Saturday, February 18, 2017

TÔ HOÀI * CHIỀU CHIỀU III * XVIII, XIX, XX, XXI, XXII




 Tô Hoài
Chiều Chiều
Mây Chiều


Chương XVIII


(Nhật ký)- Hà Nội đã vào tháng chạp 1972. Hàng ngày cứ căng thẳng rồi lại bình thường.
Nhưng với tâm lý muốn bình yên thì tưởng tượng của người ta ngả về bình yên nhiều hơn.
Đường phố đông người khác thường, hình như ai cũng ra đường. Vẫn giục từng nhà đi
sơ tán. Nhưng trong bụng người giục cũng cho là nếu có bom xuống thì hoạ may người ta
mới đi.
Họp khối phố, thu được 150 đ, hôm nào thu đủ thì đem lên khu lấy tem phiếu đợt 1. Nửa
đêm, tiếng bom bên kia sông phía Gia Lâm. Tháng vừa rồi yên yên, lại ra vẻ bắt đầu đây.
Gần sáng, tiếng bom kéo dài nặng nề hơn. Phúc thức giấc, nói: “Con nghe như tiếng
B52". Nó có kinh nghiệm chiến trường. Mình đoán vu vơ: “Không có lẽ". Tiếng bom đến
tận tảng sáng, trời cứ vừa hửng vừa sẫm lại.


Bom B52 đã ném suốt dọc sông Hồng, Yên Viên, Giang Biên, Đông Anh...
Nửa đêm, lại một đợt bom đến sáng. B52 đánh vào tận Đuôi Cá, hay phía nảo, như tiếng
trên trời say thóc ỳ ỳ.
B52 dội Khâm Thiên.
Gần sáng, phố và đường không một người. Dạo một vòng thấy rõ ràng những quả B52
đầu tiên ném xuống bờ hồ Thiền Cuông rồi rải qua bến xe Kim Liên vắt sang vùng Khâm
Thiên. Hố bom chi chít nhưng nông lòng. Một cái ô tô chở khách đỗ nghỉ đêm ven đường
văng xuống hồ. Khúc đường nhựa cong lên như cái cầu vồng một màu đen. Biến mất dãy
cây si buông rễ trông sang cổng công viên.
Sáng sớm, đài Tiếng nói Hoa Kỳ đưa tin Ních ra lệnh ngừng ném bom ngoài vĩ tuyến 20
từ sáng 30.

Trông ra phố, đã thấy trẻ con gánh chăn, nồi xoong, nhanh thế, ở đâu về không biết. Đến
trưa, người đã đông bộn lên xếp hàng mua gạo, mua dầu. Tấp nập khác mọi khi.
áp Tết, việc khu phố:
- Giải quyết cho 6 thanh niên tòng quân đợt này. Cố gắng đi được cả. Lên đưòng ngày 6,
đêm 5 phố liên hoan tiễn.
- Soát lại con số gia đình khó khăn, bổ sung cứu tế, trợ cấp. Mở rộng diện: năm ngoái 2,
năm nay 12.
- Treo đèn ra cửa trụ sở. Tuần tra canh gác bắt đầu đêm 28.
- Tổ phục vụ nấu bánh chưng. Nhận gói 0. 15. Nấu O. 05. Chuẩn bị than. Tới 27 đã nhận
gói và nấu 2. 700 chiếc.
- Tổng vệ sinh. Trọng tâm: các hầm nổi, hố cá nhân.


- Mùng một Tết, chúc Tết các gia đình liệt sĩ, thương binh, quân nhân tại ngũ. 7 giờ sáng
tập trung nhà trưởng ban. Đến tổ nào có tổ trưởng đi cùng. Nếu Hoài vắng, cụ Trượng
thay, đi với các cụ Ninh, cụ Bính.
Trên bàn thờ mỗi nhà mâm cỗ cúng gần giống nhau: cái bánh chưng, đĩa xôi gấc, đĩa thịt
gà luộc, bát canh bóng.
Trưa mùng một, ra vườn hoa Thống Nhất. Những cây quất thi được giải, quả chín vàng
thậm trong lá.


Không trông thấy cây mộc mà mùi hoa mộc ngan ngát trong mưa bụi.
Lên hồ Gươm. Cây và hồ nước, sóng hồ xanh kỳ lạ Đã quen mắt cả đòì, từ khóm lộc
vừng, cảy mõ, cây gạo- trong lòng, trong kỷ niệm. Khác phong cảnh nước ngoài, thấy mà
không thấy.
Tối làm va li. Chuyến máy bay chậm, được thêm một ngày ở nhà ăn Tết. Cô Phụng văn
phòng hôm cuối năm nhờ mua dây mai- xo bếp điện, mấy cái cũng được.
Mai đi Bucaret.


Lại IL 18 bay giữa trưa Gia Lâm. Thảnh thơi. Có lẽ vì Ních ngừng ném bom. Trời trở lạnh.
Mỗi lần đến Matxcơva, muốn mua gì. Tôi lại kê một tờ sớ dài đưa cho Thiên, cho Hân nhờ
mua. Các bạn Marich hay Vlat và cả cô Ina nữa không thể xoay xoả mua nhanh được. Một
lần, có lẽ Marich cũng áy náy, Marich nói: “Có một cửa hàng bách hoá tên là Một nghìn thứ
lặt vặt, hay lắm. Cái gì không tìm thấy ở đâu thì ở đây có, mà đều ở một chỗ. Chúng ta đi
xem. “Cửa hàng Một nghìn thứ lặt vặt, quả là một cửa hàng xén lắm thứ linh tinh, từ cái
đinh vít, cái búa đanh đến cái bát, thỏi xà phòng giặt. Chỉ phải cái vẫn ba nấc sắp hàng,
lấy phiếu, ra quĩ trả tiền rồi trở lại nhận. Cả buổi sáng, Marich mua cho tôi được con dao
phay. Các bạn ấy chẳng đến chỗ này bao giờ, không như Hân, như Thiên, cả trăm cửa
hàng, các nơi bán đồ cũ, bán vải mảnh- cửa hàng bán vải mảnh ở Matxcơva và xe đạp
Phượng Hoàng phế phẩm ở Bắc Kinh đều đông khách hàng Việt Nam. Lắm người chịu
khó đến đọi mua từ sớm chưa mở cửa. ở nhà chỉ mong và dặn những thứ ấy và túi tôi thì
sang nhất cũng mua được cái đồng hồ đeo tay, cái đồng hồ báo thức. Những búp bê gỗ
matriôtca đồ chơi Nga một con đẻ ra năm con tôi chẳng đụng đến bao giờ.


Thiên hỏi tôi: “Bác có giấy vào cửa hàng quốc tế không?”. Tôi đáp: “Không. Có cửa hàng
quốc tế a?” - “Có chứ. Vào đấy có nhiều hàng hiếm: máy khâu Nhật, nồi áp suất, các thứ
vải đẹp... Các cán bộ theo các anh sang hay vào cửa hàng đặc biệt này”
Tôi không được biết cửa hàng Tôn Đản ở Matxcơva ở đâu. Mỗi ngày, hội nhà văn hay cơ
quan uỷ ban hoà bình đưa cho tôi 5 rúp hay 10 rúp, ấy là ở Nga, còn đi các nước châu
Phi, các nước Trung Đông, Nam á thì chẳng đâu đưa tiền tiêu vặt. Chắc người ta không
nghĩ mình ra thế giới mà không có đồng nào. Những khi đường xa, cây chà là, cây thết
nết, chùm hoa vàng hây như hoa cau, thèm bẻ xuống làm bát nước ngọt, đương khát
nước. Cả khi ở Nga thì số tiền hàng ngày nhận cũng không ăn nổi ra bữa, chỉ mua được
bánh mì và trứng luộc. Ngày nào cũng xuống buýp phê mua, đã quen mặt những cô bán,
nhớ cả lượt họ thay ca.


Không thể xuống phòng ăn, bởi hai trăm gam cô nhắc, uống cho đủ liều thì chỉ rượu đã hết
cả ngày tiền ăn. ở khách sạn Ukraina, có hôm tôi trả tiền ăn, Phan Tứ cám ơn và nói: “Xin
lỗi, hôm nay chúng tôi ăn của anh hết hai cái bàn là". Nghe tục và thảm quá, nhưng mà thật
vậy. Tôi xuống Bacu thăm Đan Thanh, con gái tôi học dưới ấy. Nó đi tìm mua một cái
mâm nhôm, rồi lấy vải thô, dây gai chằng lại. Cái mâm vào bí mật bỗng thanh nhã như
chiếc đàn bạn tặng lưu niệm. Chiếc mâm nhôm vững chãi đã thọ nửa thế kỷ, - cái mâm
luyện bột chẳng bao giờ thủng, bây giờ vẫn hàng ngày hầu hạ trong bữa ăn ở nhà tôi.
Những tờ kê cả chục thứ mua, đưa cho Hân, cho Thiên đại khái những là quạt tai voi- có
dạo quạt tai voi và bàn là điện hiếm, thấy bảo vì Việt Nam mua nhiều, phải đợi chuyến tải
từ các nước Trung á lên.


Sắm quần áo giầy dép thì Hân đưa đến cửa hàng thiếu nhi. Cái quần, cái áo vét của tôi
chỉ bằng đứa trẻ mười ba mười bốn. Mọi thứ cho thiếu nhi giá rẻ nửa đồ người lớn. Rồi
thì đem về làm quà cái khoá cửa, nan hoa, líp xe đạp, một nắm ruột bút bi, chia tặng mỗi
người một hai cái. Qua Bắc Kinh, ca sĩ Mai Khanh mua cho lọ Hà sa đại tảo hoàn, lại cân
thang thuốc và chép kèm cái đơn “thuốc bổ của bác Mao". ở Pnôm Pênh, ở Angiêri về thì
hộp chà là khô, lụa bombay, xì líp, xú chiêng... Nhứng năm tám mươi, các thứ đem đi cho
đủ cân thì áo gió, áo bay, áo phông, cả túi khuy đồng quần áo bò Lơvit, nhờ bán để sắm
những cái không mua được ở nhà, cả đến lưỡi dao cạo râu...
Nếu không có khi mênh mông tưởng tượng bay lên trời trên biển Hắc Hải, thì những
chuyến đi đây cứ lầm lũi, cặm cụi như thế. ở hội nghị ra, dạo phố, khách đi tìm mua các
thứ lưu niệm còn ta thì chưa bao giờ.


Làm thế nào.
Cũng như, mỗi lần gặp lại Hân và Thiên tôi mừng hú, chỉ vì các cậu ấy mua được chóng
vánh và chịu khó nhặt nhạnh từ cuộn chỉ trắng và đủ loại kim khâu, dây mai- xo... trong khi
Hân đương bảo vệ bằng tiến sĩ ngữ ngôn vào loại những người đầu tiên ở nước ta và chỉ
có Phan Hồng Giang dịch Pautôpski tôi mới đọc được. Và Thiên, Trần Mai Thiên, tiến sĩ
cá nước ngọt nước lợ ở viện Cá Lêningrat- mà Nguyên Hồng gọi là thằng đốc Chép. Tất
cả đều là những kiệt hiệt hơn người. Nhưng hãy để đấy, để đấy, giúp tôi đã, giúp tôi.
Đi Yanta, lại ra người phong lưu nhàn nhã rồi và lại đi với Vlat. Trong những nơi nghỉ tôi
ưa ở vùng đồi Sinaia nước Rumani và các thành phố trên Hắc Hải. Nhà ở, đồi núi và bãi
biển liền nhau. Lúc nào cũng là đi tắm, quần đùi áo may ô dạo phố Vanta mua báo hàng
ngày và uống bia hơi Tiệp máy bay tải tới.


Ba tuần lễ ở đồi Sinaia giữa mùa phấn thông vảng. Bây giờ mới thật thấy ngày đêm phơi
phới nồng nàn mưa phấn thông vàng của Xuân Diệu. Nhưng hàng ngày cũng lắm lo toan
đột ngột như cái hôm giày bị vấp há mõm. Cố nhiên, không phải là chiếc giày, mà là cái
khó chịu đáng yêu của bà phiên dịch Madari.
Madari chạc trong ngoài năm sáu mươi, phốp pháp, phúc hậu, xôm xốp như người nặn
bằng tuyết ở biển băng Bắc Cực.
Tôi cũng đem bản thảo Chuyện nỏ thần đương viết. Trời cao nguyên mát rượi vào mùa hạ
thuận cho công việc viết. Nhưng làm được hay không, có thể lại bởi cái bà hồi xuân này.


Tôi chuyện với Madari:
- Ba tuần lễ, không biết tôi có sáng tác được không".
- Cửa buồng anh trông ra rừng thông đương mưa phấn thế kia, sẽ gây cho anh nhiều
hứng thú.
- Nhưng tôi ốm, nhiều bệnh. Bà cho tôi đi kiểm tra xem thế nào.
Madari đưa tôi đến phòng khám bệnh viện quận dưới chân đồi.
Người bác sĩ đã đứng tuổi, đo áp huyết rồi bảo:
- Ông bình thường. Ông có thể yên tâm nghỉ ở vùng núi.


ở Bucaret nhiều người nói tiếng Pháp. Các báo ở Pari hàng ngày được máy bay đưa tới.
Tôi ngần ngừ:
- Tôi hay đau đầu, mết ngủ. Ông có thể cho tôi...
Người bác sĩ nhìn bà Madan ngồi ngoài cửa, rồi đột ngột hỏi tôi:
- Ông muốn uống thuốc cường dương?
Tôi cười, lắc đầu:
- Không, tôi đến Sinaia nghỉ và làm việc.
- Tôi hiểu, tôi hiểu. Ông bảo bà phiên dịch là ông phải chữa bệnh áp huyết, hàng ngây đến
đây tiêm B1.
- Sao lại Bl?
- Chỉ cần ông không được nói tên thuốc với bà ấy, ông hiểu chưa?


Ngày ngày, tôi ra trạm tiêm. Không ngờ mà tôi lại giống cái ông giả vờ ốm muốn ở lại nhà
an dưỡng trên Tây Hồ, bị tiêm những mũi B1 ăn khỏe của một thầy thuốc tốt bụng và tinh
quái. Tôi được biết nghệ thuật tiêm của các cô y tá khéo tay. Các cô vỗ cánh tay tôi một
cái, thì mũi tiêm cũng vửa xong.
Madari viết thư cho tôi, lần nào cũng hỏi thăm bệnh và gửi thuốc, khuyên tôi giữ gìn.
Người thật hiền và dễ tin. Rồi nghe tin Rumani phải một trận động đất dữ dội, thành phố
Bucaret bị đổ nhíều dãy phố. Người con gái Madari cho biết mẹ cô chẳng may đã chết
trong trận dộng đất rồi..


Marich đã biết lần trước chuyến đi Lêningrat với Vlat tiêu lung tung hết tiền mà Marich cho
là Vlat đã uống hết. Lần này chỉ nhận tiền hàng tuần, tuần sau lại gửi. Tôi đưa Vlat giữ.
Của đáng tội, tiền có là bao, chẳng khi nào Vlat tiêu cái gì khác, chỉ lỡ miệng uống quá,
mà uống thì cả tôi uống. Nhưng Vlat chửi Marich đã xui kế toán hảnh chúng tôi: “Thằng Do
Thái, nó gửi tiền từng tuần lễ, chỉ đủ ăn không có uống. Nhưng không lo, không thể đói
rượu được, đã có cách. Chúng ta sẽ lao động làm ra tiền, người lao động chân chính là
chúng ta".
Chưa biết cách gì. Trên Lêningrat thì chắe lại đến ăn vạ Vêrônica. ở đây Vlat cũng có một
Vêrônica chăng.
Rồi có hôm nó bảo tôi đi nói chuyện ở nhà trẻ quốc tế Atếch, lại khi đi đài phát thanh đài
truyền hình thành phố và viết bài cho báo đía phương. Tôi biết thế là lao động những cách
ấy. Dù sao cũng không còn lo lắng nhờ các mẹo vặt của Vlat.


Nhà sáng tác ở biệt thực trên đồi, dinh cơ của một nhà quí tộc trước kia. Thành phố bờ
biển, những thắng cảnh và di tích lịch sử. Các trang đài của vua Nga, lâu đài Livađia nơi
hội nghị Yanta của thủ lĩnh ba cường quốc Anh, Mỹ, Liên Xô trong chiến tranh thế giới lần
thử hai, vườn bách thảo nhiệt đới, biệt thự của Sêkhốp, hòn núi Gấu đẫm mình trên mặt
biển...
Tôi tha thẩn một mình ven bờ, lắm hôm tận khuya ở bãi tắm và xem cảng thức suốt đêm
có người đi câu ngồi im lặng. Cát trắng lẫn những hòn sỏi thuỷ tinh huyền ảo rạt rào trong
tiếng sóng.
Chúng tôi ghé hầm rượn vang đỏ nhãn hiệu Rừng Crưm, vang ngon. Những khúc gỗ,
những cặp sừng hươu trong bóng nhập nhoạng ánh điện giả lửa sưởi, như những người
thợ săn ở cửa rừng ra, gác súng bên gốc cây, làm cốc vang chát cho ấm người. Vách giả
đá như tường hầm, người ngồi lên các thùng vang rông. Ô hay hôm nay lắm các bà xuống
hầm rượu. Các bà các cô uống và hát. Ngoài phố, cờ búa liềm đỏ phấp phới. à các bà
các chị rượu mừng Quốc Khánh. Ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng mười Nga năm thứ 52.
Vlat và tôi cũng mừng Quốc Khánh với hai người thợ mỏ vùng Đông Bắc ra nghỉ biển. Họ
hát như gào liên tiếp những bài dân ca về tình yêu và chiến tranh.


Mười giờ đêm vẫn còn quán bia hơi máy bay Praha chở đến. Đến đâu lại hợp thổ ngơi
ấy, bia Sinha Thái lan, chai Stema Ai Cập cũng đường được, nhưng vẫn nhờ bia Kon
nhãn vẽ hình móng ngựa của Hà Lan. Uống từ bao giờ ở Pnôm Pênh nay vẫn nhớ vị nó.
Nhưng ở đây chúng tôi đứng uống bia hơi quán Cua Bể. Đấy là treo biển vẽ con cua- chứ
không có cua bán, quán mở cửa từ bảnh mắt, cho người đến uống bia súc miệng. Nhưng
chẳng có bảng hiệu cũng có thể biết có quán bia vì các chân tường quanh bên đều quét
chữ hắc ín dòng chữ: cấm đái. Ra ở đâu uống vào cũng đái bậy. Một bàn dài suốt gian
nhà, không phải lồi lõm vì mối mọt, mà bỏi vết bào mấp mô làm vẻ thô kệch.


Các bợm bia uống đứng hai bên. Những chiếc cốc to tổ bố nâng lên phải đỡ hai tay, thật
khoái. Chiếc bánh vòng ròn xốp cho thấm bia, uống được nhiều. Đôi khi có người câu cá
dưới biển lên lẻn vào bán dúi con cá ướp muối, mặn thì càng uống tốt. Nhưng cũng chỉ có
thế khác ở ta. Cụ tổ bia có sống lại mà đến Hà Nội cũng phải trợn mắt vì cách uống bia
của ta. Nước giải khát có cồn được gọi thẳng là rượu bia và uống nhắm đậu rán, lòng
lợn, tiết canh, phở, thít chó, thịt dê. Cái cốc gọi là cái vại và các bợm Hà Nội uống cả chục
vại bia vẫn ngồi bần thần.
Vlat lấy bia uống một hơi rồi ra đứng ngoài phố.


Tôi tưởng Vlat chỉ uống rượu mạnh, nhưng một lát đã thấy vào, uóng cốc nữa, rồi lại ra.
Vlat bảo: “Tao không thể đến cạnh những thằng giâ ở Yanta, tao chỉ muốn đấm vào mặt
chúng nó. Bọn ấy trong chiến tranh đã chạy chết ở các nơi về Yanta. Em tao bỏ xác ngoại
ô Matxcơva, chúng nó trốn đến đây rồi thành triệu phú, có nhà cho thuê nghỉ mát”. Vlat đã
chỉ cho tôi những biệt thự rải rác thấp thoáng sau những hàng rào lila.


Nhìn ra mặt biển, hôm trời quang trông thấy núi Gấu. Hệt cái đầu gấu đen thẫm vục mõm
xuống mặt nước. Bao giờ cho chàng Gấu si tình trong cổ tích kia uống cạn nước Hắc Hải
để cho Gấu có đường đi tìm người yêu. Dọc xuống chân đồi, những ổ mèo hoang trong
bụi lila. Cũng quây quần như chuồng mèo ở nhà ấm áp, mèo mẹ vờn mèo con dưới chùm
hoa lila đung đưa mới nở tím ngát cho đến khi hoa tàn màu nhàn nhạt. Mai kia mùa lạnh,
tuyết sa phủ khắp vườn cây, mẹ con nhà mèo đi đâu? Đứng đây cũng nghe tiếng sóng.
Không phải sóng cát âm thầm mà tiếng những hòn thuỷ tinh được đổ xuống bãi giả sỏi.
Sau đồi, tiếng chó sủa trăng. Đêm trăng suông, mặt đất tựa hồ đâu cũng như nhau.
Tưởng như những đêm xóm Đồng ra biển Diêm Điền dưới Thái Ninh, mặt nước sông
Diêm lờ lững ngoài chân tre cũng thế này.


Nhiều nhà văn nước ngoài được mời đến đây nghỉ và sáng tác. Đêm đêm phảng phất rào
rào tiếng máy chứ ở một buồng nào. Mỗi khách một buồng, có người đi cả gia đình.
Người phiên dịch đi theo khách thì ở tập thể phòng tầng dưới. Vlat hay ngủ ngay ở buồng
tôi, Vlat kêu: thằng ở cùng buồng tao ngáy to quá, không chịu được. Vlat nằm ra sàn. Tôi
rút khăn trải giường đắp cho.
Vlat uống lắm thế, nhưng không có thì thôi. Nhiều hôm cũng thương, tôi rủ xuống quán ăn
dưới phố. Tiền chỉ đủ ăn, không có uống. Ra hàng mà không uống thà ăn trại lính ở nhà
cho gọn bữa. Vlat nháy mắt:
- Cách thần diệu, nhớ ra rồi.
Tôi nhìn xem cách thần diệu ra sao.


Nhà hàng dưới đường ven biển, Vlat đưa tôi tới một buồng nhỏ trước khi vào phòng ăn.
Khách sạn này tôi vẫn đi qua, nhưng không biết cái phòng nhỏ là chỗ bán rượu. Có thể
vào đấy mua rượu uống trước. Đứng làm một tợp mỗi cốc rồi ra. Nhiều người uống như
thế, có lúc khách đông nối đuôi. Rượu không có hầu bàn, rẻ khác hẳn trong quán, vẫn
vôtca, vẫn cô nhắc nhãn ấy.
Uống rồi vào phòng ăn hay đi đâu, không ai để ý.
Có ăn lại cả uống, đôi khi cũng vào cho biết. Nhưng cũng không dám la đà tiêu không
đếm, bởi tiền gửi xuống đều đặn mà quá ngặt. Hôm trở về, Marich hỏi:
- “Ông có giận tôi không? Tôi bảo gứi thế cho thằng Vlat mất tiêu hoang". Tôi đáp: “Không
sao. Ngày ngày vẫn ăn và uống bình thường". Tôi kể Marich cái sáng kiến mua rượu uống
trước của Vlat.


- à ở Matxcơva các quán ăn cũng đều có bán rượu uống trước như thế.
Có lúc Vlat cho tôi xem thư của nhà văn nhiều nước châu Phi mà Vlat đem theo để làm
việc. Lắm khi nửa đêm Vlat dậy thức suốt sáng. Những năm về sau, Vlat yếu và mắc
chứng ho. Nếu không nương nhờ được cô Lọ Lem thì khốn đốn. Nhưng Vlat vẫn là tay
giỏi xoay. Marich bảo Vlat chơi bida rất nghề. ở câu lạc bộ, khoảng chín giờ tối trở ra,
người ta đánh bida ăn tiền. Hôm nào Vlat cũng được bida. Vlat về bằng taxi. Buổi sáng
dậy muộn, cô Lọ Lem đi làm rồi. Vlat ra vẫy xe cứu hoả. Gần phố ấy có nhà chứa xe cứu
hoả. Vlat lên xe, đưa tiền. Xe cứu hoả bon bon hết cỡ, đến gần cơ quan, thả Vlat xuống. ít
lâu sau, Vlat ốm bệnh rồi mất. Một lần kia, Ina đã đưa cụ Nguyễn Tuân, người bao giờ
cũng chu đáo, đem hoa đến nghĩa trang viếng mộ Vlat. Hội nhà văn Liên Xô mời Nguyễn
Tuân đi nghỉ. Nguyên Hồng cũng đi dự kỷ niệm về Puskin. Nhưng Nguyễn Tuân chỉ đến
Matxcơva rồi ở lại đấy ngắm đầu mùa thu tuyết rơi.


Hôm tôi trở lại Matxcơva, Nguyễn Tuân và Nguyên Hồng đã trở về Hà Nội. Mà Nguyễn về
trước cả thời gian được ở lại. Nguyễn Tuân chưa đến Yanta bao giờ, nhưng mà mỏi chân
quá, cũng chẳng thiết nữa rồi.
Tôi bỗng nhớ cái buồng bỏ hoang của Vlat trong hẻm chân tường Kremli. Quyển sách nói
về mèo, tôi vẫn giữ. ở Yanta hay khi đi vùng di tích Samakan ở Trung á, Vlat thấy tôi cứ
nghe tiếng máy bay thì nhìn lên trời. Vlat hỏi: “ ở Việt Nam không có máy bay?” Tôi bảo:
“Nhiều lắm, máy bay Mỹ. Tôi phải nhìn nó để liệu hướng chạy tránh bom”- Đây không phải
máy bay Mỹ- Mà tôi thành thói quen chạy rồi.
Vlat bảo: “Việt Nam nhiều cái lạ, tôi phải sang Việt Nam một lần mới được. Mỗi bạn nuôi
tôi một ngày rượu, có ở được tuần lễ không, anh tính xem". Vlat chưa đến Việt Nam lần
nào. Vlat chẳng bao giờ đến Việt Nam được nữa.
Lại xuống Yanta, đi với Hêlena. Người không đậm, không nhạt chỉ phải cái hút thuốc lá
thở khói như kéo bễ. Hêlena nói: “Bây giờ trên thế giới, đàn bà hút thuốc kỷ lục hơn đàn
ông".


Các bạn ăn tiễn ở nhà hàng Bắc Kinh. Dẫu chỉ đi ít tuần, nhưng đến với biền khi nào tôi
cũng trân trọng và háo hức như được đến với những mới mẻ, mặc dầu đã biết. Chỉ có
một lần chối quá, bỏ đi ngay.
ấy là ở bờ biển Vacna nước Bun. Gặp nhà văn Ba Lan Giucôpxki- người đã đến mặt trận
Điện Biên Phủ làm phóng viên, Giucôpxky bảo tôi:
- Tôi đưa anh đến nhà dưỡng lão, cũng ở Vacna này. Anh thích thì ở lại đấy cũng được.
Rồi lại nói:
- Quan sát những người già cởi truồng.
- Không sao!
Vùng bãi này có rào chắn cách với các khu khác.
Tôi trông thấy thật đông những đàn ông đàn bà nằm, ngồi và đi lại trên cát, mọi người đều
lông lá trần truồng.


Toàn người có tuổi như chúng tôi, lễ mễ, lôm nhôm như cái xác. Tôi ngán như vừa ra cửa
gặp mụ Digan mời chìa tay để xem tướng. ở La Havana, đến sàn nhảy Tropicana khiêu
vũ cởi truồng, nhìn người nhảy như con ếch, chán ngắt, tôi chẳng đụng đậy mảy may.
Tôi quay ra, bảo Giucôpxky:
- Đi thôi.
- Không bằng lòng a?
- Xem làm gì những con trâu con bò về già. Tôi chưa muốn trông thấy tôi như thế, ông bạn
ạ.
Uống cô nhắc, nhắm thịt cừu nướng. Bàn bên, hai gă Ba Lan và một cô Nga. Ngỡ thế, vì
thấy chúng nó gọi bia Ba Lan. Chắc đoán tôi là người Nhật, họ chào lễ phép. Người Nhật
đến đây thì đượ giá. Những cô chiêu đãi viên hàng không Nhật ở sân bay về khách sạn
Ukraina nghỉ, đồng phục mũ và váy áo tím than, các cô yểu điệu xinh như mộng, ẩn chiếc
xe va li nhỏ, ai đi qua cũng ngoái nhìn lại. Tôi ra dạo công viên khách sạn, một cô điếm
Nga mặt nhợt nhạt gọi: “Giapan... Giapan... Ông già Nhật Bản rởm này vẫn im lặng đi.
Ba giờ sáng ra sân bay. Hêlena chỉ đi hai tuần rồi về trước để đi nghỉ biển ở Riga với
chồng.


