyên tâm v Pháp không được hoan h; các T-kheo tu Thin không được hoan h. Hành đông như vy không đưa li hnh phúc cho nhiu người, an lc cho nhiu người, không đưa li li ích, hnh phúc, an lc cho chư Thiên và loài Người.
Nhưng đây, này chư Hin, có nhng T-kheo tu Thin ch tán thán các T-kheo tu Thin, không tán thán các T-kheo chuyên tâm v Pháp. Và đây, các T-kheo tu Thin không được hoan h; các T-kheo chuyên tâm v Pháp không được hoan h. S hành như vy không đưa li hnh phúc cho nhiu ngui, an lc cho nhiu người, không đưa li li ích, hnh phúc, an lc cho chư Thiên và loài người.
"Chúng ta là nhng người chuyên tâm v Pháp, chúng ta s tán thán các T-kheo tu Thin ". Này chư Hin, chư Hin cn phi hc tp như vy. Vì c sao? Tht vy, này chư Hin, các người vi diu y khó tìm được đời, nhng người cm giác bt t gii vi thân và an trú.  Do vy, này chư Hin, cn phi hc tp như sau: "Chúng ta là nhng người tu thin, chúng ta s tán thán các T-kheo chuyên tâm v Pháp". Này chư Hin, chư Hin cn phi hc tp như vy. Vì c sao? Tht vy, này chư Hin, các người vi diu y khó tìm được đời, nhng người vi trí tu th nhp và thy con đường thâm sâu hướng dn đến đích.
(Tæng Chi Bộ kinh, chÜÖng 6 Sáu pháp, phÄm chÜ thiên)
NhÜ Çã trình bày ª trên, trong kÿ ki‰t tÆp kÿ hai Çã hình thành hai phái ThÜ®ng T†a và ñåi Chúng. Sau Çó låi phân ra khoäng 20 b¶ phái.  Lúc này, PhÆt giáo Çã phát tri‹n ra ngoài ƒn ñ¶. M¶t khÓi ª phía  nam ƒn ñ¶ qua các nܧc Tích Lan, Mi‰n ñiŒn, Thái Lan, Cao Miên, Lào. Phái này ÇÜ®c g†i là Nam PhÜÖng PhÆt giáo. Phái này chû trÜÖng triŒt Ç‹ tuân thû ÇÜ©ng lÓi cûa PhÆt giáo th©i PhÆt tåi th‰. Phái này  có danh hiŒu là PhÆt giáo Nguyên Thûy. Phái này lÃy kinh tång Pali làm kinh Çi‹n. M¶t phái khác, truyŠn vŠ B¡c ƒn ñ¶ qua các nܧc Trung Hoa, ViŒt Nam, NhÆt Bän, TriŠu Tiên, Mông C°. Gia thế k th I trước công nguyên đến thế k th I sau công nguyên, hai thut ng Đại tha (Mahayana) và Tiu tha (Hinayana) xut hin trong tác phÄm ñåi ThØa Khªi Tín LuÆn cûa Mã Minh, và Diu Pháp Liên Hoa Kinh (Saddharma pundarika sutra).
Khong thế k th II sau công nguyên, chi tha" dn dn được định nghĩa rõ ràng hơn. Ngài Long Th† (Nagarjuna) phát huy triết hc đại tha v tánh Không và trong mt bn kinh nh được người ta gi là Trung lun thuyết (Madhyamika-karika, còn gi là Trung quán lun) chng minh rng vn pháp đều rng không. Khong thế k th IV, Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu ) sáng tác mt s tác phm v kinh đin Đại tha.  H† ÇÜ®c g†i là B¡c phÜÖng PhÆt giáo còn h† t¿ xÜng là ñåi ThØa, và g†i Nam PhÜÖng PhÆt giáo là Ti‹u ThØa. H† dùng kinh Çi‹n m§i, vi‰t b¢ng Sanskrit. Ngài Long Th† vÓn dòng Bà La Môn, giÕi thiên væn, ÇÎa lš. Ngài quê ª nܧc Vidharbha ( Tÿ ñåt Bà), thÜ©ng truyŠn bá PhÆt pháp tåi Kosala (KiŠu TÃt La). Sau Ngài Long Th† m¶t træm næm, xuÃt hiŒn nhiŠu tài næng nhÜ Vô Trܧc, Th‰ Thân, TrÀn Na, Thanh BiŒn, H¶ Pháp, Trí Quang, Gi§i HiŠn. .  thu¶c ñåi ThØa.
            Sau khi ÇÙc PhÆt tÎch diŒt, PhÆt giáo Çã phát tri‹n thành nhiŠu tông phái. 
I. CÂU XÁ TÔNG
Th‰ Thân ( Vasubandhu) là m¶t Çåi sÜ ª th‰ k› IV, V, Çã vi‰t b¶ Câu Xá LuÆn. B¶ này lÃy nghïa ª sách Mahavibhasa Catra mà soån thành. Tên cûa nó là Kosa
( kho vàng), rút tØ ch» Abhidharmakosa ( A tÿ Çåt ma câu xá luÆn). Nh»ng ÇŒ tº cûa ngài lÃy quan Çi‹m cûa Câu Xá LuÆn làm tôn chÌ nên ÇÜ®c g†i là Câu Xá Tông. Næm 563, Ngài Paramartha ( ChÖn ñ‰) ngÜ©I ƒn ñ¶ Çã dÎch b¶ A Tÿ ñåt Ma Câu Xá LuÆn ra ch» Hán, sau Ngài HuyŠn Trang dÎch låi lÀn n»a. Ngày nay phái này không còn.



II. THàNH THẬT TÔNG
         
Tông phái này ÇÒng th©i v§i Câu Xá Tông. Khoäng th‰ k› IV, Ngài Ha Ly Båt Ma ( Harivarman) soån b¶ Thành ThÆt LuÆn ( Satya Siddhi Catra) rút š nghïa tØ Tam tång kinh Çi‹n. ñ‰n th‰ k› V, Ngài CÜu Ma La ThÆp dÎch ra ch» Hán. Ba ngàn ÇŒ tº cûa Ngài trì tøng và giäng truyŠn b¶ này, lÆp ra phái Thành ThÆt luÆn. Câu Xá và Thành ThÆt chÓng ÇÓi nhau. Câu xá luÆn cho bän ngã hÜ dÓi, chÌ có pháp tÒn tåi. Còn phái Thành ThÆt cho bän ngã và pháp ÇŠu hÜ dÓi.
III. LUẬT TÔNG

           
Tông phái này lÃy LuÆt tång làm cæn bän trong Ç©i sÓng tu hành. Tông này do ñåo Tuyên chû xܧng ª th‰ k› VII. Ông hiŒu Nam SÖn, ngÜ©i Ç©i ñÜ©ng.
IV. PHÁP TÐNG TÔNG
           
Tông này do  các ngài Vô Trܧc (Asangha), Th‰ Thân ( Vasubandha) và H¶ Pháp  (Dharmapala) lãnh Çåo, lÃy Thành Duy ThÙc LuÆn làm gÓc, cho r¢ng vån vÆt do thÙc mà bi‰n ra. ñÀu th‰ k› VII, Ngài HuyŠn Trang dÎch Duy ThÙc LuÆn và ra sÙc quäng bá h†c thuy‰t Duy ThÙc.
V. TAM LUẬN TÔNG
           
Tông này tôn Long Th† ( Nagarjuna) làm t° sÜ. Ngài sinh khoàng th‰ k› 2, vi‰t nhiŠu b¶ luÆn. Hai b¶ luÆn cûa Ngài là Trung Quán LuÆn ( Madhyamaka Castra), ThÆp NhÎ Môn LuÆn (Dvadaga Nikaya Castra) và b¶ Bách LuÆn
( Cata Castra) cûa ñŠ Bà ÇÜ®c coi là nŠn täng cûa LuÆn tông. Theo Trung LuÆn, h»u và không cùng h‡n h®p. Trung Çåo là ra ngoài chÃp h»u chÃp không.
VI. HOA NGHIÊM TÔNG
           
Mã Minh (th‰ k› I), Long Th† (th‰ k› II) Çu®c tôn là t° sÜ cûa tông này. TÜÖng truyŠn Long Th† Çã xuÓng Long cung thÌnh ÇÜ®c kinh Hoa Nghiêm, và tông này lÃy kinh Hoa Nghiêm làm cæn bän. Ngài Giác HiŠn ( Bud- dhhabhadra) tØ ƒn ñ¶ sang dÎch kinh này næm 418 tåi thành Ki‰n XÜÖng.  ñåo Tuyên (Do Sen) là t° Hoa Nghiêm tông tåi NhÆt.

VII. THIÊN THAI TÔNG
            Tông này Ç¥t cÖ sª tåi núi Thiên Thai nên ÇÜ®c g†i là tông Thiên Thai. NgÜ©i sáng lÆp là ñåi sÜ Trí Khäi (538-597), ngÜ©i Ç©i Tùy. Kinh này lÃy DiŒu Pháp Liên Hoa Kinh làm cæn bän, nên cÛng g†i là Pháp Hoa Tông. Th¿c ra Trí Khäi chÌ là ÇŒ tam t°, nhÜng ÇÜ®c tôn xÜng vì có công lao nhiŠu.
VIII. CH÷N NGÔN TÔNG
Tông này cÛng có tên là MÆt Tông. Tông này là s¿ k‰t h®p gi»a PhÆt giáo và Tân Bà La Môn giáo ( ƒn ñ¶ giáo), møc Çich dùng uy l¿c PhÆt và BÒ Tát cÙu Ƕ chúng sinh. MÆt Tông cæn cÙ vào b¶ ñåi NhÆt Kinh xuÃt hiŒn th‰ k› VII ª Nam ƒn. CuÓi th‰ k› VII, Kim CÜÖng ñính Kinh xuÃt hiŒn, cho nên Tông này có tên là Kim CÜÖng ThØa.Tông này lÃy ñåi NhÆt NhÜ Lai ( Mahavairocana) tÙc PhÆt Thích Ca làm giáo chû. ñåi NhÆt NhÜ Lai truyŠn cho Kim Cang Tát Trøy ( Vajrasata), Kim Cang Tát Trøy truyŠn cho Long Th†, Long Th† truyŠn cho Long Trí (Na-gabodhi), Long Trí truyŠn cho Kim Cang Trí (Vajrabodhi).
ix. THI“N TÔNG
           
Tông này lÃy PhÆt Thích làm giáo t°, Ca Di‰p làm t° thÙ nhÃt. BÒ ñŠ ñåt Ma ( Bodhidharma) ngÜ©i Nam ƒn ñ¶ ÇÜ®c coi là khai t° ThiŠn Tông Trung QuÓc. ThiŠn Tông Trung QuÓc truyŠn tØ ñåt Ma, HuŒ Khä, Tæng Xán, ñåo Tín, Ho¢ng NhÅn, HuŒ Næng. Tông phái này truyŠn sang ViŒt Nam do Tÿ Ni ña LÜu Chi và Vô Ngôn Thông.

X. TÎNH ñ¶ TÔNG
         
Chúng ta không bi‰t rõ tông này phát xuÃt tØ Çâu. Tåi Trung QuÓc, ViÍn công, th‰ k› VII, và ª NhÆt, Pháp Nhiên ( Ho nen) th‰ k› VIII ÇÜ®c xem là t° sÜ. Ngày nay, các h†c giä nhÆn ÇÎnh  có ba tông phái chính:
            -1.Nam phÜÖng PhÆt giáo, trong Çó l§n nhÃt là PhÆt giáo nguyên thûy.
2-B¡c phÜÖng PhÆt giáo, có ThiŠn Tông, TÎnh ñ¶ Tông và Liên Hoa tông.
3. MÆt tông: tåi Tây Tång, là Kim CÜÖng ThØa.