Lại xuống Ximphêrôpôn. Những mảnh nắng rải vàng dịu. Ga mới ra vẻ ga trời quốc tế
không mộc mạc cái ga tỉnh lẻ mọi khi. Cây táo hoang, Vlat đã ra ngắt quả xanh ăn cho dã
rượu đã bị chặt, cũng chết- cái cây không phải chết bệnh. Hồ nước mênh mang, không
cạn như mọi khi. Ra đến Yanta giữa trưa, mặt biển còn sương mù bốc lên quanh núi Gấu.
Bản thảo tiểu thuyết Đảo hoang của tôi, đem theo ra đây lần trước mà đoạn mở đầu tôi
ngồi viết trên núi đá hang Phai Vệ giữa thị xã Lạng Sơn- cái hang tôi ngồi viết tránh bom
máy bay, tôi tả hệt cái hang đá nhà An Tiêm bị tạm giam trước khi bị đầy ra đảo. Đến
yanta, cỏ tích núi Gấu cung đã vào tiểu thuyết tôi thành nhân vật anh em Gấu ở đảo hoang
với cả nhà An Tiêm. Lần này, tôi đi Luang Prabang về, đến Yanta cùng với bản thảo Họ
Giàng ở Phìn Xa đương viết.


Trên đường, ngọn núi giống hình mặt người từ đời nào đã được đặt tên là mặt nàng
Catêrin, tuyết phủ mờ mờ tảng trán. Các làng ven núi trồng táo và những luống dàn nho.
Nhớ thế, nhớ Xín Vàng, Vằn Chải, Sùng Đô bao giờ các xóm núi ở ta có mái ngói, có
nước máy thế này?
Mây mù mây tảng dâng từ mặt nước lên các vườn nho lan ra tận mép bãi. Hệt trên đường
từ Bâyrút sang Đamát, những dây nho được chặt gốc, nho đợi nảy mầm ủ trong băng qua
mùa đông.


Hoàng hôn thành phố biển. Máy bay phản lực gầm thét- những tiếng rống của công nghiệp
và quân sự hiện đại. Bờ bên kia là nước Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ đặt những bệ phóng tên lửa vượt
đại châu ở nước Thổ. Nhưng tiếng cuộc đời muôn thuở vẫn đây. Con chim gì thấp thoáng
hót nho nhỏ trong lá. Cây bạch dương càng vàng lá thì thân cây càng trắng như bột. Từng
đàn hải âu bay qua trên cột ống khói tàu vào đậu cảng Yanta. Tiếng trẻ đùa râm ran bên
kia bờ tường. Trước mặt, sương xuống đậm hơn, những dãy đèn màu lên lóng lánh, như
những cây Noen giữa không trung.


Một ngôi sao dưng dưng mọc bên trời nước Thổ. Vẫn như năm năm trước, mười năm
trước, dinh thự nhà sáng tác hai tầng, trông ra biển, cơ ngoỉ này đã xây năm 1916. Nhà ăn
vẫn hai món chí cốt trại lính: súp cải bắp và thịt băm viên. Cô nhà bàn như nhân vật tiểu
thuyết Poil de Carotte, cái mũi vẫn đỏ hơi xẫm. Chỉ khác đã già úa và đẫy ra. Cô hỏi thăm
Vlat. Không nói Vlat đã chết, tôi bảo: “Ông ấy có việc không đi được". Chẳng nên để ai
bận lòng hơn.
ăn sáng xong tôi lên buồng sửa soạn những dòng đầu tiên một chương mới, trong khi
Hêlena xuống bãi sớm. Tôi đương nhớ lại những làng người Mông mà mới tháng trước
đi qua. ở Luang Prabang, người Mông sinh sống đông hơn người Lào. Tôi lại nghĩ loăng
quăng về dân tộc Mông mà từ lâu tôi đã định viết trình bày với Quốc Hội về những hiểu
biết và đề nghị của tôi.
Thế là lại ngồi vẩn vơ, tôi chưa gọi được hồn các làng xóm vùng cao ở Phìn Sa có họ
Giàng, nhưng cứ đặt bút lấy đà.


Nửa đêm chập chờn như mới chập tối, tiếng hát dưới cửa sổ. Chắc là rượu hát.
Dọc đường biển, cây hoa ô môi nở hồng. ở bờ hồ Gươm cũng có một cây ô môi, rồi cây
ô môi cổ thụ ấy bị đàn đi từ lúc nào. Có lẽ vì cái thân cây già lão còng rạp xuống mặt cỏ.
Người ta không để ý cây ô môi hoa mùa hè, miền Nam nhiều, cả Hà Nội chỉ có vài ba cây.
Thế mà tôi chiêm bao vẫn thấy Bờ Hồ có cây ô môi còng lưng.
Đường dốc lên, những gốc mận mọc hoang, quả chín vàng chín đỏ. Nẫu ra thì rụng, chẳng
ai hai đến, như cây táo ở sân bay Ximphêrôpôn. Chặp tối- theo mẹo của Vlat dè xẻn tiêu
tiền, xuống phố làm trước cốc 200 gam vôtka rồi lên phòng ăn. Cô Hêlena không uống, đi
theo xem tôi uống. Quán rượu có cốc tay chanh, Hêlena lấy một cốc. Ông già làm rượu
hỏi: Có đi với ông người Nga năm trước không? Hêlena dịch câu trả lời của tôi: “Ông ấy
chết rồi". Ông già nói: “Tội nghiệp, ông ấy chết trẻ". Hêlena nói trêu: “Sang năm tôi cũng
chết, cụ cũng chết, ông Việt Nam này giết được nhiều người lắm". Ông già nói: “Tôi chết
là vừa phải, còn cô thì nên cố uống vài triệu cái cốctay nữa hẵng chết”. Rồi ông rót ba cốc
vôtca không tính tiền. ông mời chúng tôi uống không chạm cốc. Chúng tôi uống tưởng
niệm Vlat.


Cũng như ở mâm rượn với bạn, Vạn Lịch hay để ra cái bát, đôi đũa và châm nén hương,
bảo để mời thằng Nguyễn Sáng. Phong tục nhớ người đã khuất, đâu cũng tương tự. Vạn
Lịch ơi, bây giờ mày chết rồi thì ai mời mày. Nhưng phút tưởng niệm Vlat cũng chỉ giây
lát, bỏi người uống rượu chay đã vào đông và những thùng loa nhạc trong phòng ăn và
sàn nhảy trên kia đã oang oang hết cỡ. Thế giới bây giờ, tiếng nhạc đâu cung ầm ĩ rên la,
chói tai.
Bãi tắm của du lịch Inturit riêng một góc, nhưng ở Yanta chưa có bãi tắm truồng như bên
Vacna. Bãi đây nhiều sỏi thuỷ tinh nhân tạo ít cát, tôi xách một mảnh giường ván đi nằm
đâu cũng được. Hêlena đã mua vé cho tôi cả tháng.


Hôm qua Hêlena ngâm nước nhiều, kêu chán nước, chỉ ngồi khoả chân, hút thuốc và lại
trêu tôi: “Trái đất quay ngược, bây giờ chỉ có đàn bà hút thuốc". Chẳng khác trước hôm
xuống đây, phải đi kiểm tra, tôi kêu tôi ít ngủ. Ông bác sĩ già nói: “Ông đừng lo. Ngày nay
trái đất quay cũng khác, cả thế giới đều ngủ ít như ông". Tôi có nhận xét tưởng tượng
người Nga vào thế kỷ này hay triết lý châm biếm chán chường.


Cô nhà bàn mũi đỏ mỗi bữa bưng cho tôi một đĩa hanh ngâm dấm, ngoài những món cố
định đã có trong thực đơn. Cô ấy thật nhớ lâu, cả người và thức ăn.
Mới đến, cô đã bảo Hêlena: “Tôi đã biết ông khách này như người Mỹ không thích ăn cá,
mỗi hôm ông đòi một đĩa hành, cá mới đắt, còn hành thì dễ quá.”
Hêlena đi trong mưa, không mang đồ tắm. Cô ấy lên rủ tôi ra mua vé máy bay cô về
Matxcơva. Chóng thế đã hết hai tuần. Chúng tôi ở đại lý hàng không ra, xuống quán hầm
rượu vang Rừng Crưm. Vẫn đông nghịt và những mẩu gỗ, những thùng gỗ làm ghế. ánh
đèn mờ mờ trong những cây nến giả. Hêlena uống hai cốc. Cô ấy không thích rượu mạnh,
nhưng vang thì uống tốt. Nhớ Vlat lạ lùng. Bố chết oan, em chết trận, mẹ chết già, Vlat thì
chết một mình.


Hêlena đi rồi, tôi xuống bãi tắm đã quen. Cái may- ô, cái quần lửng với cái mũ quần ráchchả
là ở đầu phố Hàng Gai có cụ chủ hiệu mũ Triphooca ngày trước, bây giờ cụ khâu mũ
thuê. Đưa đến cụ cái quần kaki rách gối cụ may cho cái mũ vải. Cụ lấy công bằng chỗ vải
thừa. Cứ cái mũ vải quần rách tôi tha thẩn dưới bãi lên phố, mua báo, bia, người ta
tưởng một ông già Nhật đi du lịch. Tôi cũng cố đóng vai lão Nhật, lặng im như hôm gặp cô
gái điếm ở vườn khách sạn Ukraina.
Vào quán, ai nâng cốc, tôi cũng nói được “cạn chén” tiếng Tàu can pây, “can cây” tiếng
Nhật giả cày.


Tôi yêu Yanta đêm nhiều hơn, không phải vì hay thức đêm viết. Mà đêm Yanta nghe sóng
rồi xuống giỡn được với sóng ngay dưới kia. Ban đêm nghe tiếng sóng nhởn nhơ dễ
tưởng như hồi còn thơ dại. Khuya trong nhà lều người Mông Cổ ở cánh đồng Đakhan, gió
hú trên ống khói bếp nhớ thuở bé bẻ cong chiếu làm tùm hum chui vào bóng tối, hai tai
dỏng lên. Đêm ở làng chài Nghi Sơn, Biện Sơn bờ biển Quảng Xương, tiếng sóng bủa
quanh mình chỉ nghe thế thôi, không dám thò chân ra. Những con rắn hổ lửa hay quăng
mình đi ăn đêm. Tiếng đêm thăm thẳm, con cú rúc từng hồi trên búi tre lép nhà ông Ngải ở
xóm Đồng. Đêm Yanta, tiếng sóng và sáng điện hiền lành, bình yên, tôi lững thững đi bên
mép nước... Nửa đêm đã thưa tiếng xe, bấy giờ mới nghe thấy rảm ran tiếng dế kêu.
Gió thổi vào những cành liễu trước cửa sổ. Gió thu xào xạc rụng lá khác gió vờn trong cây
mùa hạ. Có cô Galina ở Matxcơva xuống thay Hêlena. Đi tắm, bà già giữ cửa hỏi giấy tôi.
Vừa hay, Galina tới. Cũng chạc Hêlena, nhưng Galina gầy, võ vàng. ở bãi lên mua chai
vang uống mừng Galina. Galina không phải cây thuốc lá, mà là một cái ông rượu không
đáy. Galina kể trên Matxcơva đã lạnh, nửa đêm tuyết rơi.


Tôi hẹn với nhà văn Tiệp Khắc Givi Vôrisêch và cô phiên dịch của ông ngày mai đến quán
thịt nướng Lơnôi hồ Kavagon giữa rừng, năm trước tôi và Vlat đã đến đấy vớt vợ chồng
Simônôp. Ngồi ăn giữa những khẩu súng săn treo trên vách, như kiểu những người thợ
săn vừa ở rừng ra. Lá bạch dương vào thu đã vàng choé. Những bụi hoa lila nở chậm
khác lila ở Bucaret bên hồ Hêrêch trên gió thổi bay hoa “tuyết mùa hè”, nở tím bạt ngàn từ
tháng năm. Mưa tầm tã, nhưng người đi tắm đi chơi không biết mưa.
Ba giờ sáng trở dậy. Trăng vằng vặc trước cửa sổ. Còn hai chương nữa thì xong Họ
Giàng ở Phìn Sa. Làm sao cho những chương cuối nổi lên được vấn đề người Mỹ mà cụ
thể là bọn biệt kích Cia mũ nồi xanh mạo hiểm đến vùng dân tộc Mông hoang sơ. Họ nhảy
dù xuống, lấy tư cách người văn minh đem đến những cái hiện đại: tàu bay, súng đạn,
quần áo, mũ, rượu và đòi ngủ với đàn bà. Người ta thất kinh. Và đến khi chúng nó ở lâu,
thì con người với con người chỉ còn có căm thù.


Bà nhà văn Đức Indơ Richte và ông Tiệp sang chơi. Bà 81 tuổi. Chỉ bánh mì đen mà bà
ngoạm khoẻ như thần trùng. Bà kể đêm qua nhà văn Tiệp đi chơi ba giờ đêm mới về.
Ông trèo cửa sổ buồng cô Tania phiên dịch. Tôi hỏi ông Tiệp: ông vào ngủ với Tania?
ông Tiệp nói:
- Tôi đi chơi với nhà văn Ukraina mới tới. Tôi chỉ trèo nhờ tường buồng cô Tania, tôi về
buồng tôi.
ông ấy cười. Tôi khoe đã viết xong chương cuối tiểu thuyết. Ông hỏi:
- Ông viết chữ Trung Quốc?
- Không, chữ Việt Nam
- Tôi thấy các nhà văn Nhật viết chữ Trung Quốc.
- Không, chữ Nhật đấy.


Tôi mở tập bản thảo. Hai nhà vãn Indơ và Giri cùng nhìn và reo lên:
- ơ, chữ Việt Nam cũng giống chữ Tiệp, chữ Đức
- Chữ nước tôi đã latinh hoá từ lâu.
- Tôi sai lầm quá, cứ tưởng chứ Trung Quốc cũng là chữ Nhật, chữ Việt Nam.
Rồi ông nói to:
- Viết xong chương cuối một tác phẩm tôi phải ngủ với một người đàn bà để tự thưởng.
Anh thế nào?
- Bà hàng xóm tôi 81 tuổi.
- Hêlena thì chưa già, được lắm.
- Hêlena về Moscou rồi, Galina vừa mới tới.
- Cô nào cũng thế. Galina đẹp đấy, uống mừng một cốc nào.
Chúng tôi uống cô nhắc với mận ngắt ngoài vườn, mận còn chát phải chấm muối. Các
nhà văn nước Tiệp, nước Ukraina, nước Đức đều chúa rượu cả.



Tô Hoài
Chiều Chiều
Mây Chiều

Chương XIX

Tối ấy, tôi viết một thư gửi Quốc Hội.
Yanta 28- 8...
Kính gửi Hội đồng Dân tộc của quốc hội khoá 7
Sau kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá 7 tôi đã đề đạt nguyện vọng cho tôi được đổi từ ủy
ban Văn hoá Giáo dục của Quôc hội sang làm thành viên Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.
Nguyện vọng của tôi đã được Quốc hội biểu quyết thông qua ở kỳ họp Quôc hội vừa qua.
Tôi chân thành cám ơn.
Tôi xin trình bày một số hiểu biết và đề nghị của tôi về vấn đề dân tộc Mông ở nước ta.
l
Trong giai đoạn nước ta thuộc Pháp nhíều quan cai trị và những người truyền giáo đạo
Gia Tô thường chú ý nghiên cúu các vấn đề dân tộc. Sabachiê công sứ Đắc Lắc sưu tầm
dân ca Đam San và viết nhiều về các dân tộc ở Tây Nguyên; Cờretxông, công sứ Yên Bái
nghiên cứu dân tộc Tày, quan ba Bôniphaxi biết chữ Hán đã viết về dân tộc Dao. Linh
mục Savina tu ở Sapa đã soạn từ điển Pháp- Mèo và Lịch sử dân tộc Mèo linh mục Hiền
(tên Việt Nam) đã tu ở Nghĩa Lộ (Yên Bái) từ 1924 tới 1950, soạn Từ điển Pháp- Mèo.


Tât nhiên, những việc làm về học thuật trên đều có liên quan tới vấn đề chính trị, xã hội.
Dân tộc Mông có ước chừng trên hai triệu người cư trú ở 5 nước nhưng liền một khu vực
(Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện), đông nhất ở Trung Quôc (hai tỉnh Quí
Châu, Vân Nam) và ở Lào (ba tỉnh phía bắc). Về tính cách và những đặc điểm của người
Mông: trung thực, lao động, dũng cảm cưỡi ngựa, bắn súng giỏi. Họ ở tập trung, tin tưởng
và phục tùng dòng họ, ít quan hệ các dân tộc xung quanh, đem thuôc phiện đi chợ chỉ cần
đổi muôí, mua muôí. Người Mông tin tưởng (cách mạng) hay không tin tưởng phản động)
rõ ràng và hiếm khi thay đổi.


Trong thời Pháp đô hộ, cho tới 1919, dân tộc Mông đã nhiều lần nổi dậy. Chiến tranh thế
giới lần thứ nhất 1914- 1918, linh mục Savina viết trong Lịch sử dân tộc Mèo: đế quốc
Đức đã tìm cách giúp người Mông chống Pháp ở Đông Dương. ở Hà Giang (Việt Nam),
ở Xiêng khoảng (Lào) binh lính Pháp phải đi đánh dẹp, linh mục Sa vina làm cố vấn chính
trị trong các binh đoàn.


Cuối năm 1919, Sa vina đã họp được với các vua Mèo ở bắc Việt Nam và Lào ở Xiêng
Khoảng. Hội nghị này công bố một hiệp định của chính phủ Pháp ký với các thủ lĩnh Mèo
có mặt và đại diện. Trong văn bản hiệp định, điều khoản 1 là: (nguyên văn) Từ nay dân tộc
Mèo ở Đông Dương thuộc quyền bảo hộ của nước Pháp, không thuộc các quan lại
annam, thổ, thái... Người thay mặt nước Pháp ở mỗi tỉnh là quan công sứ: (Hiệp định này
in toàn văn trong quyển Lịch sử dân tộc Mèo của Savina).


Chế độ bảo hộ này đã có ảnh hưởng thực tế. Năm 1973, tôi lên Sùng Đô (Nghĩa Lộ) còn
nghe người già ca ngợi và khoe mỗi năm đến Tết, người Mèo được “đến chơi nhà quan
công sứ”. Người Mèo ở Phìn Hồ được sang nước Pháp chơi. Gần đây, nhà thờ Phìn Hồ
không có cha xứ, đến tết Nôen nhiều người Mông đã về lễ tận nhà thờ Hà Nội, như vợ
chồng nhà Pàng Dơ (Nghĩa Lộ).
Không phải ngẫu nhiên, giữa chiến dịch giải phóng Tây Bắc 1952, quan ba tình báo Pháp
Givơ đã đem toán biệt kích nhảy dù xuống vùng người Mông ở Thượng Bằng La (Nghĩa
lộ).
Âm mưu của địch đối với các vùng Mông là liên tục. Những vụ người Mông xưng vua trên
biên giới phía bắc, tây bắc năm 1955 là một mưu lược rõ rệt suốt từ Hà Giang qua Lào
Cai sang Lai Châu, Son la.


2
Từ 1975, nước ta đã hoàn toàn thống nhất, cách mạng Lào đã thành công, nhưng mọi thủ
đoạn và những âm mưu vẫn tồn tại và phát triển. Con cháu Vàng Pao vua Mèo ở Lào
được đưa về Mỹ học trường quân sự cao cấp. Người Mèo di cư ra nước ngoài tập trung
thành làng ở đảo Guyan do Mỹ nuôi có linh mục Pháp tới truyền giáo (phóng sự báo
Express 1988). Nếu trước kia thủ đoạn của Pháp chỉ có tính cách đối phó- như hiệp định
Xiêng Khoảng, thì nay Mỹ có chủ trươg và kế hoạch lâu dài. Trên thế giới có bốn đài phát
thanh hàng ngày có giờ phát tin tức và ca nhạc tiếng Mông. Các đài: Tiếng nói Hoa Kỳ,
Châu á tự do, Manila, Vatican. Nhiều báo Pháp thường bàn tới một nước Mông, người
Mông đương ở 5 nước hiện nay, cho là vùng này có thể trở thành một nước “Itxraen
phương Đông”. ý đồ đó không phải một phương hướng hành động mà họ đã làm cụ thể,
như kể ở trên. Và như trong kháng chiến, người Mỹ đã soạn và in sách học chữ Mèo
latinh hoá, từ Lào đã phổ biến sang vùng người Mông ở Kỳ Sơn, Mường Xén (Nghệ An.
Nhiều nơi ở bắc Lào, Mỹ đã tổ chức những đội mũ nồi xanh” (quân riêng của CIA). Phóng
sự Lính mũ nồi xanh của nhà báo A. Villiers đã miêu tả biệt kích Mỹ được thả dù xuống
làng Mèo để huấn luyện đánh du kích chống quân đội Lào.


Miền Bắc nước ta, người Mông ở trên biên giới phía bắc, giáp Lào và Trung Quốc có trên
30 vạn người dân số đứng hàng thứ tư trong 54 dân tộc anh em. Từ trước tới nay, với
chế độ ta người Mông trung thực, một lòng một dạ.
Tuy nhiên, từ Cách mạng tháng Tám 1945 tới nay chưa hình thành được một đội ngũ cán
bộ người Mông thật sự có trình độ chính trị, văn hoá, chuyên môn vững chắc. Việc đi học,
đi công tác với người Mông chưa thâý phải là đòi hỏi và cần thiết. Đi học, đi công tác hay
ở làng, làm nương cũng thế, chẳng thành một băn khoăn so sánh đi công tác hay ở nhà.
Về văn hoá, chữ Mông đã đuợc đặt ra, đã in sách giáo khoa, đã mở lớp học tiếng mẹ đẻ
và tiếng phổ thông, nhưng không qui định biện pháp sử dụng, mọi giấy tờ từ xã lên vẫn chỉ
dùng tiếng phổ thông. Cho nên, học thì biết rất nhanh rồi bỏ đấy.


Về sản xuât và đời sống vật chất có vấn đề trồng cây thuốc phiện.
Kinh tế thuốc phiện không phải chỉ một khu vực mà là vấn đề kinh tế và chính trị người
Mông ở cả 5 nước, đã nổi tiếng thuốc phiện và bạch phiến khu “Tam giác vàng” ra khắp
thế giới...
Sự sinh sống của người Mông xưa nay trông vào 3 nguồn chủ yêu: trồng ngô lấy cái ăn,
nuôi lợn lấy thịt và mỡ làm dầu thắp; làm nương cây thuốc phiện để có tiền mua sắm.

Tađã vận độn không trồng cây thuốc phiện vì thuốc phiện khó về trị an (trộm cắp, buôn lậu) và
hại cho sức khoẻ vì mắc nghiện... Theo nhận xét của tôi, người Mông cũng không thiết
trồng thuốc phiện, nhất là chị em phụ nữ. Vì người đàn ông nghiện thì ốm yêú bỏ sản xuất.
Nhưng không trồng thuốc phiện thì cây gì thay thế để bán cho có tiền mua sắm. Đã được
khuyến khích và hướng dẫn trồng tam thất, đậu tương xuyên khung, hạt giống rau... đều
không thành công vì cây chết, vì giá quá rẻ. Trong khi, vài đồng cân thuốc phiện đã bán
được một nắm tiền và cái nương thuốc phiện thì nhỏ bé, dễ làm... Người ta vẫn trồng
thuốc phiện khi nào ngơi lệnh cấm thì trồng ở vườn, khi nào cấm ngặt thì trồng lậu trên các
đỉnh núi cao.


Lại những tình cờ tôi đã gặp ngót bốn mươi năm trước, lần đầu tiên đến Matxcơva bây
giờ nhớ lại mà như gặp lại, cái gì không bao giờ còn có thì lại như có.
Cụ Lêôn Chức hay cụ Hồng, ông lão giác ngộ cách mạng ở Pháp năm 1923 trốn sang
nước quê Cách mạng tháng Mưòi. Thế nào mà rồi ông lại theo phái tờ rốt kít. Ông bị bắt,
bị đày chung thân đến Xibêri. Hơn hai mươi năm sau ông được thả, ông lấy vợ người
dân tộc Cômi ở giữa đồng hoang taiga. Mãi đến năm ấy, nghe tin nước nhà độc lập, ông
lặn lội về Matxcơva tìm đến sứ quán ta. Ông chỉ còn nói tiếng Việt lơ lớ, ông kể quê ở
Thái Bình. Ông già yếu quá rồi. Ông ngồi khóc. Ông cũng không có nguyện vọng về nước.
ông không còn nhớ hẳn tên ông là Hồng hay là Lêôn Chức, là Lêôn. Người bé nhỏ, bước
lủi thủi. Nhà nghiên cứu văn học Niculin có viết về cụ Lêôn Hồng trong một bài bút ký. Tôi
đã được gặp cụ lần ấy nầm 1957. Về sau tôi hỏi thăm, ở sứ quán ta nói không thấy ông
đến nữa. Chắc ông khuất núi đã lâu rồi.


Cũng một cảnh đi đày, trong chuyến những người tờ rốt kít bị bắt đày đi Xibêri có Tưởng
Kinh Quốc, con trai Tưởng Giới Thạch. Ông thống chế Quốc dân đảng này gửi con sang
du học Liên Xô. Hoạt động tờ rốt kít, cũng bị bắt tù luôn. Sau nhờ bố can thiệp, Tưởng
Kinh Quốc được thả. Tưởng Kinh Quốc về Trung Quốc, đem theo người vợ Nga quê ở
Sveclôp. Bà Tatiana đã ăn ở với chồng đến đầu bạc răng long. Khi tổng thống Đài Loan
Tưởng Kinh Quốc chết, bà đi sau xe tang.
Báo chí thế giới đã đưa tin về chuyện lạ ông tổng thống Tàu lấy vợ Nga này.
ông Lêôn Hồng, ông Tưởng Kinh Quốc, những tay rờ rốt kít phải đi đày, nhưng khác nhau,
số phận và những tình cờ.


Nhưng số phận khác nhau. Tôi quen Platôn từ năm ấy. Platôn quê ở Ukraina vùng Cuốc
cách thành phố Kiep sáu mươi cây số. Tốt nghiệp trung học hai mươi tuổi, Platôn tòng
quân. Năm 1942, cả binh đoàn vào trận đánh, bị bao vây và bị phát xít Đức bắt ở Khacôp.
Tù binh Platôn phải giải về Đức, học lái xe rồi làm tù binh lái xe tải của quân đội Đức đóng
ở Đan Mạch.
Phát xít Đức thua trận. Tù binh Nga được giải phóng. Platôn cũng đượe về nước, nhưng
phải nhốt trong toa tàu những tù binh đã cộng tác với địch. Platôn sẽ phải ra toà án quân
sự.


Đến một ga xe lửa giữa đường gần biên giới Nga, Platôn nhảy xuống, chạy trở lại. Platôn
sang Pháp. Thấy các nơi dán áp phích lấy lê dương, Platôn vào lính lê dương Pháp. Năm
1947, đội quân lê dương ấy bị đưa sang mặt trận Đông Dương. Đơn vị của Platôn đóng
ở Phú Nhuận rồi Bến Tre, rồi Vĩnh Long. Vào lê dương, Platôn lại làm nghề cũ. Ngày ngày
lái xe tải chở thức ăn uống, dây thép gai, dây điện thoại đi các bốt. Cuộc đời phiêu đãng
khốn cùng, chỉ còn biết uống rượu giải khuây. Platôn kể: thường nhờ người vào mua
rượu trong làng, vì vậy Platôn liên lạc bắt mối được với du kích Việt Minh. Du kích đưa
cho Platôn xem tài liệu về Việt Nam kháng chiến, thế nào là chiến tranh chính nghĩa, là phi
nghĩa. Và truyền đơn kêu gọi binh lính phản chiến, đòi trở về quê hương. Platôn quyết định
ra vùng tự do, đã định ra ở Phú Nhuận, nhưng rồi mối hỏng. Rồi xuống Bến Tre, Platôn tìm
bắt liên lạc được với một du kích tên là Mô, Platôn theo du kích Mô ra vùng kháng chiến.
Chèo thuyền suốt đêm mới tới được điểm hẹn. Platôn đem theo được hai khẩu súng
trường làm chiến lợi phẩm.


Platôn kể với tôi là vừa tháng trước, Platôn được quân đội ta mời sang Bến Tre dự lễ kỷ
niệm ngày thành lập tiểu đoàn 307. Platôn gặp lại du kích Mô. Mô đã già, rụng hết tóc, đã
lẫn cẫn. Một lúc mới nhớ ra Platôn, thế là ôm Platôn, hai người khóc hu hu.
Platôn được tên là Nguyễn Văn Thành, phiên chế vào chủ lực tiểu đoàn. Cấp trên cứ ngỡ
là Pháp, là Đức, là Nga tất nhiên phải biết về súng nặng. Thành được ngay chức khầu đội
trưởng súng cối. Thành đâu biết cái khầu súng cối ra sao. Nhưng mầy mò rồi cũng bắn
được cói, cối hóc Thành cũng chữa được. Đội trưởng Thành nghiễm nhiên hóa ra tay
thạo và đã đánh nhiều trận. Có trận chỉ thổi tin cho nguy biết trận này có Tây bắn súng cối,
bên kia đã bỏ đồn chạy êm. ở khu giải phóng đan cài vùng địch vùng ta, tiểu đoàn cũng có
quê mỗi khi dưỡng quân, luyện quân- đấy là một phố tản cư bên sông ven rừng dừa. Anh
em làm mối vợ cho Thành. ở đấy có một bà trước kia là vợ một người Pháp lai Mangat
đã đi lính rồi làm công chức nhà dây thép tỉnh. Không ai biết ông Tây dây thép bỏ bà ấy về
Pháp hay ông bị Nhật đem đi giết khi đảo chính. Chỉ có một bà ấy và cô con gái ở bờ
kênh trong khu giải phóng. Cô Mai còn có tên Tây là Côlet. Tuổi dậy thì xinh đẹp, mắt nâu,
tóc vàng óng. Nhiều chàng trai mê cô nhưng đương đánh Tây, không chàng nào dám bập
vào cô Tây lai. Thế là Thành được xe duyên. Đám cưới bộ đội giản dị, nhưng cũng tiệc
bánh kẹo, rượu đế và đàn ca hò hát cả đêm.


Vợ Thành về thị xã ở cữ, sinh được con gái. Thành ở đơn vị được tin, nửa đêm bí mật
vào gặp vợ. Con gái giống bố quá. Thành đặt tên con là Giênhia. Thành ẵm con được một
lúc, lại đi. Mẹ vợ rất qui cháu Giênhia và con rể. Trong cuộc đời gian truân của Platôn
chưa bao giờ Platôn được những ngày mong nhớ yêu thương như mỗi khi có dịp về hậu
cứ thuở ấy.
Một ngày kia, Thành về. Mẹ ẵm cháu Giênhia ra đón, chỉ khóc mà không nói. Những
người hàng xóm đến an ủi, cho Thành biết Côlet đã bỏ con lại, đi theo người thợ bạc về
Sài Gòn. Thành làm sao trốn đơn vị đi tìm vợ được!
Vả chăng, nó đã tham vàng, tham bạc bỏ ngãi đi theo người ta, bắt về được nao. Thế là
rồi Thành lại lăn lộn trận mạc với khẩu moochiê.


Chiến tranh kết thúc. Bộ đội tập kết, Thành cũng được ra Bắc. Mẹ vợ và cả Côet Mai ở
Sài Gòn nghe tin; cũng xuống Năm Căn tiễn Thành. Côlet đã có hai con với người thợ
bạc. Giênhia thì đã lên sáu tuổi, bà cho đi với bố.
Thành và con gái Giênhia ra Bắc. Những chuyến tàu Nga, tàu Ba Lan đưa bộ đội và cán
bộ từ các mũi tập kết đi. Cả mấy tháng trời Platôn được giao nhiệm vụ làm phiên dịch
trên những chuyến tàu ra Sầm Sơn.


Rồi hai bố con ở Hà Nội có đến hai năm. Không phải lưu luyến nhớ cảnh nhớ người ở
đây mà tù hàng binh Platôn phải ở lại lo giấy tờ gửi về nước trình bày nông nỗi, toà án
quân sự bên Nga xem xét huỷ cho tù binh Platôn cái án tử hình đã cộng tác với phát xít
Đức.
Rồi cũng xong. Năm 1956, hai bố con về Matxcova.
Rồi Giênhia đến tuổi trưởng thành vào làm đài phát thanh Matxcơva nói tiếng Việt. Platôn
cung xin vào đài, nhưng không được nhận, vì lý lịch phức tạp. Buồn nông nỗi, trở về quê ở
Cuốc. Cả vùng quê không ai ngờ Platôn còn sống. Mẹ Platôn chỉ mới mất cách đấy hai
năm.


Rồi sau Platôn cũng được làm ở đài, nhưng chỉ làm hợp đồng. Hợp đồng ba mươi năm
cho đến năm ngoái mới nghỉ, Platôn tự nhận xét và an ủi: “Ba mươi năm người ta viết cho
tôi ngồi đọc, chỉ có cái miệng làm việc. Vậy chỉ hợp đồng cũng phải".
Đến năm 1980, được tin mẹ Côlet mất. Còn Côlet, chỉ sau khi Thành tập kết ra Bắc ít lâu
Côlét chết bệnh ở Sài Gòn. Mẹ già sống cô đơn, từ ngày miền Nam thống nhất. ở
Matxcơva, Thành vẫn thường gửi biếu tiền, có khi là vải, đồng hồ và quần áo về Bến Tre.
Thành thương mẹ vợ như ngày ở chiến khu.


Vừa rồi, được trở lại Bến Tre dự kỷ niệm ngày thành lập tiểu đoàn 307, khấu đội trưởng
moochiê Platôn Nguyễn Văn Thành đã đi thăm mộ mẹ và vợ. Hai ngôi mộ mẹ con được
đưa về đặt cạnh nhau trong nghĩa trang. Thành đưa cho tôi xem cái ảnh Thành thắp
hương đứng chắp tay vái giữa hai ngôi mộ, người mẹ hiền từ và người vợ bạc phận ở
nghĩa trang Hanh Thông Tây. Cuộc đời lưu lạc đứt từng quãng, nhưng trong một con
người lúc nào cũng có sợi dây vô hình nối thắt lại quãng đau, quãng vui, quãng ngậm ngùi.
Nhà Platôn ở gần đường ra sân bay quốc tế giữa một rừng cây castan. Đương mùa lá
castan rụng vàng rơii xung quanh ngôi nhà các căn hộ ở năm tầng. Giênhia đã lấy chồng,
Platôn ở với bà vợ goá một ông tướng, hai người đều đã ngoài bảy mươi. Bà ơgiêni
trưóc là giáo viên dạy tiếng Pháp. Truyện thiếu nhi tính ác của tôi năm trước Platôn đã
dịch chữ sang chữ rồi ơgiêni dịch ra tiếng Nga. Sách đã in từ hơn mười năm trước bây
giờ mới gặp và tôi thành bạn của hai dịch giả.


Hôm chúng tôi đi Alma Ata, Platôn đem quyển Tính ác xuống cho một nhà xuất bản ở
Cadăcstan dịch in ra tiếng Cadăc.
Tôi đã đi với Platôn ba lần, một lần họp ở Alma Ata, hai lần ra bờ Hắc Hải nghỉ ở
Pitsunđa. Platôn tự giới thiệu: Tôi là Thành, hai Thành, Nguyễn Văn Thành, Platôn Thành.
Platôn nói, giọng và tiếng hoạt bát hệt một người Việt Nam, hai người Việt Nam trò
chuyện, cả những hấm hứ cưười mũi, cười khẩy và các thứ tiếng lóng. Platôn đã chung
đụng, lăn lộn nhiều năm từ Nam ra Bắc.
Platôn lại kể chuyện Bến Tre, mà Platôn đã nói mấy lần rồi, lại bày ra cho tôi xem những
bút máy, bút bi, đồng hồ, sổ tay, huy hiệu ma các bạn đồng đội 307mới cho và được đơn
vị tặng.


Platôn cao hứng lỗ mỗ hát vang:
Ba trăm lẻ bảy! Ba trăm lẻ bảy! Cửu Long giang sông trào nước xoáy! Ba trăm lẻ bảy!
Anh hùng biết mấy! Đánh đâu được đấy! Ba trăm lẻ bảy! Lẻ bảy!
Platôn sinh 1922, người cao lớn phốp pháp, vẻ ra trễ tràng và khệ nệ của một người về
già. Không thể tưởng tượng được ra con người mà cuộc đời đã chìm nổi đến như thế.
Ông lão hiền hiền, trầm ngâm ít nói. Đôi khi, Platôn nhấp một chén rượu, phảng phất thấy
Platôn thuở nào ở những bước khiêu vũ như vờn của thời trẻ, một hôm chúng tôi đi chơi
núi. Nhanh nhẹn nhẹ nhàng, uyển chuyển ông lão nhảy sánh vai với một cô gái trẻ nhất hội.
Tôi lại đem ra bài mua rượu uống trước khi vào phòng ăn của Vlat hồi đi Yanta. Platôn
chẳng lạ khoé ấy.


- Platôn uống bao nhiêu, mấy trăm gam?
- Cho tôi 50 gam.
- ít thế. ở Bến Tre, Platôn nốc một ngày mấy chai đế cơ mà?
- Ngày xưa với bây giờ khác. Hai Thành đi tu đã lâu, lên sư ông rồi.
Platôn đột nhiên kể:
- Tôi có một người bạn Việt Nam làm ở nhà xuất bản Tiến Bộ.
- Tên là gì?
- Tên Nga là thằng Ivan.
Tôi đoán là Văn Doãn hay Lê Vinh Quốc mà có lần Marich kể họ hay đến thư viện câu lạc
bộ Hội Nhà văn mượn sách.
- Có phải thằng Văn Doãn?
- Anh quen nó a? Nó nói chuyện rất vui.
- Tôi chỉ biết, chưa hề gặp.


- Platôn muốn rủ nó đi Pitsunđa. Nhưng Ivan tự tử rồi.
- Sao nó chết?
- Không biết. Những ngườii uống rượu nhiều hay tự tử. Có lẽ tôi bớt uống rượn vì thế.
- Platôn thì chết sao được. Nếu chết, chắc Platôn chết đã lâu rồi.
Hôm sắp đi, Platôn hỏi tôi:
- Tôi đem một bà bạn đi được không?
Tôi cười:
- Platôn đi tu lên sư ông rồi cơ mà.
- Mục sư Tin Lành vẫn có vợ, có bồ, tôi là mục sư. Anh lấy làm phiền thì thôi.
- Chẳng bận đến tôi, anh cứ cho bà bạn đi.
Tôi hỏi:
- Cái năm Platôn đi Pitsunđa với Nguyễn Văn Bổng Platôn có đem bồ đi không?
- Có.
- Giới thiệu với Nguyễn Văn Bổng?
- Không. Phải bí mật chớ.


Platôn kể: “Đi đường tôi chỉ chuyện với bà ấy như người trên tàu xe làm quen với nhau.
Tôi ở nhà nghỉ với anh Bổng, bà ấy trọ ở nhà vườn trong đồi, nhà nào ở Pitsunđa cũng có
nghề chứa trọ người đi chơi biển. Thỉnh thoảng chúng tôi ra biển gặp nhau, chui vào bụi
lila, đắp chăn cát. Có vậy thôi".
Platôn đã giới thiệu bà ấy với tôi trên một chuyến xe điện ngầm. Người đàn bà không còn
trẻ, cũng chưa già mấy. Nhưng rồi bà ấy không đi. Platôn bảo người ta bận việc nhà. Phải
thế không hay thế nào, tôi không biết.
Chợ nông trường ở Pitsunđa. Hàng quán lèo tèo mầy bàn thịt bò, thịt cừu. Những giỏ
đào, giỏ mận. Treo cao cao từng tảng sáp tổ ong cả khoái. Platôn uống đúng một trăm
gam rượu trắng và nói một câu triết lý: “Lắm lúc tôi nhớ Bến Tre, không muốn nhớ mà
không được. Anh biết tại sao không?” Chẳng hỏi cũng biết đấy là những ngày hạnh phúc,
những ngày đau đớn, những kỷ niệm gậm nhấm mòn mỏi cả đời người không thể bao
giờ quên đi được cuộc sống xã hội mà người lính, người tù, người lê dương giang hồ đã
trải. Chẳng có ngày tháng ai bằng phẳng, chỉ nhìn nhận thế nào, sống thế nào cho còn là
thằng người nữa mà thôi.


Không hiểu tại sao, tôi đương viết về chợ nông trường Pitsunđa, lại nghĩ đến Trần Đức
Thảo và Đặng Đình Hưng. Tôi phải nói lại hai người ấy không hề bận đến nhau, chỉ có tôi
quen hai người. Họ chìm nổi mà họ cũng phẳng lặng, lẫn lữa như dửng dưng vào cuộc
sống như Platôn, buồn quá đến không biết thế nào là buồn.
Những cuộc đờì một mình thui thủi. Mỗi người mỗi khác, biết hay không biết, nhưng chung
một nỗi buồn. Là Trần Đức Thảo, là Trần Huyền Trân, là Trọng Hứa, là Vạn Lịch hay
Platôn Hai Thành, ai thấu cho, mà biết thế nào được. Hay là những chuyến đi của tôi nặng
nhọc, vớ vẩn và buồn. Không phải có những chuyện không muốn nhớ, không bao giờ
muốn nhớ mà cứ nhớ, cái sự đời thế vậy, ấy là lần sau cùng qua Matxcơva bỗng rồi Liên
Xô thành “Liên Xô cũ”, hỡi ôi, và những lần ấy đến Mông Cổ, qua Trung Quốc.


Bốn mươi năm trước với bây giờ khác quá mà không tự biết, cuộc sống xã hội và đời
mình. Tuổi nhiều thì ngại đổi thay, mà cứ như định mệnh không tránh được.
Đi Mông Cổ lần này khác trước rồi. Tôi đã đến Mông Cổ có lần với Nguyễn Quang Sáng,
có chuyến với Vi Hồng và bây giờ đi một mình.
Đến Ulan Bato với Nguyễn Quang Sáng phải chạy máy bay Mỹ bom ga Đồng Đăng, thì
cũng là chuyến đi trọn vẹn. Với Vi Hồng, ở Hà Nội đến Matxcơva rồi từ đấy vòng sang.
Thế là đã có khó khăn, hai phen Mông Cổ hai sự tình đi khác nhau. Đến lần này, còn thế
nào nữa hơn, chưa biết. Đón tôi ở Ulan Bato, Somon Đacsơven có tên Việt là Viên. Viên
tốt nghiệp đại học văn ở Hà Nội và là người dịch Dế mèn phiêu lưu ký in ở Mông Cổ.
Hôm nay Mông Cổ lại đã khác những ngày xưa và Đacsơven đương kim chủ tịch hội hữu
nghị Mông Cổ- Việt Nam, cũng như Gadunôp hội hữu nghị Nga- Việt bây giờ, Gadunôp
đã dịch tiểu thuyết áo trắng của Nguyễn Văn Bồng, hai hội hữu nghị thật năng động, dẫu
thời thế đã qua rồi, vẫn còn thấy được cái tìh cái nghĩa của các bạn đối với đất nước ta
thấm đằm nhường nào.


Đi một mình đã là oái ăm, lại đi tàu hoả, lại vào cuối năm 1979 trời đất khác trước. Tàu
hoả Hà Nội Bắc Kinh liên vận quốc tế nhưng ở Hà Nội đi vẫn đường Sắt hẹp. Sang Bằng
Tường tàu đổi ỳ ạch cỡ lớn hơn. Thế mà Mỹ đánh bom, không còn cây cầu nhỏ nào sống
sót. Đến cầu Bắc Lệ sau cùng phải bỏ tàu, ôtô tăng bo lên Đồng Đăng. Máy bay giặc vẫn
đuổi eo, thả bom từng hố sâu ngay trước cửa quan Hữu nghị đã chặp tối, còn vài bước
chân thì sang đất Trung Quốc. Cỏ tranh bị vùi trong hố bom đất đỏ như miệng giếng mới
đào. Những đợt trước ném bom miền Bắc chưa khi nào máy bay Mỹ lên tàn phá tận đây.
Ven sườn núi biên giới trời còn tối đất, đến Bằng Tường đã le lói sáng những ngọn điện.
ở đâu kéo ra dòng người sang chợ đêm bên Đồng Đăng. áo váy, tay nải chàm dưới vành
nón lá, người Tày người Nùng hai bên biên giới về chợ. Hầu như cũng tự nhiên, cột mốc
thì đánh dấu phân chia, nhưng dòng sông Kỳ Cùng mải miết chảy không biết đâu đất nào
nước nào. Hai bên núi cũng là núi, người lấy vợ lấy chồng, họ nội họ ngoại, tắt lửa tối đèn
đi lại thế. Năm trước, tôi đây có lần đã lên Khơ Đa đi với Mã Hợp sang ăn cỗ đám cưới
bên ải Khẩu. Làng Lũng Nghìu bên ấy cũng dân tộc Nùng, thời kỳ đen tối trước 1945, đồn
Tây ở Đồng Đăng lùng bắt, ông Mã Thành Nhân bố Mã Hợp đã đem các con chạy sang
nương náu ở Lũng Nghìu bên ải Khẩu.


Người thị xã Lạng Sơn còn kể trên cửa quan Hữu Nghị năm ngoái năm kia, nhà mậu bên
Bằng Tường đã lên mở hiệu cao lâu bán mỳ vằn thắn. Ngày chợ Đồng Đăng và chủ nhật,
cả người dưới phố thị xã cũng nô nức lên nếm vằn thắn Tàu, tuyệt ngon so với vằn thắn
Hà Nội chỉ có sợi mì gạo và lá kiệu thay lá hẹ. Chỉ vài bước về xuôi, máy bay Mỹ đêm
ngày bắn phá, phở chua chợ Kỳ Lừa không còn thì được húp cái nước dùng vằn thắn ấy
đã tỉnh người- đào đâu ra các thứ thiệt không thấy bóng cả ở phố phường Hà Nội lúc ấy.
Trên cửa quan Hữu Nghị có còn quán vằn thắn ngon không, lại một câu hỏi ngao ngán.
Tàu hoả lượn vào trông lên sườn núi tường thành thấy lơ thơ dây dợ ăng ten. Lên trên kia,
bên này Da Bai Can hay ga Nhị Liên, các ga biên giới, mái nhà và chim bồ câu thảnh thơi
đồn biên phòng hai bên, bây giờ chất ngất những gò đống dây thép gai xám như sương
mù. Rừng núi ngoài kia chắc cũng thế, lại trở lại Trấn Nam quan, Mục Nam quan có phải
không?


Đã lâu mới đi xe hoả- như bốn mươi năm trước, lần đầu tiên qua Trung Quốc, tầu lên
Đông Bắc, cơm trên tàu ngon như cỗ ngày Tết. Bây giờ cũng vẫn trang nhã thế, người
nhà tàu lễ phép, lịch sự. Cửa sổ trông ra phong cảnh dọc đường. Những gốc liễu rủ,
những cây cầu thảnh thơi như trong truyện Tam Quốc, Thuỷ Hử. Tưởng như không có
những khó khăn và xích mích, bởi chỉ thấy cảnh đẹp vẫn như bao giờ.


Nhưng chỉ một lát đã ập đến những cái lo, những ngần ngại. Người công an trách nhiệm
an ninh toa tàu bưới tới. Anh chạc ngoài hai mươi tuổi, dáng người Hoa Trung, Hoa Bắc
cao lớn đẹp trai, quần áo sắc phục mới. Anh đến trước buồng tôi, giơ tay chào thân mật.
Anh nói được tiếng Pháp. Tôi đã ngợ về hiện tượng hiếm có ấy. Tàu quốc tế vắng teo.
Ban chiều, qua cầu Bắc Lệ đã bị đổ gục, vài người khách ôtô tăng bo đi tiếp sang ga
Bằng Tường không có khách lên.


Anh công an xin phép vào buồng tôi chơi. Một lát, nói:
- Xin lỗi đồng chí... đồng chí có thể cho tôi hỏi.
Đồng chí cứ tự nhiên.
Tôi đọc báo thấy tin Việt Nam và Campuchia có chiến tranh. Tại sao các đồng chí đánh
đồng chí Pôn Pốt?
- Tôi cũng chỉ biết trên báo như đồng chí đã đọc.
Nửa ngày đường, cho tới Nam Ninh, chốc anh lại đến chơi lại xin lỗi, lại hỏi một câu
tương tự và tôi cũng trả lời đại khái vậy. Đích là người công an đã được chọn làm trách
nhiệm toa này.
Tôi bảo:
- Ta nói chuyện khác nhé.
- Chuyện gì?
- Đồng chí được đến Hà Nội chưa?
- Tôi chưa biết Hà Nội.
Đồng chí nên đến Hà Nội.
- Hà Nội đẹp lắm a?
- Cũng như Vũ Hán, như Bắc Kinh.
- Thế thì tôi biết rồi.
- Có điều đồng chí chưa biết. Con gái Hà Nội rất đẹp.
- à!


Từ lúc ấy, câu chuyện lạc ra ngoài những hỏi đáp lăng nhăng phức tạp vừa rồi. Đất nước
Việt Nam và vẻ đẹp con gái Hà Nội mà người con trai quê gốc Hoa Trung theo gia đình
lên lập nghiệp vùng kinh tế mới Tân Cương cứ hỏi tôi mãi mà chưa hết chuyện.
Ga Nam Ninh, ga địa đầu làm thủ tục vào Trung Quốc. Nghỉ đây lâu, mọi lần đều như vậy.
Khi tàu đương vào ga, người trưởng tàu đến bảo tôi:
- Các thứ hành lý đều mang xuống.
Tôi lặng lẽ làm như lòì dặn. Nhưng mọi khi, chỉ một mình xuống với chiếc cặp xách tay. Tôi
cũng không hỏi, e phiền phức. Bây giờ không phải như trước. ở phòng hải quan có cả
chục nhân viên. Tôi gặp lại niềm vui quen thuộc mọi khi. Những người đi lại trước mặt tôi
đều chào lịch sự, họ nói tiếng Việt. Các khách nội địa đã ra cửa ga. Trong phòng hải
quan trơ trọi cái và li và tôi


Một người bước đến chào tôi:
- Đồng chí đi một mình?
- Vâng, tôi đi một mình
- Đồng chí ra bàn ngồi đợi.
Một người hải quan khác thân mật:
- Chào đồng chí. Trông đồng chí không được vui?
Tôi cười như đùa, nhưng nói thật:
- Mọi khi ngồi đợi tàu chạy được uống nước, hút thuốc.
- Xin lỗi, xin lỗi.


Một cốc trà có nắp đậy và bao Đại Tiền Môn được đưa ngay ra. Tôi nhấp ngụm nước chè
nóng. Đến lúc làm việc, người cán bộ hải quan bảo:
- Mời đồng chí vào. Đem cả va li.
Tôi biết là phòng khám. Nhưng tôi cũng biết, bình thường ra, đi máy bay hay tàu hoả,
không khám dọc đường Tôi lại biết bây giờ khác. Trong phòng có ghế ngồi lịch sự. Cái
va li được đặt giữa tôi và người hải quan. Tôi lấy chìa khoá.
Người hải quan ấy giơ tay như cản lại và nói:
- Tôi không khám. Lát nữa chúng ta sẽ cùng ra.
- Có ai hỏi, đồng chí nói là khám rồi.
ở mỗi ga lớn mà tàu dừng, từ Vũ Hán lên Trường Sa, đều có nơi tổ chức khám. Nhưng lệ
nghiêm ngặt chỉ ở bàn giấy và khi một tổ hai ba người, còn một người với nhau thì cười,
không khám. Cái va li của tôi chỉ bị mở có một lần và hai người hải quan cũng nhìn qua,
không đụng vào một thứ gì.


Bấy lâu qua lại, cứ khi xa lại khi gần mỗi lúc. Điều đó khiến tôi vừa xúc động lại vừa buồn.
Dường như ở đâu cũng tương tự, những khúc quanh của tình thế cứ qua đi, chỉ có tấm
lòng con người vẫn ấm và đượm lại. Mấy năm ấy, dẫu có những ngăn ngại và éo le,
nhưng đường từ Hà Nội ra nước ngoài, vẫn quá giang qua Bắc Kinh, qua Matxcơva, tôi
đã chứng kiến những xử xự biết bao phức tạp, cái thì nhìn thấy, cái thì chính mình trải nếm
trên đường đi.


Hoàng Trung Thông và tôi đi Cận Đông, chặng nghỉ đầu tiên ở Bắc Kinh. Trước sân hội
nhà văn Bắc Kinh có hai lò luyện thép xây đá, ống khói tuôn ngùn ngụt, tấp nập người đi
lấy than, người ra kéo bễ. Ngoài đường, phấp phới như bướm đỏ bay, mỗi chiếc xe đạp
cắm trên ghi đông một lá quốc kỳ xinh xinh. Chín giờ sáng, mọi người đứng ra ngoài trời,
cầm quyển Mao tuyển bìa đỏ, kể cả ở sân bay các đội bay đương sửa soạn đi. Nghe nói
thắng cảnh Di Hoà Viên không còn, ở đấy đã dựng lên những khẩu hiệu “công nghiệp
gang thép 20 năm đuổi kịp nước Anh. Chúng tôi đã chơi Thập Tam lăng và Di Hoà viên.
Đó là lời đồn thổi nặng nề, những cảnh đẹp và di tích vẫn nguyên vẹn. Chỉ có, nếu để ý kỹ
thấy đôi chỗ trên tường, trên bức hoành ở một vài đền đài còn mờ mờ vết mực hay sơn
đen xoá chưa được sạch hẳn mà thôi.


Ngủ lại Hán Khẩu ở một khách sạn cũ của người Anh. Từng đoàn hồng vệ binh sắp hàng
mười hai mươi, bước đi khi thế ngùn ngụt và trong khách sạn, trên mặt tường phòng ngủ,
phòng ăn đều kẻ khẩu hiệu đả đảo đế quốc. Nhưng hai bên vỉa hè, người ta vẫn đi lại bình
thường và chặp tối những bà lão ngồi lẳng lặng ngâm chân vào chậu nước nóng. Trên
các ụ súng ở tường thành lẫm liệt nhô ra khẩu cao xạ, đại bác nghênh nòng hướng phía
biển. Bên kia xa xa ấy là các đảo Kim Môn, Mã Tổ ngoài Đài Loan- đôi khi xảy ra những
trận đấu pháo liền mấy ngày đêm. Đến khuya, hàng phố đã đóng cửa, dưới lòng đường,
các đoàn hồng vệ binh vào thành phố vẫn cuồn cuộn như con trăn quăng mình.
Trên Bắc Kinh đương dán các áp phích báo chữ to, Hoàng Trung Thông đọc báo là báo
và khẩu hiệu đả đảo tác giả tiểu thuyết Đá đỏ.


Những vụ án văn, từ hồi Đinh Linh rồi Triệu Thụ Lý và những ai, cũng không thấy rợn nữa,
vì nhiều. Vả lại, đến ông Đặng Tiểu Bình mà còn bị đày đi Tân Kiến ở Giang Tây, từ 1969
đến 1973, năm năm làm thợ sửa chữa xưởng máy kéo. May mà thuở trẻ ở Pari, ông đã
học cơ khí. Kiên gan kiên tâm đến thế, mỗi tối trở về ở cái nhà “lều trâu”, trước khi ngủ,
ông đi bách bộ. Mấy năm trời trong vườn cỏ vệt nhẵn một lối đi.


Cái lạnh sa mạc Gô Bi đã đưa về Bắc Kinh buốt xám ngắt. Chặp tối, một bà lão mặc áo
bông xách cái làn mây ra các bức tường bóc những mảng báo chữ to giấy đỏ đã khô
cong, đem về đốt sưởi. Vào khu chợ Đông An cũng những bức tường, có người đeo túi
đi gỡ mảng báo cũ, bên cạnh những tờ giấy đỏ, giấy trắng mới được dán lên. Sáng sớm,
những đoàn hồng vệ binh đi thâu đêm ở xa về không biết từ vùng nào, vẫn đông nghịt.
Trên máy bay, các cô chiêu đãi viên đồng loạt tóc cắt ngắn, áo quần xanh công nhân. Máy
bay lên tới độ cao, khách được thoải mái đi đứng rồi. Hoàng Trung Thông ra chỗ mượn
báo anh nói chuyện với các cô chiêu đãi. Được biếu một quyển Mao tuyển sách đỏ. Lại
được uống bia Thanh Đảo và cả một cốc Mao Đài.


Bởi Hoàng Trung Thông đã bút đàm, lại hát lơ lớ được Đông phương hồng bằng tiếng
Trung Quốc. Khi Hoàng Trung Thông hát tiếng Việt thì tất cả các cô đều hát nhịp đệm. Thế
là thưởng rượu, thưởng rượu và tôi cũng được ơn thưởng lây.
Trông Hoàng Trung Thông mặt rượu đỏ lựng bao giờ tôi cứ ái ngại. Tôi không lo Thông
say, mà có say cũng rất vui và khi tỉnh thì khi nào anh cũng nói dài, tỏ ra ta chưa say. Và lý
sự những cái đúng trong cái say. Nhớ hôm ở khách sạn Thắng Lợi trên hồ Tây, Thông
nâng cốc với Ina Dimônina chúc sức khoẻ Lêon Lêon đã chết từ năm trước. Lúc ấy Ina
lặng im và cúi mặt.


Hôm sau, ở quán rượu phố Huế, tôi kể với Thông câu chuyện Ina đã nói với tôi.
Tôi bảo:
- Ina không nên buồn. Ông ấy không biết nên đã lỡ lời.
- Tôi không buồn đâu. Khi người ta không gặp nhau thì chết rồi cũng vẫn là như còn sống.
- Vả lại, Lêon có tốt gì với Ina. Hãy quên đi.
Tôi ở với anh àý đã mười một năm, tôi phải nhớ, quên thế nào! ông tàn nhẫn quá. Ông
Thông biết thương người hơn ông.
Hoàng Trung Thông sảng khoái, giơ chén: Đấy, đấy con bé triết lý và kết luận hay. Câu
chúc của mình có ý nghĩa vưọt vũ trụ chứ". Tôi lại nhớ một hôm ở cơ quan. Chúng tôi họp
đảng uỷ buổi trưa. Mặt Hoàng Trung Thông cũng đỏ phừng phừng. Mùi rượu sực nức.
Tôi thường khó chịu khi ngửi hơi rượu ở miệng mình hay mùi rượu quanh người khác. Tôi
không ngại Hoàng Trung Thông rượu vào rồi nói lằng nhằng ở một cuộc họp nghiêm
chỉnh. Trông thì tôi biết Hoàng Trung Thông uống lệ, uống giữ, không thể bao giờ mỗi
chốc anh đã nói không chủ động. Nhưng không thể có mùi cồn ở cuộc họp vài ba người
mà lại có phụ nữ, chị Vũ Thị Thường.