Chúng tôi muÓn nói rõ hÖn vŠ s¿ phân phái trong PhÆt giáo. S¿ phân phái này là tình trång chung cûa các tôn giáo. Thi k Pht giáo Nguyên thy cho đến thi k B phái (sau Đức Pht 400 năm) chưa có danh t Đại tha hay Tiu tha. Danh t Đại tha và Tiu tha xut hin đồng thi vi kinh đin Đại tha khong thế k th I trước hoc sau Tây lch.  S¿ sai lÀm này còn tÒn tåi trong các tØ Çi‹n,  các tác phÄm nghiên cÙu và kinh Çi‹n. Năm 1950, Hi Pht T Thân Hu Thế Gii (World Fellowship of Buddhists, WFB) hp ti Colombo (Tích Lan) đã nht trí quyết ngh loi b danh t Tiu tha khi nói đến Nam tông Pht giáo.

 Ta nên hi‹u giáo lš được phân làm hai truyn thng: Truyn thng Nguyên thy và truyn thng Phát trin. Ta cÛng có th‹ g†i phái này là PhÆt giáo Cäi Cách, hay Tân PhÆt giáo. V mt địa lš, truyn tha thì gi là Pht giáo Bc tông và Pht giáo Nam tông. S dng t ng Nguyên thy và Phát trin nói lên tính xuyên sut ca cây đại th, giáo lš đạo Pht, mà phn gc, r là Nguyên thy; phn thân ngn cành lá là Phát trin. Nguyên thy và Phát trin ( Cäi Cách, Tân PhÆt giáo) c hai b sung cho nhau. Ngày nay, ngÜ©i tu h†c nên džc cä hai loåi kinh Çi‹n Ç‹ có m¶t cái nhìn thông suÓt theo tinh thÀn trung Çåo. Các t° sÜ Ç©i trܧc Çã tìm ra nh»ng con ÇÜ©ng nhÜng chính h† cÛng Çi xa nguÒn c¶i PhÆt giáo, nhÃt là sau khi ÇÙc PhÆt tÎch diŒt, tÜ tܪng Bà La Môn låi tràn ngÆp trong PhÆt giáo, mà m¶t sÓ Çåi sÜ cÛng tØ Ba La Môn Çi vào PhÆt giáo, mang nh»ng hành trang Bà La Môn giáo. Chúng ta phäi tìm džc và suy luÆn ch§ tin theo truyŠn thÓng, tin theo kinh Çi‹n, vì kinh Çi‹n có loåi chép sai, dÎch sai, hay do Ç©i sau sáng tác. Ta cÛng không nên tin theo Çåo sÜ cûa mình vì thÀy ta cÛng có th‹ thiên ki‰n, sai lÀm.  ñÙc PhÆt Çã dåy:
Này các Kàlàmà, ch có tin vì nghe báo cáo, ch có tin vì nghe truyn thuyết; ch có tin vì theo truyn thng; ch có tin vì được kinh đin truyn tng; ch có tin vì nhân lý lun siêu hình; ch có tin vì đúng theo mt lp trường; ch có tin vì đánh giá hi ht nhng d kin; ch có tin vì phù hp vi định kiến; ch có tin vì phát xut t nơi có uy quyn, ch có tin vì v Sa-môn là bc đạo sư ca mình. 
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào t mình biết rõ như sau: "Các pháp này là thin; Các pháp này là không có ti; Các pháp này được người có trí tán thán; Các pháp này nếu được thc hin, được chp nhn đưa đến hnh phúc an lc", thi này Kàlàmà, hãy chng đạt và an trú! Ðiu đã được nói lên như vy, chính do duyên như vy được nói lên. (Tæng Chi B¶ III, PhÄm nhÕ 3.65)
Mc dù truyn thng Nguyên thy và Phát trin, hay Cäi Cách có nhng khác biŒt, vÅn có nhng đim tương đồng quan tr†ng sau:
-C hai đều nhìn nhn Đức Pht Thích-ca Mâu-ni là bc Đạo sư.
-C hai đều chp nhn và hành trì giáo lš T thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khi...; đều chp nhn pháp n Kh, Không, Vô ngã; đều chp nhn con đường tu tp: Gii-Định-Tu.
- C hai đều t chi v mt đấng ti cao sáng to và ng tr thế gii.
Tuy nhiên, Çi sâu vào n¶i dung và hình thÙc các kinh tång, ta thÃy gi»a l©i PhÆt và l©i chÜ t° có khác nhau, m¶t bên giän dÎ, m¶t bên khò hi‹u. 
Tóm li, Kinh tng Nguyên thy là kinh tng ghi chép li nhng li Pht và Thánh chúng mt cách đầy đủ nht, tÜÖng ÇÓi trung thành v§i l©i ÇÙc PhÆt dåy bu°i ban sÖ. Kinh tng này mang tính thiết thc gn gũi vi tâm lš con người và s sinh hot ca xã hi. Đây là cơ s giáo lš mà chúng ta ly làm nn tng cho mi nghiên cu, thc tp và nht là hiu mt cách đúng đắn tư tưởng đạo Pht phát trin. 



chÜÖng vi

PHẬT GIÁO TRÊN THẾ GIỚI

K‹ tØ khoäng sau tây lÎch, PhÆt giáo Çã truyŠn bá sang nhiŠu quÓc gia, nhÃt à tåi Á châu. Ngày nay, m¶t sÓ ngÜ©i Âu MÏ cÛng theo PhÆt giáo và nghiên cÙu PhÆt giáo. Sau Çây chúng tôi xin trình bày sÖ lÜ®c vài nét vŠ các quÓc gia theo PhÆt giáo.
i. ƒn ñ¶
TØ th‰ k› thÙ 8 trª Çi, PhÆt giáo tåi ƒn ñ¶ suy vi vì nhiŠu lš do nhÜng lš do chính là s¿ xâm læng và tàn phá cûa HÒi giáo.V§i møc Çích xây d¿ng m¶t lj quÓc HÒi giáo, và vì lš tܪng phát tri‹n nܧc Chúa, ngÜ©i HÒi Çã tiêu diŒt nh»ng tôn giáo không thu¶c HÒi giáo, trái v§i chû trÜÖng tØ bi, bác ái cûa ThÜ®ng ñ‰. Ngày nay ƒn ñ¶ có khoäng bÓn triŒu tín ÇÒ trong khi dân sÓ ƒn ñ¶ 400 triŒu. Ngày nay, tåi ƒn ñ¶ còn có nhiŠu di tích PhÆt giáo nhÜ L¶c Uy‹n (Migadana), BÒ ñÒ Çåo tràng ( BuÇha-gaya), trÜ©ng Çåi h†c Nalanda, Kÿ Viên tinh xá.

            Ngay th©i ÇÙc PhÆt tåi th‰, Ngài Çã dåy các ÇŒ hãy Çi các nÖi truyŠn giäng chánh pháp:
 "Này các T-kheo, hãy đi cùng khp, vì hnh phúc cho đại chúng, vì an lc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hnh phúc, vì li ích, vì an lc cho loài Người, loài Tri. Chđi hai người cùng mt ch. Này các T-kheo, hãy thuyết ging chánh pháp, sơ thin, trung thin, hu thin, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vn toàn. Hãy nêu rõ đời sng phm hnh hoàn toàn thanh tnh. Có nhng chúng sanh ít nhim bi đời, nếu không được nghe chánh pháp s b nguy hi. Nếu được nghe, s thâm hiu chánh pháp. C sáu năm, hãy đến ti kinh đô Bandhumati để tng đọc gii bn". (TrÜ©ng b¶ Kinh I, Kinh ñåi B°n)
Không rõ th©i này, có sa môn ÇŒ tº nào cûa ÇÙc PhÆt Çã ra khÕi biên cÜÖng ƒn ñ¶ Ç‹ truyŠn PhÆt pháp chÜa. ñ‰n Ç©i A Døc vÜÖng ( khoäng th‰ k› 3 tr.TL), nhà vua m§i hå lŒnh cho các sa môn truyŠn bá Çåo PhÆt ra th‰ gi§i bên ngoài.

ii.  T´CH LAN
VÎ Çåo sÜ ÇÀu tiên ljn Tích Lan là Mahinda. Con gái A Døc vÜÖng là Sanghamitta Çã mang m¶t nhánh cây bÒ ÇŠ nÖi ÇÙc PhÆt thành Çåo vŠ trÒng tåi Tích Lan. TØ Çây PhÆt giáo tåi Tích Lan phát tri‹n månh. PhÆt giáo Tích Lan ÇÜ®c g†i là ñåi Tinh Xá T¿ phái (Mahavihara) hay g†i t¡t là ñåi T¿ phái, thu¶c ThÜ®ng T†a B¶ (Theriya-Nykayan). 
Sau PhÆt giáo Tích Lan thành lÆp ba giáo Çoàn khác nhau. PhÆt giáo Tích Lan trܧc Çây vÅn theo phÜÖng thÙc tøng džc, ljn triŠu vua Vatthagamani-Abhaya ( Vô Úy vÜÖng), th‰ k› I trܧc tây lÎch, các kinh Çi‹n m§i ÇÜ®c chép b¢ng ch» Pali. ñ‰n th‰ k› V, ngài Buddhaghoso (PhÆt Âm) tØ Trung ƒn sang Tích Lan nghiên cÙu, và chú thích kinh Çi‹n, sau låi có ngài   Dhammapala (H¶ Pháp) sang ti‰p tøc công viŒc này. Dân sÓ Tích  Lan 9 triŒu, PhÆt giáo 5 triŒu.

III.  MIN ñIỆN
           
Tåi Mi‰n ñiŒn, PhÆt giáo cÛng  ÇÜ®c truyŠn bá vào th©i A Døc vÜÖng. Mi‰n ñiŒn chÎu änh hܪng cûa phái NhÃt Thi‰t H»u B¶. ñ‰n th‰ k› V, ThÜ®ng T†a B¶, rÒi MÆt giáo cÛng truyŠn vào Mi‰n ñiŒn. Mi‰n ñiŒn có 19 triŒu dân, PhÆt giáo 16 triŒu.
           
IV. THÁI LAN
PhÆt giáo truyŠn vào Thái Lan vào th©i vÜÖng triŠu Sukhotai (1238-1406), chÎu änh hܪng ThÜ®ng t†a b¶. Næm 1361, vua Thái Lan Suriyavamsa Rama phái sÙ thÀn sang Tích Lan cÀu giáo lš ñåi T¿ Phái và suy tôn PhÆt giáo làm quÓc giáo. Dân sÓ Thái Lan khoäng 20 triŒu, PhÆt giáo 15 triŒu.