Một lúc khác, tôi bảo Thông:
- Đi họp đừng uống rượu.
Hoàng Trung Thông không nhìn tôi và lặng im.
Cũng lúc ấy, anh tặng tôi tập Thơ Mao Trạch Đông anh dịch, nhà xuất bản Văn Học in đã
lâu. Đưa tôi tập thơ đã đề tặng, Hoàng Trung Thông nói:
- Tôi rất yêu, rất phục Trung Quốc. Tôi rất buồn về tình hình Trung Quốc, Trung Quốc với ta,
tôi buồn lắm.
Tôi thật không phải. Có thể tôi mang lỗi với cả người đã khuất. Tôi vẫn nghĩ anh nghiện
rượu vì quen miệng thôi, không phải bởi những cái yêu ghét to tát và sâu xa kia.
Máy bay đỗ xuống sân bay Trường Sa, khách xuống nghỉ lữ quán. Các chiêu đãi viên vào
phòng trong cởi thay áo đại cán xanh Sĩ Lâm, các cô đã hoá ra những nàng tiên sơ mi
trắng nõn, má đỏ, cổ tay trắng ngần.


Thế nào thì con gái vẫn có cách làm đẹp của con gái. Lần này tôi một mình qua Bắc Kinh
khác nhiều những lần ấy, kể cả tôi đương trên đường. Xung quanh đường như hớn hở,
tâm sự mình thì không được vui, lạnh lẽo thế nào. Bắc Kinh cổ kính và Bắc Kinh hiện đại
lại lồ lộ sức sống, vừa uy nghiêm vừa trẻ trung. Những bức tường nào không chi chít báo
chữ to thì lộ ra hàng gạch vồ nghìn năm chân phương. Tửu lầu lừng danh đặc sản tái dê
lẩu dê Đông Lai Thuận lại mở cửa, hai chiếc đèn lồng chao nghiêng thắm đỏ.
Trên cột đèn có chỗ còn vết dán kẻ chữ đổi tên phố mớt ở nhưng tờ giấy gió tuyết quét
còn sót lại từ bao giờ. Những cây hoè cổ thụ, Vũ Xương toàn cây thông, Hán Khẩu những
hàng dương liễu, Bắc Kinh thành phố cây hoè, và những cây bồ liễu cành quang đãng
đương ủ mầm sắp sang xuân.


Bắc Kinh đã phảng phất hơi xuân thì trên Ulan Bato vào trong giá rét kinh hồn. Mặt đất
đóng băng trắng toát, nhà lều và người ủ trong hộp băng. Nửa đêm, đội quân cảnh xô viết
tuần tra bước rào rạo, như đàn gấu trắng đi ngoài hè. Tôi lại ở nhà khách chân núi Chúa
như cái lần đi với Ina. Nhưng hồi ấy tháng tám mặt trời rực rỡ tận chặp tối- tháng ấy nhiều
nắng nhất trong năm, những đàn nai nuôi trên đồi cỏ tranh nhởn nhơ rỡn vào tận thềm.
Bây giờ lạnh quá, cái lạnh khiến chỗ nào cũng khô cong bật ra điện. Cởi áo len, điện loé
xanh tanh tách như nổ sọt. Cầm chốt cửa, điện giật thót ngón tay. Người ta như không ai
để ý, còn tôi phải lấy khăn lót tay mỗi lần mở cửa, cho đến hôm quen.


Trong phòng, ngồi một phụ nữ váy đỏ sẫm, trông đã thấy ấm. Chị nhà buồng quay ra, mỉm
cười. Tôi hiểu có thể cô gái này ở lại với tôi. Tôi lắc đầu, chắp hai tay. Cô ấy đứng dậy lấy
áo khoác và xỏ đôi bốt. Tôi đưa cô ra quầy buýp phê. Tôi uống vôtka chống lạnh. Cô ấy
dùng một cốc nước chè sữa, rồi đi. Hôm sau, Đácxơvên đến, tôi kể lại chuyện. Anh hồn
nhiên nói: “Không phải gái điếm. Có khi người ta muốn lấy giống của anh".

Chúng tôi đến sứ quán Việt Nam. Đại sứ trò chuyện thân mật ngay. Ông hỏi tôi: “Thế nào,
anh Lê Nguyên Hồng hồi này có khoẻ không?”. Đại sứ đã đứng tuổi, ngày trước đã phải
phát vãng đi tù căng Bắc Mê với Nguyên Hồng. Tôi đáp: “Anh Lê Nguyên Hồng rất khoẻ,
vẫn uống rượu tốt". Ông cười to, nói: “Hôm nào anh về tôi gửi biếu Lê Nguyên Hồng chai
vôtca Mông Cổ. Cái này quí lắm, bên Nga khan rượu phải sang đây mua đấy". Và ông đại
sứ vẫn gọi Nguyên Hồng với họ Lê. Chắc ông thuộc sử Tàu hồi đầu thế kỷ, các nhân vật
lẫn lộn Nguyên Hồng với những Lý Hồng Chương Trương Học Lương, Bạch Sùng Hy...
ông đại sứ vui tính, tôi lây ngay cái vui của ông. Quần áo tôi không thể chống nổi cái lạnh
phương bắc. Ông đem ở kho ra đôi ủng da, cái áo lông cừu cổ lông kín nửa mặt. Kho sứ
quán trữ những thứ ấy cho mượn, nếu khách đến vào lúc quá rét, nhưng cũng tuỳ công tác
tùy người mới được mượn. Lạnh đến đỗi hôm trở về tôi vẫn áo lông và bốt cao cổ thế lên
khoang tàu. Ông đại sứ phải vào tận buồng, tôi mới cởi áo và bốt đưa ông cất vào túi ni
lông đã mang theo sẵn. Đến đây có hai cái hãi, mùa đông dữ tợn và sinh viên ta sang học
chăn nuôi sợ bị lây bệnh cừu khó chữa vì ở nước ta không có bệnh cừu.


Tôi thì hợp hơi cừu, thịt cừu. Mùi cừu ấm người, ăn thịt cừu như thịt chó và thở ra mùi
cừu. ở cửa hàng, trên ô tô, trong khách sạn đâu cũng thoang thoảng mùi cừu ấm áp. Cừu
nấu cari ngon chẳng khác thịt chó rựa mận Đông Lỗ trứ danh. Lạnh đến không cần tủ lạnh.
Tôi đã đến một nông trang trong thung lũng Đakhan, trước mỗi cổng nhà lều có cái móc
xích treo một con cừu đã mổ sẵn. Mỗi hôm, cầm dao ra xẻo thịt, chặt khúc xương, đem
vào bếp nấu nướng. Cứ nhờ những bữa ăn ả Rập và Mông Cổ thịt cừu, sữa cừu, nước
chè cừu. Trên thế giới này, người chén thịt cừu nhiều lắm chứ.


Đại hội Hội nhà văn Mông Cổ. Thong thả, bài diễn văn đọc tại hội trường đã viết và được
dịch từ nhà. Chẳng nhớ hội nghị thế nào, cũng không có gì phải nhớ. Tôi làm hội Hữu nghị
á Phi, đã dạo hầu khắp các nước châu á, châu Phi, đã gặp nhiều ông tên tuổi bây giờ còn
rầm rĩ, tổng thống Ađam Hutxen nước Irắc, nước Syri thì tổng thống Atxat, Hailê Mariam
chủ tịch cuối cùng nước Êtiôpi tiến bộ, chẳng qua trời sai đi đâu thì đi đấy, nên chưa khi
nào đến Tây âu, Bắc Mỹ, Bắc á, chẳng biết những nước Pháp, nước Mỹ, ở đâu.
Đácsơven đã cho in lại Dế mèn phiêu lưu ký vào dịp này, có lời tựa tôi viết cho bản in
mới. Vợ chồng anh ấy và con nhỏ, chúng tôi ăn mừng Dế Mèn lại sang Mông Cổ. Ngoài
kia, thành phố nhà tầng và nhà lều vẫn một màu băng trắng long lanh và tuyết lại rơi.
Viên nói:
- Tôi sẽ lấy tiền bản quyền cho anh. Có ít thôi nhưng ở Ulan Bato không có gì mua hợp
đem về Hà Nội. Tôi lấy ngân phiếu, anh về Bắc Kinh đổi ra nhân dân tệ, ở Bắc Kinh có
nhiều thứ, anh biết rồi.


Viên học và ở Hà Nội năm năm, đã thạo cả. Viên lo cho tôi còn hơn những cái tôi có thể
làm. Đấy, tôi đã vào bách hoá Ulan Bato, thấy quần bò rẻ quá. Mua một chiếc đem về xem
cái nhãn trong cạp quần, mảnh vải có chữ: Nhãn hiệu Việt Nam Hà Nội.
Tàu rời trong gió tuyết tơi bời. Xe lửa xuyên Xibêri đến quãng này có hai nhánh, đường
trên quanh hồ Bai Can, được xem mùa đông đóng băng phủ con hồ lớn nhất trái đất.
Đường dưới này chắc chỉ những ai có việc đến Ulan Bato mới đi, bởi mênh mông mịt mù
ngày đêm rừng và đồng hoang. Những khách cùng toa thoạt đầu tôi tưởng người Mông
Cổ, áo dài lót lông cừu, thắt lưng bụng nhụng cả trước mặt sau lưng như cái túi tròn quanh
mình, có thể nhét vào lấy ra cả cái bánh mì, tảng thịt xấy bọc giấy bóng. Nhưng rồi nghe
nói tiếng Trung Quốc, mới nhớ Hoa kiều ở Mông Cổ cũng nhiều. Tôi cùng buồng với hai
người, đoán là vợ chồng.


Những người ra ga tiễn vác từng bịch lớn cất dưới gầm ghế, bên trên để các túi quần áo,
chăn và những bọc quả táo đỏ. Chúng tôi chuyện với nhau bằng miệng cười và bàn- tay,
ngón tay. Chẳng bao lâu, tôi cũng biết những bịch cất trong gầm ghế là những bao gạo.
Vừa xảy ra trận động đất nặng nề ở vùng Đường Sơn cách Bắc Kinh có trên trăm cây số,
nhiều người sợ chạy xuống thành phố. Hôm tàu lên Mông Cổ tôi đã thấy khoảng hè
đường ngay ở ngoại ô Bắc Kinh những cái hố đào ngang lòng đất, đắp mái lên chống
tuyết- những hang hốc trợ thời như mùa đông ở các sa mạc Đông Bắc. Các ngả đường
khác thế nào không biết, nhưng gạo và bột mì ở Mông Cổ tải về nhiều. Không biết hàng
lậu hay đi tự do, nhưng dường như có khám xét, mà cũng trễ tràng thôi.


Anh ấy làm hiệu tay nhấc tôi đứng dậy rồi chỉ xuống nguyên chỗ. Tôi hiểu anh muốn bảo
tôi cứ ngồi đấy, công an và hải quan không khám tôi. Mọi người đều phải ra ngoài cửa.
Công an xem hộ chiếu tôi rồi giơ tay mời tôi vào chỗ cũ, chỗ mà dưới gầm chất những bì
gạo của vợ chồng nhà kia.
Tàu chạy, anh ấy bắt tay tôi, nói rối rít. Anh xuống toa ăn mua về cả chục cái quẩy. Quẩy
trên tàu ròn nhai gau gáu. Thấy thế đã ngon, lâu rồi ở Hà Nội bán quẩy bột sắn nặn rắn
như hòn cuội.

Địa đầu Mông Cổ, ga Đường Lạc Đà Chamôuti. Sang Nhị Liên, đã vào đất Trung Quốc.
Không được biết ga này xưa kia yên lành thế nảo, bây giờ chỉ thấy mịt mùng dây thép gai.
Xa xa, nhấp nhô những doanh trại mái tôn, những ụ pháo lạnh lùng không một ý nghĩa.
Vào ga Nhị Liên tàu dừng lại hai giờ. Xuống tàu, mọi người được mời vâo hội trường
mười lăm phút xem phim. Những tranh ảnh và khẩu hiệu chống chủ nghĩa xét lại và cuốn
phim miêu tả bọn xét lại Liên Xô đã làm hại các nhà máy, đường xá và đồng ruộng Trung
Quốc như thế nào. Trong lúc khách xuống sân ga thì hải quan lên khám các toa.
Hai vợ chồng người láng giềng và tôi cùng xuống.


Anh không bảo tôi phải đóng vai ngồi lên chỗ giấu những bao gạo. Trong khi chúng tôi thu
gọn hành lý để xuống, người chồng đưa cho tôi nhìn một phong bì cứng có chữ Kodax,
chắc những cuộn phim. Rồi anh nhét cái phong bì dầy cộm ấy xuống dưới cái gối của tôi
rồi anh chắp hai tay quì xuống vái tôi. Tôi không biết làm thế nào. Những người hải quan
đã nhấp nhô lên bậc thang sắt cửa tàu. Tôi đành bước ra, rồi thế nào thì thế nào. Có đến
một tiếng sau, trở lên tàu, mọi thứ ở chỗ của tôi vẫn nguyên như cũ. Người chồng cầm lên
cái phong bì Kodax dưới gối tôi. Anh chàng lại cuống quít chạy đi mua quẩy, lần này mua
mấy chục cái.


Về Bắc Kinh một đêm một ngày nữa, nhưng không còn trạm khám.
Tôi chẳng bụng dạ nào cắn nổi cái quẩy như lúc trước. Tôi đưa tiền, ra hiệu bảo anh ấy đi
mua cho tôi chai bia Sin Tao. ở dưới nhà khách ga, tôi vừa bị ăn một quả đau. Chuyến đi
đã lường sẽ khó khăn, mà không lường hết. Tôi có cái ngân phiếu Viên đưa cho để đổi ra
nhân dân tệ. Tôi nghĩ cẩn thận: đem ngân phiếu nước ngoài về tận Bắc Kinh có thể bị khó
dễ, bởi ở ga Nhị Liên đã có bàn đổi ngoại tệ. Tôi đổi ở đây.
Tôi phải giữ gìn và đúng luật. Trong quầy đổi tiền, người cán bộ tiếp tôi, nói tiếng Việt như
tôi. Sự ấy không làm cho tôi mừng mà lại chột dạ, như hôm đi gặp người công an nói
tiếng Pháp. Tận cùng trời, vẫn nghe được tiếng mình, tôi vừa lo vừa mừng.
- Tôi có một ngân phiếu Mông Cổ muốn đổi lấy nhân dân tệ.


Người ấy cầm tờ ngân phiếu, vào trong. Trên bàn trước mặt tôi có cốc nước đậy nắp,
bao Đại Tiền Môn mới đã bóc sẵn. Tôi ngồi yên, không biết tôi có khát, tôi có muốn hút
thuốc không. Tôi chăm chắm nhìn vào cửa phòng, chiếc màn cánh sáo che khuất.
Không một tiếng động. Không biết trong ấy có bàn bạc, có gọi điện thoại, tôi chẳng là cái
gì mà sao người ta phải để tâm thế. Khách xem phim, khách xem mua đồ lưu niệm, uống
giải khát đã lục tục lên tàu. Trưởng toa nghiêm túc, cẩn thận, bao giờ cũng đứng dưới
thềm đợi khách lên hết. Tôi cũng bồn chồn, dường như trắc trở thế nào đây.
Người quầy đổi tiền thong thả trờ ra, tử tốn nhẹ nhàng. Vẫn chỉ một mình như lúc nãy,
nhưng không giấy tờ không bút, không thấy cầm tờ ngân phiếu của tôi.
Thưa đồng chí, chúng tôi xin lỗi. Chúng tôi đã thôi trao đổi loại ngân phiếu này với Mông
Cổ từ một năm nay. Tôi đã hỏi lại Bắc Kinh. Bắc Kinh xác nhận thế không có ngoại lệ,
không đổi được.


Tôi lặng im rồi nói:
Cho tôi lại tờ ngân phiếu.
- Chúng tôi xin phép được giữ.
- Tôi để làm kỷ niệm thôi.
- Tôi đã được điện của cơ quan yêu cầu thế.
Người ấy nói tiếng Việt như tôi, tôi nghe rõ mồn một, không lạc chữ nào, tôi cũng không
muốn nói nữa.
Người ta đã bàn ở đâu rồi, nói lại cũng thế.
Đi qua quầy nước, tôi muốn uống bia. Nhưng lại sợ trong kia trông thấy, biết mình còn tiền
người ta ra ra khám lấy hết vài đồng trong túi thì từ giờ đến Bắc Kinh phải nhịn đói là cái
chắc.
 Tàu chạy ra khỏi ga Nhị Liên tôi mới uống giải phiền chai Sin Tao nhờ đi mua.


 Tô Hoài
Chiều Chiều
Mây Chiều

Chương XX


Về đến sứ quán ở Bắc Kinh thấy đông nhộn khác cái thoáng vắng hôm trước. Giữa vườn
cây lê cây táo trơ trụi mùa đông, những đống cao lù lù như cây rơm phủ kín ni lông xanh, ni
lông xám. Hỏi mới biết đấy là những núi đồ đạc mới đưa về, để trong nhà không có chỗ,
phải chất ra giữa trời. Bắc Kinh đương mưa tuyết, mưa cả đêm. Những mảng băng đầu
mùa bám ngoài ni lông, khi tuyết rơi nhiều, băng xụt xuống như bùn trắng nhão quanh chân
các gò đống đồ đạc.


Người về ở đông kín các phòng chiêu đãi sở, khắp cả nhà cơ quan làm việc. Xe lửa
Matxcơva về Hà Nội bị cắt lưng chừng, giữa khi qua Cát Lâm trên Đông Bắc. Sứ quán
phải thuê xe lên đón. Cán bộ và sinh viên đi công tác, về phép, về hết hạn, người và hành
lý đưa cả về đây. Tạm ở, đợi bao giờ lại có đường có tàu thì chưa biết.
Quang cảnh ngổn ngang như đồn bốt, như cái nhà đương xây cất vá víu. Ngoài cổng, chốt
đóng mấy lần cửa. Trong nhà, cả khách và cơ quan được chia thành tổ, phòng khi bất
trắc. Hàng ngày, cả cơ quan cũng như khách mỗi người mỗi việc gọn ghẽ đâu vào đấy
chẳng khác quân sự hoá. Ba hôm, nhà bếp đi mua gạo một lần về cơm nước cả trăm con
người. Phức tạp, phấp phỏng, nỗi buồn mất tiền của tôi hoà vào cái lo này, tan mất.
Tự dưng tôi cũng cộng với đám khách chờ không biết khi nào có tàu hoả, có máy bay.
Dần dà, hàng tuần qua rồi và đếm từng ngày nhớ lại, cứ thấy gian nan dài dài. Tôi quen
Quyền Sinh ở chuyến ấy, Quyền Sinh giám đốc du lịch Sài Gòn, đi hội nghị quốc tế du lịch
ở Beclin về.


Bỗng được tin đột ngột đường bay Bắc Kinh- Hà Nội đã được nối lại. Chưa biết nối thử
hay nối thật, chỉ chắc chắn ngày kia có chuyến Hà Nội đầu tiên.
Cái may và vui nữa, tất cả khách đọng lại ở đây mấy lâu đã đăng ký và mua vé được về
chuyến TU 134 này. Nhưng vẫn còn hồi hộp, quá lo rồi đâm quẩn quanh, từ nay tới ngày
kia còn có bất thường nữa không. Biết thế nào, những cái rớp. Và thời gian trôi qua trong
những trận mưa tuyết ngoài vườn lúc đậm lúc nhạt, mờ mừ.


Lại một lo lắng khác. Nhiều người phải lo, hầu hết đều là khách đi tàu hoả, nhiều người
công tác dài ngày, có khi đã đi học năm bảy năm, hành lý mang theo về cũng bề bộn,
không phải như tôi hai mươi cân theo qui định đi máy bay. Thế là cả nhà bỗng hoá cái
chợ. Đem cái gì, còn để lại xếp đống giữa vườn, ôi thôi, bao giờ mới lại lấy đi tiếp được.
Đóng va li thử, mặc thử, rồi lại bỏ ra, xếp lại, lại mặc lại. Đống đồ lều ủ trong băng tuyết
ngoài kia vẫn cao lừng lững. Nhưng cuối cùng cũng xong. Mỗi người bỗng phổng lên
thành ông hộ pháp, may mà trời đã lạnh. Bởi vì quấn đồ đạc vào người và xách hai tay
không phải cân, thôi thì lụa vải, cả bàn là, cả quạt tai voi tháo cánh, cả máy khâu không
chân gấp vuông nhét bụng nhét lưng được tất. Tôi không nhìn mà cũng không muốn nhìn,
chỉ thấy người lên được máy bay rồi ngồi ềnh xuống, nhưng rồi ai cũng đứng lên, đi đàng
hoàng và xuống ga Nam Ninh ăn cơm hẳn hoi. Đến Nội Bài, máy bay vào đỗ ngay trước
phòng làm thủ tục nhập cảnh. Không phải trèo leo lên xe xuống ngựa gì nữa, nhác trông ai
cũng phì nộn mà ung dung, đĩnh đạc. Bởi vì đã về được tới nhà, sức bật vô biên!
Nhớ mãi một cam go sau cùng ở Nam Ninh, bữa cơm sân bay, chẳng có gì đáng nhớ thế
mà nhớ. Như mọi khi phiếu ăn cầm kèm vé. ở sứ quán, Quyền Sinh mải xếp đồ đạc, để
rơi phiếu ăn lúc nào không biết.


Mọi người đã vào phòng ăn. Quyền Sinh mất vé ngồi ngoài hiên, các túi xách lỉnh kỉnh
xung quanh.
Tôi hỏi, Quyền Sinh chép miệng: “Mất vé! Mà cũng sắp đến Hà Nội rồi". Tôi nói: “Cứ vào
với tớ, không sao ăn bữa tạm biệt cũng hay". Tôi nói cứng, thật trong bụng nửa tin nửa
không. Nhưng niềm tin mơ hồ mà mạnh hơn, bởi suốt chuyến đi, những người hải quan
khám rồi lại không khám, cử chỉ nhỏ bé thân thương ấy, dẫu đương cơn sóng gió mà đối
với nhau có trước có sau.


Chúng tôi ngồi vào bàn. Người nhà bàn tới. Người ấy bước đến một mình, tôi mừng
thầm. Tôi giơ vé ăn của tôi với cả mấy đồng nhân dân tệ vét túi nữa, lại đưa kèm chiếc vé
máy bay không có phiếu ăn của Quyền Sinh. Người nhà bàn cười, xoè tay ra hiệu bảo
chúng tôi ngồi. Rồi anh bưng khay đến hai chai bia Xin Tao. Lát sau, mỗi người một bát
mì vằn thắn hảo hạng.
Tôi nhớ thế, nhưng hôm vừa rồi mở sổ tay xem lại đoạn nhật ký chuyến đi Mông Cổ 1979,
lại thấy ghi: ăn sân bay Nam Ninh. Uống nốt chai vôtka Mông Cổ với Quyền Sinh”. Có lẽ
chai bia thì mang về âu là nhớ lẫn lộn lúc đương vui. Người nhà bàn ấy cao hứng, quên cả
thu vé ăn của tôi. Những cốc bia, cốc rượu đã trút đi bao nhiêu lo toan vặt vãnh, tủn mủn.
Mamađu Triôp Điôp người Sênêgan. Điôp là giáo viên. Điôp viết kịch, làm thơ, làm công
tác xã hội và ăn lương dạy học. Điôp thường đi dự Đại hội các nhà văn á Phi với tư cách
uỷ viên chấp hành. ở cái cộng đồng bé nhỏ của thành phố Đaka, Điôp cũng là một nhân
vật cứng cựa. Có khi Điôp đưa tôi một bài thơ tiếng Pháp đã đăng báo. Tôi đem về Hà
Nội, nhưng chưa báo nào nhận dịch đăng.


Điôp hơn bốn mươi tuổi, có thể là một người đàn ông đẹp theo mẫu châu lục ấy. Mỗi
sáng, Điôp bôi dầu bóng nhẫy lên mặt. Tóc Điôp xoăn từng đám như những con ốc bươu
bám quanh đầu. Trên khuôn mặt đen bóng, lòng trắng con mắt và hàm răng óng ánh, thế là
anh ta làm dáng đấy- Điôp cưòì. Mỗi khi Điôp nói chuyện về Việt Nam cứ như lẫn cổ tích
với bây giờ. Bởi vì, Điôp đã được nghe nhiều chuyện và đã tưởng tượng về Việt Nam từ
thuở ấu thơ. Nước Sênêgan thuộc địa Pháp cũng như Việt Nam, cho nên biết bao chuyện
của lính khố đỏ, lính chào mào ở xứ An Nam đâu đâu sang và lính “mặc váy” người
Sênêgan đã đến Đông Dương, họ khoác những cái áo choàng trắng, các cụ ta gọi là Tây
đen mặc váy. Điôp lấy làm lạ tôi biết lãnh tụ khởi nghĩa ở Marốc, ở Sênêgan tên là Apđen
Krim, lại có tên mà lính khố đỏ An Nam gọi là giặc Mạc Đình Kim.


Chú tôi làm ruộng xưa nay chỉ biết có cái chợ Nghệ rồi phải bắt lính khố đỏ sang Pháp rồi
sang châu Phi đánh nhau với Mạc Đình Kim. Đi dẹp giặc nhưng ở lính mà không biết cầm
súng, chỉ giữ chân cắt cỏ ngựa, vào vườn bới trộm khoai tây. Chú tôi bảo rằng nước
Pháp đồng trắng nước trong, nước Sênêgan có khoai tây giàu hơn nước Pháp, cho nên
nước Pháp phải đi cướp nước Sênêgan, nước An Nam ta. Điôp và tôi cười ha ha những
chuyện ngày xửa ngày xưa của chúng tôi. Tôi kể với Điôp ở nước tôi ai cũng làm thơ,
không biết chữ cũng làm thơ. Mỗi người khố đỏ đều làm những bài thơ kể đời lính từ khi
bước xuống tàu thủy chạy sang Tây. Điôp càng lạ hơn. Nhưng rồi nghe tôi kể nhiều
chuyện nữa thì Điôp reo lên: “Dân tộc Việt Nam văn hoá cao nhất thế giới". Không phải
chỉ vì những chuyện thơ, mà nhiều chuyện khác đã khiến Điôp có ý nghĩ ấy. Tôi kể chuyện
về chiến dịch biên giới phía bắc 1950, cả nghìn lính binh đoàn Tabo của Pháp bị bắt làm
tù binh trong rùng núi Đông Khê, Thất Khê. Có nhiều lính da đen, thể nào cũng có người
Sênêgan.


Tôi kể: “Mày biết không, tao đã trông thấy một buổi chiều trời rét mưa phùn dưới chân núi
cạnh đồn Đông Khê vừa bị bộ đội tiêu diệt, chủ tịch Hồ Chí Minh ra đứng bên đường nhìn
đoàn tù binh đi qua. Người đã cởi áo sơ mi đương mặc quàng lên vai một tù binh da đen
cởi trần đi trong mưa. Người tù binh được áo sơ mi chắc không bao giờ biết ông già cho
áo là ai".
Điôp nghe im lặng. Rồi Điôp thở dài:
- Tao sẽ nói tên với mày về mấy người trong họ Mamađu của tao, một người bác, một
anh họ và mấy người trong làng phái đi lính sang Đông Dương. Ghi vào sổ tay đi, rồi mày
cũng có thể gặp, hay là họ đã chết rét cái năm ấy rồi.
ở thủ đô Bon nước Tây Đức tôi cũng đã gặp những người Sênêgan, người Marôc sang
làm culi, làm gác cửa khách sạn hay hỏi thăm tôi về ông nội, về chú bác đi lính Pháp đã
mất tích bên Đông Dương năm xưa.
Trên máy bay nhìn xuống phía đông Địa Trung Hải, sóng bủa lên ngang núi. Những mũi đá
nhô ra như trăm nghìn đầu cá sấu khổng lồ đương húc ra doạ lại mép nước trắng xoá,
như ôm lấy những cột đá phế tích Pompêi kỳ quan thế giới.


Máy bay đỗ hai mươi phút ở Itămbơn. Sân bay xa thành phố, nhưng các nhà ga châu âu
trang nhã, không ngợp bãi cỏ như những sân bay dã chiến giữa cỏ tranh như Luang
Prabang, như Điện Biên Phủ. Tôi nhặt vài quyển sách bỏ túi: truyện trinh thám Sas và
Thám tử Megrê chăng bẫy của G. Simơnông, khách vứt lại trên ghế. Vào quầy sách, trên
giá bày bán tiểu thuyết Nỗi buồn của A. Môravia- nhà văn hiện đại ý tôi vẫn ưa đọc.
Loại sách bỏ túi, giá một đô la rưỡi. Không có tiền lẻ cô hàng sang đổi ở quầy khác. Lát
sau, quay về, vẫn chưa đổi được tờ năm đô la của tôi mà tiếng loa đã báo giờ máy bay
cất cánh.
Về Matxcơva, Marich bảo tôi:
- Tôi chưa được đến sân bay Itămbơn nước Thổ, nhưng đã nghe nổi tiếng mánh khoé
các hàng quán ở đấy lấy cắp tiền khách. Ông là người khách khù khờ thứ bao nhiêu triệu
rồi đấy.


Đến lúc xuống sân bay cảng Saiit thì tôi ngồi suông. Không phải vì còn bực mình, ta đã
đần độn nên bị hố thì còn bực bội nỗi gì, mà chỉ băn khoăn thương cái túi tiền eo hẹp đếm
từng đồng của người đi xa.
Lại mơ bao giờ đến sân bay Bắc Kinh, dẫu cho thời tiết chính trị thế nào và trong thắt lưng
lép kẹp đến đâu cũng uống tự nhiên được cốc nước chè thơm nóng đậy nắp tử tế. Nhớ
đời cái chuyến máy bay hãng Hà Lan đi Libăng, lại đi với Hoàng Trung Thông. Cô chiêu
đãi viên đẩy đến cái xe lanh canh những chai cốc màu sắc đẹp mắt.


Xe chờ các thứ uống không mất tiền, nhưng trên máy bay các hãng qui định khác nhau.
Hoàng Trung Thông đã trông thấy chai Mácten.
Hoàng Trung Thông trỏ chai rượu. Cô phục vụ nhấc chai, đặt ly trên thành xe. Nhưng cô
chưa rót. Cô nói, Hoàng Trung Thông cũng võ vẽ tiếng Anh, nhưng có lẽ mùi Macten đã át
cả, chỉ thấy anh gật gật. Cô hàng, tay vẫn nghiêng chai rượu, tay kia bật ngón làm hiệu
đếm tiền và trong cặp môi hồng dịu của cô thánh thót rơi ra hai tiếng “đô la". Ông bạn
rượu cực nhanh trí, quay mặt lại cắt nghĩa cho tôi: “Rượu thì bán, chỉ nước giải khát mới
gratuit". Thông đã tán ra rất đầy đủ, mà tôi không nghe cô ấy nói.


Từ lần ấy, đến trước quầy nước giải khát nào dưới đất hay trên trời tôi cũng xem ngắm
kỹ. Nhưng ở sân bay cảng Saiit này thì không phải băn khoăn, không có xe được đẩy đến.
Cuối phòng, quầy rượu lớn Tôi ngồi lặng yên như một người không thèm nhạt gì cả.
Điôp bảo tôi giữ hộ cái cặp rồi biến đi. Không nhìn thấy nó ở quán rượu. Điôp cũng không
phải tay rượu, mặc dầu trong các cuộc dạ hội anh hoa chân múa tay, múa may hăng đến
lăn đùng ra trên sàn như người quá chén rồi lại đứng lên đánh trống. Điệu múa lăn thế,
Điôp không say.

Chao ôi, nhớ lại một chuyện ngẩn ngơ- một kỷ niệm khi mới cầm bút, tôi đã viết về cảng
này, vâng, cảng Sait mơ hồ, tôi nào đã biết Sait ở xứ sở nào.
Ngày ấy tôi vớ ở đâu được một quyển lịch năm Anmanach của nhà xuất bản Haxet. Tập
lịch mấy trăm trang có đủ chuyện tò mò, ly kỳ và tranh vui, truyện vui, thơ và quảng cáo, các
thứ đọc giải trí. Về sau, kiểu sách lịch này ở ta hàng năm cũng làm bắt chước, như Niên
lịch thông thư của Nguyễn Văn Vĩnh. Và năm 1946, Tết âm lịch đầu tiên sau cách mạng,
chúng tôi làm báo Cứu Quốc cũng cho in một quyển niên lịch tương tự thế, tên là Lịch
Cứu Quốc. Định sẽ mỗi năm ra một quyển. Rồi kháng chiến...


Tôi bấy giờ khoảng mười sáu mười bảy tuổi, đã thôi học, chưa đi đâu khỏi làng, chưa
biết cái xe đạp, mới được ngồi cái tàu điện vào thành phố. Đọc quyển lịch năm của nhà
Haxet, tôi tưởng tượng ra một câu chuyện hoang đường: có một chàng thanh niên kia thất
vọng vì tình, lang thang xuống làm tàu biển rồi đi biệt xứ. Giữa đại dương mênh mông, anh
gặp khách đi tàu là người đồng hương, anh đã kể câu chuyện tình đau khổ đã khiến anh
phải cất bước giang hồ.


Tôi chẳng còn nhớ cái lệ sử của nhân vật ấy, nhưng tôi vẫn nhớ trong truyện tôi đã tả tỷ mỉ
những hải cảng mà con tàu đại dương đã ghé ăn hàng, đón khách.
Cảng Madrat, cảng Sait, cảng Macxây... Những công viên, những tên phố, tiếng chuông
nhà thờ, các cửa hàng, hiệu ăn... Chuyện như thật, mà toàn sự thật nhờ quảng cáo và
bảng chỉ dẫn khách du lịch tôi đọc được trong quyển lịch năm của nhà Haxet, biết bao nơi
mà đến bây giờ tôi cũng chưa khi nào được tới.

Dưới truyện, tôi ghi: Trung Nha, mùa thu... và truyện ngắn ấy tôi đặt tên là Những chuyện
khó hiểu – khó hiểu thật. Tôi gửi báo, cả một mặt trang phụ trương văn chương báo hàng
ngày Đông Pháp đã đăng. Mấy năm sau tôi mới viết các truyện ngắn Nước lên, Bụi ô tô,
Một đêm sáng giăng suông và những truyện loài vật trong đó có Con dế mèn...


Cảng Sait! Cảng Sait vào Hồng Hải đây. Tôi chẳng biết gì về nơi xa lạ này ngoài câu
chuyện ngây ngô nửa thế kỷ trước. Trước mắt, nước thuỷ triều ban ngày rút xa xa, mặt bãi
lổn nhổn đá sỏi xám quanh những gốc chà là dại rũ rượi. Một lá cờ Anh trên ống khói một
tàu vào cảng. Sân bay gần cầu cảng, trên sườn tàu và thân máy bay, chữ ả rập rối loạn
màu sơn xanh thẫm. Địa đầu châu á châu Phi với những tiềm năng dầu lửa và kim
cương, bề ngoài đều cằn cỗi, hoang dại, như cảng Sait đây.


Điôp và tôi đi Adi Ababa. Máy bay tạt xuống Đông Phi, dưới kia đại dương ấn Độ lại mịt
mờ. Điôp ngủ gật gưỡng.
Tôi hỏi:
- Lúc nãy mày đi đâu?
Điôp choàng tỉnh, cười nhe hàng răng trắng nhả:
- ở sân bay anh có để ý những đứa con gái đứng cửa phòng khách.
Tôi cũng cười:
- Tao không thích môi chúng nó bôi màu nghệ.
Tôi lại hỏi:
- Mất bao nhiêu?


- Một đô. Chưa bằng một góc giá tiền thật cuốn Moravia của anh
Điôp diễu tôi. Tôi đã thấy ở sân bay Karachi, ở Cairô bọn gái điếm hóng khách “đi tàu
nhanh, chúng nó da dẻ ngăm ngăm, môi màu hoa hiên, màu vàng nghệ”. ở Sait thì môi
vàng sẫm, da đen nhãy, người đẹp theo gu từng vùng.
Ađi Ababa, cả nửa thế kỷ loạn lạc. Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, thành phố đã
đẫm máu trong súng đạn xâm lược của phát xít ý. Vua Haliê Hatsiê lưu vong, khi trở về
nước thì chết già chết đói giữa những thế lực chính trị và bộ tộc kình chống nhau. Chỉ mới
tạm yên được ít lâu nay..


Tôi ở khách sạn Hintơn Ađi, đầu giường đặt một quyển Kinh Thánh ba thứ tiếng. Phòng
ăn hiện đại lộng lẫy, người ta phải làm cho đượm vẻ man rợ bằng mái lá cọ, cột cây cổ
thụ xù xì và ghế gỗ nguyên cả vỏ. Nhưng cái hoang sơ thật thì ở ngoài kia, trên tầng lầu
nhìn ra cửa sổ trông ra thấy còn dữ dội hơn nhiều.
Tít tắp xa trước mặt, chồng chất chập trùng những xóm bi đông, rợn lên xám ngắt như
sóng đất. Nghe ánh ỏi tiếng trẻ con đá bóng hò hét ở đâu vang động.


Những trái ngược này đã thấy ở Sait, ở Ađen, ở Dibuti hai bên Hồng hải mỗi lần đi qua.
Quang cảnh đâu đâu cũng tương tự, bãi lầy lội khi nước triều xuống, tường nhà đoan cao
như pháo đài và những lô cốt cả trăm năm còn đấy. Địa đầu các châu lục, nơi qua lại
những mưu lược, những tội ác, khi đổ máu, khi phẳng lặng ngỡ là bình yên. Hầu như một
phần gốc gác văn hoá văn minh của nhân loại phát tích trên nửa trái đất đã nảy sinh quanh
nơi này, thế mà vạn triệu năm ở đây vẫn xác xơ, hiu quạnh, vẫn ngã ba, ngã năm những
giàu sang và cái nghèo khó chen nhau. Con chim sẻ trong hốc lô cốt, những đàn hải âu
lượn trên cửa biển, chúng nó có cộng đồng xã hội như con người, tiếng kêu tiếng hót có
nghe được nhau không, cả nghìn đời có giống nhau không.


Cũng như ở Ađi Ababa này sang Trung Cận Đông, vào châu Phi, ở đây hay ở Bâyrut, ở
Batđa, những cao ốc Hintơn A, Hintơn B, những xóm liều, chỗ nào cũng người đông như
ruồi quanh đống vỏ hộp đi nhặt về nạo lấy cái thừa thãi người ta vứt đi.
Các thành phố Trung Phi mà A. Moravia tới chẳng khác Ađi Ababa ở Đông Phi, cái muôn
thuở trong cái hỗn độn hôm nay.
Đây là giữa thành phố Libơrơ. Cửa hàng, cửa hàng, cửa hàng. Nhà trọc trời cao ngất, lại
vửa phải, lại bé nhỏ, kỳ quặc như những cái hòm đã mở toang hết các ngăn, lại những cái
chỏm cao ba ngọn, những cái hộp bằng thuỷ tinh, bằng sắt, đôi chỗ nhô ra một hàng hiên
giả vờ xiêu vẹo, như ở Nữu ước. Chúng tôi đương đi trong những công trình kiến trúc siêu
hiện đại và siêu, siêu, siêu hiện đại thế nhưng mà chỉ bước thêm hai bước, ba bước là
đã vào đến cửa rừng, rừng thật.


Thành phố không rộng không thẳng như đường phố ở nước Mỹ, nhìn phía nào cũng thấy
những cánh rừng bao quanh như đại dương mà các toà nhà là ốc đảo cô đơn, trong ấy
chỉ có người châu âu tấp nập, nhốn nháo vớt mọi công việc và mua bán” (Đi chơi châu
Phi- A. Moravia 1993)
Tôi đến nước Tandania cũng dự kỷ niệm 100 năm ngày sinh G. Nêru danh nhân ấn Độ
được ủy ban á Phi của quốc tế làm mít tinh tưởng nhớ ở châu Phi.
Không phải cuộc họp của giới văn học, nhưng gặp nhà văn của nhiều nước: nhà thơ
Mukecgi của ấn Độ, Adimôp LiênXô, Atsadoula của Afganixtan, Mamađou Triôp Điôp
của Sênêgan, Alex La Guma Nam Phi. Alex đi thay E. Sêbai tổng thư ký Hội Nhà văn á
Phi.


Sêbai cũng là bộ trưởng văn hoá Ai Cập. Tháng trước Sêbai bị bọn khủng bố chính trị
bắn chết ở Cairô, ở Hà Nội tôi đọc tin đã biết. Các nhà văn làm chính trị ở các nước
đương phát triển gặp lắm hiểm nghèo.
Diện mạo châu Phi có những nét khác các lục địa- những vệt trắng dài đến ngút mắt,
không biết sa mạc hay rừng cằn cỗi về vệt kẻ dài hoà vào chân mây. Qua Kênia, hiện lên
vùng trời nước đảo Dandiba nổi như con đồi mồi khổng lồ, bên này dải đất Tanika viền
một khơảng tuyết trắng phau giữa trong xanh không gợn mây. Đột ngột như cái đầu bạc
khổng lồ của một ông già ngồi tư lự giữ thinh không, đấy là niềm tự hào của châu Phi,
đỉnh núi cao hạng nhất thế giới, núi Kilimangiarô. Quanh núi viền những vùng rừng xanh li
ti mà thoạt nhìn, nắng và băng nghìn năm đọng đỉnh núi loá trắng không nhận ra được.
Châu Phi có hai con sông lớn, Nin Xanh bắt nguồn từ hồ Victoria nước Su đăng, Nin
Trắng thì ngọn nước từ các thung lũng chân núi Kilimangiarô này.


Khách sạn Kilimangiarô trên bờ biển trông vào chỏm núi Kilimangiarô hùng vĩ. Nhưng đấy
lâ ở chân trời xa thẳm, còn xung quanh thành phố- lại như A. Moravia đã ký hoạ những
nhà và đường ở nước Cônggô, những ngăn kéo hộp xi măng chồng lên giữa rừng, giữa
cát trắng, giữa những xóm bi-đông mà sự sống thoi thóp đôi lúc inh ỏi vọt lên tiếng hò hét
của đám trẻ chơi đá bóng.
May thay, cái sân thượng nhà mười tầng đã cho tôi hoang tưởng tôi đương chơ vơ ở một
ốc đảo sa mạc trông ra thấy đỉnh Kilimangiarô đột lên ngang trời châu Phi, dưới chân
tuôn ra ngọn nguồn sông Nin Trắng chảy về Ai Cập.
E. Hêminuây đã viết truyện Kilimangiarô. Con người cầm bút viết nhiều đi nhiều này cũng
có thể vào hộ khẩu châu Phi. Cuộc đời và sáng tác của ông gắn bó nhiều với những vùng
đất quanh Kilimangiarô.


Năm 1954, Hêminuây đi săn ở rừng nước Kênia, trong sáu tháng hai lần rơi máy bay lên
thẳng mà không chết. Sau đó ông về Kêtinga dựng lều bạt lên làm trại viết giữa ốc đảo và
ở đấy suốt năm.
Năm 1999 này, kỷ niệm 100 năm sinh E. Hêminuây.
Cuốn tiểu thuyết tự truyện sau cùng của E. Hêminuây 850 trang sẽ được xuất bản. Ông
viết tác phẩm này rải rác từng mảng, ở nhiều nơi. Phần cuối xong ở bang Idhahô nước
Mỹ.
Rồi cũng ở đấy, E. Hêminuây đã bắn hai phát súng vào miệng, tự sát. Mấy năm qua, có
vài phần trong sáng tác đã được ra mắt bạn đọc, nhưng đây là lần in đầy đủ nhất.
Các tác phẩm của E. Hêminuây đều pha trộn tự thuật, hổi ký và sáng tác. Nhà văn cố ý
không phân biệt rạch ròi các thể loại này khi cầm bút. Ông đã từng nói: “Những tác phậm
hay đều có một điểm chung, ở đấy sự thật còn hơn cả thực tế". Có lẽ cũng là châm ngôn
viết của ông.


ở tác phẩm sau cùng, có một nhân vật đáng yêu. Cô Đơba mười tám tuổi người bộ lạc
Vakamba. Có thể xem nhân vật ấy là người yêu, là vợ tác giả, là người thật và người
trong mộng, Đơba đã cùng ông đi khắp các cuộc săn bắn và ở rừng. Đến bây giờ báo
chí, các nhà nghiên cứu văn học vẫn tranh luận cô Dơba có thật hay không. Nhưng với bút
pháp thể hiện như E. Hêminuây đã từng nói, bí ẩn ấy thiết tưởng không bao giờ tìm ra
được.
Hêminuây quyến luyến nhất với vùng Tanganika và Kênia có ngọn Kilimangiarô. Hêminuây
sáng tạo tung hoành nhưng lại yêu kỷ niệm cụ thể ở trang viết ông đã lấy tên núi mà đặt
cho truyện.


Khi về Cu Ba, nhà ông ở ngoại ô La Havana, trên đồi Phinga Vigia, ở đấy trông xuống bãi
biển. 1952, Hêminuây viết truyện ông già và biển cả tại đây, trên cái bến hoang vắng này,
cái bến và nghị lực những con người được miêu tả trong sáng tác tuyệt vời này đã đưa
ông vào giải thưởng văn học Nôben. Tôi đã có lần đến thăm nhà Hêminuây trên đồi
Phinsa Vigia. Người ta kể ông hay lên cái chòi cuối vườn, nhìn ra bể, tưởng như
Hêminuây đã ngồi viết trong chòi, đôi lúc ngẩng mặt lên trước trời nước mênh mang.
Kalimangiarô, câu chuyện một người bị tai nạn máy baý nằm đợi chết trên lưng núi.
Người hấp hối chiêm bao chập chờn thấy mình bay qua đỉnh núi với người yêu. Sự sáng
tạo đã buộc sự từng trải của người cầm bút vào vùng đất vùng núi đã có những kỷ niệm
sống chết. Ta hiểu thêm những miếng nước đầu nguồn hư ảo và hiển nhiên ở mỗi chữ
của ông.


Trên sân thượng này nhìn lên ngọn Kilimangiarô trọc lốc phủ băng trắng trong nắng chang
chang, tôi có cái tò mò ngẩn ngơ thử đoán xem nhà văn cho cái máy bay lên thẳng bị rơi
trên ngọn nước đã được ông đặt ở quãng nào. Đoán mơ màng thôi, chứ từ đây vào chân
núi những một trăm ba mươi cây số.
Tôi đương nhìn về núi Kilimangiarô từ thành phố Đaét Salam thì được đọc báo có những
tin kỳ lạ. Một người Việt Nam, một phụ nữ Việt Nam vừa lập kỷ lục trèo lên Kilimangiarô.
Hãng tin RFI đã phát đi: 9 giờ 30 sáng 7 tháng mười một, một phụ nữ úc gốc Việt, cô
Nguyễn Thu Hương đã leo tới mỏm cao nhất đỉnh Kilimangiarô.


 Cùng đi với cô có kỹ sưhàng hải Geri. Hành trình liền sáu ngày đêm. Những người dân tộc Maxai khiêng vác đồđạc và dẫn đường hai nhà leo núi lên theo phía thung lũng Maxam. ở đây cũng người làmnên kỳ tích mà không bao giờ được kể đến, những người Maxai cũng như người Xecba
bên dãy núi Himalaya châu á cả đời chuyên nghề mang vác, dẫn đường các nhà du lịch
leo núi lập kỷ lục đến chóp núi mà không khi nào được cắm cờ chụp ảnh phát đi thế giới.
Tin điện miêu tả lúc ấy đỉnh Kilimangiarô trời nắng, có mây trắng bay qua trong tuyết rơi.
Lác đác, cây thạch anh, cây lôbêli trồi ra trong tảng băng. Một đàn gà gô trắng. Những con
gà gô chưa biết sợ người, đã được đứng chụp ảnh chung với cô Nguyễn Thu Hương và
bạn đồng hành.


Đêm giã từ Tandania trong rừng dứa dưới bãi biển, có cuộc vui nhộn của làng chài tiễn
khách. Không biết làng chài hay làm nghề đánh chão. Hàng ngày, không thấy lưới thấy
thuyền, chỉ từng đám đàn ông, đàn bà xúm xít tước xơ thân dừa ra đánh thành những cuộn
chão chồng cao hơn đầu người.
Chão dừa neo buộc thuyền bè đi biển không bị hà ăn, mòn xác xơ cũng không đứt. Trong
đêm, các làng chão ven bãi sôi nổi trống và người rập rờn nhảy.


Từng đám mấy chục cô gái đứng thành hàng. Những khuôn mặt đen nhoáng đương múa
lưỡi, những cái đầu lưỡi trong miệng thò ra uốn éo múa lên nhấp nhoáng quấn quít đỏ
như ánh lửa. Tiếng trống rồn rập, những chàng trai cởi trần lăn trên cát như làn sóng.
Không phải một Điôp múa lăn mọi khi, mà cả trăm Điôp đương cuồn cuộn. Năm trước, ở
Tân Đêli ngắm thần Lửa thần Nước nghệ sĩ đứng múa bụng cả giờ trên sân khấu đã thấy
hãi công phu điêu luyện, bây giờ ngốt lên nghệ thuật bốc lứa cá trăm con người, hầu như
mọi đàn ông đàn bà trong làng đều biết chơi đánh lưỡi, lăn mình. Tiếng trống dồn dập,
thoắt biến thoắt hiện, lại thấy nhô ra một trăm chàng Điôp cởi trần ôm tang trống, đánh
trống bằng những cùi tay, những bàn tay. Dãy trống kê vòng quanh người người lăn lượn,
mặt trống cùi tay và những ngọn lưỡi rừng rực lên giữa bãi cát, lửa củi, lửa người.
Các nhà nghiên cứu sự phát triển của xã hội loài người đã công bố một số liệu phân tích:
châu Phi đương đuổi và đuổi kịp mọi mặt châu á. Những dị dạng, những kỳ lạ, không gì
khuất phục được sức mạnh từ ngọn núi Kilimangiarô đến những con người đồng bằng
sông Nin lên có lẽ là đây.


Tôi lại có dịp với Mamađu Triô Điôp đến bang Tây Băng Gan rồi lên nghỉ trên cao nguyên
Đacgiơlinh biên giới nước Nêpan chân núi Hymalaya. Cùng đi có nhà thơ Tây Băng Gan
Kecmugi. Kecmugi đã hai lần đến Việt Nam. Tôi đã đưa Kecmugi thăm Hoà Bình lên một
làng Dao ở Tu Lý gần Toàn Sơn. Anh ăn thịt gà, chấm nậm bìa- nước ở lòng bò vắt ra,
như mọi người trong làng. Trong khi, một lần khác cũng đến núi ấy, nhà văn Xevun ở
nước cộng hoà Trung á và Marich thì không dám đụng đến các món dân dã này.


Tôi và Điôp ở buồng cửa trông sang nhau. Tôi vừa đọc một tờ báo đăng tin một nước,
không nhớ Camơrun hay Marôc, không phải Sênêgan, ông tổng thống mới được bầu có
tên trùng với Điôp. Tôi kể, thì Điôp nói: “Họ Mamađu nhà tôi ở nhiều nước, nhất là ở Trung
Phi và cũng lạ lắm, nhiều người làm tổng thống, cũng nhiều người điên. “- Mày đương làm
quan to hay mày đương điên?


- Tôi a, có lẽ tôi đương cả hai.
- Cả hai là Liên Xô hay Mỹ?
Điôp cười, không nói. Cũng không phải không có lý Mặt trận nào thì Liên xô Và Mỹ cũng
đều có người của họ. Có thể thế này có thể thế kia. Phải tính chứ, mỗi lần Điôp đến sứ
quán Liên Xô ở Đacca nhận giấy mời và vé máy bay đi nước ngoài. Không là bình
thường. Vlat ở Hội nhà văn Liên Xô làm đối ngoại về châu Phi đã kể tôi nghe những mưu
mẹo tranh thủ lắt léo đầu làm việc này đuôi lại sang kết quả khác, không ngay thẳng bao
giờ.


Buổi sáng, vào phòng tắm, Điôp hun tóc rồi mới rửa mặt. Điốp đánh từng que diêm, nhìn
vào gương hơ cho tóc quăn lên. Tay xoe khéo đã có cỡ thoảng mùi khét, nhưng không
hẳn tóc cháy. Rồi tóc Điôp cuộn thành búi, thành cục tới đỉnh đầu. Làm đẹp những hôm
long trọng, đầu Điốp xoắn ốc kỹ lưỡng và hai hàm răng trắng rợn.
Điốp cho tôi một mẩu rễ cây, như rễ cây duối, để cọ răng. Dễ cây swek này tôi đã thấy
bán ở chợ Casablanca, như cau khô đánh răng. Đám rễ ấy Điốp bỏ trong cặp, đem tử
nhà đi. Lúc thong thả một mình và trước khi đi ngủ, Điốp cầm một mảnh rễ cọ răng.
Điốp cắt nghĩa cho tôi hiểu vẻ đẹp trai gái.- Nhìn thấy nhau, là khuôn mặt đen bóng, hàm
răng trắng và đôi mắt loáng như gương. Đấy là những màu nổi nhất, nhận ra nhau trước
nhất từ xa trên mặt người thanh niên châu Phi. Tranh dân gian châu Phi khi nào vẽ người
cũng có hai mắt to choán nửa mặt, con ngươi và lòng trắng mắt mới tình tứ sao- Điôp
bình luận thế.

ở Đácgiơlinh tôi cũng gặp lại Ôta. Nhà văn Nhật này viết tiểu thuyết, nhưng tôi biết Ôta bởi
Ôta năm ấy ở Tôkiô là thành viên một tổ chức phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam. Ôta đến
Việt Nam có công việc khác nhưng vì Ôta là nhà văn nổi tiếng nên Ôta cũng là khách của
chúng tôi.
Còn công tác của Ôta đến Hà Nội thì thật xa lạ với bút mực. Tổ chức nhân dân Nhật chống
Mỹ xâm lược Việt Nam của Ôta hoạt động sâu rộng, được sự ủng hộ của các giới và có
tác động trong binh lính Mỹ. Lính Mỹ đánh nhau ở Việt Nam được thưởng phép thường về
nghỉ ở Băng Cốc, ở Hồng Kông, ở Nhật. Tổ chức của Ôta bắt mối được với nhiều lính Mỹ
đã chán nản không muốn trở lại chiến trường. Những đứa này tìm cách ở lại Nhật, mỗi
ngày một đông. Tổ chức của Ôta giúp họ trốn, đã bi mật nuôi giữ nhiều người. Ôta sang
Việt Nam có ý hỏi ta có việc gì cần đến bọn Mỹ đào ngũ này, như viết tài liệu, phát thanh...
Đấy là những việc Ôta giao thiệp với những cơ quan khác, và rồi Ôta có được việc
không, tôi không biết. Nhưng Ôta là khách, tôi đã trò chuyện văn chương với Ôta và gặp
Ôta đến tận hôm tiễn. Ôta uống nhiều, khen Lúa Mới ngon đậm hơn rưọu sakê.


Tôi có cảm tưởng là người Nhật lặng lẽ và nghiêm túc trong mọi công việc. Như các nhà
văn Nhật thường gặp ở hội nghị, kể cả Kauabata nhà văn có tiếng . Họ ít nói, đi thành bọn
và vào phòng ăn hay mang theo thức ăn mua sẵn ở Nhật. Họ đã biếu tôi những hộp dưa
cải muối, lạc muối. Những thói quen và sinh hoạt giản dị này tôi đã quen biết từ những
năm kháng chiến ở Tuyên Quang, cơ quan tôi có Nguyễn An Nghệ Shoisi Aki. Khi Nhật
hàng Đồng Minh, anh sinh viên kinh tế Aki đã chạy ra với Việt Minh ở Nghệ An rồi Aki
được đưa ra Việt Bắc ở với chúng tôi. Nhưng Ôta thì khác. Ôta mơ màng lảo đảo ra tận
sân bay. Hôm sang Nội Bài suýt lỡ chuyến bay. Sân bay dã chiến cánh đồng Nội Bài, máy
bay Mỹ hàng ngày đến bom bắn. Cả đài chỉ huy bay đã bị bom huỷ- ngày nay hãy còn
đứng sừng sững cái cột loang lở trơ trọi như một chứng tích thời chiến. Có lẽ vì sân bay
Gia Lâm đã hư hại nặng, cho nên ở Nội Bài cứ sáng sớm và chập tối chớp nhoáng
những chuyến bay dân sự.


Nhà đợi bay chỉ mấy mảnh tôn, vách gỗ dán. Mỗi hôm, khi vàng mặt trời, những chiếc TU
154 cả ngày ẩn ở đâu được xe tải kéo ra đậu trước nhà đợi, khách lật đật lên rồi máy bay
lao vút lên vòm trời xâm xẩm, trông lại thành phố đã sáng đèn.
Ôta lẩn thẩn ra ruộng một lúc, không biết ngồi nôn hay đi vệ sinh. Chúng tôi phải ra dắt, chỉ
là Ôta quanh quẩn ngoài bãi cỏ không nhớ lối vào. Ôta nằm trên cái ghế dài trong nhà
đợi. Ôta ngủ luôn. Ai cũng lo, chốc nữa có lẽ phải cõng anh ra máy bay. Rắc rối quá, khi
đó chưa có cái xe bậc lên xuống, mà chỉ có thang sắt ngoặp vào bụng tàu bay cho khách
bíu bước lên.