V. TÂY TẠNG
PhÆt giáo truyŠn vào Tây Tång khoäng th‰ k› thÙ ba, nhÜng chính thÙc là th©i vua Sron btsan sgame (569-650). Nhà vua còn sai sÙ thÀn sang ƒn ñ¶, Trung QuÓc thÌnh kinh. Sau th©i Çåi Sron btsan sgame Khri Ide bstan (755-781), MÆt Tông truyŠn vào Tây Tång. Nh© s¿ c¶ng tác v§i chÜ tæng ƒn ñ¶, Tây Tång có b¶ ñåi Tång kinh Tây Tång. Khoäng th‰ k› IX, Ngài Rin -chènbran- po qua Nepal h†c MÆt giáo rÒi vŠ nܧc truyŠn bá MÆt giáo. ñ‰n th‰ k› XIV, Ngài Tson Khaapa tÙc Tôn Kha Ba   (1357-1419), là ngÜ©i Cam Túc Çã soån b¶ ‘’BÒ ñŠ ñåo ThÙ ñŒ LuÆn’’, ‘’Chân Ngôn ThÙ ñŒ LuÆn’’, lÆp ra ‘’phái MÛ Vàng’’( Hoàng Måo phái), lÆp chùa Dgah Idan Ö Çông b¡c thû Çô Lhasa. 

 Trܧc  khi viên tÎch,  Tôn Kha Ba Çã kš chúc  cho hai Çåi ÇŒ tº là ñåt Lai Låt Ma và Ban ThiŠn Låt Ma, hai vÎ này Ç©i Ç©i chuy‹n sinh. Dân chúng xem hai vÎ này là PhÆt sÓng. ñåi Lai Låt Ma cÛng là vua cûa Tây Tång. TØ Ç©i Låt Ma thÙ VI, Tây Tång thÜ©ng bÎ xâm læng, các Låt Ma phäi trÓn tránh ra ngoåi quÓc. VÎ Låt Ma thÙ VI vì nhà Thanh áp bÙc phäi trÓn qua Mông C°. VÎ Låt Ma thÙ VIII bÎ quân Anh xâm lÜ®c phäi qua Mông C° sau vŠ Lhasa nhÜng bÎ quân TÙ Xuyên tràn vào phäi chåy qua ƒn ñ¶. VÎ Låt Ma hiŒn nay là Ç©i XIV, tên là Chamo Todrup , sinh ngày 6-6-1935 tåi Amo, tÌnh Thanh Häi ( Tainghai), là m¶t tÌnh giáp Trung QuÓc,  bΠ Trung c¶ng xâm lÜ®c phäi tœ nån tåi ƒn ñ¶.

VI. TRUNG QU–C
PhÆt giáo tåi Trung QuÓc rÃt månh. Có nhiŠu thuy‰t vŠ viŒc truyŠn bá PhÆt giáo tåi Trung QuÓc. Có lë vào niên hiŒu Nguyên Th† nguyên niên (2 tr.TL), Ç©i Ai ñ‰ nhà Hán, sÙ thÀn nܧc ñåi Nhøc Chi là Y TÒn Çem PhÆt giáo truyŠn cho TrÀn Cänh Hiên. CÛng có thuy‰t cho r¢ng niên hiŒu Vïnh Bình thÙ 10 (67 TL) Ç©i Minh ñ‰ nhà HÆu Hán næm mÖ thÃy ngÜ©i vàng r¿ r« ª phÜÖng Tây bèn sai Thái Hâm, TÀn Cänh, VÜÖng TuÃn, cä b†n 18 ngÜ©i, qua Tây V¿c thÌnh tÜ®ng PhÆt. 

Gi»a ÇÜ©ng b†n Thái Hâm g¥p  Ca Di‰p Ma ñ¢ng ( Kasyapamayanga) và Trúc Pháp Lan. ( Dharmaraksa) täi kinh và tÜ®ng PhÆt b¢ng ng¿a tr¡ng Çi vŠ phÜÖng Çông, bèn m©i hai vÎ vŠ Trung QuÓc. Khi hai ngài t§i Trung QuÓc, Minh ñ‰ tôn kính h†, lÆp chùa Båch Mã là ngôi chùa ÇÀu tiên tåi Trung QuÓc Ç‹ hai ngài dÎch kinh Çi‹n. Hai ngài Çã dÎch b¶ ‘’TÙ ThÆp NhÎ ChÜÖng Kinh’’; Riêng Trúc Pháp Lan dÎch   ‘’ThÆp ñÎa ñoån K‰t Kinh’’, 8 quy‹n, ‘’Pháp Häi Tång Kinh’’ , 1 q;  PhÆt Bäo Hånh Kinh’’ 5 q;  ‘’PhÆt Bän Sinh Kinh ‘’,  1 q;v. .v.. TØ Çó vŠ sau, chÜ tæng ƒn ñ¶ thÜ©ng ljn Trung QuÓc truyŠn bá PhÆt pháp. Nh»ng vÎ sÜ n°i danh th©i kÿ này là  Bud- dhasimha ( PhÆt ñÒ TrØng), Kumarajiva (CÜu Ma La ThÆp), Dharmaraksa (ñàm Vô SÃm), Buddhabhadra  (PhÆt ñà Båt ñà La), Bodhidharma (BÒ ñŠ ñåt Ma).
 CÜu Ma La ThÆp là ngÜ©i Khâu TÜ (Kucha) và qua các nܧc Tây V¿c h†c PhÆt, bÎ nhà TÀn b¡t vŠ Trung QuÓc. Ngài ª TrÜ©ng An dÎch nhiŠu b¶ kinh, trong Çó có:
             -Ma Ha Bát Nhã Ba La MÆt ña Kinh, 27 q.
             -Kim CÜÖng Bát Nhã Ba La MÆt ña Kinh, 1q.
             -DiŒu Pháp Liên Hoa Kinh, 7 q.
             - Duy Ma CÆt Sª Thuy‰t Kinh, 3 q.
              -Thû Læng Nghiêm Tam Mu¶i Kinh, 3 q.
              -ñåi Trí ñ¶ LuÆn,  100q.
              -Trung LuÆn, 4 q.
               -Bách LuÆn,  2 q.
               -Thành Th¿c LuÆn,   20 q.     

VII. TRI“U TIÊN
         
PhÆt giáo truyŠn vào TriŠu Tiên th©i Tam  QuÓc (372-668). Lúc này TriŠu Tiên gÒm ba nܧc Cao CÀu Ly, Bách T‰ và Tân La. Cæn cÙ b¶ Tam QuÓc Sº Kš, PhÆt giáo truyŠn sang Cao CÀu Ly vào th©i vua Ti‹u Thú Lâm næm thÙ hai (372), vào Bách T‹ th©i vua ChÄm LÜu nguyên niên (384), và truyŠn ljn Tân La th©i vua Pháp HÜng thÙ 5 (528). ñ©i ñông TÃn, TÃn vÜÖng Phù Kiên sai sÜ ThuÆn ñåo Çem kinh Çi‹n và tÜ®ng PhÆt cho vua Ti‹u Thú Lâm. Sau Çó 13 næm (384), ngài Ma La Nan ñà, ngÜ©i ƒn ñ¶ Çem PhÆt giáo tØ ñông TÃn truyŠn t§i Bách T‰ vào th©i vua ChÄm LÜu. Sau Çó khoäng 40 næm Ç©i Thánh Minh vÜÖng, PhÆt giáo hÜng thÎnh, vua sai sÙ thÀn và sÜ sãi truyŠn PhÆt giáo sang NhÆt Bän. ñó là th©i vua Kemmei Tenne ( Khâm Minh Thiên hoàng) næm thÙ 13 (552). ñ©i ñÜ©ng, ba nܧc thÓng nhÃt thành TriŠu Tiên. Các h†c giä n°i danh  nhÜ Nguyên Hi‹u (618-686), Nghïa TÜÖng pháp sÜ (625-702) Çã sang nhà ñÜ©ng h†c PhÆt. H†c giä Nguyên Hi‹u Çi nºa ÇÜ©ng, n¢m ngû m¶ ÇÎa, uÓng nܧc suÓi cÀm hÖi mà ng¶ Çåo. Ngài trª vŠ nghiên cÙu và chú thích 90 b¶ kinh.

VIII. NHẬT BẢN

         
PhÆt giáo truyŠn ljn PhÆt giáo khoäng th‰ k› VI. Vào Ç©i Khâm Minh Thiên hoàng næm thÙ 13 (552), khoäng tháng 10, vua nܧc Bách T‰ ( TriŠu Tiên) là Thánh Minh vÜÖng sai sÙ thÀn là TÜ Trí Khi‰t mang tÜ®ng PhÆt Thích Ca b¢ng ÇÒng và kinh Çi‹n PhÆt giáo ljn cÓng. CÛng có thuy‰t nói trܧc Çó Ç©i K‰ Th‰ Thiên hoàng næm thÙ 16 (?), có ngÜ©i nhà ñÜ©ng tên là TÜ Mã ñåt ChÌ Ç‰n NhÆt Bän, lÆp m¶t thäo am th© PhÆt. Lúc bÃy gi© Thánh ñÙc thái tº nhi‰p chính, là m¶t nhà væn hóa, m¶ Çåo PhÆt Çã khuy‰n khích dân chúng th© PhÆt. 
Ngài h†c PhÆt v§i sÜ HuŒ TØ ngÜ©i TriŠu Tiên, tinh thông Nho h†c, Çã giäi thích ba b¶ kinh trong sáu næm, tØ 609 ljn 615, là các b¶ Th¡ng Man Kinh, Phap Hoa Kinh và Duy Ma Kinh. Ngài cÛng cho nhiŠu phái Çoàn sang Trung QuÓc h†c Çåo, ljn khi h† thành tài, trª vŠ, Ngài cho lÆp nh»ng viŒn nghiên cÙu giáo lš nhà PhÆt. PhÆt giáo NhÆt Bän liên låc mÆt thi‰t v§i Trung QuÓc và TriŠu Tiên tåo nên m¶t nŠn hòa bình tåi vùng này.

IX. VIÊT NAM
           
ViŒt Nam ª trên trøc giao thông Hoa ƒn. Ban ÇÀu các sÜ ƒn ñ¶ sang ViŒt Nam truyŠn Çåo, và ngÜ©i ViŒt Nam cÛng Çã sang ƒn ñ¶ tu h†c. TruyŒn ñàm Thiên pháp sÜ có chép viŒc vua Cao T° nhà Tùy r¢ng vua muÓn xây chùa d¿ng tháp ª Giao Châu, và ûy thác sÜ tuy‹n l¿a tæng tài Ç‹ ÇÜa sang Giao Châu truyŠn pháp. SÜ trä l©i:
Cõi Giao Châu có ÇÜ©ng thông sang Thiên Trúc gÀn hÖn ta. Khi PhÆt giáo chÜa nhÆp vào ÇÃt Giang ñông ta, mà cõi Ãy Çã xây d¿ng ÇÜ®c hÖn 20 ng†n bäo tháp, Ƕ ÇÜ®c hÖn 500 tæng sï, dÎch ÇÜ®c 15 b¶ kinh rÒi. Vì vÆy, bên Ãy gÀn nܧc PhÆt hÖn ta. Bãy gi© Çã có các vÎ Maha Kÿ V¿c, KhÜÖng Tæng H¶i, Chi CÜÖng LÜÖng và Mâu Bác ljn truyŠn Çåo. .  . Ngài muÓn bÓ thí m¶t cách bình Ç£ng phái chÜ tæng sang truyŠn Çåo, nhÜng ª Çó h† có Çû rÒi, ta không cÀn phäi sang n»a ( Thích MÆt Th‹, 64-65).

Tài liŒu cûa DÜÖng Quäng Hàm cÛng nhÜ Cao Tæng truyŒn sai lÀm khi cho r¢ng Mâu Bác và Khang Tæng H¶i ljn ViŒt Nam truyŠn Çåo. S¿ th¿c cä hai ljn ViŒt Nam h†c PhÆt.
KhÜÖng Tæng H¶i ngÜ©i nܧc Transoxiane, thu¶c giÓng Khang CÜ (Sodiane), ti‹u sº Ngài cÛng nhÜ ñàm Thiên ÇÜ®c chép trong Cao Tæng TruyŒn, do HuŒ Håo soån næm 519. T° tiên Ngài sÓng tåi Thiên Trúc, thân phø ngài sang Giao Châu buôn bán. Khi ngài lên mÜ©i, thân phø mÃt, Ngài xuÃt gia ÇÀu PhÆt, thông hi‹u tam tång kinh Çi‹n và giÕi væn chÜÖng ( TrÀn Væn Giáp, 54). Mâu Bác ÇÒng th©i v§i KhÜÖng Tæng H¶i. Theo Pelliot, Mâu Bác sinh khoäng 165-170, khi Hán Linh ñ‰ mÃt, ông và mË chåy qua Giao Châu, ljn næm 26 tu°i trª vŠ ThÜÖng Ngô lÃy v®. Ông thông thåo Nho, Lão, PhÆt, vi‰t Mâu Tº Lš Ho¥c. (TrÀn Væn Giáp, 56). Theo Thích MÆt Th‹, Mâu Bác sang Giao Châu nghiên cÙu PhÆt pháp ( 70).
 PhÆt giáo truyŠn sang Trung Hoa vào Ç©i Hán nhÜng th©i Tam QuÓc, PhÆt giáo tåi  Çây còn sÖ sài, KhÜÖng Tæng H¶i m§i sang Çây truyŠn giáo và xây chùa chiŠn ( TrÀn Væn Giáp, 53).
Sº sách cho bi‰t có nhiŠu vÎ sÜ ƒn ñ¶ sang ta tØ th‰ k› II, III nhÜ:
1. Ma Ha Kÿ V¿c: ( Mahajivaka). Cao Tæng truyŒn cÛng ÇŠ cÆp ljn Ngài. SÜ có phép thÀn thông. Ngài  theo ÇÜ©ng bi‹n ljn Phù Nam, Giao Châu, Quäng Châu. Ngài ljn Låc DÜÖng vào niên hiŒu Vïnh Bình thÙ tÜ (294TL),  rÒi trª vŠ ƒn ñ¶.
                2. Khâu ñà La: (Kaudra)
            Theo Báo C¿c TruyŒn, ông ljn Giao Châu  vào th©i Hán Linh ñ‰ cùng  v§i Ma Ha Kÿ V¿c.
            3. Chi CÜÖng LÜÖng ( Kalaruci) :
            Vì phiên âm khác nhau, ông còn ÇÜ®c ghi là CÜÖng LÜÖng Lâu Chí,  Chi CÜÖng LÜÖng Ti‰p. Theo Pelliot, ông ngÜ©i Nhøc Chi. Theo TrÀn Væn Giáp, sÜ Çã ljn Giao Châu khoäng 255-256 trên ÇÜ©ng tØ ƒn ñ¶ sang Trung Hoa.
            Th©i gian sau, m¶t sÓ nhà sÜ ViŒt Nam sang ƒn ñ¶ nghiên cÙu PhÆt pháp và sang Trung Hoa thuy‰t pháp. Sau Çó, änh hܪng PhÆt giáo Trung Hoa truyŠn sang ViŒt Nam.




          
  TØ trܧc ljn nay, PhÆt giáo Çå bÎ bách håi các các th‰ l¿c ngoåi bang xâm lÜ®c và Ƕc tài. Tuy vÆy, PhÆt giáo cÛng ÇÜ®c các h†c giä Tây phÜÖng chú š. PhÆt giáo Çã có nh»ng mÓi giao häo và phát tri‹n v§I Châu Âu và châu MÏ.
Ngày nay, nhiŠu ngÜ©i Âu MÏ Çã chú š ljn PhÆt giáo.  Trܧc Çây, m¶t nhà báo MÏ, ñåi tá  Henry Steele Olcott Çã thành lÆp H¶i PhÆt giáo tåi New York, rÒi ông qua Tích Lan, ƒn ñ¶, thành lÆp h¶i Thanh Niên PhÆt giáo Tích Lan, sáng lÆp PhÆt giáo hiŒp h¶i tåi Colombo. Ngày 17-2-1909, ông mÃt, ngÜ©i Tích Lan lÃy ngày này k› niŒm Olcott.  Chính Olcott tåi Srit Lanska ch‰ ra c© PhÆt giáo gÒm næm màu vào næm 1880. Næm 1881, ông T.W. Rhys Davids  lÆp H¶i Væn bän Pali  Ç‹ nghiên cÙu và dÎch các kinh Çi‹n PhÆt giáo vi‰t b¢ng væn t¿  Pali ra Anh ng»
            Lúc bÃy gi© tåi Tích Lan có trܪng lão Tÿ kheo Hikkaduwe Sri Sumangura Çã thi‰t lÆp PhÆt H†c viŒn ‘’Vidyodaya Pirivena’’ và h†c giä Anagarika Dharmapala là ngÜ©i Çã c¶ng tác v§i Çåi tá Olcott trong viŒc chÃn hÜng
PhÆt giáo, lo trùng tu các PhÆt tích ª ƒn ñ¶, và sáng lÆp h¶i  ‘’Maha Bodhi’’ Ç‹ chÃn hÜng PhÆt giáo tåi ƒn ñ¶. Næm 1950, bác sï Malalasekera, giáo sÜ Çåi h†c Tích Lan Çã Çi
nhiŠu nܧc, vÆn Ƕng thành lÆp viŒc thÓng nhÃt PhÆt giáo th‰ gi§i. H¶i nghÎ PhÆt giáo th‰ gi§i ÇÀu tiên ÇÜ®c triŒu tÆp 
vào tháng 5- 1950, gÒm Çåi bi‹u 29 nܧc h†p tåi chùa  ‘’Ræng PhÆt’’, tÌnh Candy, cách Colombo khoäng 150km Ç‹ thành lÆp h¶i PhÆt H†c Th‰ Gi§i ( The World Fellowship of Buddhists) vi‰t t¡t là WFB.




CHƯƠNG VII

 TRIẾT HỌC VÀ TÔN GIÁO


Viết về một triết lý, một tôn giáo đã là khó khăn huống hồ bàn về các triết lý và tôn giáo lại là việc vô cùng to lớn . Triết lý thì nhiều, tôn giáo thì đông đảo, tuy nhiên giữa triết lý và các tôn giáo vẫn có cái riêng, cái chung, và những thuộc tính cần thiết.Vì vậy ở đây chúng tôi chỉ nói sơ lược vài vấn đề để độc giả thấy mối tương quan giữa các triết lý và tôn giáo.

I. TRIẾT HỌC

          Vấn đề tôn giáo là một vấn đề quan trọng, đã tốn nhiều giấy mực và thời giờ giảng giải, tranh luận.Ở đây, chúng ta thử xem xét sự khác biệt giữa triết học và tôn giáo. Triết học theo quan niệm Trung Hoa là do chữ Triết có nghĩa là mổ xẻ, phân tách, và chữ Khẩu: miệng nói, là giảng giải, bàn luận, lý luận. Còn chữ Học là nghiên cứu, học tập, làm theo, bắt chước. Triết học tức là một bộ môn nhằm phân tách, mổ xẻ sự vật để tìm hiểu ngọn nguồn , rồi truyền dạy cho mọi người hiểu rõ và thực hành trong cuộc sống.
Triết học là môn học luận lý có tính cách mổ xẻ, phân tích làm cho sáng tỏ từng vấn đề như quan niệm nho gia là “cách vật trí tri” là ngành học nhằm nghiên cứu những vấn đề về vũ trụ vạn vật. Nhưng cách vật trí tri là bao gồm cả khoa học cho nên thời Pháp thuộc có môn Cách Trí dạy về khoa học thường thức. Dẫu sao, triết học xưa hiện nay chỉ là nghiên cứu tinh thần, còn nghiên cứu về vật chất và xã hội thì thuộc khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Theo tự điển Wikipedia, triết học là bộ môn nghiên cứu các vấn đề tổng quát và căn bản như là sự hiện hữu, kiến thức, giá trị, lý luận, tinh thần ,ngôn ngữ. Từ ngữ triết học xuất phát từ chữ Hy Lạp φιλοσοφία (philosophia) nghĩa là sự khôn ngoan.Tự điển này cho biết có nhiều ngành triết học như là siêu hình học, nhận thức luận, luân lý, lý luận, triết học về ngôn ngữ, triết học luật, triết học về tinh thần, triết học về tôn giáo, và triết học về khoa học (2). Phật giáo bao gồm siêu hình học, nhận thức luận, đạo đức học, tinh thần và tôn giáo. Như vậy, Phật giáo là một triết lý.Dù Marx có xưng xe rằng triết học của ông là Duy Vật, là khoa học, nhưng thực sự cũng chỉ là một lý thuyết chính trị, ở ngoài vật chất, và hoàn toàn phản khoa học. Quan điểm triết học của Đông Phương cũng gần ý nghĩa chữ Philosophie của Tây phương. Ở Ấn Độ, triết học lại có một định nghĩa khác: Minh tri, minh giác. Tất cả tư tưởng triết học đều bắt nguồn từ kinh Védas có nghĩa là khoa học, thiêng liêng và thánh trí. Mục đích của nó tương tự như ở Phật giáo là đưa người ra khỏi cái vô minh (avidyà) để đến cõi giác: giải thoát (apavargah).

II. TÔN GIÁO
Có nhiều định nghĩa về tôn giáo. Triết học khác với các môn khác là do lý luận, và hệ thống hóa mà thành và còn do việc nghiên cứu, thảo luận của lý trí. Còn tôn giáo hay đạo (tiếng Anh: “religion” và “religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên - xét trên một cách thức nào đó, đó là một phương cách để giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con người.
Religion vốn gốc ở chữ Latinh religionem (nom. religio) nghĩa là tôn kính những cái gì thiêng liêng, những cái gì thuộc thần thánh, hoặc mối liên hệ giữa người và thần thánh. Theo Ciceron, tôn giáo nghĩa là lựa chọn, quan sát kỹ lưỡng. Thời trung cổ, nói đến tôn giáo tức nói đến giáo hội . Theo Max Muller, nguồn gốc Anh ngữ chữ "religion" là ở chữ Latin religio, nghĩa là tôn kinh, thượng Đế hay quỷ thần, là quan tâm đến những vấn đề thiêng liêng và lòng nhân từ. (Wikipedia)