Nhưng, như là linh tính, tiếng động cơ máy bay nổ ngoài sân thì Ôta ngồi dậy. Một bà
khách Pháp đương ngồi rũ ra, mắt nhắm, bây giờ cũng ngẩng mặt.
Hành khách ra sân bay thời ấy, phụ nữ cũng uống rượu- tôi đã trông thấy các bà đầm
Rumani mặt đỏ tưng bừng. Máy bay Mỹ sắp ném bom sân bay, cả lên trên trời kia cũng
có thể gặp nó, cái rượu cũng làm cho ta lẫn lộn nhãng đi đôi chút. Một người Tây, một
người Nhật loạng choạng bước ra. Anh lái xe và tôi xốc vai Ôta, đủn Ôta bám vào thang
sắt, Ôta như bò lên, những cô chiêu đãi viên người Nga ra kéo vào khoang từng vị khách.
Trời vừa chạng vạng tối.


Lần này, gặp Ôta ở Đacgiơlinh, Ôta tiều tụy hẳn. Vẻ người nhầu nát vì rượu, thân hình to
lớn mà hốc hác nhợt nhạt. Được mấy hôm, rồi cả ba nhà văn Nhật về Canquitta trước.
Không biết họ có việc phải về hay bởi Ôta yếu không chịu được cái lạnh núi cao.
ở Đacgiơlinh, ô tô hai mươi cây số trên núi trong rừng ra mới gặp sân bay. Tôi đi tiễn Ôta
tận nơi. Ôta quàng vào vai tôi cái đài Natiônan nhỏ hơn bàn tay và khổng nói gì. Đến lúc ra
máy bay, Ôta nước mắt đẫm trên má ôm tôi rồi giơ tay: Hà Nội! Hà Nội!
Từ bấy tới nay không gặp lại. Chẳng biết có còn sống không.
Chỉ có Điôp vẫn như thường, răng trắng nhởn nhơ.


Điôp không rượu, chỉ ăn khoẻ. Ngày nào cũng đi chùa. Điôp bảo ở Sênêgan không có
chùa, hỏi ở Việt Nam có chùa, phải không? Người Tây Tạng chạy sang Đacgiơlinh đã
nhiều năm, họ ở trong chùa đông đúc. Đacgiơlinh giáp giới Tây Tạng với Nêpan và ở
sườn núi. Điôp lạ mắt, cái gì cũng muốn biết. Có hôm, Điôp bảo tôi: “Chúng ta nên leo
một chuyến lên Hymalaya, xem trên ấy có gì mà người ta thích lên chết ở trên ấy".
Điôp vào những ngõ hẻm có người Xecba trú ngụ. Người Xecba bé nhỏ, nhanh thoăn
thoắt, chuyên đi vác đồ đạc và dẫn đường cho khách du lịch và người leo núi Hymalaya.
Điôp thường chỉ quen bốn phía sa mạc phẳng đến chân trời, thấy những khác thường
ngày thì háo hức. Tôi đã thuộc tính Điôp, nhiều cái lạ không trả lời được.
Điôp hỏi:
- Những người Sênêgan về bảo bên Đông Dương nhiều nước lắm, phải không?
- Nhiều lắm, nước suối, nước sông, nước giếng, nước mưa...
- Trời ơi, ở Đacca, cả năm chưa chắc đã được trận mưa. Khi có mưa, cả châu Phi chạy
ra nhảy múa trong mưa.


- Huế, Đà Lạt biết chứ?
- Biết trên bản đồ.
- Những nơi này có khi mưa cả tháng, mấy tháng.
- Ôi chao, tôi có thể đến Huế, đến Đà Lạt được không?
- Được chứ, Eptuchenkô vừa đến Hà Nội. Bây giờ đương ở Cu Ba hay ở Mỹ đấy.
- Thằng ăn mày Điôp ví sao được với Eptuchenkô!
ở Đacgiơlinh đi, nhớ Điôp, một nhà văn chưa có tác phẩm mà tôi gần gũi nhiều trong các
chuyến đi, con người như một pho tượng hồn nhiên và đau khổ.


Cái gì, ở đâu cũng khác Sênêgan. Điôp là người như thế nào? Không biết anh thế nào,
nhưng tôi tưởng như tôi có thể biết. Một tiểu trí thức, tầng lớp gần dưới đáy đông đảo
nhất châu Phi. Anh không muốn ra đồng kéo cày với con ngựa, nhưng anh là ai đứng đây
thì anh cững không tự biết, hay là biết mà như không.
Người có đôi chút chữ nghĩa như anh thì đi lính dễ có cơ hội đổi thay nhất, sẽ lả tướng tá,
là tổng thống lúc nào không biết chừng. Nhưng anh ghét vào lính và anh buồn nỗi thấy ở
đâu cũng hơn Sênêgan. ở Sênêgan không có hội nhà văn, anh cũng chưa biết anh sẽ là
nhà thơ, nhà viết kịch hay nhà gì, bốn mươi hai tuổi rồi mà tất cả còn ở trước mặt. Anh ra
nước ngoài bởi được mời, mỗi lần về có khi vui hơn, có khi buồn hơn, lo hơn và lại ngày
ngày bước vào cái lớp tiểu học chữ Pháp của anh.


Tôi đi Cu Ba dự hội nghị phong trào đoàn kết á Phi Mỹ la tinh. Vẫn như chuyến trước đã
đến Cu Ba, ở Matxcơva sang Buđapet xuống Tuyni rồi Sênêgan, bỏ châu âu lại đằng sau
lưng, chỉ thấy xanh thẫm. Angiê, Tuyni bên biển, thành phố trắng nhạt trong bóng tường đá
và vòm lá chà là. Xa xa, những đồn điền bậc thang trên đồi ô liu. Như vẫn ở khách sạn En
Riadh, tiếng sòng ỳ oàm vào những hang hốc cửa sổ suốt đêm.
Đến Sênêgan, máy bay đỗ lâu hơn một tiếng ở Đacca trước khi bay dài trong một đêm
khác thường qua Đại Tây dương. ở Matxcơva tôi đã gửi điện cho Điôp ra đón gặp một
chút chơi. Sân bay trong ánh điện, những cây chà là, chùm hoa chín vàng xuộm, chà là họ
nhà hoa cau, hoa dừa. Ngoài trời tối đen, tiếng sóng rào rào như mép biển ngay kia.
Điôp ra sân bay với vợ và một con nhỏ. Tôi hỏi vợ làm gì. Điôp nói vợ ở nhà. Tôi hình
dung những người đàn bà đội những cành bạch đàn khô, tay dắt con cừu chiều đi ngoài
rừng vào trong phố. Lúc này Điôp giống người chăn cừu về, đương vui, sắp lăn ra múa
như lên cơn.


Tôi tặng Điôp một chiếc đĩa Bát Tràng treo, trong lòng đĩa vẽ in chú bé cưỡi trâu, tóc để
trái đào. Nhưng Điôp thích nhất, hớn hở nhất tôi đem đã cho Điôp một số báo Văn Nghệ
đã dịch in một bài thơ của Mamađu Triôp Điôp.
Điôp lật đi lật lại trang báo rồi đưa lên môi hôn... chữ Mamađu... Điôp... và kêu lên: Tên
tôi... Tên tôi... Mamađou... Điôp... chữ Việt Nam, chữ Việt Nam, tôi đọc được ngay... chữ
Việt... Hà Nội...
Điôp bảo vợ:
- Tôi sẽ đi Việt Nam. Con tôi sẽ cưỡi con trâu như thằng bé này.
Vợ Điôp bảo tôi:
- Điôp đã kể nhiều lần, ở Hà Nội đã in thơ của anh ấy, rồi sẽ in kịch, diễn kịch nữa. Điôp
có tiền bản quyền, sang sống ở Việt Nam. Điôp đi ngay chuyến này với anh, có được
không?
Ba chúng tôi cùng cười. Chỉ có chú bé ngơ ngẩn nhìn ánh đèn ngoải xa lóng lánh.
Chốc mà đã ra mười mấy năm rồi.


Tô Hoài
Chiều Chiều
Mây Chiều

Chương XXI


Tôi lại về xóm Đồng.
Chẳng phải vì thế nào. Mỗi người đều có thói quen, nếp nghĩ, sinh hoạt, đi đứng... Tôi hay
nhẩm lại những nơi tôi thèm đến mà chưa khi nào được đặt chân, càng thèm: huyện Sông
Mã ở Sơn La, đảo Phú Quốc ngoài biển Đông... Tôi lại về xóm Đồng, cuốn sách người
đã đến đoạn ấy, bây giờ xem tiếp.


Mỗi khi trở lại những nơi đã từng đến, tôi hay nhớ lại kỷ niệm từ thuở bé. Năm nào cũng
vậy, tháng mười giỗ ông tôi lại thấy bà Bống về. Người lớn bảo bà ở tận trên ngược, bà
là em ông tôi, bà quảy về một gánh những bó sắn, củ mài và đôi gà trống. Trên ngược
đây là huyện Lập Thạch. Nhưng thuở ấy Lập Thạch với tôi đã là rừng xanh núi đỏ xa xôi
tận đâu và tôi cũng không bao giờ biết tại sao bà em ông tôi lại phải đi lấy chồng xa thế.
Hàng năm, bà Bống về với họ hàng ăn giỗ ông tôi, lại khiến tôi cảm thương tình máu mủ
ruột thịt. Và sau này, lại một điều trông thấy đã khiến tôi nghĩ đến sự thăm hỏi và tình nghĩa.
Năm ấy, chúng tôi ở Phia Biooc tỉnh Bắc Kạn, trên núi những làng Dao Dỏ. Tết đến, từng
đoàn người, cả trẻ con, khăn chít và váy áo đỏ rực rỡ, đeo túi.


Tôi hỏi: “Đi đâu?”. Bà con nói: “Đi chơi tết với người trong họ". Người trong họ ở các núi
tận trên Cao Bằng hay dưới Thái Nguyên, có khi đi rừng mấy ngày mới tới. Nhưng mà
năm nào cũng đi, không hề quản ngại.
Tình nghĩa cũng trong lẽ sống tự nhiên, khi nào nhớ những chuyện trên tôi cũng thấy một
niềm vui đầm ấm rồi lại bùi ngùi.


Cảm thấy đã quên mặt, quên tên nhiều người. Thế mà vẫn nhớ cái hôm tôi buộc cây hóp
làm cột dây đồng vào thân cây cau, ông Ngải ngồi trong nhà lim him mắt, tay cầm cái
galen to bằng trôn bát “cứ nói eo éo như con ma nói". Hoàng Trung Thông- tôi nghe Trần
Lê Văn kể, thỉnh thoảng gặp, Thông hay hỏi: “Dạo ấy mình thế nào” Tổ trưởng Thông ngại
những chuyện lố lăng gì chăng hay là anh cũng vẫn nhơ nhớ những ngày ấy.
Tôi đi xe hàng, không đáp tàu thuỷ và không mang theo xe đạp như hai lần trước. Bạn bè
hay đi bảo bây giờ xó xỉnh nào cũng nhan nhản xe ôm, tội gì mà chen chúc ô tô hàng, còn
khiêng cái xe trâu để mà chết a. Mà từ thị xã xuống Thái Ninh thì cũng chẳng mấy bước
đường.

Phố xá Thái Bình đã nhiều cái khác xưa. Những lần trước trông chỉ loi thoi vài ba ngôi
nhà, gió thổi rào rạt cuốn rối lên những búi cỏ tranh. Từ ngày hoang vắng ấy, nhưng có cái
hay là đã sẵn vết đường bằng phẳng dễ cho những đại lộ sắp mở, đương dọn cỏ.
ở đây mấy năm nay đã lên thành phố giữa những bước tiến giằng co. Một dạo, vô số xe
và máy với chuyên gia nước ngoài đổ về khoan dò dầu khi khắp một miền ven biển. Báo
Nhân Dân đã đăng ảnh một mũi khoan có khói và dầu (hay nước) phụt toé lên. Thật thì đã
tìm được khí. Nhà máy sành sử Tiền Hải chạy điện lấy từ khi khoan này. Nhưng ai tầng
qua lại Nam Định, Thái Bình đã biết tử thuở xa xưa ngày trước có nơi ở vườn, ở ruộng
chọc lỗ xuống, trong đất nhả ra hơi nóng ngùn ngụt. Có thể bắc bếp thổi cơm, cả thui chó
được. Người ta đã làm như thế. Giờ mới biết đấy là khí, rồi sẽ có ét xăng, rồi mở mang
khai thác qui mô. Những người hay đọc báo nói rằng Thái Bình sắp giàu đến nơi, nước ta
sẽ nhiều mỏ dầu khổng lồ như Brunây, như Trung Đông.

Thế là Thái Bình được gấp rút xây đón đầu một thành phố công nghiệp. Giữa những bãi
lau sậy ngập đầu nguy nga nhô lên các nhà trụ sở uỷ ban, nhà thư viện, nhà bảo tàng đã
lên tường cao cao, cái khách sạn năm tầng cho chuyên gia và khách du lịch được khánh
thành trước tiên. Dưới bãi Đồng Châu quanh năm nước xuộm đỏ các cửa sông đổ ra
biển, nhưng đất bồi màu mỡ, nhiều nhà nuôi vịt, chiều đến, người ta đi nhặt trứng vịt đẻ
trên cát, đội hàng thúng về.

Bây giờ đồ sộ ngôi nhà nghỉ Công Đoàn. Mọi cơ ngơi đã huy hoàng nhưng vẫn là cái sự
hóng. Cho nên nhiều công trình còn dang dở. Đường xuống Đồng Châu sẽ tráng lệ còn
đợi, chưa nâng cấp, ô tô chạy chồm chồm trên ổ trâu. Cái nhà bảo tàng giữa thị xã chẳng
biết bao giờ mới xây tiếp, tường nhoe nhoét vôi vữa, những lỗ cửa chưa có khung, như
cái hàm răng móm.
Thành phố vẫn đương đợi vận hội. Dù sao, không đến nỗi “Cao Biền dậy non” như Xuân
Hoà, Xuân Mai, những thị trấn vệ tinh tưởng tượng quanh Hà Nội.
Thái Bình không bị đứt đoạn, mà chuyển đoạn quang cảnh hôm nay hiện ra vẻ nhộp nhịp
cũng em em mấy phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng náo nhiệt hàng hoá trên Hà Nội. Đường
Cầu Bo qua cổng tỉnh sang Nam Định không còn nhà vách đất lợp phibrô xi măng xám, đã
nhấp nhô những nhà một tầng mái ngói, mái bằng.


Trước cửa thừng ni lông chăng, vắt từng đệp quần áo loang lổ đủ các màu trên đòi, đòn
ngang nối liền với những chiếc bàn, những cánh phản phủ tấm nhựa đỏ trên bày tú ụ bánh
kẹo gói bọc giấy bóng nhấp nhoáng, Tết trung thu ngày trước cũng không được như thế.
Phố “siđa", lại phố “quân khu” và choáng lộn bánh kẹo lạ mắt rối mắt như Hà Nội lan
xuống dưới này đông như chợ. Người trong làng kéo lũ ra, đi xem, đi sắm. Anh kia trả tiền
rồi đến đứng tựa lưng vào gốc cây tụt quần cũ xỏ quần mới vào rồi bước ra, người nọ
ngắm người kia, vỗ tay cười hê hê như được bạc. Rồi lại tạt sang các bàn kẹo bánh xanh
đỏ đến hoa mắt.

Đầu cần Bo, mấy nhà lá hàng cơm chứa trọ năm trước đã lên nhà gạch cả. Không còn cái
gậy tre chống tấm phên cửa lên, mà buông phất phơ một rèm vải hoa, lụa trứng sáo, ở
trong đi ra một cô mặt mũi nhẹ nhõm, kẹp tóc. Cô chào: "Mời bác vào nghỉ hàng nhà
cháu” Cô này hẳn ở trong làng mới ra, chỉ mai kia thì mắt xanh mỏ đỏ tới nơi. Vẫn bến tàu,
nhưng người không đeo vai cái tay nải, cái bọc mà hàng chục gánh nối nhau đi một dãy.
Mụ nọ khoác cái túi giả da bóng nhoáng hộc tốc chạy xuống chỉ trỏ tốp người gánh thúng
bọc lá chuối khô đặt dọc lòng tàu, trên boong, cả khoang lái Đấy là những thúng trứng vịt
lộn từ vùng biển lên. Tàu thuỷ thì mất một ngày đường nhưng của hàng hoa không lo bị xô
đẩy dễ vỡ như gác nóc lên xe tải.


Cả chuyến tàu ngược Phà Đen chở trứng vịt lộn. Mụ đeo túi, áo kếp trắng viền đăng ten,
môi son phơn phớt, đương cau có chỉn diết gióng, lại cười cợt bả lả. Kiểu người này năm
trước mộc mạc hơn, đã gặp ở Cầu Bo, ở Hải Dương, tôi tưởng như bọn đây là con cái
chúng họ xuôi ngược nối nghiệp. Ông bạn tôi quanh năm ngồi xó hàng nước, nghe hóng
đủ chuyện, chẳng cần đi đâu mà mách đúng cho tôi. Chỗ nào bây giờ cũng lắm giống xe
ôm. ở Hà Nội chỉ có xe máy ôm, dưới này vô khối xe đạp ôm nữa. Cái xe hàng vừa vào
bến, đã cả chục xe máy, xe đạp ôm xô đến hỏi bác về đâu, xe đạp giá mềm, cam đoan
chạy suốt, không bán khách... mời bác, mời...


Một thanh niên áo xắn tay kẻ carô tím, đội mũ lưỡi trai. Trông vạm vỡ khoẻ mạnh, tôi đã
ưng ý. Chợt nghĩ lại ngại. Đường xa, mấy chục cây số đồng vắng, nó lực lưỡng thế kia mà
trấn thì mình bỏ đời. Nhưng nghĩ lại, thấy là tôi cũng lẫn lộn thời sự. Hồi này khách bỏ thuốc
mê, khách giết lái cướp xe ôm nhiều lắm. Tôi bèn chọn anh tài chắc chắn ấy. Anh ta rõ
cẩn thận. Anh lấy dưới yên một khúc dây da quấn quanh bụng tôi rồi mắc hai đầu móc xích
xuống đệm ghế. “Đây an toàn, bác ạ. Tha hồ ngủ gật, có ngã cũng không văng ra được. ở
bên Đức, bước lên xe là cài dây an toàn, đội mũ bảo hộ, luật đi đường thế, không thì phải
phạt ngay". Nhớ rồi, tôi đã thấy bên thành phố Quảng Châu, chẳng biết khách ngồi đèo có
buộc dây an toàn thế này không, nhưng người lái, người đằng sau đều đội mũ bảo hộ,
nom như hai cái đầu con dế mèn tròn bóng. Tôi bằng lòng sự cẩn thận mà tôi nghĩ nhân
lên là có tính hiện đại, tính quốc tế của anh tài này.
Anh lái có vẻ vui chuyện. “Tên cháu là Khế, khách quen gọi là Khế ôm. Bác vào đến đầu
phố huyện hỏi Khế ôm, trẻ con cũng chỉ nhà Khế ôm đúng ngay".


Tôi hỏi:
- Cháu đã sang Đức à?
- Bốn năm.
- Cháu ở tỉnh nào, Béc Lin a?
- Không ạ, Lai Xích.
- Cháu ở quận nào dưới Lai Xích?
Tôi buột miệng hỏi câu ấy để làm gì. Anh lái có trả lời hay không, tôi không nghe. Đán, con
trai tôi đã ở Lai Xích, đã chết ở Lai Xích, tôi đã có lần tới Lai Xích, tôi vẫn nhớ địa chỉ, cả
số nhà, phố, quận...


Một lúc lâu, tôi không nói được.
- Bác đã đến Lai Xích rồi a?
- Chưa, cháu ạ.
Khế nói:
- Bác mà đến Lai Xích thì bác phải mê. Nhà ga xe lửa mái lợp to bằng trăm cái chợ Bo
mà cấm thấy một cái rác. Tài chưa!
Tôi hỏi Khế chuyện khác.
- Đi bốn năm rồi về?
- Cháu chẳng thiết ở đâu cả. Cháu sốt ruột về nhà. Mẹ thì già. Vợ còn con nhỏ. Hết hạn lao
động mà lại không còn nước dân chủ Đức nữa mới chán chứ. Cháu về thẳng. Khối đứa
trốn ở lại.


Đương khoái chuyện, Khế kể:
- Tổ cháu có sáu đứa ở lại, cả bọn con gái. Tìm việc bên ấy chẳng khó. Nhổ cỏ cũng ra
cái ăn. Nhưng chúng nó thích đi buôn. Chúng nó bảo đi buôn kiếm tiền nhanh.
- Buôn thế nào?
- Buôn đi bán lại vớ vẩn ấy mà. Đứng đường bán thuốc lá, thấy công an thi lủi. Dễ ợt!
- Đầm với đìa, bác ơi! Sẵn quá, bọn đầm lười như quỉ, chỉ nằm ườn bắt thằng bồ nuôi.
- Buồn cười nhỉ!
- Cơm nhà, cơm nhà, cháu cứ là cơm nhà...
Khế cao hứng, ngêu ngao:
- Ta về ta tắm ao ta. Dù yrong dù dục ao nhà vô tư, có phải không bác?
Xa xa, đã trông thấy bóng đen những thanh sắt trên cống Trà Linh. Xóm Đồng kia rồi. Mặt
cỏ vệ đê cống Bắc phẳng mờ, đến gần nữa, hoa cỏ may trắng như hơi sương. Mỗi khi
nghĩ đến đồng quê, tôi lại cảm giác như thuở bé, mong mãi chưa thành người lớn, ký ức
dừng lại, xóm làng ở đâu cũng chẳng khác, mà khác cũng cứ nhớ ngày xưa thế.


Mấy nóc nhà lèo tèo và cây đa chợ Thượng không còn. Một trường tiểu học, dãy nhà quây
trong bốn phía tường gạch quét vôi vàng. Trơ trọi không một bóng cây. Tôi nói:
- Đến nơi rồi. Tôi xuống làng bên chân đê kia.
Khế hỏi:
- Làng bác ở đấy à? Bác về quê chơi.
- Không, tôi thăm người quen.
Rồi tôi dặn Khế:
- Tôi vào làng, nếu chẳng gặp người quen thì tôi lại nhờ cháu cho về tỉnh ngay. Bằng như
gặp được thì ta tính sau. Có khi mai mới về cũng nên. Giá cháu cũng ở lại, mai đưa tôi về
thì vui quá.
Khế sốt sắng:
- Bác cho cháu đi cùng xuống làng. Để xem thế nào.


Khế dắt xe đi với tôi. Xóm Đồng ngay kia. Cái mà tôi nhận ra, ấy là mặt nước con sông
nhỏ cong cong quanh xóm. Còn những khoanh tre thì đã bị phát quang. Cái xóm trọc lốc,
giống nhiều nơi bây giờ. Có điều ngạc nhiên mà không lạ đối với tôi, ở nơi nước ngọt
nước lợ tít mù thế này mà các đầu xóm cắm biển cũng đánh số xóm l, xóm 3 như ở Cầu
Giấy, ở Nghĩa Đô đất Kẻ Chợ. Lổm nhổm bát úp cao thấp, không một mái lá, một tường
đất, nhà nhà mái bằng, nhà tầng, nhấp nhô tường xám xi măng. Vẫn lối ấy vào xóm,
nhưng đã mất hai bờ rào ô rô và những cây xương rồng, bụi duối, mà so le trồi ra thụt vào
những góc tường, ba người cùng đi thì đụng vai nhau.


Tôi bỡ ngỡ đôi chút khi nhớ chỗ ấy là một cái ao. Bây giờ mọc lên nếp nhà hai tầng, dưới
sân trên giại bể có dàn trầu không, cồng sắt khoá. Tôi đương vào ngõ nhà ông Ngải mà
cứ vừa quen vừa lạ. Cái nhà vẫn trong kia, nhưng không vách đất mà tường lên vàng khè.
Đầu nhà trổ ra vườn chỗ áv đặt chõ nước đái, chúng tôi đã làm hố ủ phân xanh, ngoài kia
những cây chè khẳng khiu. Bây giờ xi măng trát phẳng, mất cả mấy cây cau lùn đằng
trước. Nhưng dòng sông vẫn thấp thoáng sau bờ rào búi hóp. Cái chuôm thả vịt còn
nhưng chỉ như vũng nước bên chân tường.


Trên bờ chuôm, lạ lùng chưa, vẫn đám tre lép phờ phạc chết khô. Không phải, những cây
tre vào mùa hanh hao đều xơ xác vậy, búi tre đã bề thế ra thành một vòm tre hẳn hoi. Ô
hay, ai như ông Ngải. Như mấy chục năm nay, từ hôm ăn bữa thịt vịt rắn cắn rồi tôi lên
tỉnh. Có phải chỉ là một cảm tưởng, một mong mỏi eái bóng. Không, ông Ngải đấy, ông
Ngải tựa lưng vào bờ tre, hai chân duỗi. ống chân tóp như cái ống giang ngày Tết chẻ lạt
gói bánh chưng và nước da ông Ngải trời hanh nhờ nhờ mốc trắng.
Ngày trước, ông ngồi búi tre thường cầm con dao chẻ lạt vót nan đan rổ rá, cái đăng, cái
lờ. Khi này ngồi im. Một bức tranh tĩnh vật: chân tường, mặt đất, một búi tre lưa thưa, một
ông lão không có tuổi, một chuôm nước cạn.


Pho tượng phật nhịn ăn gày giơ xương trên chùa Tây Phương, đấy là ông Ngải. Cái nước
da vẫn nhờn nhợt như một ông Phan Khôi- nhận xét hay hay ngộ nghĩnh của Phùng Quán
hãy còn đây. ở nhà ông Ngải, tôi còn thấy cả chân tay, mình mẩy ông Ngải cũng bềnh bệch
ít bắt nắng. Ngày ấy và bây giờ, ông Ngải vẫn thế, ngót hay là hơn bốn mươi năm đã qua,
dễ thường ông Ngải có hàng trăm tuổi. Người Mông ở trên núi cao, nhiều cụ không nhớ
tuổi. Lắm cụ ở trong làng như ông Ngải cũng không nhớ, cứ thong dong ngày trời tháng
bụt mênh mông thế. May ra, có cụ bảo tao sinh năm con mèo, năm con gà thì con cháu
còn tính được. Ông Ngải da bọc xương, mặt trắng nhọt, lại càng hệt ông Phan Khôi hơn.
Ông Phan Khôi nằm trong đất từ 1959, cái năm lần đầu tiên tôi ở Thái Ninh về. Không lẽ
ông Ngải là ông Phan Khôi, ông Phan Khôi dưới suối Vàng mới lên ngồi đây sao.


Nhẽ ra tôi cũng chẳng rõ ông Phan Khôi mất bao giờ. Tôi mà biết cũng chẳng vì cơn cớ
gì. Hồi ấy, nhà tôi thuê ở đầu ngõ cuối đường Bà Triệu cửa sổ trông chếch ra phố chính.
Buổi sáng, chợt thấy đi qua ngoài đường một cái xe tang một ngựa phủ vải đen. Sau xe,
có mấy người khăn trắng bước theo. Tôi nhận ra có chị Hằng Phương. Chị Hằng Phương
là cháu gọi ông Phan Khôi bằng cậu. Tôi liên tưởng đoán chắc đám ma ông Phan Khôi.
Ông đã ngoài bảy mươi, ốm đã lâu, từ độ dọn lên ở gác trong một nhà phố Thuốc Bắc.
Ngày tháng chạp cuối năm âm u, đám ma lạnh lẽo ra ngoại ô ngoài ngã tư chợ Mơ.
Tôi vốn thích đọc Phan Khôi, dù vẫn biết đã nhiều năm ở cùng cư quan ông chẳng coi tôi
là cái đinh.


Viết báo, tạp văn, ngòi bút Phan Khôi sắc đọng, ngang như cua mà đọc lại chịu, như ăn
gừng cay. Phó Chi Ngô Tất Tố là phó lý, phó cối cãi nhau văng gạch vào mặt; Ngô Đức
Kế, Phạm Quỳnh thì chữ nghĩa trang trọng cân đối; Hoài Thanh là nhà thơ viết lý luận... Đọc
Phan Khôi ngang ngạnh vẫn muốn đọc.
Cái ông gia trưởng này cũng không một bề, mà ông không nổi nóng khi tôi cãi với ông, có
khi lại hăng hái biện luận là khác. Ông khó hiểu mà dễ hiểu, vừa người lớn lại vừa chất
chưởng trẻ con. Vừa khờ lại cũng khoái được đưa lên mây. Ông không để mắt đến tôi
nhưng ông cũng hãi tôi chứ. Cũng như ông không biết tôi lắm lúc cũng cho ông như con
trẻ. Thật vui.


Ông ra tắm ngoài suối. Hồi ấy anh Trần Ngọc Danh đã mất. Tố Hữu bảo lên đưa chị Thái
Thị Liên về cơ quan. Chị Liên với cháu Hà từ Quặng trên Chiêm Hoá xuôi sông Lô. Chị ở
tạm với chúng tôi trước khi sang công tác ở đoàn Văn Công bên kia sông. Chị đã học
nhạc ở Tiệp Khắc. Ông Phan Khôi chúa chùm tiếu lâm. Chị Liên cũng được một mũi. Suốt
ngày, cái gian nhà chỗ ông “con, cây, cục, cái này” cứ chốc lại om lên tiếng cười. Ông
Phan Khôi bước vào, lưng trần còm nhom, khăn mặt ướt vắt vai. Ông nói:
- Tư Mã Thiên mỗi khi nhớ là đã bị thiến thì rùng mình, toát mồ hôi. Tôi bây giờ mà trông
thấy đàn bà được mắt thì có một luồng điện chạy suốt sống lưng. Ông kia bị người ta cắt,
còn tôi là đồ bỏ, điện toát ra ngoài.


Mọi người lại cười rầm lên khi ông kết luận “Tôi cũng là cái xác thuốc hết thuốc. Võ Tắc
Thiên vứt ra vườn". ấy là lúc vui, nhưng cũng có lúc khác, tôi giở trò cật vấn ông. Tôi hỏi:
- Cái năm 1945, ở Quảng Nam, có phải ông suýt bị bắt rồi anh Hoàng Hữu Nam cứu ông
ra Hà Nội?
- Anh là Việt Minh thì anh phải biết việc ấy, hỏi tôi làm gì
- Tôi nghe nói.
Ông chừng mắt:
- Không biết thì đừng mở miệng.
Tôi chỉ muốn hỏi ông.
- Thì hỏi nữa đi.
- Ra Hà Nội, ông đến 80 Quán Thánh ở với Nguyễn Tường Tam.
- Thì đến xem chúng nó làm ăn thế nào.
- Ông bị bắt ở báo Việt Nam, ông lại được bàu làm Trung ương Việt Nam quốc dân
Đảng.


- Bao giờ chứ? Ai bảo anh thế? Anh làm mật thám à?
- Tôi làm phóng viên báo Cứu Quốc. Báo có đăng tin
Thế là tôi đã khơi được nguồn cơn. Ông đăm đăm mắt rồi thở dài:
- Kể anh nghe. Anh nói tôi mới biết, chớ tôi có họp hành với họ bao giờ. ở ít ngày, nhìn ra
mặt thật chúng nó. Chè chén, hám chức trong Chính phủ liên hiệp lắm, lại làm ra bộ. Cái
hôm bị bắt ở báo Việt Nam là tôi đã định đi, nhưng chưa tìm được chỗ ở. Tôi mang tiếng
là ghét con cháu, con cháu không ưa tôi tôi xung khắc không nhìn mặt con cả tôi là Phan
Thao. Không phải, không phải vì nó cộng sản, tôi không là cộng sản. Tôi chỉ ghét sự nhờ
vả con cháu. Cái hôm Phan Thao ở trong Nam ra, trước khi nó đi nhận công tác, đã về
đây ở với tôi cả tháng, anh biết đấy. Anh có thấy cha con tôi cãi nhau không? Nói láo. ở
trong kia ra, tôi đến Quan Thánh còn vì lẽ nữa, tôi không muốn nhờ cậy Phan Bôi quá. Sau
cái việc ở báo Việt Nam, tôi về Cầu Giấy ở nhờ ông Tú Mỡ. Anh bảo nó cải tổ Quốc dân
đảng tháng mấy? Tôi đi khỏi đã lâu rồi.


- Ông về ở nhà ông Tú Mỡ, ông làm bài ca dao “đốt nhà” tiêu thổ kháng chiến, ác lắm. Tôi
không nhớ...
- Anh biết lắm thế! Tôi nhớ tôi cũng không đọc cho anh nghe...
Ông Phan Khôi mất rồi, mất lâu rồi, mà da dẻ như ông Phan Khôi nào vẫn ngồi tựa bụi tre
lép kia.
Năm trước sang sân bay Gia Lâm, tôi tiễn ông đi Trung Quốc dự kỷ niệm năm sinh Lỗ
Tấn, máy bay ấy ghé Côn Minh rồi mới lên Bắc Kinh. Cà vạt màu đỏ thậm dưới bộ râu lưa
thưa. Tướng ông giống một học giả Nhật Bản, vẻ phương đông mà hiện đại. Tri thức của
ông xứng đáng ra thế giới kỷ niệm Lỗ Tấn lắm chứ.
Lúc này thì tôi quên những hoang dã ngang ngược của ông ở Việt Bắc, ông đau dạ dày
phải mổ cấp cứu. Thể lực đuối, lại trọng bệnh giữa rừng, ông không chết nhờ nơi bác sĩ
Tôn Thất Tùng trên Chiêm Hoá mới nhận được máu khô ngoại viện. Khi ông bình phục,
chủ tịch Hồ Chí Minh gửi mừng ông bộ quần áo lụa.


Hoạ vô đơn chí, ông thường kể chuyện vui “trời đánh ông cũng không chết” là cũng có sự
thực của nó. Hồi ở Phú Thọ, đêm mưa sấm sét dữ dội, ông trông thấy một con sét hòn
xanh lẹt ngoằng giữa nhả. Mà ông không việc gì. Tôi nghe ông kể chuyện ấy, nhưng việc
này thì tôi chứng kiến. ở Tuyên Quang dự lớp chỉnh huấn, buổi sáng ông ngồi trước lán.
Một cành cổ thụ to như cột nhà gẫy rơi ngay trước hai chân ông duỗi ra sưởi nắng. Rồi về
Hà Nội, ông viết bài Ông năm Chuột.


Tôi cũng không gần ông liền năm, tuổi tác lại chênh đến ngót ba con giáp. Tôi biết ông
ương bướng, mà cũng không phải chỉ thế, ông vốn trọng công việc. Khi đương tập kết
ông được mời vào khu 5 nói chuyện kháng chiến thắng lợi với đồng bào ở Bình Định,
Quảng Ngãi lúc ta chuyển quân ra Bắc. Ông đi ngay. Và mỗi khi tôi nhờ việc, nhờ viết bài,
ông làm đến nơi đến chốn. Tôi đã cậy ông so sánh các bản dịch tiểu thuyết Mặt trời trên
sông Tang Càn của Đinh Linh, ông soát và viết báo cáo nhận xét cẩn thận, kỹ lưỡng.
Ông thích nói tiếu lâm chọc cười, cũng như không biết giận, tưởng như ông cốt nói ngang
hơn, to tiếng vặc lại, chỉ vì ông không để bụng lâu. Chao ôi, không ương bướng thì đã
không phải là Phan Khôi, cái câu giễu “Lý luận Phan Khôi” mà các báo Phong Hoá, Ngày
Nay đã đặt cho ông chẳng đã thành tiếng thuở nào.


Tôi lại mơ màng rồi, trông cái ông Ngải không biết chữ mà lại hoá ra học giả Phan Khôi
một bồ chữ sao được.
Ông Ngải ngồi như đống đất, thế mà ông nghiêng tai, lối nghe của người ngễnh ngãng,
ông đã đánh hơi được có người đi tới.
- Ai thế?
Tôi gọi to.
- Ông Ngải!
- Ai...
- Cán bộ Tư chào...
Tôi chưa dứt câu, ông Ngải đã run run gối đứng lên.
- Anh Tư đấy à?
Ông lão lại nghếch mặt hỏi:
- Có anh Quán đấy phải không?
Ông lão nghe rất thinh. Khế cười ngặt nghẽo:
- Khế ôm đây, cụ tổ ạ.
- Anh Quán...

Tôi nói:
- Anh Quán mất rồi.
- ối sao thế?
- Giỗ đầu, giỗ hết rồi.
- Khốn khổ
Ông Ngải nắm cánh tay áo tôi. Tôi đỡ ông ngồi xuống, lại tựa vào bờ tre. Ông Ngải bảo
tôi, như ngày trước, như mọi khi: “Anh ra vườn ngắt mấy cái lá chè". Rồi ông hỏi: “Anh vẫn
uống nước chè vò chứ?
Mảnh vườn chỉ còn một luống đất. Không biết chỗ nào cái hố phân xanh ngày xưa. Nhưng
tôi vẫn nhớ bài học hái chè ông Ngải dạy. Bỏ lá già, tôi ngắt một ôm lá đương bỡi. Bên
bờ tre, Khế đã đun nồi nước.


Rồi Khế vò chè, luộc chè, đổ nước cho ngấm. Như ở nhà chú và cả đất Thái Bình này đều
biết món chè vò.
Để ý kỹ, búi tre xác xơ nhưng đã lan ra thành hũm vững chắc trông như trong cái hang có
ổ mái lợp những tàu cau, xung quanh táp phên vách, trên đặt một giát giường to hơn cái
mâm chõng, như túp nhà trẻ con dựng chơi đình chùa.
Tôi hỏi:
- Ông vẫn ngủ trong bụi tre à?


Ông lão đương ủ hai bàn tay xù xì trên mặt cái ấm vừa sưởi để xem chừng hơi nóng mà
biết chè chín đến đâu. Tôi hỏi lại rõ từng tiếng, ông Ngải mới à à ừ ừ: “Ngủ ngoài này chứ
ở cái nhà trong kia thì chết ngạt chẳng ra bộ gì. Thế các anh bây giờ...”. Tôi hiểu ý ông
Ngải hỏi anh em chúng tôi dạo ấy. Tôi kể: tổ trưởng Thông mất rồi, anh Chu Ngọc đã
được sang nước Tiệp Khắc ấy mà, cũng ốm chết rồi. Cả tổ còn anh Trần Lê Văn, anh
Hoàng Cầm và tôi. Ông Ngải trầm ngâm nhm ra rồi nói: “ ở ngoài tỉnh hại người lắm. Anh
Quán còn ít tuổi, khoẻ mạnh thế mà cũng đi rồi. Tội nghiệp, ở tỉnh làm quái gì! ”
Trên cành tre tay tre vẫn cái bát đàn, thêm chiếc ca nhôm, cả ống điếu cày treo lủng lẳng.


Chắc vẫn có người qua lại, ghé ngồi. Ông Ngải nói: “được", rồi bảo Khế rót nước trong
ấm đất ra bát.
- Người ta miếng giầu làm đầu câu chuyện, tôi cả đời chỉ có miếng nước". Ông Ngải
tưởng tôi vẫn uống chè vò như ông.
Đã lâu, một lần tôi đi Hà Tnh về làng có uống chè vò bây giờ mới lại được nhắp, nước
nóng vào đến đâu thấy chát ngọt lìm lịm đến đấy. Nhớ những tinh mơ ông Ngải dậy từ gà
gáy uống hết hai ấm vại chè vò mặc cả nhà ăn cơm đèn rồi ông xách cuốc ra ruộng, lòng
không dạ đói đến quá trưa mới về, đeo một giỏ ếch nhái, cá cua sau lưng. Trông ông lão
vẫn phảng phất đồng áng bờ bụi thế. Hai con mắt toét nhèm viền vải tây điều đã sụp
xuống ti hí. “Lúc nào tôi cũng thấy trời sắp tối, anh ạ". Nhưng ông nhìn bằng tai, cái tai ông
dở điếc mà vẫn nghe ra tiếng người, mấy người và tiếng chó, tường lắm.


Ông Ngải đưa tôi vào trong nhà. Tôi trông thấy trên giường thờ ảnh cu ốc, mặt trang
nghiêm, đội mũ cát sao vàng.
Ông Ngải nói:
- Cái thằng ốc lại mải đi theo anh Quán tập dân quân rồi. Cả bà nó nhà tôi cũng đi chơi
với nó. Mẹ con nhà mày ạ, có anh Tư về chơi.
Tôi bấm Khế ra sân.
Tôi ở lại, sớm mai về. Nếu cháu ở lại được...
- Để cháu xem.
- Bây giờ cháu lên trên Cống mua thẻ hương, tìm đâu được con gà. Tôi cúng cậu ấy, cả
bà cụ...
Khế nổ máy xe, đi ngay. Tôi rút nén hương trên bàn thờ rồi lấy diêm châm cái đèn hoa kỳ.
Tôi đã đến nhiều nhà thấy trên bàn thờ ảnh và tryuền thần chân dung các chiến sĩ. Tôi cứ
tưởng như không phải người đã khuất. Anh ấy ốm đau gì đâu, cái ảnh lại trẻ đẹp thế kia, ý
nghĩ ngây dại thường trở lại trong tôi.


Nhà ông Ngải chỉ khác cái mái bằng và tường xây để mộc, giường phản vẫn tuềnh toàng
thế. Nhà kín bưng, ẩm mốc. ở trong làng bây giờ cứ đua nhau nhà tầng, nhà gác, có
người méo mặt vì ganh nhau làm nhà.
Ông Ngải thắp nén hương rồi lại lò dò ra ngồi bụi tre. Ông Ngải nói:
- Xóm này nhà ngói, mái xi măng hết. Bữa ăn bữa nhịn, cũng lên nhà tây. Anh Quán mà về
thì không kiếm ra đất bức vách ủ phân.
- Thời buổi mới, đâu cũng ăn nên làm ra, ông ạ. ối người đi vay lãi, bán lúa từ lúc vào
đòng để làm nhà. Chỉ khác ngày xưa lý trưởng, phó lý giầu có bây giờ chủ tịch, bí thư, xà
đội, dạo trước còn chân chủ nhiệm, kế toán nữa cũng trộm cắp mà nên giàu có cả. à anh
biết chủ nhiệm Sự...
- Ông ghét ngói hoá, bê tông hoá nên ra nằm đây.


- Có mà hoá điên hoá rồ. Hồi còn thằng Tây tôi đã sợ cái hầrn lô cốt. Tôi không chịu được
ở nhà hầm, tôi mà ở trong nhà hầm ấy thì tôi chết đã lâu.
- Sao ạ?
- Suốt ngày nắng nung sân xi măng, mái xi măng, đêm vẫn oi như trong chảo rang. Tôi làm
thằng kéo vó, ra đây chui vào cái lều vó cạn. Chẳng nắng gió nào động được lông chân.
Chân mễ tôi kê cao cho con hổ mang, hổ lửa lấy đường đi, tôi nằm trên. Chỉ có thằng rắn
ráo thì đợi nó leo lên, tôi tóm cổ. Thịt rắn ráo ngon hơn thịt gà. Anh chưa được ăn nhỉ?
Tôi rụt rè hỏi về ốc. Nhưng ông Ngải nói như đương chuyện với ma:
Nó tập bắn súng gỗ với anh Quán. Rồi đến dạo ngày đêm máy bay ngoài bể vào, bay
ngang mặt đê.


Đến mùa nước có đứa đồn máy bay Mỹ sắp phá đê cho cả tỉnh chết đuối. Các làng lên đê
đặt ụ súng bắn cho nó không dám xuống thấp, bắn súng thật.
Cả đêm cũng đòm đòm.
ấy thế mà thời buổi tàu bay tàu bò lại kiếm ăn được. Chuyện này cô Hến về đã kể cho
nghe. Chặp tối, đàn máy bay chúng nó đi ném bom về qua ném xuống hàng trăm cái vỏ
thùng hết dầu. Đầu tiên tưởng nó ném xăng đốt làng. Ra xem mới biết cái thùng rỗng, thế
là vớ bở. Thôi thì làm nồi, lảm vại, làm thùng, làm muôi, bán đồng nát, bán cân cho nhà
mậu giũa làm lược, làm hình máy bay đồ trẻ con chơi...
Thanh niên ca cẩm: ngày nào cũng bắn mà cấm nhặt được thằng Mỹ nào. Rồi có đợt
tuyển quân.


Thế là đi, ốc cũng theo. Nhà con một, xã cho miễn. Nhưng ốc bảo làm tiểu đội trưởng dân
quân thì phải đi với quân, đi ít lâu xem sao rồi về thôi mà. Được một năm rưỡi, giữa tháng
tám nhận được giấy báo hy sinh ở mặt trận phía Nam. Một năm sau thì mẹ cũng mất.
Cô Hến kể:
- Bố em bảo thôi thì nằm xuống ở đâu cũng là nằm. Bố em hãi cả ai nhắc đến, bố em sợ
nghe ai nói thương binh liệt sĩ. Nhưng chúng em không yên lòng. Giải phóng rồi, nhà em đi
tìm mộ. Đeo một tay nải thẻ hương, tối nào cũng thắp một nén khấn, rồi c thế đi. Run rủi
thế nào lên núi Trường Sơn đến khu mộ liệt sĩ Thái Bình có hơn một nghìn ngôi đã bốc về
đấy. Dò hết một ngày, tàn nén hương thì gặp mộ anh, rõ ràng cả quê quán, cả tên ở nhà,
tên lúc đi bộ đội. Nhà em đã lấy giấy rập khuôn đá bia đem về tạc hệt cái bia ở núi
Trường Sơn trong kia.


Trên bàn thờ, sau tấm ảnh ốc, một tấm đá bia khắc dòng chữ: Liệt sĩ Kiên Cường tức Lại
Văn ốc hy sinh ngày...
Ngày trước, có lần ông Ngải đã kể như tâm sự với tôi ông vào hợp tác sớm vì ông tin ở
Chính Phủ, con ông lớn lên trông vào hợp tác, chứ vợ chồng già rồi chết rồi, con cái biết
nhờ cậy ai. Nhưng bây giờ ông Ngải không nói chuyện ốc, có nói thì cứ như ốc vẫn đứng
đâu đấy trong nhà.
Tiếng xe máy xè xè ngoài đê. Khế về. Con gà trống, thẻ hương buộc trên túi trước tay lái.
Tôi bảo Khế:
- Bây giờ cháu về...
Khế nói:
- Cháu ở lại với bác.
- Nhà mong thì sao?
Cháu đã vào uỷ ban gọi nhờ điện thoại, nhà cháu yên chí rồi.
Ông Ngải bỗng nói góp:
- Xã này có điện mồm rồi, chưa có điện đèn. Chỉ nghe nói mà tôi đã ghê cái điện đèn.
Thấy bảo có nơi mắc điện bẫy chuột bãy cá, điện chạy sang người giật chết nhiều người
lắm.


Khế đã nhanh nhẹn bắc bếp ngoài bờ ao đun nước làm gà. Tôi vào đặt thẻ hương lên
giường thờ, thắp nén hương mới. Ông Ngải lại đã ngồi ngoài búi tre.
Cả ngày ông quanh quẩn đấy. Ông đem ra cái áo bộ đội- chắc áo của ốc để nhà, ông
mặc thêm vào.
Trời chiều đã se lạnh. Tôi đỡ ông xỏ tay áo, lộ mảng xương sườn gồ ghề. Bao nhiêu năm
rồi, ông Ngải ngồi bên búi tre lép, ngày ngày mọi việc trôi qua như dòng sông quanh ngoài
chân tre. Tôi cũng đã móm mất cả một hàm răng rồi mà ơ hay, ông lão vẫn còn răng cửa
như ngày trước, buổi chiều vàng mùa lúa, mùi rơm mùi thóc mới, con trâu kéo đá. Không
biết có còn cái sân trâu kéo đá không. Nhưng vẫn đây, cái búi tre cổ thụ búi tre thấp lè tè
đốt thẳng không gai, búi tre trâu cọ lưng nhẵn thín trông ra miếng ruộng xuống bờ sông,
bàn tay ông Ngải đã cuốc nên. Cũng đồng đất ấy, nhưng chẳng ai nhắc đến thời hợp tác
xã. Người đòi hay tránh cái đau, cái hèn kém cả đến trong ăn nói cũng kiêng những tiếng
thô, tiếng bỗ bã.


Một con trâu vào xóm. Đường ngõ vướng tường và nhà cao, chân trâu bước âm âm rời
rạc như tiếng chày giã bèo. Rồi ló ra con trâu đi, một bé cưỡi trâu, một người đàn bà vai
vác như cái sào, như cây mía, một bé quảy gánh cỏ rảo bước như chạy. Ông Ngải không
nhìn ra, nhưng nói:
- Mẹ con nhà nó.
Nói rồi ông ngước mặt:
- Anh Tư về chơi, mẹ Hến à!
Cô Hến ngả nón. Cô Hến chỉ bé sắt người lại còn thì vẫn như trước, cứ hao hao mà
không khác mấy.
- Anh mới về. Mấy chục năm rồi...
- Năm nay cô bao nhiêu tuổi, cứ trừ đi khoảng mười lăm năm thì là bấy nhiêu lâu.
- Tính làm gì cho già người. Trông anh vẫn thế, bố em mà không gọi tên. em vẫn nhận ra.
- Cô với cháu đi làm đồng về. Thằng bé cưỡi trâu này ngày trước nằm võng phải không?
- Em vào trong xóm mua chuối.


- Có lần tôi đi với vợ chồng cô khiêng buồng chuối xuống chợ Diêm.
- Anh nhớ dai quá. Nhưng bây giờ không khó nhọc thế nữa. Em đi các nhà có chuối,
được giá thì mua để đấy Đến hẹn có xe công nông về chở xuống Diêm.
Mà cũng không phải bán chợ, đem xuống tàu hết. Làm sao mà các nước người ta ăn
chuối xanh khoẻ thật lực bao nhiêu cũng bỏ vào tàu tải đi bằng hết.
- Thế thì cô là lái chuối.
- Lèo lái chẳng ra sao, có điều cũng đỡ vất. Nhưng thừa người lại thiếu việc. Không còn
gian dối như cái hồi hợp tác năm xưa cứ bầy việc ra để gãi công điểm.
Tôi hỏi:
- Anh Toàn nhà cô đâu?


- Đấy thừa người thiếu việc là cái tích ấy. Nhà em đi bộ đội về, cả nhà em với ông, bác ốc
liệt sĩ vẫn được tính, có mấy sào mẫu ruộng, con trâu với cái máy đập thuê nó nuốt sạch
việc, nửa năm làm nửa năm chơi nhong nhóng. Báo cáo với anh, nhà em lên Hà Nội làm
xế lô. Có khi anh gặp mà không nhận ra thôi. Đến mùa thì về đỡ đần việc nhà. Cày cuốc ra
hạt gạo, thì đồng tiền lại hiếm Chẳng đạp cái xế lô thì đào đâu ra tiền làm nhà, trát sân, lại
tiêu pha cho các cháu đi học. Thằng nhớn cũng thôi học rồi, chưa đến tuổi tuyển quân,
đương đòi xuống Diêm làm cửu vạn, dưới ấy bây giờ còn vui hơn Hà Nội. Cả làng, cả
vùng kéo ra Diêm bốc vác, có nguời sắm xe máy chuyển hàng cho nhanh. Để nhà em về,
chuyến này chúng em tính. Có khi nhà em cũng về làm dưới Diêm cho gần gũi cửa nhà,
anh nhỉ?


Cô Hến lại kể:
- Nhà em bảo em lên ở Hà Nội. Giàu có nhà quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ, vẫn đồn thế
mà. Người hèn đớn cũng kiếm được, không mất bữa. Gánh đồng nát mà lãi quan viên.
Nhà em bảo thế, em cũng đã lên xem sao.
Rồi cô Hến cười rúm mặt lại:
- Chưa nổi phiên chợ em phải nhảo về. Kệch đến ngày xuống lỗ
- Thủ đô đấy, mà cô chê a?


- Mỗi tối thuê cái chiếu nằm gầm cầu, có tiền bạc của nả thì gối đầu, giắt lên ngực. Bốn
bên lủng củng người nằm, nói anh bỏ lỗi, nó đéo nhau huỳnh huỵch rồi lại chửi nhau, quát
nhau to tiếng hơn ô tô chạy ngoài đường. Cả đêm không tải nào chợp mắt, ăn cơm lại oẹ
ra, ốm đến nơi. Thế là cút ngay. Thuê kẹo em cũng không bao giờ dám lên Hà Nội nữa.
- Anh ấy ở Hà Nội cả năm, cả tháng thì sao!
- Có cái chiếu nằm tơ hơ không màn mùng, muỗi như chấu. Em bảo cho nhà em ở trên ấy
tha hồ vơ váo con nào cũng được. Nói ra nặng thế chứ nhà em hiền lành, vài ba tháng lại
đem tiền về, cả quần áo các con cũng lo tươm tất. Tội nghiệp, anh Quán còn trẻ, khéo chỉ
bằng tuổi nhà em, thế mà đã mất, ốm thế nào ạ?


- Sau này chú ấy để râu, lọm khọm lắm.
- Để râu thì để râu, trẻ thì vẫn trẻ chứ.
ở sân sau, con trâu giẫm đứt cái mành mành che chuồng xí, hai con cô Hến hí hoáy buộc
lại, xong rồi ra xúm quanh anh Khế ôm. Khế đã nhanh lại khéo tay. Khế làm gà, cô Hến vo
lẻ gạo nấu cơm nếp. Đun bếp lá tre, một mình Khế tay dao tay thớt làm cả.
Tôi khen thì Khế bảo: “ ở bên Tây cháu cũng chân bếp núc, những thằng lười đi làm về
thuê mình làm. Cũng kiếm thêm tí ti".
Ông Ngải bước vào trong nhà. Mới biết lúc nãy ông mặc thêm cái áo bộ đội không phải vì
chiều gió heo mà ông mặc áo cho tề chỉnh. Ông lấy thẻ hương, rút hai nén cắm lên bình rồi
vái, lẩm nhẩm khấn, lại nói như nhắn:
- Anh Tư về chơi, có mâm cơm cúng. Mẹ con nhà mày về ăn với cả nhà.


Mọi người đã vào mâm. Ông Ngải ngồi tựa lưng vào tường, nhìn ơ hờ. Cô Hến nói: “Ông
em dạo này có chứng nghẹn, mắt lại kém, cứ vừa ăn vừa thở, lâu mới xong bữa". Ông
Ngải cầm đũa. Ông và miếng cơm, nhai mãi. Quả là ông hay nghẹn. Cô Hến đã mua về
một lẻ rượu. Ông Ngải vẫn không rượu như ngày trước.
Còn tôi, đụng đến rượu thì phải có sự thế nào, chẳng vui cũng chẳng cơn cớ gì mà uống,
tôi và Khế cũng chỉ đểnh đoảng một chén. ánh cái đèn phao treo sáng cả gian nhà, bữa
chén buồn buồn.


Ông Ngải nói:
- Có anh về tôi vui không biết nói thế nào cho hết, không ăn được mà cái lưng không cho
ngồi lâu. Hai ông cháu cứ cơm rượu tự nhiên, tôi phải đi ngả lưng.
Sang canh tôi dậy nấu nước thì anh ra uống với tôi.
Ngày trước hôm nào anh cũng uống chè sớm. Rồi anh có nghiện không? ừ mà rượu Tây
rượu Tàu, chứ nghiện đâu cái nước chè nhà quê!
Cô Hến nói:
- Đêm nay giở gió, ông không được ra ngoài bụi. Mà nhà có khách, ai lại nằm bờ ao. Ông
em lẩn thẩn lắm, cứ bảo ra ngoài ấy dễ ngủ.
Ông Ngải nói:
- Hay là bố con anh ra với tôi. Cái lá chuối khô, ấm hơn chăn bông.
Cô Hến lại bảo ông Ngải:
Cháu nó giải lá chuối phản trong nhà rồi. Cả chỗ nằm cho hai ông con anh Tư.
Ông Ngải ngồi im rồi đứng dậy, nhưng ông không ra búi tre mà sang cái phản bên. ổ lá
chuối khô hai thằng cháu đã ôm vào từ lúc nào.


Tôi nói:
- Ông Ngải này!
Ông Ngải sột soạt cựa quậy trong ổ lá. Tôi ghé xuống:
Có cái quà biếu ông. Ông có nhớ hôm tôi buộc cọc dây galen lên cây cau ông nghe galen
nói eo éo, cái này còn hơn galen nhiều.
- à!
Tôi lấy trong ba lô ra chiếc đài National bằng bàn tay chạy điện chạy pin đều được, mà
nhà văn Nhật Ôta đã cho tôi hôm chia tay ở Đacgiơlinh. Tôi cũng dùng từ ngày ấy, cái đài
vẫn tốt. Từ lúc Ôta cho đài, không hiểu liên tưởng thế nào tôi đã nghĩ có thể rồi một ngày
tôi đem về biếu ông Ngải. Xuống đây, cũng có phần trong ngụ ý việc vui ấy.
Ông Ngải nghiêng đầu lên. Tôi nói thong thả lại câu vừa rồi và giơ cái đài. Ông Ngải lắc
đầu.
- Tôi không... tôi quên cả rồi.


Cô Hến nói:
- Ngày trước ông cháu mê galen nghe suốt đêm. Sau có cái đài chạy pin, rồi ông cháu
đem bổ đài ra bóc vỏ làm đóm.
Khế hỏi ngơ ngẩn:
- Lạ nhỉ, đài hát vui lắm.
Cô Hến rầu rầu:
- Cứ nhở nghe nói đến thương binh liệt sĩ ông cháu tắt đài ngay. Ông cháu sợ.
Có một bóng người lù lủ dật dờ vàò. Tiếng thều thào:
- Anh Tư về chơi, còn nhớ tôi không? Sự, thằng Sự đây mà...
Tôi reo lên:
- Anh Sự! Quên thế nào được. Mạnh khoẻ chứ. Định sáng mai sang anh.
- Không mạnh, cũng không khoẻ. Sang tôi nhé.


Sự ngồi ghé vào ánh đèn. Trông rõ một bộ xương run run ngồi. Chưa thấy người nào gầy
vêu vao nhường này. Tôi hỏi nửa thật nửa đùa:
- Lo nghĩ sao mà rạc cả người thế? Chị ấy với các cháu thế nào?
- Tôi phải cái chứng ho, ho bệnh anh ạ. Trông anh cũng già, chúng mình già cả rồi. Chóng
quá Thôi đã khuya, anh đi nghỉ chả mệt. Mời anh sáng mai, anh với cậu này sang bên tôi
rượu cháo lòng. Ông Ngải nữa, mời ông. Ngoài đầu xóm có nhà mổ lợn lòng sốt ăn
được.
Không đọi tôi trả lời, Sự lại lù đù về. Bước lẩy bẩy mà cái cách ăn nói “dứt điểm” vẫn
nóng như lửa.


Cô Hến nói:
- Không phái bác ấy ốm, mà bác ấy nghiện đấy.
- Nghiện cái gì?
- Thuốc phiện ạ, nặng lắm. Bác gái thấy để ở ngoài Diêm không tiện vì khách khứa, buôn
bán ra vào. Mà nghiện ngập thì ở làng nước còn thông cảm chứ ngoài Diêm người ta bắt
đi cai rồi.
- Nhà bác Sự ra ở Diêm rồi sao?
Cô Hến kêu lên:
- ấy chết, từ nãy quên kể, nhà bác Sự bây giờ giàu nhất vùng chứ lại chả nhất làng. Bác
gái với cái Soi, đảm lắm. Hai mẹ con buôn hàng tàu đỗ ở ngoài bể. Mối lái các nơi về cất
hàng lúc nào cũng đầy nhà khảch. Đủ thứ, xe máy, đồng hồ, tủ lạnh, buôn cả người nữa.
Nhà em mà bỏ xế lô cũng phải ra xin việc nhà ấy. Con Soi diện mốt ăn đứt gái Hà Nội kia.
Sáng mai anh sang chơi, bác Sự tốt bụng mời thật đấy. Nhà trong này cũng sang hơn cả
nhà chủ tịch. Điện thoại nói chuyện bắt vào tận tai, sướng chưa!


Nhưng rồi cô Hến chép miệng:
- Nứt đố nổ vách thế mà con cái hỏng ráo. Hai thằng con trai thì ngồi ăn cơm nhà đá. Còn
cái Soi ra ngoài tàu ngủ với trăm thằng, cả mẹ nó...
- Già mõ ra rồi.
- Bà lão cũng chẳng tha thằng nào. Có thế mới giàu như điên.
Tôi tặc lưỡi:
- Những nhà có của ở đâu cũng thế.
Trong ổ lá chuối, ông Ngải đã nằm im từ lâu. Ông vẫn quen ngủ sớm hay là ông trằn trọc
trong im lặng.


Khuya rồi, tôi quá giấc cũng không chợp mắt được. Quả nhiên, ông Ngải đã ra ngồi uống
nước từ lúc gà chưa gáy. Mọi thứ chè vò, ấm bát các cháu đã sắp sẵn. Thói quen đã
khoẻ hơn cả nỗi già nua. Ông Ngải vẫn một mình một bóng in trên vách. Tôi ra với ông lại
bởi không ngủ được. Đã lâu mới lại được nếm cái vị chè vò chát mà đậm giọng. Ngày
trước thì ông đã chuyện ran rỉ, nhưng bây giờ chỉ lặng im.
Nhà anh Sự khang trang thật, không còn lù lù đống cây rơm ở góc sân. Năm gian mái
ngói âm dương, sân lát gạch hoa từ thềm ra tận bờ ao, cổng xây hai cột trụ như cổng
đình. Tôi đã nhắc là hôm qua anh Sự mời ông Ngải sang ăn sáng. Ông lắc đầu “Cả đời có
ăn sáng bao giờ. Anh biết đấy. Anh kiếu hộ tôi".

Trong nhà, gian giữa, bộ ghế xa lông bóng cánh gián. Trên mặt tủ chè, đặt chiếc choé
đồng sáng nhoáng. Gian bên trống hốc, mọi cái sang trọng lẫn với lạnh lẽo, tựa như cái
nhà không người. Lạ là trông thấy máy điện thoại kia, nhưng không thấy đài, vắng tiếng
nói tiếng hát rộn rã mà các nhà hợm của hay mở cả ngày. Có lẽ bởi người nghiện sợ
tiếng ồn. Trên cái sập gụ; Sự quấn chăn chùm đầu, đương hi hoáy nạo sái. Anh đẩy cái
gối, mời tôi nằm bên chiếu. Đã lâu mới lại trông thấy cái bàn đèn kiểu cách cấu kỳ. Năm
mới giải phóng, vào Sài Gòn, Điều rủ tôi đi tiệm hút ở chợ Cũ. Tôi đã toan đi, rồi lại thôi,
bởi vì nhớ có lần Nguyễn Tuân đem ra Hà Nội cái gối đầu lấy ở một tiệm hút, vẫn cái gối
sành trắng hếu, rỗng ruột, trong nhét cái giẻ lau đen xỉn, trước kia đã thấy những cái gối
lạnh rợn mắt này trong tiệm hút chui rúc ở Hà Nội, ở Chợ Lớn, ngõ Sầm Công cũng như
đường Cây Mai, tôi ghê ghê lợm giọng.


Rồi ông Nguyễn cũng vứt cái gối ấy ngoài hiên, chỗ chai lọ đồng nát. Dẫu ở nhà ông Hy
Chả Cá, cái bàn đèn riêng gọn ghẽ, rồi lên vùng cao, chiếc dọc tẩu làm bằng đốt hóp đá,
tôi cũng không để ý, nhưng bàn đèn của Sự thì chưa được thấy ở đâu. Chiếc khay gỗ đen
tuyền, chụp đèn pha lê xanh nhạt, cái dọc tẩu khảm trai lấp lánh, những cái tiêm, cái nạo,
cái khoe bằng kền bằng bạc nhoang nhoáng. Các thứ đồ lề của làng bẹp khác mắt này
chắc phải chuốc tận các tổ hút lò hút bên Ma Cao, Hồng Kông mới có được
Tôi bảo Sự:
- Để tôi tiêm cho.
Sự cười, miệng mếu nhợt nhạt như rách ra.
- Anh cũng biết tiêm thuốc a?
Thật tôi cũng chỉ trông người ta tiêm, thấy chẳng phức tạp gì. Tôi hơ thuốc rồi vê lại,
nghiêng vào ngọn đèn vun thành cục nướng xèo xèo bên lỗ nhĩ rồi đưa miệng dọc tẩu
sang cho Sự.


Sự nói:
- Mời anh hút trước.
- Vui với anh thôi, tôi không hút.
Cũng không ép tôi thêm, Sự gò lưng đến rụt cổ, cong hai vai kéo điếu thuốc rồi ngồi lên,
chiêu ngụm nước hãm bát nước chè vò đặc sánh.- “Anh tiêm được đấy. Biết tiêm mà
không hút, ừ, tôi phải học anh, nhưng tôi đắm đuối quá rồi, anh ạ. Sáng ngày ra tôi kéo
sáu điếu cả thuốc cả sái mới mở được mắt. Tôi đã bảo cả rồi, các thứ ăn uống đều làm
bên kia, sắp mang sang.”


Tôi hỏi Sự về những người, những việc tôi còn nhớ. Tôi không động câu nào về nhà anh.
Nguồn cơn buôn bán giàu có; tại sao vướng vào vòng nghiện ngập; anh có còn là đảng
viên không. Tôi e Sự khó nói hay là tôi ngại. Có lẽ cả hai.
- Ông Dũng trong làng hồi này thế nảo?
- Ra tỉnh mở hàng cơm một dạo. Chết đã lâu rồi.
- Lại thắt cổ à?
- ốm bệnh già thôi.
- Cậu Quốc...


- Đại uý Quốc. Rồi cậu ấy đi bộ đội thiết giáp. Xe tăng vào chiếm dinh Độc Lập đấy.
Nói câu ấy, Sự nhô vai, cổ nổi gân đũa, hăng lên như khoe chiến công của mình.
- Bây giờ làm hội Cựu chiến binh, chủ tịch xã kiêm bí thư đảng uỷ...
Chỉ hỏi qua loa mà ra bao nhiêu chuyện và đời người khác nhau. Nếu ở lại đây vài hôm,
vào trong làng, gặp lại những cô Dăm, cô Vĩnh thì chắc đêm nào cũng còn mất ngủ nữa.
Tôi nhận ra Sự nói vẫn sang sảng, anh Sự bẹp tai mà làm như vẻ ta đây. Tôi không hào
hứng chuyện đồng ruộng và làng xóm, tôi hỏi chuyện khác.
Nghe ngoài Diêm đương xây cảng lớn, tàu nghìn tấn vào được. Anh có hay xuống Diêm
chơi không?
Sự chau mặt:
- Không! Xuống làm chó gì!


Một cô bé quảy một gánh hai cái thúng con con bước vào. Một bên nồi cháo đương sôi
bốc trắng kẽ vung, bắc trên cái bếp dầu vặn nhỏ lửa. Quang bên kia, cái mâm đậy lồng
bàn- “Mày giái chiếu rời dọn ra". Đã gọn gàng cả, hai đĩa to đủ cả lòng, dồi gan, cổ hũ...
Cái rổ con xếp mở húng chó, mùi tàu, quả chanh và mấy quả ớt chín vàng bên bát mắm
tôm. Chai rượu trắng đã đặt đầu mâm với đũa bát tình tươm. Con bé không phải người
nhà hàng, nó được thuê cơm nước hầu ông bẹp Sự.
Tiếng xe máy xình xịch vào đầu xóm.
Sự lẩm bẩm, không nhìn ra.
- Mẹ con nó về. Tôi đã điện thoại bảo có anh sáng nay sang chơi.


Vào trong ngõ, một cái đrim màu mận chồm thẳng qua bậc cổng. Người đàn bà cưỡi ghì
như hiếp cái xe. Cứ như những chuyện cô Hến nói thì tôi đoán nó là cái Soi, chứ làm sao
tôi nhận ra con bé ngày trước đứng ơ mặt nhìn nghe cái galen ở nhà ông Ngải và con bé
xúc thóc trộm hợp tác, mấy mẹ con suýt đánh nhau với bố. Nó đã cứng tuồi, nhưng ăn
mặc như trẻ trung đương thì. Một cô “tiếp thị” đúng mốt, áo thụng tám túi, đeo cái túi xách
hai ngăn. Tóc cắt vét tém, bôi son môi, quầng mắt xanh, váy bò cỡn trên đầu gối, thừa ra
nửa bắp chân trên đôi giày da nâu đế cao. Đằng sau, ngồi một bà béo ục ịch, chắc mụ
Sự đây. Mụ cũng sấy tóc cũn, quần phăng đen, sơ mi hồng dài tay, mặt bự phấn, cổ đeo
dây chuyền vàng to như cái xích mèo. Nước hoa đã phả vào nhà thơm sực nức.


Hai mẹ con bước vào, như không trông thấy bố Sự ngồi đấy. Tiếng cười khành khạch và
một câu chào hàng:
- ối kìa anh Tư. Vẫn thế, trẻ ra đấy.
- Tôi không nhận được chị.
- Cái thời mỡ màng theo con gà ngày mùa nhặt thóc đã đút bếp rồi, anh ơi!
Mụ hỏi:
- Xe anh để đâu, ngoài đình à? Khéo nó tháo mất..
- Để bên ông Ngải. Các cháu nhà cô Hến cẩn thận, đã chằng cả cuộn chão vào hai bánh.
Chú lái của tôi đây.
Tưởng cái ô tô hóa ra cái xe ôm, thế là mọi chuyện đểnh đoảng dần rồi nhạt thếch. Cái
Soi ngồi bên sa lông, chốc lại vóng sang giục mẹ: “Nhanh lên! Nhanh lên! ”, chẳng giữ ý
khách lạ. Mụ Sự cũng không để mắt đến mâm cháo. Có lẽ vì tôi và mụ câu chuyện chẳng
còn ăn nhập gì. Mụ nói: ” Sáng nay khách tôi ngoài tàu hẹn. Có thong thả thì mời anh ra
Diêm chơi". Rồi cười rung má, đá mắt nhìn Khế ôm. Mụ nói lửng, ỡm ở không vẻ mời
mọc, hiểu sao thì hiểu.
ấy thế mới là đời bây giờ. Tôi nghĩ chua chát. “Thằng Sự còn mấy hơi mà chặt cổ thằng
nào nữa, chuyện cổ tích lắm lắm rồi".
Cái Soi vùng vằng cứ ra nổ máy xe. Tôi không thể còn đầu mối nào chắp được chuyện
những cái cô Dăm, chị Sự, cô Vĩnh năm xưa nói “chúng em như con gà, ngày mùa thì gà
béo” với mụ Sự bự rự son phấn này. Đến lúc tôi trông thấy mụ ngồi, đôi dép đặt lên cái
vấu sau xe, chỗ gót chân mụ còn hằn vết sẹo khía đen nẻ miếng thì tôi gật gù khoan khoái
như đã được an ủi là tìm ra cái dấu nối rồi.


Sự ngồi yên, hai con mắt như lồi ra. Khi tiếng xe đã lên trên đê, Sự văng một câu dõng
dạc:
- Đồ đĩ rạc!
Sức lực gân cổ Sự dồn cả vào câu chửi sau lưng ấy. Rồi rót rượu, nói:
- Mời anh nhắm tự nhiên. Nồi cháo sôi cạn cả.
Bữa chén cụt hứng, đâm loãng hẳn.
Tôi về, ông Ngải đã ra ngồi bên búi tre lép đan rỏ. Hai thằng cu nhà Hến đã đi kéo riu tép.
Con trâu lên trên mặt đê gặm cỏ. Rỗi rãi, trâu được thả đi ăn từ sớm. Xóm làng bày ra
những trái ngược, nhưng cũng dễ cắt nghĩa. Chỉ không biết rồi mai kia sẽ thế nào.
Tiếng gọi nghé văng vẳng trong cánh đồng.
Nghé ơi... nghé ơ...
Chân đi thon thót
Vọt chẳng bén lưng
Bé ăn chơi dưng
Lớn phải đi cày
Đi cho đến bờ đẽo lại
Đập rợ vào lưng, là vặt bước vào
Đi cho thẳng đườig cày, cho ngay đường bừa
Chân đi tai nghe, dạ nhớ lâý
Chớ đi quàng, phải đòn
Nghé ơ...
Bốn phía phẳng lặng đồng không. Chẳng trông thấy ai gọi nghé. Chỉ là tai tôi phảng phất
tưởng nhớ mà thôi.


Tô Hoài
Chiều Chiều
Mây Chiều


Chương XXII

Đường về tỉnh, bây giờ mới để ý xe của Khế len lỏi giữa những xe máy, xe tải xuôi
ngược, che đậy bịt bùng. Chốc cái bạt lại tốc lên. Những tủ lạnh, quạt điện, máy khâu, các
máy móc gì nữa, quần áo vải len sặc sỡ. Thấy nói ngoài khơi biển Diêm Điền có một cái
chợ trời, tàu các nước chở hàng lậu đến đậu từng đám. Hàng trăm thuyền ra rút hàng suốt
đêm.
Cái năm tôi qua thành phố Đaét Salam nước Tandania, trên vỉa hè người đứng bán từng
đống xống áo cũ, hết mốt. Tôi về đã viết một bài báo chễ riễu châu âu đương mở mang
công nghiệp tống phế thải sang thị trường châu á, châu Phi. Nhưng ở Việt Nam không
thèm những cái bần mắt ấy. Bây giờ thì những cái bẩn mắt ấy tràn khắp chợ thì quê ta.


Viết đến đây, tôi vẫn đương ở Đà Lạt. Tháng chín, thành phố cao nguyên mưa và lạnh. Tôi
không đem theo áo ấm, cháu My xuống chợ mua cho ông cái áo bludông vải xám có dọc
kẻ đen như áo tù. Tôi đương mặc cái áo ấm cu người mới ta ấy và ngồi viết. ở đây nhiều
người đã phất lên, cũng như mụ Sự kia béo mầm chỉ nhờ những cái ôi thối của thiên hạ.
Lại những tình cờ, phải chăng. Những sa sút của Sự, ngày tàn tạ của Vêrônica, cái chết
của Madari, bước đường phiêu bạt không thể định trước của Platôn Thành, ông Ngải vẫn
ngồi ở búi tre lép, không biết đến bao giờ.


Đường tấp nập đông, khi trở về bao giờ cũng ngỡ như nhanh hơn. Chẳng mấy lúc đã qua
phố huyện.
Khế tự dưng hỏi tôi- câu hỏi như kết luận những quan sát của Khế từ hôm qua.
Bác là nhà báo à?
- ừ
- Nhà cháu ngày trước cũng có người đăng báo, bác biết không?
- Tôi biết thế nào được!
- Bài báo Bà ký Đường ấy mà!
Tôi giật mình, nhúc nhích cả sợi dây chằng ngang lưng. Cái truyện ngắn của Nguyễn Khắc
Mẫn đăng báo Ngày Nay, một chuyện có thật. Tác giả đã đi hát ả đào phố huyện Vũ Tiên
đầu tỉnh. Nhà hát bà ký Đường được tiếng không phải vì sang, vì người đẹp hát hay mà vì
nó không giống kiểu các nhà hát khác.


Ông ký làm sư lục lộ, kém mắt, bị mất việc. Ông ký về mở nhà hát, làm kép đàn, bà ký và
cô con gái hát. Nhà hát bà ký Đường không nuôi đào rượu hầu hạ ôm ấp khách. Không
có chầu mặn chè chén và khách ngủ lại đêm. Hát chầu chay xong, chi tiền rồi- khách ra về.
Được tiếng mà lại vắng khách, cái nhà hát còm cõi ấy.
Ông Dương một ta giỏi võ làng tôi, chủ xe ôtô con thỏ Mỹ Mâm thuê đứng chùm du côn
tranh khách đường Thái Bình- Hà Nội. Chúng tôi hay xuống chơi với ông, có khi dăm bứa
nửa tháng. Tôi kể ông nghe cái truyện ngắn Bà ký Đường. “ừ, có cái nhà hát bà ký
Đường. Chỉ nghe hát suông rồi cút, chán bỏ mẹ. Chúng mày muốn đi thì tao cho đi". Ông
Dương bảo thế.


Rồi tôi được rõ hơn lai lịch nhà hát này cũng không phải chỉ một màn “chán bỏ mẹ", như
ông chùm du côn làng tôi nói khinh thế. Hát cô đầu phố phủ, phố huyện ở đâu cũng tẻ nhạtdẫu
sao cũng chỉ là nơi chốn ăn chơi cò con của mấy ông chánh lý có việc quan, những
đám kiện cáo bên nguyên bên bị có máu mặt lên công đường và những dịp sưu thuế. ở
Vũ Tiên, đất này có nghề nhà trò hát cứa đình cửa đền, đến mùa đám thứ thì đi hát thờ, có
khi gặp dịp vào hát trong dinh quan bố, quan thương, quan án. Đã tàn tạ rồi, nhưng còn
giữ lề. ả đào Vũ Tiên vẫn có nếp, còn kiêng: hoa là huê, lễ là lỡi, liễu thì hát là lão... còn
giữ hơi giữ tiếng con nhà nòi họ Tam, họ Ngàn tử xưa nghề hát.


Chúng tôi được lang võ sư Dương dẫn đến nhà hát bà ký Đường. Đúng như Nguyễn
Khắc Mẫn đã tả trong cái truyện ngắn. Nhà phố huyện, vườn thưa hai bên bờ rào. Mái
ngói, vách dứng chát vôi cát. Có hai gian, gian ngoài làm nhà hát. Ông ký khoảng trong
ngoài năm mươi, người gầy kheo khư, cổ lộ hầu, áo the khăn xếp. Ông ngất ngư nghiêng
ngả cả người vớt hai bàn tay khô đét nắn phím gảy tửng tửng cây đàn đáy ba dây. Võ sư
Dương kể lão ký Đường nghiện nặng, trước làm cai phu sở đạc điền ca đát, người ta gọi
tôn lên chân ký lục. Nhà hát tiêu sơ thế này đào đâu ra tiền mua thuốc ty, lão chỉ nuốt sái,
càng gầy rộc, mà lại hay ghen, bởi vì bà ký Đường còn mẽ người, bà vấn khăn sa tanh bỏ
tóc đuôi gà, ngồi xếp thẻ hai đầu gối quần lĩnh. Tiếng hát khi thánh thót khi dịu dàng trong
khổ phách mau thưa. Chúng tôi đã cơm rượu từ chiều ngoài hàng ở bến xe, như mọi khi.
Tôi không biết cầm roi chầu, nhưng cũng nghe biết ông Dương say cứ gõ tom chát loạn
xạ. Cả nhà có ba người đều phục dịch vào hầu chát. Cô con gái vừa đun nước, lại mời
nước. Cô mặc áo the nâu, cô còn nhỏ nên vấn khăn lượt chưa bỏ đuôi gà. Cô hát hàng
hoa nhẹ nhàng đỡ mẹ những bài dễ, khi mới khai trống chầu, nào Bầu trời cảnh bụt... nào
Hồng hồng Tuyết tuyết... Cô bé chừng mười ba mười lăm tuổi, người mỏng như cái đóm,
lại có cái tên ngồ ngộ, cô Thẹn.


Tôi cũng chỉ đi “che tàn” theo ông du côn cho biết, nhớ đâu được cái nhà hát sài đẹn này.
Tối hôm ấy ông Dương cũng chỉ đánh trống nghe hai ba bài rồi kéo chúng tôi về. Bây giờ
bỗng dưng nghe nói tên “bà ký Đường”, lại đương về qua Vũ Thư rồi...
- Bà ký Đường là thế nào với Khế?
- Bà cháu, ông ạ. Bà cháu mất đã lâu, cháu cũng không biết mặt.
- Mẹ cháu tên là Thẹn, phải không?
- ối giời ôi! Sao ông biết tên cúng cơm của mẹ cháu, sao...
Mặc cho anh chàng cứ kêu giời rồi sao... sao. .., tôi không trả lời. Có gì mà trả lời, những
chuyện nhà trò cô đầu đã xếp xó, như tuổi cậu này bấy giờ còn ở trên trời dưới âm phủ
mô tê nào, biết đâu được.
Chao ôi, lại một tình cờ giữa đường...

Về đến thị xã, Khế ôm nhất định chưa nhận tiền công tôi trả mà nằng nặc “mời bác vào
nhà cháu... mời ông... Ông ở chơi với bà cháu, với vợ chồng cháu, mai hẵng về. Mà bây
giờ đã trưa rồi, ông cũng đến đi tìm nhà trọ chứ đi đâu".
Khế đoán đúng, tôi đã tính ra cầu Bo lại vào những cái hàng cơm chứa trọ trên bến. Thế là
tôi theo Khế về nhà ở phố huyện cũ. Có lẽ vẫn chỗ cái nhà hát bà ký Đường năm xưa mà
tôi không thể nhận ra.
Khế sắm nắm đi, lúc đèo lúc dắt, hớn hở ra mặt.


Tôi cũng chẳng có kỷ niệm gì ở đất này, chuyện “bà ký Đường” thì vì Khế nói đến mà nhớ.
Có lẽ mỗi khi qua Vũ Hiên, Thư Trì lại nhớ anh bạn vong niên Vũ Đình Cự nhà vật lý chất
rắn cự phách đã cùng anh em trổ tài hiện đại kết hợp với thủ công phá thuỷ lôi Mỹ thả vây
cảng Hải Phòng. Chẳng biết anh chàng đã lấy vợ chưa, hay không. Và tôi nhớ bài thơ
Xuân Diệu vàng ngời những vườn hoa ngâu chín làng Thuận Vi.


Biết đâu Khế chẳng nghĩ ráng mẹ Khế gặp tôi thì có thể hai cụ đã thế nào với nhau ngày
trước.
Ôi, tôi lại nhớ chuyện Hoàng Trung Thông viết bài giai thoại trên báo Văn Nghệ về Hoàng
Trung Thông và Nguyễn Tuân sang chơi Lỗ Khê huyện Đông Anh.
Lỗ Khê, một làng nghề ả đào. Nguyễn Tuân hỏi thăm một danh ca có tiếng ngày trước hát
ở Khâm Thiên, người làng này. Bà con nói cụ nhà trò ấy mất rồi.


Đêm ấy trời sầm sập mưa, Nguyễn Tuân uống rượu gõ chiếc đũa vào lưng cái bát làm
trống cầm chầu và Nguyễn Tuân hát, nước mắt ứa ra. Hoàng Trung Thông đã viết lại cảnh
ấy. Bạn đọc có thể ngậm ngùi với người đãng tử một thuở đưong khóc cố nhân.
Nguyễn Tuân bảo tôi:
- Tao có nhân nghì nhân ngãi gì với bà ấy đâu.
Biết thì hỏi thăm vậy. Nghe chuyện bả bị bắt lúc cải cách ruộng đất, bả đã thắt cổ chết thì
tao nghĩ thương cho một cái tài hát kiếm được ít tiền tậu mấy sào ruộng lại phải chết vì cái
tài ấy. Thương là thương thế!
Tôi hỏi:
- Hoàng Trung Thông không biết như ông?
- Nó biết. Nó cùng nghe mọi chuyện với tao. Nhưng nó viết thế thôi. ấy đấy!
Hai chữ “ấy đấy” ai hiểu thế nào thì mặc lòng.


Cái nhà của một người đi kiếm tiền ở nước ngoài về như Khế có đầu óc thu vén thật chỉn
chu. Nhà một tầng- giàn hoa ti gôn đỏ hây trên đầu tường phủ xuống trước cửa, phảng
phất dáng một căn nhà nghỉ ngoại ô Beclin- hay là tôi tưởng tượng ra thế, nhưng dẫu sao
cũng là một gian phong quang, nhẹ nhõm được mắt.
Dắt xe vào giữa sân, Khế nói to:
- Bà ơi! Có khách.
Một bà lão ngồi cái chõng trong nhà ngước mặt ra. Cái nhìn của một người kém mắt,
nghe cũng là nhìn, như ông Ngải.
- Ai thế?
- Chào cô Thẹn
Bà lão đứng lên, nghẹn ngào, mếu máo:
- Ông nào...
Trong khi Khế dựng xe vào tường hoa, hỏi mẹ:
- Nhà con trưa nay có về không?
- Có, nó vừa ra chợ.
Rồi Khế nói bô bô, như mọi việc đã xếp đặt cả.


- ối giời ơi, từ hôm qua đi với ông, con sướng quá. Các cụ ngày xưa cũng lắm chuyện
chứ chẳng chơi. Thế nào con cũng phải giữ ông ở lại đây xơi cơm với bà cháu, với vợ
chồng cháu. Mai con lai bố về tận đầu ngõ trên Hà Nội. Con phải bảo nhà con về sớm làm
con vịt đánh chén mới được.
Rồi Khế vào trong nhà, nhấc điện thoại, gọi ríu rít.
Tôi nắm tay bà lão, đốt ngón tay lạnh ngắt- cái cô bé đun nước, mời nước, hát hàng hoa
tiếng e é chua như mèo rên ngày xưa đây. Hàm răng móm làm cho môi và cằm rúm trũng
xuống. Nước mắt bà lão chảy ra, không biết cái nước chết lưu niên ở hai con mắt lòa lúc
nào cũng ràn rụa nhợt nhạt trên mí, hay là nước mắt. Cô Thẹn ấy nhỏ thó, gày rạc, cái
bóng ngày xưa ngồi sau lưng bà ký Đường đợi hát đỡ mẹ, tiếng đàn đáy lắc lư.
Cô Thẹn ngày ấy đây. Bà lão vẫn nắm tay tôi cất giọng phều phào, rè rè:
Đến bây giờ mới thấy đây
 Mà lòng đã chắc những ngày một hai

Câu Kiều này, đầu mùa đông 1959, Nguyễn Đình Thi đã ghi sổ lưu niệm bảo tàng L. Tôn
Tôi trong điền trang Jasnaia Poliana ở Tu La.
Mỗi khi mơ màng lại cái chuyến về Thái Bình này, là thật hay chiêm bao. Hai câu lẩy Kiều
tình nghĩa kia đã thấy ở Tu La hay đã nghe cô Thẹn, bà cụ Thẹn nghẹn ngào.
1997, Đà Lạt
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
CHIềU CHIềU
Tô HOài
NHà XUấT BảN hội NHà VăN
65 Nguyễn Du. Hà Nội- ĐT. 822235
Chịu trách nhiệm xuất bản:
NGô VăN pHú
Chịu trách nhiệm bản thảo:
BùI HòA
Biên tập.
VươNG TRí NhàN
Trình bày bìa:
- - - - - - - - - - - - - -
Sửa bản in:
NGUYễN SôNG ThAO
In 1. 000 cuốn, khổ 13x19cm tại Công ty In KHKT- Hà Nội.
Số in: 181- Giấy đăng ký kế hoạch XB số: 3l123lCXB
In xong và nộp lưu chiểu quí II năm 1999
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Nguồn: Hùng
Được bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên
vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003