Theo định nghĩa trên, Phật giáo có nói lục đạo, niết bàn, luân hồi là đề cập đến những vấn đề thiêng liêng, đến quỷ thần , đến từ bi bác ái cho nên Phật giáo đích thực là một tôn giáo. Tôn giáo đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục. Theo quan niệm trên và nhận xét thực tế, một tôn giáo thường có những điều kiện sau:
-Giáo chủ
-Kinh điển
-Thờ cúng, nghi thức
-Tin ngưỡng
-Tín đồ.
Theo Đông Phương, Tông giáo 宗敎 nghĩa là một đường lối giáo dục, tạo cho con người trở thành thánh thiện. Cũng có một danh từ khác là Đạo , đạo là con đường lớn. Hai danh từ này có ý nghĩa này rất rộng rãi.Như vậy, triết học thiên về lý tính, còn tôn giáo thiên vè niềm tin, kinh điển và lễ nghi.
Khi nói đến tôn giáo tức là chỉ cho những đoàn thể có ít nhiều tổ chức về hình thức lễ nghi, có tính cách biểu thị sự liên lạc giữa người và thần linh, bao trùm một nghĩa sợ sệt và tôn kính. Ngoài ra lại còn giải thích chữ tôn giáo với những giáo điều...
Tự điển Wikipedia trong khi định nghĩa tôn giáo đã đưa ra một bản thống kê các tôn giáo gồm vài chục tôn giáo trên thế giới như là Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Do Thái giáo, Bà La môn, Bahá'í , Khổng giáo, Thần Đạo.. . Nhiều tài liệu nói đến số tín đồ của các tôn giáo. Các tài liệu nói khác nhau nhưng tài liệu cuối thế kỷ XX thì cho rằng dân số thế giới gần bảy tỷ. Một số cho rằng Hồi giáo đông nhân rồi đến Thiên chúa giáo, thứ ba là Phật giáo. Cũng có tài liệu nói Thiên Chúa giáo đông nhất. Tự điển Wikipedia ước lượng như sau:
-Thiên chúa giáo: 2.2 tỷ - - 34%
-Islam 1.6 tỷ - -23%
-Phật giáo 1,9 tỷ - -29%
-ẤnĐộ giáo 1,1 tỷ - -16%

Các tôn giáo đều khác nhau, vì văn hóa khác nhau. Có tôn giáo nhấn mạnh đức tin, có tôn giáo nhấn mạnh mặt thực hành. Có tôn giáo chú tâm về mặt kinh nghiệm tâm linh, có tôn giáo chú trọng về công tác xã hội. Nhiều tôn giáo muốn phổ cập toàn cầu, tin vào những quy luật phổ quát của vũ trụ, và tin rằng đạo gắn bó với mọi người., trong khi một số tôn giáo chỉ đặt mối tương quan trong một nhóm nhỏ, trong một địa phương nhỏ..`Có những tôn giáo đặt nặng giáo dục, bệnh viện, gia đình, chính quyền, hoặc chính trị.
Có nhiều tôn giáo không có triết học, có nhiều triết học không phải là tôn giáo. Sự thực tôn giáo và triết học khó có sự phân biệt như triết học Marx đã mang tính cách tôn giáo vì cuồng tín và thần thánh hóa hay sùng bái cá nhân..
Một số người trong đó có một số Phật tử cho rằng Phật giáo chỉ là một triết học , không phải là tôn giáo vì đức Phật không hề nói Ngài là con trời, hay thượng đế, hay người thay mặt thượng Đế, hay kẻ được Thượng Đế giao sứ mạng. Cái quan trọng nhất là Ngài đã không tôn thờ Thượng Đế. Xuất thân từ đạo Bà La môn, mà niềm tin lớn lao nhất của Ấn Độ giáo cũng như đa số tôn giáo đều thờ Thượng Đế, thếheo lối định nghĩa thông thường, một cách chính xác, Phật Giáo không phải là một tôn giáo (religion) bởi vì Phật Giáo không phải là "một hệ thống tín ngưỡng và tôn sùng lễ bái", trung thành với một thần linh siêu nhiên. Phật Giáo không đòi hỏi nơi tín đồ một đức tin mù quáng, cũng không bắt buộc tín đồ phải tuân theo giáo lý hay tuân theo lệnh của sư trưởng. Các tín đồ phải tự mình tìm hiểu chân lý, đừng nghe ai, đừng sợ ai:
Này, hãy nghe đây các vị Kālāmas, đừng vội tin vào truyền thuyết (các bản báo cáo ghi sự kiện), truyền thống (các tín ngưỡng, phong tục lâu đời), lời đồn (nghe nói).Đừng tin vào lý luận hay suy đoán suông không có căn cứ; cũng đừng vội chấp nhận điều gì sau khi chỉ xem xét một vài nguyên nhân hay ngẫm nghĩ qua loa; cũng đừng tin khi thấy điều đó có vẻ hợp lý hay chính bậc thầy đáng kính của mình dạy bảo. Nhưng khi tự mình biết rõ: Những pháp này đáng chê trách, bất thiện; các pháp này bị người hiền trí chỉ trích; nếu được thực hành và chấp nhận, chúng sẽ đưa đến bất hạnh, khổ đau thì các vị phải bác bỏ chúng". (Tăng Chi Bộ Kinh, Anguttara Nikāya I, p 189)
Thực ra đức Phật không phủ nhận Thượng Đế. Các tôn giáo có nhiều quan niệm về Thượng Đế. Phật giáo cũng tin có Thượng Đế nhưng hình trạng Thượng Đế có khác với các tônh giáo khác mà thôi.Ta có thể chia hai loại triết học. Một loại tin vào thần thánh (theism) và một loại vô thần (Atheism). Loại thần giáo cũng có thể chia hai, một loại tôn giáo chỉ thờ một vị thần tức độc thần giáo (monotheism) , và một loại tôn giáo thờ nhiều vị thần tức là Đa thần giáo (Polytheism ). Sự thực không có tôn giáo nào là độc thần giáo vì lẽ bên cạnh Thượng Đế người ta còn thờ nhiều vị thần khác. Như vậy, ta có thể nói rằng Phật giáo là triết học và cũng là tôn giáo.Chúng tôi sẽ phân tích sâu xa hơn về khía cạnh của tôn giáo.
Khoa học không tin có thượng đế, và triết học có hai loại, một loại tin có thượng đế, một loại không tin có thượng đế và bài xích tôn giáo. Marx cho rằng "tôn giáo là thuốc phiện". Ngày nay, nhiều thuyết mới về vũ trụ cho rằng vũ trụ và con người là từ không mà sinh ra như thuyết thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, nghĩa là vạn vật tự nhiên sinh ra, không do Thượng Đế. Thuyết “big bang” cho rằng thế giới sinh ra từ vụ nỗ lớn. Stephen Hawking trong sách “The Grand Design” mà đài BBC dịch là “Sự Tạo Dựng Vĩ Đại”. đưa ra lý thuyết cho rằng Thượng đế không tạo dựng vũ trụ., và con người chết là hết như cái computer hư là đem quăng đi.

Thuộc tính của tôn giáo là gì? Thuộc tính là tính chất của tôn giáo là những vấn đề căn bản của tôn giáo. Đó là linh hồn, kiếp sau, thượng đế, nhân quả, thiện ác. Tuy nhiên, những vấn đề này cũng thuộc về triết học, là bộ môn siêu hình học.Nhiều người kể cả những tỳ kheo cho rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo có lẽ họ đã bị ảnh hưởng của Marx chống tín ngưỡng, chống tôn giáo. 

III. LINH HỒN
Các tôn giáo đều tin con người sống có hai phần, là phần thân xác và phần linh hồn. Sau khi chết, thể xác bị tiêu hủy, linh hồn vẫn tồn tại sau chết. Người Việt Nam còn gọi linh hồn là vía, phách.Khoa học và phái duy vật cho rằng con người chết là hết, không có linh hồn, không có kiếp sau. không có ma quỷ, không có thượng đế, không có thiên đường, địa ngục.Trái lại, tôn giáo tin có ma quỷ, có linh hồn.

 Tôn giáo lâu đời nhất của nhân loại là Vệ Đà (Vedism) lấy kinh Vedas bốn quyển làm chủ, ra đời khoảng ngàn rưỡi năm trước tây lịch. Đến khoảng năm 800 trước tây lịch, cải thành Bà La Môn giáo (Bramanism) ,do chữ Brahma là nguồn gốc tối cao của vũ trụ, tức là Đại Ngã, là Đại Vũ trụ, là Đại hồn, nay thường gọi là Thượng Đế.

Đến thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch cải danh là Ấn Độ giáo (Hinduism) giáo lý căn cứ vào kinh Vedas, và các kinh điển khác như Phạm Thư ( Brahmanas), Sâm lâm thư (Aranyakas ), Áo Nghĩa Thư( Upanishads ).Ấn Độ giáo tin rằng con người sau khi chết vẫn tồn tại. Con người ta, linh hồn con người đưọc gọi là Atman là bản ngã , là Tiểu Ngã, là Tiểu hồn, Tiểu Vũ trụ, là một phần rất nhỏ của Đại Ngã tức Thượng Đế. Do đó, Brahman và Atman đồng bản chất, nên thông đồng được với nhau. Thuyết này cũng giống thuyết thiên địa vạn vật tương quan, thiên nhân tương dữ của Nho giáo.
Các dân tộc và tôn giáo tin rằng sau khi chết linh hồn sẽ đi vào cõi âm. Đa số tin rằng linh hồn sẽ đi vào hai cõi là thiên đàng và địa ngục. Người thiện lên thiên đàng, kẻ ác xuống địa ngục. Theo Thiên Chúa giáo, Satan bị đày xuống địa ngục. Con người sau khi chết vẫn tồn tại để chờ ngày phán xét cuối cùng.
Theo Ấn Độ giáo, linh hồn sau khi chết sẽ chuyển sang nhiều thế giới khác, và gọi là luân hồi. Luân hồi là vũ trụ quan của Ấn Độ giáo mà Phật giáo thừa hưởng. Vũ trụ và con người luân chuyển theo chu kỳ thành, hoại, trụ, diệt. Cũng có cách diễn tả khác, thế giới sẽ biến chuyển từ thượng nguyên, sang trung nguyên, rồi đến hạ nguyên. Con người cũng bị luân hồi. Do đó có thuyết tái sinh và thuyết nhân quả.
Đi cùng với thuyết luân hồi là thuyết tái sinh (punarjanman) và thuyết nhân quả ( karma). Tất cả những truyền thống tôn giáo cao cấp xuất phát từ tiểu lục địa Ấn Độ - kể cả Phật giáo và Kì-na giáo - đều thừa nhận thuyết này mặc dù có một vài điểm trong đó được biến đổi. Phật giáo cho rằng sau khi chết, con người sẽ phải trầm luân lục đạo, nghĩa là sau khi chết, tùy theo nhân quả mà đầu thai vào các cõi: thiên, a-tu-la , nhân , súc sinh , ngạ quỷ, địa ngục. Cõi trời là cao nhất, thấp nhất là địa ngục.
Phật giáo nói rõ là có quỷ thần. Trong lục đạo, ngã quỷ, và A tu la là ma quỷ, là quỷ thần. Cõi trời là thánh thần, tiên và cũng có A tu la tức là quỷ, là hung thần, họ luôn chống đối chư thiên, chư thánh, chư thần trong cõi trời. Ngay trong trái đất, noi con người ở là đã có ma quỷ. Phật dạy:

Tất cả mọi loại cây cối dù là cực nhỏ như trục xe cũng đều có quỷ thần nương tựa, không có chỗ nào là không có.. Tất cả mọi người nam, người nữ khi mới bắt đầu sinh ra đều có quỷ thần theo bên ủng hộ; nếu khi nào họ chết thì quỷ thần giữ gìn họ, thu nhiếp tinh khí của họ, nên người này sẽ chết ngaỵ.. . Nếu có người nào tu hành pháp thiện, chánh kiến, chánh tín, chánh hạnh, đầy đủ mười nghiệp thiện, chỉ một người như vậy, thì cũng có trăm ngàn thần bảo hộ rồi. Giống như quốc vương, đại thần của quốc vương có trăm ngàn người hộ vệ một người; thì việc này cũng như vậy, người tu hành pháp thiện, đầy đủ mười nghiệp thiện, như một người có trăm ngàn thần hộ vệ. Vì nhân duyên này cho nên, người thế gian có người bị quỷ thần quấy nhiễu, có người không bị quỷ thần quấy nhiễu. ( Trường A Hàm, Kinh Thế Ký, Phẩm Đao Lợi Thiên. 414-415)
            Linh hồn có chết hay không? Phật không nói rõ linh hồn trường tồn hay đoạn diệt. Nhưng Phật dạy vô thường và trầm luân. Vô thường nghĩa là luôn thay đổi trong trầm luân, từ con người có thể chuyển sang súc sinh,, ngã quỷ , Atu la, hay chư thiên ...Nếu ở cõi trời, tuổi thọ có thể hàng ngàn năm, hàng vạn năm. Phật giáo cho rằng con người trầm luân mãi mãi, như vậy là không kết thúc , mà có thể coi là lâu dài dù là tương đối với cái nhìn nhân thế của chúng ta.
Tôn giáo nào cũng thờ thần linh, cúng vái, cũng tin rằng linh hồn tồn tại, có ma quỷ, thánh thần như vậy thì đều như nhau, dưới mắt khoa học và người vô thần, các tôn gíao đều mê tín dị đoan. Người ta tin rằng sau khi chết linh hồn tồn tại. Những hồn linh thiêng , có quyền lực thì được tôn thành thần linh. Trong thế giới thần linh, vị thần tối linh thiêng tức là thương đế.Như vậy, các tôn giáo đều tin có ma quỷ, thánh thàn, và các tôn giáo này đều thuộc triết phái hữu thần. Nếu không tin ma quỷ thì họ chỉ là triết học chứ không phải là tôn giáo.

IV. THƯỢNG ĐẾ

           Phần lớn các tôn giáo đều thờ thượng đế, công nhận thương đế hiện hữu mặc dầu mỗi tôn giáo có quan niệm khác nhau.
-Thượng đế trong Đạo giáo Trung Quốc là Ngọc Hoàng, hay Thiên hoàng Thượng đế
-Thượng đế trong Do Thái giáo là Jehovah
-Thượng đế trong Ki-tô giáo là Thiên Chúa (God, Deus, Dieu)
-Thượng đế trong Hồi giáo là Allah
-Thượng đế trong Ấn Độ giáo là Brahma (hoặc tập hợp cả Brahma, Vishnu, Shiva)
-Thượng đế trong đạo Cao Đài là Đức Chí Tôn (Đức Cao Đài)
-Thượng đế trong Phật giáo thì nhiều vị, trong đó Đế Thích là cao nhất.
Trước tiên muốn biết vấn đề này, ta phải tìm hiểu vũ trụ quan Phật giáo. Người ta tin chỉ có một thái dương hệ, một thiên đàng, một địa ngục và một thượng Đế. Nhưng theo Phật giáo Nam Tông và Bắc tông vũ trụ có tam thiên đại thiên thế giới. Vũ trụ là vô cùng vô tận, vạn vật vô thủy vô chung. Ngoài có to nhất còn có cái to hơn nữa, trong cái bé nhất còn có cái bé hơn nữa ( Lớn không trong, bé không ngoài).

           "Như trong chỗ mà một mặt trời, mặt trăng vận hành khắp bốn thiên hạ, tỏa ánh sáng chiếu; có một ngàn thế giới như vậy. Trong ngàn thế giới có một ngàn mặt trời, mặt trăng; có một ngàn núi chúa Tu-di ; có bốn ngàn thiên hạ, bốn ngàn đại thiên hạ, bốn ngàn biển, bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn rồng, bốn ngàn rồng lớn, bốn ngàn chim cánh vàng, bốn ngàn chim cánh vàng lớn, bốn ngàn đường ác, bốn ngàn đường ác lớn, bốn ngàn vị vua, bốn ngàn vị vua lớn, bảy ngàn cây lớn, tám ngàn địa ngục lớn, mười ngàn núi lớn, ngàn Diêm-la vương, ngàn Tứ thiên vương, ngàn trời Ðao-lợi, ngàn trời Diệm-ma, ngàn trời Ðâu-suất, ngàn trời Hóa tự tại, ngàn trời Tha hóa tự tại, ngàn trời Phạm ; đó là tiểu thiên thế giới. Như một tiểu thiên thế giới, ngàn tiểu thiên thế giới như thế là một trung thiên thế giới. Như một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới như vậy là một tam thiên đại thiên thế giới. Phạm vi thế giới thành hoại như thế là nơi chúng sanh cư trú, gọi là một cõi Phật. (Trường A Hàm, Thế Ký, Diêm Phù Đề)

Trong vũ trụ quan Phật giáo, Đế Thích thiên vương chỉ là một trong các vị thiên vương (ông trời) ở trên các tầng trời, do công đức tu hành cao nên khi hết một báo thân, chúng sanh đó được sanh lên các tầng trời theo nghiệp báo của họ, nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi vòng sinh tử.
Các tôn giáo đều tin Thượng Đế, Allah, Brahma , ông Trời tạo nên vũ trụ và loài người, còn Phật giáo quan niệm như thế nào về sự sinh khởi loài người? Các tỳ kheo đã thảo luận với nhau về vấn đề này:
Chư Hiền! Thật chưa từng có, nay đây trời đất này do đâu mà tan hoại? Do đâu mà hình thành? Quốc độ mà chúng sanh ở là như thế nào?”
Triết lý Phật giáo là luân hồi. Phật giáo cho rằng thuở hồng hoang trái đất chỉ là khí hỗn độn, các vị thần linh ở cõi trời Quang Âm thiên bị hủy hoại nên xuống trái đất.
10.Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài. 


11. Này Vàsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Ðất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh... ( Trường Bộ kinh, Khởi Nhân thế bổn)


1. Tại sao lại tin có Thượng Đế?

          Người ta tin vào luật Nhân quả, Phật giáo, Khổng giáo và khoa học cũng tin vào luật nhân quả. Luật này tin rằng có nhân và quả liên hệ với nhau. Mọi vật sinh ra đều có lý do hiện hữu Ai sinh ra loài người? Ai sinh ra vũ trụ? Các nhà tôn giáo bảo là do Thượng Đế sinh ra. Nhưng quan niệm này cũng gặp nan giải là vì có ai hỏi: Ai sinh ra ta? Cha mẹ ta? Ai sinh ra cha me? Ông bà? Ai sinh ra ông bà? Cứ thế mãi...Câu trả lời cuối cùng sẽ là Thượng Đế sinh ra. Vậy ai sinh ra Thượng Đế? Các nhà tôn giáo bảo rằng:"Thượng đế là nguyên nhân sau cùng!"
Nếu như vậy thì Thượng Đế không ai sinh ra cả, Thượng Đế là ngẫu nhiên. Nếu không ai sinh ra cả. Giải đáp này sẽ gặp hai vấn nạn:
-Nếu thượng đế không ai sinh ra thì trái với luật n hân quả má quý Ngài đã đề ra.
-Nếu Thượng Đế không ai sinh ra cả thì con người cũng có thể không ai sinh ra cả.
Bảo rằng vạn vật sinh ra là có nguyên nhân, rồi lại bảo thượng đế là tự nhiên sinh ra , không do nguyên nhân nào cả thì là mâu thuẫn. Cũng như Marx bảo vạn vật biến chuyển , cái mới phủ định cái cũ, xã hội càng ngày thì càng đi lên theo hình xoán ốc. Ấy thế mà Marx lại bảo xã hội con người qua năm giai đoạn, đến giai đoạn cộng sản là dừng lại. Như vậy là mâu thuẫn.
Lại nữa, nếu bảo Thượng Đế toàn năng sao lại sinh ra kẻ gian ác, sinh ra con rắn, sinh ra Satan, sinh ra tai họa như bão lụt, chiến tranh?
Tôn giáo xưa nhất có lẽ là Ấn Độ giáo, là đa thần giáo vì thờ nhiều thần linh. Kinh điển của tôn giáo này là ở bộ Upanishads, Purāṇas và một số kinh sách khác. Ấn giáo không có giáo chủ, tôn thờ thượng Đế là Brahma, Vishnu và và Shiva Cũng như các tôn giáo khác, Ấn Độ giáo có nhiều tông phái với nghi thức và kinh điển khác nhau. Tuy bị xếp vào đa thần giáo, dân Ấn Độ cho rằng họ là độc thần giáo vì ba vị Brahma, Vishnu, và Shiva đều là thị hiện của Brahman là đấng Sáng Tạo.

 Ngày nay, nhiều thuyết mới về vũ trụ cho rằng vũ trụ và con người là từ không mà sinh ra như thuyết thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, nghĩa là vạn vật tự nhiên sinh ra, không do Thượng Đế. Thuyết “big bang” cho rằng thế giới sinh ra từ vụ nỗ lớn. Stephen Hawking trong sách “The Grand Design” mà đài BBC dịch là “Sự Tạo Dựng Vĩ Đại”. đưa ra lý thuyết cho rằng Thượng đế không tạo dựng vũ trụ., và con người chết là hết như cái computer hư là đem quăng đi.
Theo Nguyễn Văn Thọ, một số giáo sĩ Thiên Chúa giáo dùng chữ Thiên và Thượng Đế để diễn tả danh từ “ chúa Trời” của Thiên chúa giáo, và họ cho rằng quan niệm Thượng Đế của Trung Quốc là đồng nghĩa với Chúa Trời của Thiên Chúa giáo. Nhưng một số linh mục không đồng ý dùng chữ Thiên hay Thượng Đế của Trung Hoa: Cha Pasio khuyến cáo cha Longobardo, người kế nghiệp cha Ricci, rằng nếu dùng chữ Thượng Đế, chữ Thiên để chỉ Thiên Chúa e bất lợi cho công cuộc truyền giáo, nhất là ở Nhật Bản. Cuộc tranh luận về từ ngữ kéo dài mãi cho tới hội nghị Kiating (1628). Các giáo sĩ đành vấn ý Giáo Hội La Mã như sau: «Những chữ Thiên, chữ Thượng Đế còn có nên giữ để chỉ Chúa người Công giáo không?» Mãi đến 1704 Giáo Hội mới trả lời: «Không, hãy dùng chữ Thiên Chúa.» (3)

2. Bản ngã thượng đế
Trong các tôn giáo, Thượng đế có bản ngã, có mang nhân tính, có hiểu biết, tình cảm, hành động, và có thể có hình dạng cụ thể, hoặc thể hiện mình ra dưới hình dạng cụ thể cho con người đoán nhận.Tuy nhiên có niềm tin cho rằng Thượng đế chỉ là cội nguồn quy luật của tự nhiên, là tạo hoá tự nhiên, hoàn toàn khách quan không mang tính chất nào của bản ngã, nhân tính.Cũng có niềm tin cho rằng Thượng đế là kết hợp của cả hai, vừa hữu ngã vừa vô ngã, hoặc con người không thể nhận biết được bản chất của Thượng đế.Nho giáo cho rằng Thượng Đế là do khí thuở thiên địa mịt mù mà sinh ra, và nho giáo gọi là Vô cực, Thái cực. Chu Liêm Khê viết thiên Thái Cực đồ thuyết luận về Thái Cực và sự khởi nguyên của Vạn Hữu, khởi đầu ông nói : "Vô Cực nhi Thái Cực" 而太 . Vô cực, Thái Cực, Đạo hay Tâm đều là nói về Thương Đế và vũ trụ.

Quan niệm này mang tính chất vật chất, vật lý không có hình tượng siêu việt , khác với ý nghĩ các nhà thần học Tây phương. Họ bất mãn vì Trung Hoa lại có thể dùng chữ Thiên mà chỉ Thượng Đế, vịn lẽ rằng trời là vòm trời, vô tri giác, sao lại có thể kính tôn và thờ phụng được. Linh mục Ruggieri viết: «Trời không phải là thần minh mà là tòa của thần minh… Có thể ông Khổng đã dùng chữ trời mà chỉ danh một trí tuệ tối cao cai trị trời đất, nhưng tôi không biết ông Khổng đã nghĩ thế nào? (4).
3. Tính chất của Thượng Đế
Một phái triết học cho rằng thượng đế là cao siêu bí hiểm, là :" bất khả tư nghi". Sách Trung Dung nói "đạo trời đất thì khó nói một lời cho hết" (5).Kinh Thi cho rằng "Thượng Đế không tiếng, không hơi ".(6)
Một số người cho rằng thượng đế và con người có liên quan, đó là quan niệm Atman của Ấn Độ giáo, và thiên địa vạn vật tưong dữ của Nho gia. Một số triết gia đi xa hơn cho rằng thượng đế và con người tươn g quan cho nên muốn hiểu ta, ta phải tìm hiểu thượng đế.
Saint Martin viết: Ta chỉ có thể hiểu biết được chúng ta trong Thượng Đế và sự vinh quang ngài. (7)
Có lẽ, cũng vì thế mà Trung Dung đã viết: «Muốn biết người phải biết trời "(8)
Có hai nhận định trái ngược về tính tình của thượng đế. Một phái cho rằng Thương đế nhân từ, công bằng, thương dân:
-Trời sinh dân trời chẳng bỏ liều (9)
-Trời thương dân (10).
-Trời nghe ý dân, thuận lòng dân. (11).
Trời cũng như Phật là nơi nương tựa của con người ,luôn phù hộ độ trì cho người:

"Lạy trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống..."(Ca dao)
-Lạy trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì bừa ruộng, nơi thì bừa sâu.. ."(Ca dao)
Một nhóm khác cho rằng thượng đế có nhiều tính xấu.
Trời thiên vị:
Trời không thân ai, chỉ thân kẻ biết kính sợ Ngài (12).
-Thượng Đế hay nổi giận (13)
-Trời độc ác, giáng tai họa cho loài người (14)
Trời đất độc ác, coi như như chó rơm (15)
-Thượng đế ghen tuông, nhỏ mọn.(16)
"Trời ơi, trời ờ không cân,
Kẻ ăn không hết, người mần không ra"(Ca dao)
"Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói, má hồng đánh ghen."(Kiều)
Trẻ tạo hóa đành hanh quá đáng,
Giết đuối người trên cạn mà chơi"! (Cung Oán)

              (1).Thượng đế trong Thiên Chúa giáo
Theo Sáng Thế Ký, lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa tạo ra ánh sáng và bóng tối tượng trưng cho ngày và đêm, cái “vòm” mà Ngài tạo ra để phân rẽ khối nước thì gọi là “trời”. Từ khối nước, ngài phân rẽ thành “đất” và “biển”; thực vật có mang hạt giống thì mọc trên khắp mặt đất. “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Thiên Chúa phán: chúng ta sẽ làm ra con người theo hình ảnh của chúng ta…”

Thiên Chúa đặt con người trong Vườn Eden và cho phép ăn tất cả mọi loại trái cây trong đó, ngoại trừ cây biết điều thiện điều ác, “…vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” . Thiên Chúa quyết định tạo ra cho con người một trợ tá, Ngài “…lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời…, hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế… Nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng. Thế rồi, Thiên Chúa tạo ra người nữ từ cạnh sườn con người. “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.

Lúc bấy giờ có con rắn, nó nói với người nữ rằng sẽ không bị chết nếu ăn trái cây mà Thiên Chúa cấm ăn. Người nữ hái trái đó ăn và đưa cho người nam ăn. Thiên Chúa nguyền rủa con rắn rằng: “mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi”Ngài phán người nữ: “ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi và nó sẽ thống trị ngươi” và với người nam: “ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất”
Bàn về thượng đế thì có nhiều ý kiến, đôi khi mâu thuẫn nhau dù là người đồng đạo với nhau. Thật ra thế giới rộng lớn, ta chưa hiểu hết vật chất dù nay khoa học tiến bộ, còn vấn đề thần linh, linh hồn và siêu hình thì coi như chưa có khám phá mới, vẫn tồn tại bí ẩn. Nhà khoa học và chính trị không chuyên về siêu hình thì không nên luận về siêu hình. Đi theo tôn giáo này thì không nên chỉ trích tôn giáo khác vì sẽ gây ra tranh luận vô ích và phạm đức từ bi, bác ái của Trời, Phật, thánh thần. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên các ý kiến để độc giả thấy trong cõi thế gian này có nhiều ý kiến khác nhau chứ không phải ý kiến riêng mình là đúng.

                (2). Thượng Đế trong quan niệm Trung Quốc

             Theo quan niệm Trung Quốc, Ngọc Hoàng Thượng đế là vị vua của Thiên đình, cai quản toàn bộ bầu trời, mặt đất, biển cả, và cõi âm phủ. Ngọc Hoàng đứng đầu tất cả các thần, tiên, có quyền lực tối cao với các quyền năng tự nhiên như mây mưa sấm chớp, nước lửa... Ngọc Hoàng có quyền ra lệnh cho các vị thần thực hiện các ý định của mình, thường là những điều tốt đẹp. Ngọc Hoàng cũng là người xét phong cho các vị thần, hoặc xét phạt các thần tiên. Trong Đạo giáo, Ngọc Hoàng vẫn ở dưới Tam Thanh, do Nguyên Thuỷ Thiên Tôn chỉ định làm vua.

Bold
              (3). Thượng đế trong Phật giáo
               Đức Phật sinh trưởng trong môi trường Bà La Môn giáo, là một tôn giáo kính thờ thượng đế. Ngài có tinh thần cách mạng, không tôn thờ thượng đế các tôn giáo khác
Phần nhiều tôn giáo cho rằng chỉ có một cõi trời nhưng đức Phật lại quan niệm có nhiều cõi trời.
"Trong ngàn thế giới có một ngàn mặt trời, mặt trăng; có một ngàn núi chúa Tu-di có bốn ngàn thiên hạ, bốn ngàn đại thiên hạ, bốn ngàn biển, bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn rồng, bốn ngàn rồng lớn, bốn ngàn chim cánh vàng, bốn ngàn chim cánh vàng lớn, bốn ngàn đường dữ, bốn ngàn đường ác lớn, bốn ngàn vị vua, bốn ngàn vị vua lớn, bảy ngàn cây lớn, tám ngàn địa ngục lớn, mười ngàn núi lớn, ngàn Diêm-la vương, ngàn Tứ thiên vương, ngàn trời Đao-lị, ngàn trời Diệm-ma, ngàn trời Đâu-suất ngàn trời Hóa Tự Tại, ngàn trời Tha Hóa Tự Tại, ngàn trời Phạm. Đó là Tiểu thiên thế giới. Như một Tiểu thiên thế giới, ngàn tiểu thiên thế giới như thế là một Trung thiên thế giớiNhư một Trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới như vậy là một Tam thiên Đại thiên thế giới Phạm vi thế giới thành hoại như thế là nơi chúng sanh cư trú, gọi là một cõi Phật
". (Trường A Hàm, Phẩm Châu Diêm Phù Đề)
 
Có đến khoảng ba mươi cõi trời, tuy rằng có tài liệu nêu lên it hơn. Mỗi cõi trời do một vị thượng đế hay Thiên chúa làm chủ. Có ba loại là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
Trong kinh Trường A hàm, phẩm Đao Lợi Thiên, đức Phật nói:

"Chúng sanh cõi Dục có mười hai loại, đó là: 1. Địa ngục, 2. Súc sanh, 3. Ngạ quỷ, 4. Người, 5. A-tu-la, 6. Tứ thiên vương, 7. Đao-lị thiên, 8. Diệm-ma thiên, 9. Đâu-suất thiên, 10. Hóa Tự Tại thiên, 11. Tha-hóa-tự-tại thiên, 12. Ma thiên. “Chúng sanh cõi Sắc có hai mươi hai loại, đó là: 1. Phạm thân thiên, 2. Phạm phụ thiên, 3. Phạm chúng thiên, 4. Đại Phạm thiên, 5. Quang thiên, 6. Thiểu quang thiên, 7. Vô lượng quang thiên, 8. Quang Âm thiên, 9. Tịnh thiên, 10. Thiểu tịnh thiên, 11. Vô lượng tịnh thiên, 12. Biến Tịnh thiên, 13. Nghiêm sức thiên, 14. Tiểu nghiêm sức thiên, 15. Vô lượng nghiêm sức thiên, 16. Nghiêm thắng quả thật thiên, 17. Vô tưởng thiên, 18. Vô phiền thiên, 19. Vô nhiệt thiên, 20. Thiện kiến thiên, 21. Đại thiện kiến thiên, 22. A ca nị trá thiên.Chúng sanh cõi Vô sắc có bốn loại, đó là: 1. Không trí thiên, 2. Thức trí thiên, 3. Vô sở hữu trí thiên, 4. Hữu-tưởng vô tưởng trí thiên.” (Trường A hàm, ,Thế Ký, Phẩm Đao Lợi Thiên)

              Như đã nói trên , theo quan niẹm của Phật giáo thì có nhiều cõi trời, có nhiều vị cư trú nơi đó, tức là tiên, thánh, thần, chư thiên. Tại sao những vị này được sinh vào cõi trời? Theo thuyết luân hồi, thì những kẻ được tái sinh ở cõi trời là do công đức tu tập, do nhân quả các kiếp trước:
28. Này Vàsettha, vị Khattiya làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới. Này Vàsettha, vị Bà-la-môn... Này Vàsettha, vị Sessà... Này Vàsettha, vị Suddà làm chánh hạnh về thân, chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, có chánh kiến. Do chánh kiến, chánh nghiệp làm nhơn duyên, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới. (Trường Bộ Kinh. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Có nhiều cõi trời nên mỗi cõi trời đều có vị thần linh cai quản. Đó là Thiên vương, thiên chủ, thượng đế, chúa Trời...nên có nhiều thượng đế cai quản các thần thánh. Thượng Đế cũng luân hồi, đi từ cõi trời này sang cõi trời khác. Thượng Đế sinh ra ở cõi trời này, cai trị một thời gian rồi luân hồi nghĩa là đi sang cõi trời khác. Ở đây ban đầu trống không, vị nào đến đầu tiên tức là Thượng Đế:
"Sau khi qua khỏi hỏa tai, khi trời đất của thế gian này sắp sửa thành tựu trở lại, một số chúng sanh khác phước hết, hành hết, mạng hết, mạng chung ở cõi trời Quang âm thiên, sinh vào cung điện Phạm thiên trống không, rồi sinh tâm đắm nhiễm chỗ đó, yêu thích chỗ đó, nên nguyện cho chúng sanh khác cũng sinh vào nơi này. Sau khi phát sanh ý nghĩ này rồi, thì những chúng sanh khác phước hết, hành hết, mạng hết, từ cõi trời Quang âm thiên, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào cung điện Phạm thiên trống không. Bấy giờ, vị Phạm thiên sinh ra trước liền tự nghĩ rằng: ‘Ta là Phạm vương, là Đại Phạm thiên vương, không có ai sáng tạo ra ta, ta tự nhiên mà có, không bẩm thọ cái gì từ ai hết; ở trong một nghìn thế giới ta hoàn toàn tự tại, thông rõ các nghĩa lý, giàu có sung mãn, có khả năng tạo hóa vạn vật; ta là cha mẹ của tất cả chúng sanh." (Trường A Hàm, Thế Ký, Thế Bổn duyên)
Các tôn giáo cho rằng thượng đế là cao cả nhất song Phật giáo cho rằng chư thần linh và thượng đế rồi cũng luân hồi:

Ba dục sanh:Này các Hiền giả, có những loại hữu tình do dục an trú. Ðối với các dục, họ chịu sự an trú, họ bị chi phối phụ thuộc, như loài Người, một số chư Thiên, một số tái sanh trong đọa xứ. Ðó là loại dục sanh thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng dục đối với những sự vật do họ tạo ra. Họ tạo hóa ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc hóa ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng ấy, như các loài chư Thiên Nimmàna-Rati (Hóa Lạc thiên). Ðó là loại dục sanh thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng dục đối sự vật do các loài khác tạo ra. Họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những dục vọng đối với sự vật do các loại khác tạo ra. Như các loài chư Thiên Para-nimmitava-savatti (Tha Hóa Tự tại thiên). Ðó là hạng dục sanh thứ ba.. . .( Trường A Hàm, kinh Phúng tụng).
Trong cõi Trời, Đế Thích là vị thượng đế cao nhất, thế mà đức Phật phê phán ông ấy chưa dứt dâm dục, chưa được giải thoát:
"Vì Đế Thích chưa dứt hết dâm dục, sân hận, si mê, chưa thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ não. Ta bảo người này chưa lìa khỏi gốc khổ. Tỳ-kheo nào của Ta, nếu lậu hoặc đã hết, đắc A-la-hán, những gì cần làm đã làm xong, đã trút bỏ gánh nặng, đã được tự lợi, đã sạch hết kết sử các hữu, chân chánh giải thoát ( Trường A Hàm, Thế Ký, Phẩm Đao Lợi Thiên).
Tái sinh trong loài người là đã khó, tái sinh trong cõi trời lại khó hơn. Vì các tôn giáo đa số cầu trời, mong muốn sau khi chết sẽ về bên thượng đế nhưng đức Phật cho rằng cõi trời còn nằm trong luân hồi:
"Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh với hy vọng mong được thành một loại chư Thiên: "Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay loại chư Thiên khác". Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh với hy vọng được thành một loại chư Thiên: "Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay chư Thiên khác". Tâm của vị này không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy là tâm triền phược thứ năm " ( Trường A Hàm, Kinh Thế Ký. Phẩm Đao Lợi Thiên).
Ngoài các cõi Trời, đức Phật luôn nói đến Niết Bàn. Việc này cũng đã được bàn luận rất sôi nổi. Đa số cho rằng Niết Bàn là trống không, hoặc Niết Bàn chỉ ở trong tâm tưởng. Niết-bàn ( 涅槃, nirvāṇa, pi. nibbāna, ja. nehan) là từ được dịch âm từ gốc tiếng Phạn nirvāṇa hoặc tiếng Pāli nibbāna. Nirvāṇa nguyên là phân từ thụ động quá khứ của động từ niḥ-√vā nirvāti với nghĩa "thổi tắt", "dập tắt" (một ngọn lửa) và như thế thì nirvāṇa mang nghĩa đã bị dập tắt, thổi tắt. Qua đó mà thuật ngữ nirvāṇa cũng được dịch nghĩa là Diệt ( ), Diệt tận ( 滅盡), Diệt độ ( 滅度), Tịch diệt ( 寂滅), Bất sinh (不生), Viên tịch ( 圓寂), và vì sự tịch diệt được hiểu là mục đích tối cao trong đạo Phật nên nirvāṇa cũng được dịch ý là Giải thoát ( ), Vô vi (無爲), An lạc ( 安樂). Như trên đã nói, vô sắc giới là tối cao nhưng vẫn bị luân hồi, còn Niết Bàn là chấm dứt luân hồi.

Vậy Niết Bàn cao nhất. Chư thiên còn bị luân hồi, đức Phật ở Niết Bàn, như vậy là đức Phật cao hơn Thượng Đế. Và trong các kinh điể, đức Phật có thần thông quảng đại, bay đến các cõi trời để thuyết pháp. Như vậy, đức Phật chinh là thần linh có pháp lực. Và trong các cuộc thuyết pháp ở cõi trời, Ngài được các thiên vương tôn trọng và lắng tai nghe Pháp. Điều này chứng tỏ đức Phật là bậc thầy của chư Thiên vương, Thiên Chúa và Thượng Đế.
Đức Phật đã nhấn mạnh rằng đức Phật là cao hơn chư thần linh trong vũ trụ:
Các Tỳ-kheo, ánh sáng của con đom đóm không bằng đèn, nến; ánh sáng của đèn, nến không bằng bó đuốc; ánh sáng của bó đuốc không bằng đống lửa; ánh sáng của đống lửa không bằng ánh sáng của sắc thân, y phục, anh lạc, thành quách, cung điện của Tứ thiên vương; ánh sáng của sắc thân, y phục, anh lạc, thành quách, cung điện của Tứ thiên vương không bằng ánh sáng của Tam thập tam thiên; ánh sáng của Tam thập tam thiên không bằng ánh sáng của Diệm-ma thiên; ánh sáng của Diệm-ma thiên không bằng ánh sáng của Ðâu-suất thiên, ánh sáng của Ðâu-suất thiên không bằng ánh sáng của Hóa tự tại thiên; ánh sáng của Hóa tự tại thiên không bằng ánh sáng của Tha hóa tự tại thiên; ánh sáng của Tha hóa tự tại thiên không bằng ánh sáng của sắc thân, y phục, cung điện Phạm-ca-di thiên; ánh sáng của sắc thân, y phục, cung điện Phạm-ca-di thiên không bằng ánh sáng của Quang âm thiên; ánh sáng của Quang âm thiên không bằng ánh sáng của Biến tịnh thiên; ánh sáng của Biến tịnh thiên không bằng ánh sáng của Quả thật thiên; ánh sáng của Quả thật thiên không bằng ánh sáng của Vô tưởng thiên; ánh sáng của Vô tưởng thiên không bằng ánh sáng của Vô tạo thiên; ánh sáng của Vô tạo thiên không bằng ánh sáng của Vô nhiệt thiên; ánh sáng của Vô nhiệt thiên không bằng ánh sáng của Thiện kiến thiên; ánh sáng của Thiện kiến thiên không bằng ánh sáng của Ðại Thiện kiến thiên; ánh sáng của Ðại Thiện kiến thiên không bằng ánh sáng của Cứu cánh thiên; ánh sáng của Cứu cánh thiên không bằng ánh sáng của Tha hóa tự tại thiên; ánh sáng của Tha hóa tự tại thiên không bằng ánh sáng của Phật. Từ ánh sáng của con đom đóm đến ánh sáng của Phật, mà kết hợp những thứ ánh sáng như vậy lại, thì cũng không bằng ánh sáng của Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Ðạo đế. Cho nên, các Tỳ-kheo! Muốn tìm cầu ánh sáng, thì phải cầu ánh sáng của Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Ðạo đế. Các ngươi nên như vậy mà tu hành. (Trường A Hàm, kinh Thế ký, Phẩm Đao Lợi thiên)
Nói tóm lại, Phật giáo là một triết học và là một tôn giáo. Phật giáo tin có kiếp sau, có nhân quả, có thánh thần, thượng đế vì thượng đế vẫn bị trầm luân. Con đường rốt ráo là phải đạt Niết Bàn là đỉnh cao nhất. Đức Phật không xưng là đại diện thượng đế, nhưng ngài xưng là bậc thầy của cõi Trời và người. Hơn nữa, đức Phật đã lập giáo hội với 1250 đệ tử ngay từ khi Ngài còn tại thế, và 500 đệ tử của Ngài đã thành bấc A La hán. Đạo Phật đã đi sau vào lòng người, là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới. Đạo Phật đã gây cảm hứng cho nghê sĩ và các nhà kiến trúc cho nên ở nhiều nơi nay vẫn còn chùa chiền và tượng Phật đẹp đẽ, to lớn. Như vậy, những điều này chứng tỏ Phật giáo là một triết học, một tôn giáo vĩ đại của loài người.
___
(1). Có tài liŒu ghi A Døc (260 --  218 BC)
(2).Philosophy is the study of general and fundamental problems, such as those connected with existence, knowledge, values, reason, mind, and language. Philosophy is distinguished from other ways of addressing such problems by its critical, generally systematic approach and its reliance on rational argument. The word "philosophy" comes from the Greek φιλοσοφία (philosophia), which literally means "love of wisdom" Wikipedia.
(3). Nguyễn Văn Thọ. Khổng Học Tinh Hoa. chương 1. Nhantu.net
(4). Le ciel n’est pas la divinité, mais le siège de la divinité... Peut-être (forsan) par ce mot que vous croyez signifier le ciel, votre Confucius a-t-il voulu désigner cette intelligence suprême qui gouverne le ciel et la terre, mais j’ignore ce qu’il a pensé au juste (quid ille senserit ignoro). Catéchisme du P. Ruggieri (1584); Opere storiche, tome II page 507, 520. – Henri Bernard Maître, Sagesse chinoise et philosophie chrétienne, page 99. Trich Nguyễn Văn Thọ. Khổng Học Tinh Hoa, chương 1.
(5). 天 地 之 道, 可 一 言 而 盡 也 Thiên địa chi đạo, khả nhất ngôn nhi tận dã . Trung Dung Chương XX.
(6). Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú… , (Kinh Thi, Đại Nhã tam, Văn Vương chi thập tam chi nhất.)
(7). Nous ne pouvons nous lire que dans Dieu lui même, et nous comprendre que dans sa propre splendeur. — Saint Martin, Ecce Homo page 18. Tableau naturel agen. Nguyễn Văn Thọ, Dịch Kinh Yếu Chỉ. Vô Cực Luận, chú 19. nhantu.net
(8). 思 知 人, 不 可 以 不 知 天. Tư chi nhân bất khả dĩ bất tri Thiên.»Trung Dung Chương XX.
(9).Đế tác bang, tác đối. (Kinh Thi – Văn Vương – Hoàng Hĩ 3)
(10). Thiên căng vu dân (Kinh Thư – Thái Thệ thượng 2)
  Thiên thị tự ngã dân thị, Thiên thính tự ngã dân thính
, (Kinh Thư – Thái Thệ trung 7.)
(11). Dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi
, (Kinh Thư – Thái Thệ 1.)
(12). Duy thiên vô thân, khắc kính duy thân. , (Kinh Thư – Thái Giáp hạ 1)
(13). Đế nãi chấn nộ. (Kinh Thư – Hồng Phạm 3.) Hoàng Thiên chấn nộ (Kinh Thư – Thái Thệ thượng 3.)
(14). Thiên giáng úy
(Kinh Thư – Đại Cáo) Thiên độc giáng tai hoang vu Ân bang (Kinh Thư – Vi Tử 4.)
(15). Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu. Chương 5
天地不仁,以萬物為芻狗 第五章.
(16)..Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ.Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Ðối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông.Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời. (Xuất Hành 20:1-6 - Bản Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ)