Sơn Trung Thư Trang

Văn Hóa Việt Nam (Vietnamese Culture)

Today:

Labels

Monday, December 14, 2009

TỨ THÁNH * GIẢNG XƯA

**

TỨ THÁNH (1)
(Giảng xưa)


Ngồi buồn, quạt mát xem trời.
Vui bầu rượu cúc vui đời nước non.
Quản cho tưởng xiết món ngon.
Phong trần nhân vật hao mòn tấm thân.
Cũng vì bạc nén vàng cân.
Làm cho trần thế nan phân chánh tà.
Cũng vì ham chức ông bà .
Cô cô cậu cậu mới là đoạ thân.

Tưởng gì nợ nước quân ân.
Buộc lòng Tứ Thánh phải phân đôi lời.
Nên hư số hệ ở trời.
Làm người dời đổi, đổi dời sao xong.
Ó bay xòe cánh thấy lông.
Cá kia ngớp nước bày trong vi kỳ.
Lao xao bạc lộn với chì.
Khó phân tà chánh, khó thì quan dân.

Tranh nhau kẻ cựu người tân .
Lao xao gươm giáo thôn lâng châu mày.
Mắt trông lo tháng lo ngày.
Lo cho bá tánh đi cày không trâu.
Chẳng nuôi tầm lại trồng dâu.
Đến khi dâu lớn tầm đâu ăn rày.
Phất phơ mây trắng lố bày.
Mặt trời tỏ rạng mây mù phải lu.
Chó thấy trời mọc phải tru.
Thảm thương chú cộng công phu đợi chờ.
Chờ “trăng” trăng lại trăng lờ.
Trông sao, sao lại dật dờ với sao.
Thả câu đáy biển quăng phao.
Muốn ăn cá lớn phải hao miếng mồi

Giang- san công kỷ đắp bồi.
Chín Châu mười Quận ơn rồi ai mang.
Cây cao khó nổi bắt thang.
Hố sâu khó nổi kêu vang tiếng thùng.
Người ngay ai lại có dùng.
Kẻ dại khó nỗi tháp tùng tri âm.
Rừng thoàn kết bạn đồng tâm.
Nhớ ơn ái- quốc phải tầm Long-Châu.
Hiệp đoàn bủa lưới thả câu.
Con sông Hưng- Thới ai đâu biết gì.
Tay chuông tay mỏ tu trì.
Tránh mưu ái- quốc tránh vì kế sâu.
Chờ cho chú trọc thả câu.
Ao kia mất nút còn bâu mới là.
Nói ra nước mắt chan hoà.
Thương cho anh chị khó mà thoát thân.

Tang điền thương hải khó phân.
Không toàn độc lập nhơn dân như bèo.
Tại ai cầm lái phăng lèo.
Tìm tân thê giới chịu nghèo lâu năm.
Có miệng không nói lại câm.
Hai hàng nước mắt chan dầm như mưa.


Nghĩ thương dân chúng thất thưa.
Cũng vì bá tánh không ưa Phật Trời.
Nói rằng : Phật ở xa vời.
Trời cao dấp dới vậy thì biết chi.
Thấy người niệm Phật quy y.
Nói rằng: kẻ dạy người ngây nghe rầy.
Làm khôn ỷ thế khoe tài.
Vinh mùi phải thác, quê kia lại còn.
Pháo vang bốn hướng hao mòn.
Năm màu phơ phất xây tròn tám phương.

Mây trắng chớp nháng như gương.
Tiếng vang nổ dậy Thái dương ánh trời.
Thiên binh thiên tướng đổi dời.
Núi xương, sông máu góc Trời quá ghê.
Lìa gia chia rẽ phu thê.
Tiếng kêu khóc kể gia quê chẵng còn.
Xích tinh, phưởng phất lỗ tròn.
Nguyệt tinh chớp nhoáng mọc tròn năm châu.
Lao - xao dân chúng khó âu.
Sao giăng tứ hướng xuất thâu ngân hàng.
Phiên bang đảng cộng đôi đàng.
Chiến tranh giành giựt xóm làng thác oan.

Hắc long giá võ một phang.
Lửa luồn sấm chớp kêu vang góc trời.
Tân kiêm phải chịu đổi dời.
Thành Thang biến cải biết đời mà chưa.
Bà màu phải chịu thớt thưa.
Cây cùng nòi giống sớm trưa giúp rày.
Thanh- long nối gót trổ tài.
Thòng vòi lấy nước phun ngoài âu quân.
Kiếm chi khó nổi bền quân.
Rút về Gia- định ngăn chừng Đồng- nai.
Trời ôi ! sao ó biến (biếng) bay.
Xe kia biến (biếng) chạy tại ai xe ngừng.
Súng sao biến (biếng) nổ không chừng.
Chư bang thập bát ngập ngừng ngẩn ngơ.


Ngồi buồn nói chuyện bá vơ.
Cho ai hiểu chút Thiên- cơ tại trời.
Khiến cho lũ nịnh hết đời.
Tay chơn rời rã xa vời hai phang.
Ai làm mà phải thác oan.
Phật thương trần hạ khó an toà vàng.
Lỡ xe rồi lại lỡ thoàng.
Lỡ non, lỡ thế, lỡ làng, lỡ dân.
Lỡ người cựu, lỡ người tân.
Lỡ trắng, lỡ đỏ, lỡ phân thành huỳnh.
Bớ dân hãy ráng sửa mình.
Ăn ngay ở thật ngủ đình cũng cam.
Cũng gần sắp trổ nhà Nam.
Nay còn phong kiến tứ tam tranh giành.

Sắp đời như sợi chỉ mành.
Treo chuông khắp nổi chuông lành hởi chuông.
Kèo săn cột gỗ tiền muôn.
Gặp cơn khói lửa nó tuông cấp kỳ.
Chớ nên ham bạc bỏ chì.
Đến khi hàng vá kiếm thì không ra.

Tốt chi là thứ bông hoa.
Đến chừng nhụy rã bông hoa lố cùi.
Thảm thương hoa rã mất mùi.
Hết thơm rồi lại lắp vùi hố sâu.
Bông tàn bởi đám mưa ngâu.
Bướm kia chẳng đậu bởi sâu hoá hình.
Thương kiêm cô độc một mình.
Ngày sau ăn quán ngủ đình Đồng- Nai.

Gầm trời ó cất cánh bay.
Nửa chừng dấp dới bằng nay dập dều.
Nghèo mà che trại cất lều.
Gặp cơn bừng thới biết điều mới hay.
Gặp thời gặp vận ra tay.
Đấp bồi xã tắc mới hay tiếng thầy.
Đất đồng cỏ mọc dẫy đầy.
Xúm nhau chen chúc đứng rầy mới vui.
Ghe thuyền kẻ tới người lui.
Giữ lời Phật dạy nhủi chui núi rừng.
Xử tiêu một cuộc không chừng.
Long- châu ước giáp, Phật trừng loài gian.

Thấy nằm chật dất ngổn ngang.
Đầu trôi sóng dập ngổn ngang hai hồ.
Phiên Tần hai nước mưu đồ.
Tóm thâu Nam- Việt bị Hồ phá tan.
Bây giờ còn hỏi chưa an.
Bởi loài hung dữ ngổn ngang dẫy đầy.
Giỏi chi lũ muỗi một bầy.
Bị làn khói tóc muỗi nầy phải tan.
Thánh- Hoàng còn ở lâm sàn.
Để cho thiên hạ nghinh ngang khó nghèo
Động buồm gặp sức phải chèo.
Vuốt râu cầm lái thẳng lèo khỏe thân.
Chạy chơi khắp hết thôn lân.
Hát hò kêu bớ nhân dân sửa mình
Tu tâm tu tánh tu tình.
Tu cầu Thất- Tổ của mình siêu thăng.
Quân tử mê đạo bỏ ăn.
Tiểu nhân bỏ đạo giữ ăn làm đầu.
Trông cho ô thước bắt (bắc) cầu.
Sông ngân tái thế lập lầu Đế- vương.

Tu sao mà chẳng hiền lương.
Không lòng bố thí chẳng thương kẻ nghèo.
Tu sao thấy chết như bèo.
Ngổng (ngổn) ngang dầu sống kẻ nghèo chẳng thương.
Rao cùng khắp hết bốn phương.
Sao không thức giấc hoàng lương dòm trời.
Hướng Đông đã mọc mặt Trời.
Khỏe thời chài lưới mệt thời thả câu.
Đừng khoe sức giỏi làm dâu.
Gặp bà Phu-Thị mang câu ở truồng.
Ngó dân ta lắm nổi buồn.
Trở về non đảnh lập tuồng cờ tiên.
Cả kêu các vị Đạo Tiên.
Ai mà muốn đánh để tiền năm quan.
Có thua xin chớ thở than.
Sắp cờ ngồi lại năm quan để liền.
Các Tiên nghe nói chịu liền.
Nước đỏ nước trắng chớ phiền lộn con.
Đi đầu chốt trắng quá ngon.
Bên kia pháo đỏ lòng son cập kề

Chốt trắng ra bị xe nghề.
Xe đỏ nghề nghiệp đem về chốn ngăn.
Pháo đỏ tượng trắng đã ăn.
Xe nghề đương chống đón ngăn nước cờ.
Pháo đầu xuất tướng bơ phờ.
Xe đâm tượng chết thẫn thờ tướng thua.
Thiếu tướng bắt sĩ làm vua.
Cờ ai đánh vậy mà thua uổng tiền.

Bá gia hãy rán chịu phiền.
Thiên cơ bất lậu khó quyền tôi phân.
Rán mà hết trí tỏ phân.
Để sau chẳng biết cựu tân hư mình.
Tắt hơi xác nọ phải sình.
Không chôn để đó thúi ình ai thương .
Mặc tình giục ngựa buông cương.
Khôn thời làm tướng dại xương không còn.

Hạ nguơn mỗi việc mỗi mòn.
Mòn sông mòn biển, lại còn mòn non.
Đổi chồng, đổi vợ, đổi con.
Đổi sông, đổi núi, đổi hòn Hà-Tiên.
Đổi Châu-Đốc, đổi Tịnh-Biên.
Thất- sơn lại đổi Hoa liên Nhà-Bàn.
Qua liền năm nước chật đàng.
Qua lộ Văn giáo máu tràn như sông.
Đổi nhật, đổi nguyệt, đổi phong.
Đổi năm, đổi tháng, đổi trong ngày giờ.
Đổi cha lại đổi nhà thờ.
Đổi cồn, đổi bãi, đổi cờ Nam-bang.
Trời xây Âu-Á bốn phang.
Nước tràn bờ cõi khó an thời kỳ.
Chuyển luân bỏ bực biên thùy
Ngửa nghiên(nghiêng) Trời Đất lập kỳ Thượng-nguơn.
Khuyên trong anh chị làm ơn.
Ăn ngay ở thật còn hơn làm giàu.
Giữ sao cho khỏi máu đào.
Giữ sao cho được cẩm bào Phật bàng (ban?).

Chó ai mà bỏ nhà hoang.
Thây phơi chết đói ngổn ngang xóm làng.
Heo tôi đã đứng làm hàng.
Cạo lông chia thịt ngon toàn năm châu.
Chuột nhỏ đào ổ quá sâu.
Nằm hang ca hát ai đâu biết gì.
Trâu tôi rất giỏi ai bì.
Chờ cho nước cạn bắt thì cày chơi.
Mặt tình đúng buổi nghĩ ngơi.
Thựơng nguơn ăn tết chiều mơi đã gần.

Trung quân thác dặng thành thần.
Nhờ ơn Trời Phật xoay vần có khi.
Ráng mà giữ dạ từ bi.
Tay chuông tay mỏ thát (thác) qui Tây-Đài.


Chuyên lòng kinh sử dồi mài.
Chờ sao gặp hội ra tài văn thi.
Giữ câu sắt đá tri tri.
Ham màu ham sắc có khi mất hồn.
Chữ rằng: “tích thiện trường tồn”
Một lòng hành đạo tiếng đồn có khi.

Tham lam của thế làm chi.
Quỉ quyệt mưu kế có khi mắc nàn.
Cầu cho tỏ rạng Thánh-hoàng.
Minh vương trị chúng xóm làng bình an.
Thuận hoà chồng vợ gia cang.
Chớ nên phụ bạn đổi sang làm gì.
Bố thí đừng có phân bì.
Cúng chùa đừng có buồn gì sãi-tăng.
Có lòng phật chứng chẳng ăn.
Trước cúng sau các sải tăng hầu tàn.
Thế tình đen bạc muôn ngàn.
Lao xao buổi chợ bạn hàng quá đông.


Chừng nào ngựa đã (đá) qua sông.
Phụng hoàng xuống biển thì Ông mới về.
Bây giờ kẻ Sở người Tề.
Đến kỳ Thiên định cũng kề một bên.
Bá gia xin chớ có quên.
Đừng ham linh nghiệm không nên đâu à.
Đồ củ đồ thiệt vậy mà.
Chớ ham đồ mới thiệt là mau hư.
Nhứt định hành ác hữu dư.
Trọn đời hành thiện hà ư đủ nào.
Năm canh dạ thảm gan bào.
Đây lo cho đó chừng nào hết lo.
Ra thơ tiếng nhỏ tiếng to.
Cầu cho bá tánh tưởng cho tôi nhờ.


Sài-gòn Gia-định ai ngờ.
Nước đâu mà lại lỡ bờ lướt cây.
Nứơc Nam không phải nước Tây.
Tại ai chẳng tưởng mới gây chuyện nầy.
Kẻ hốt bớt, người đong đầy.
Đong sao cho khỏi ruột mầy chó ăn.
Bệnh đau khi giáng khi thăng.
Đêm ngày chẳng ngủ chẳng ăn chút nào.
Để tay bắt mạch thu vào.
Tế vi mạch nhảy dân nào có sai.
Bộ xích trầm tiểu bằng nay.
Sạ trường sạ đoãn chứng ngay bệnh tà.


Bệnh này bị quỷ vậy mà.
Tả xích trầm tiểu thân mà quá suy.
Bệnh nầy trước cảm đã y.
Bệnh giờ nhập lý tế di đã nhằm.
Đầu thang bài đọc không lầm.
Ma hoàng bảy chỉ, cương tầm bảy con.
Phật-tửu một tí mới ngon.
Tinh-tinh kỵ quỉ để son cho nhiều.
Quản bì là thứ dân kiều.
Thế nào cũng phải ít nhiều để vô.
Quế chi dẫn hỏa đề mô.
Huỳnh kỳ năm chỉ để vô kỵ liền.
Nga truật trợ thận bốn tiền.
Gia thêm cửu bổn da quyển bổ can.
Uống vô bịnh đó mới an.
Ba thang thuốc Phật Thất san mạnh liền.


Đời này nhiều kẻ tham tiền.
Bỏ nhơn, bỏ nghĩa, bỏ giềng ông cha.
Mê cha thời bỏ Thích-Ca.
Mê bả trần thế bỏ bà Quan-Âm.
Đạo Phật diệu diệu thâm thâm.
Dầu mà tận thế ngàn năm vẫn còn.
Kẻ dại bị khôn đánh đòn.
Vì thời bất đạt chìu lòn cho qua.
Gặp cơn bình địa phong ba.
Kẻ khôn lại dạ mới là lạ cho.
Có quạt máy lại phụ quạt mo.
Chừng nào hết điện quạt mo đắt tiền.
Đi tàu thì khỏe hơn thuyền.
Khi tàu chết máy xuống thuyền ai cho.
Nắm khi đói gói khi no.
Chê bay mắng nhiếc nhỏ to làm gì.
Mắng tôi tôi cũng làm lỳ.
Ngày sau mới biết tôi thì là tôi.

Nam-vang nhà gạch nhà vôi.
Ngày sau kiếm trại lá ngồi không ra.
Ngày nay nhiều hát nhiều ca.
Huê tình huê tự làm ma không hồn.
Nước trong đựng lại một bồn.
Côn đồ cặn cáo bất tồn đổ đi.
Cất đầu tôi lại một khi.
Anh em xin ráng ( rán) nghĩ suy tôi nhờ.
Ráng (Rán) chèo tới bến tới bờ.
Lên nhà nghỉ khỏe bơ thờ bị mưa.

Rừng tòng giữ dạ muối dưa.
Giải dầu mưa nắng sớm trưa bền lòng.
Non tòng hưởng ứng bá tòng.
Ngày sau vận đạt xoay vần về Nam.
Mặc tình ăn muối mà cam
Ăn đường ngọt quá không ham chẳng bền.
Cỏ cây diện đá làm nền.
Khát thời nước suối giữ bền lòng son.
Buồn thời hứng cảnh dạo non.
Tối thời kinh kệ cốc bon thường hành.

Bạc liêu nhiều kẻ không lành.
Ngày sau hết muối dạ đành hết thêu.
Ỷ khôn tiếng dệt tiếng kêu.
Ê đầu không dính thây bêu sông hằng.

AN-GIANG nhiều chị không lành.
Phật ghi phải chịu nhiều lần khói tên.
Lo đời sắp đói một bên.
Quần sau không bận lại quên ở truồng.
Nghĩ suy ta bắt nổi buồn.
Bước ra khó bước thẹn thuồng lòng ta.
Bây giờ xưng mẹ xưng cha.
Ngày sau phải chịu khóc la dẫy đầy.
Tu sao ăn thịt cáo cầy.
Rượu vô ít chén tao mầy lên tay.
Mặt tình ong giỡn bướm bay.
Ngửa nghiêng màu sắc thành tây vui vầy.
Sau ai phải chiu nạn nầy.
Làm người phải biết cáo cầy khác hơn.
Người thì biết nghĩa biết nhơn.
An cơm chẳng biết còn hơn thú cầm.
Tam canh nhiều bối đi thầm.
Ai mà mê giấc nó tầm của ai.
Làm người phải biết gần xa.
Tri tầm tà chánh thì ta mới còn.
Suối trong nước chảy đá mòn.
Trăng trong mây án trăng còn phải lu.
Đui cùi bố thí đồng xu.
Đó là phước ấy công phu để dành.
Chim khôn tìm chọn cây lành.
Người khôn ẩn nhẫn công thành hầu vương.
Đã đành mạc (mạt) Trụ nhà Thương.
Tử- nha Tây trút Văn-Vương mới phò.

Chèo thuyền rước khách đưa đò.
Chèo qua chèo lại hát hò kêu dân.
Kiến cơ nhi tác lập thân.
Khuyên trong anh chị thôn lân xem chừng.
Phật rau xuống thế làm quan.
Súng đồng gươm giáo tưng bừng bồn phang.
Phật mà xuống thế làm quan.
Hại làng hại xóm dân gian khó nghèo.
Mạnh ai thuyền nấy kéo lèo.
Tới màng tới lớp qua đèo qua truông.
Ba kỳ xuất trận muôn binh.
Mượn quyền trời đỏ tròn vuông tung hoành.
Giỏi chi mạnh sức La-Thành
Như Đông phương-Sóc mắt lành một con.
Cờ giang (giăng) mặt biển đầu non.
Diễn thinh chớp nháng cha con rã rời.
Ai ai thì cũng một đời.
Thế nào bẻ nạn chống trời đặng đâu.
Cuộc đời đặng lưới mất câu.
Đặng trâu mất ruộng không lâu bớ người.
Miễu đình để một ông từ.
Có đâu một miễu hai người đốt nhang.
Năm canh hết thế thở thang (than).
Lo cho đất Bắc lại sang đất mình


Anh em ráng nghĩ chút tình.
Năm canh tay trán một mình nghĩ suy.
Có cầu vong nghĩa Phật ghi.
Ráng mà tầm chốn quy y kẻo lầm.
Giỏi chi ông lớn bà đầm.
Thất thời phải chịu ăn nằm Đồng-nai.
Đừng khoe thầy đội chú cai.
Ngày sau mất nón sưng vai rã hình.
Cheo leo điện đá một mình.
Tuỳ thời ẩn nhẫn mặt tình ngao du.


Nguyệt -Nga đã lắm công phu.
Chị Hằng trộn thuốc đi tu cung thiềm.
Trang tử thử vợ một điềm.
Nằm hòm bị búa bị liềm rả thây.
Mãi Thần vợ để đầu tây.
Hết cơn đốn củi mang giây đai vàng.
Đầu tròn áo rộng thô tàn.
Ngày sau mới biết bạn vàng là ai.
Sắp đời có vá có may.
Hết may tới vá có ai tranh tài.
Nhân dân ráng cuốc ráng cày.
Trồng khoai tỉa bắp chờ ngày nuôi thân.
Đừng chê khoai bắp cầm cân.
Vặn điều bẻ trái không phân chánh tà.
Nhẫn nhẫn bá nhẫn mới là.
Ngày sau có Phật Di-Đà độ thân.
Nam tào nhơn chánh quân ân.
Cầu cho nội ngoại cựu tân siêu đài.
Hạ nguơn lộn lạo nhiều loài.
Một tháng còn có một ngày mà thôi.
Chừng nào Chợ-Lớn hết vôi.
Bắc-Nam hết cá người ngồi mới yên.
Vàm-Sáng lộ cập đầu tiên.
Sông-Đồng ba ngả nào yên dân tình.
Quỉ Vương nào kể miễu đình.
Thánh thần náo động ình ình giận thay.
Dầu cho động đến Bồng-Lai.
Hai năm phải chịu nào ai xuống trừ.
Thế gian nhớ khóc quên cười.
Đất sao lại trồ có người bốn tay.
Gió đông động lá chim bay.
Trống chầu da tiếng mới hay Láng-Bà.
Núi rừng trồ ngọc trổ ngà.
Long-hoa lại trổ trên tòa Thượng-nguơn.
Nam-bang một lá quế đơn.
Năm châu tựu hội Thất sơn đông đầy.
Dân ôi ! chớ có tao mầy.
Rán mà giữ dạ chớ chầy sai ngoa.
Chữ rằng ! Ma Phật cũng ta.
Trồng bông thì lại có hoa nhà tình.
Để sau bảo tố thình lình.
Sập nhà sập cửa rồi mình ở đâu.
Thế gian chớ khá cỡi trâu.
Hai sừng nó nhọn nó đâu để mình.
Thương dân khuyên nhủ hết tình.
Mượn xác chín tuổi một mình ra thơ.
Buồn đời coi lại làm ngơ
Nói rằng; nói dối làm thơ bắt vần.
Để rồi cuộc loạn quân Tần.
Biết cho Tứ-Thánh bắt vần hay không.


Ếch ngồi đáy giếng mắt trông.
Vịt nghe tiếng sấm cũng không biết gì.
Khoai lang lại với khoai mì.
Đến khi Tần khởi độ thì khầu ta.
Ráng mà niệm Phật cho qua.
Vái câu Bồ-Tát độ mà trần gian.
Nguyện cùng tất cả bốn phang.
Dẹp ngòi súng ống cho an dân lành.
Tượng cao chớ khá lên bành.
Thế gian phải ráng làm lành khỏe thân.
An-trừơng An định phe văn.
Long châu phe võ hiệp đoàn Thất sơn.
Lập đời dụng nghĩa dụng nhơn.
Nhất nam cửu nữ Thất sơn được tồn.
Kẻ ác tiêu xác tiêu hồn.
Người lành còn lại tích tồn hậu lai.
Ngày sau có một không hai
Thất sơn duy nhất Như-Lai lập đời.
Trăng lặng rồi kế mặt trời.
Gió thời hai ngọn đổi dời cũng không.
Ngồi buồn nói chuyện minh mông.
Kẻ lành nghe vậy thời mong tới đời.
An-giang sao lại đổi dời.
Đổi lên Châu-Đốc vậy thời mới yên.
Chấp tay nguyện vái Hoàng-Thiên.
Vái cùng Hậu-Thổ chứng miên (miêng) người lành.
Cuộc đời chẳng khác tơ mành
Rồi như ổ kến cũng đành gần đây.
Nhà Nam chẳng phải nhà tây.
Bây sao chẳng tưởng mà bây nịnh thần.
Sau đây tiền phú hậu bần.
Kẻ dạy hậu phú tiền bần ngoa du.
Thức Thánh bất thức giả ngu.
Mưu chơn thành sự công phu tại trời.
Dầu bây ác cũng một đời.
Đến kỳ thiên định mấy lời đâu sai.
Núi cao thảnh thót chim bay.
Biển sâu cá lội vgui say nổi trầm.


Thương công chú cộng chan dầm.
Vào sanh ra tử lại lầm kế ai.
Châu thành pháo nổ khói bay.
Tiếng rền dậy đất họa lây xóm làng.
Trời ôi ! Khó nỗi dân nhàn.
Giỏi chi thầy pháp đặt đàng tống ôn.
Tống châu thành lại tống thôn.
Thuốc Nam rồi lại cũng hướn về nam.
Nhện hùm bắt buớm đó cam.
Thằn lằn thấy vậy cũng ham nhện hùm.
Rủi tay rớt xuống vũng bùn.
Chú cắc kế lửa nuốt cùng lằn đi.
Mèo vằn thấy vậy một khi.
Chụp cắc-kế lửa tha đi vào nhà.
Chẳng may rớt xuống ao nhà.
Mèo kia chết nước vậy mà sống đâu.
Thảnh thơi nhện cũng giăng câu.
Mặc tình bủa lưới mà thâu bướm chuồn.
Thơ tôi hay nói tầm ruồng.
Ráng mà siêng đọc giải buồn tri âm.
Coi rồi cất kín vào tâm.
Nghĩa đen bàn trắng ắt lâm khổ hình


Khó nổi biết tới năm thìn.
Mưu cao như gả Cống-Quỳnh ngày xưa.
Trời chuyển thì chắc có mưa.
Lượt dày bắt chí lượt thưa chảy đầu.
Ngon chi một hộp khai trầu.
Ăn say mà lại nhứt đầu bớ dân.
Kẻ hèn như lựu lan thân.
Mưu mô quỉ quyệt hại dân đọa đày.
Khóc đêm rồi lại khóc ngày.
Khóc than ai chẳng nghe rày lời tôi.
Vĩnh - Hạnh bạc trắng như vôi.
Ngó dân Sa-đéc vậy thôi hết cười.
Bạn hàng chị chín chị mười.
Miệng hô tay hấp không trừ một ai.
Nói nhiều thành thử nói dai.
Lầm lỳ nói nữa nói hoài chẳng thôi.
Nói cho ai biết nghe tôi.
Mặc tình anh chị bạc vôi thì làm.
Giả ra một chị bán vàm.
Tam canh ráo rít tay làm miệng ăn.
Cuộc đời lúc giáng lúc thăng.
Ai la ai khóc thầy tăng khỏe mình.
Tuy là nương quán dựa đình.
Tranh giành chết sống mặc tình ai ai.


Chờ khoai có củ ra tay.
Kiến cơ nhi tát mới hay lời thầy.
Tam bảo Rạch giá đông đầy.
Gần đây còn có một thầy công phu.
Bởi điên nên nói quá ngu.
Bắt dần bắt tự thầy tu phước thầy.
Lao xao ong mật một bầy.
Đóng chơi một ổ chờ ngày hút hoa.
Nhắc xưa có gả Na-Tra.
Mới vừa chín tuổi đi xa hỏa hài.
Thành-Thang binh đóng muôn đầy.
Tây kỳ xuất chúa. Trụ rày mạng vong.
Thành-Thang tiêu diệt tại ông.
Mê con Đắt Kỷ sát vong trung thần.
Nước thuỡ nhớ lúc vua Tần.
Gồm thu lục quốc tiền trần ghi danh.
Ai khôn, ai dại, ai lanh.
Thiệt khôn, khôn thiêt, đua tranh ích gì.


Cù lao ông chưởng ai bì.
Cá tôm lại rẻ thiếu gì chuyện vui.
Vàm ông, năm chợ tới lui.
Ai mà tan nát thây trôi dập dìu.
Đường tràng ngựa chạy ngập kiều.
Trường hoa ứng thí dập dìu chim bay.
Bây giờ còn hỡi chưa hay.
Có ai tưởng việc dong dài làm chi.
Chừng nào đến lúc ai bi.
Xem thơ ngồi ngó vậy thì ngẩn ngơ.
Thọc tay vào nước rửa dơ.
Gội đầu tro mặn tóc tơ chơn chùi.
Ăn mít lấy hột mít lùi.
Ngó trong hang thẳm tối thùi thấy ai.
Con chị đứa cổng ( cõng) đứa đai.
Đứa bồng đứa dắt mới hay chuyện nầy.
Núi cao cây cỏ xanh dầy.
Bồng con mang gói cả bầy đi tu.
Đến đây xin dứt thi thơ.
Chúc cầu Nam-Việt hội thì thượng nguơn.
Ráng mà giử dạ keo sơn.
Dứt lời Tứ-Thánh dời chơn phản hồi.
Cầu cho ba đạo đấp bồi.
Đấp nền Nam-Việt đặng hồi an khương.

Nam mô Quan-Thế Âm Bồ-Tát Ma-ha-Tát. (3 lần)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.

TAM HOÀNG THƠ

Chiếu manh mà trải góc đền.
Chị vô làm bé có bền hay không?.
Trái đời gái lấy hai chồng.
Một nhà hai chủ sanh lòng tranh ăn.
Cái nhà chỉ có ba căn.
Căn giữa của vợ hai căn của chồng.
Cá chim nhốt lại một lòng.
Ngựa trâu chung để một đồng sao yên.
Tức cười thầy pháp sợ điên.
Mặt trời lố mọc thầy ghiền anh coi.
Vàng ai mà đổi con voi.
Hay vàng chú chệt đổi còi an-nam.
Thấy bông tươi tốt anh ham.
Chừng huê nó rụng nước tràn năm châu.
Anh sui anh trốn đi đâu.
Nhà anh lửa cháy chị dâu mất chồng.
Thầy pháp ăn ở hai lòng.
Chữa nam, chữa bắc chữa giòng tây đông.
Trâu ai mà để ở không.
Sao không cày ruộng kêu công cấy giùm.
Ngựa ai hung dữ quá hùm.
Trâu cày ngựa cởi ba thùng cắt gom.
Gạo tôi đựng hủ đựng om.
Lúa ông vô bịch ông gom vô bồ
Ớ nầy thiện tính ông cô.
Vợ tôi, tôi giữ chồng cô, cô gìn.
Sao mầy chẳng xuống chợ kinh.
Đi qua Châu-Đốc Trà-Vinh trở về.
Ngày nay hai chú làm hề.
Hát tuồng nhị chúa bốn bề coi chơi.
Bán rao khắp hết nơi nơi.
Ai mà đứt cổ chổ rơi đứt đầu.
Nầy anh nhà cửa ở đâu.
Bị quân ăn cuớp nhà đâu mà về.
Để tôi bắt ngựa cởi về.
Lùa dê uống nước gà nghề đá chơi.
Tháng bảy tháng tám đi chơi.
Mời anh mời chị đá chơi một sòng.
Ăn tết đi đá thiệt đông.
Đi qua Chợ-Lớn Gò-Công trở về.
Đi cùng thành thị thôn quê.
Chú đi lục tỉnh trở về tây không.
Ba kỳ anh thiệt có công.
Đi nam đi bắc đi đông mới về.
Thằng nầy mầy thiệt nhà nghề.
Cù son lạc sắn mầy chê chú thầy.
Mầy mua guốt mua giày.
Mua râu cá chốt cậm mày cá trê.
Ham chi cô bảy mày mê.
Chú mầy bảy chục con dê có chà.
Sao mầy ham của bỏ cha.
Ông mầy còn sống mầy la chết rồi.
Chú sao nói chuyện ngoài môi.
Không lo cày cấy bỏ trôi ruộng mình.
Rủ nhau cất một cái đình.
Rước cha về ở tụi mình ăn chung.
Ai ôi chớ nói tôi khùng.
Ba mươi tháng Chạp vở mùng muỗi vô.
Tháng Giêng mắm muối làm khô.
Tháng tư chú sáu dẫn cô về nhà.
Chú Năm bợ đở nịn lùa.
Nhà tôi hết gạo xách vùa đi xin.
Má ôi con má chết sình.
Nó không ăn muối thúi ình má ôi.
Rồi đây chị chín coi tôi.
Hóa long hóa cánh kéo lôi xóm làng.
Anh mười hung dữ nghinh ngang.
Để tôi hóa lửa nướn tràn anh coi.
Chị coi tôi bắt con voi.
Bắt con chuột lắt nó moi vách nhà.
Chị nào mặc áo lang sa.
Cho tôi một vạt đây mà con beo.
Ăn lạc dân lại mang nghèo.
Mèo không bắt chuột chuột trèo lên ăn.
Con rắn mà nói con trăn.
Chị dâu có chửa đẻ bằng trứng không.
Tôi khùng nói chuyện minh mông.
Xin làng xin xóm chớ hờn giận tôi.
Tôi điên thân lại mồ côi.
Không cha không mẹ mồ côi một mình.
Tôi khùng tôi biết động tình.
Cớ sao cậu mợ vô tình giết tôi.
Bởi tôi không có mặt vôi.
Không son không phấn chê tôi không nhìn.
Hát chơi ở chốn ba đình.
Ai kêu ai réo mặc tình ai ai.
Anh em hãy ráng trồng khoai.
Trồng khoai trồng bắp cấy cày ruộng tâm.
Chừng nào dứt giặc bảy năm.
Ông bà ăn tết một năm vui mừng.
Thiếu chi kẻ dọn người bưng.
Chừng Ông về tới Mặc Dưng chẳng còn.
Cả kêu bớ chú cõng con.
Cha về tới rạch Tàu mòn rả tiêu.
Đói ăn rau muống rong rêu.
Chừng Ông về tới dựng nêu cấm cờ.
Tôi khùng đặt lợp đặt lờ.
Đặt trên chót núi đặng chờ cá vô.
Chú giàu chú lập cơ đồ.
Tôi nghèo tôi giữ cái mồ của cha.
Đất trời tôi ở không xa.
Nhưng mầy muốn đuổi giấy mà mầy đâu.
Tranh nhau thì phải dập đầu.
Ai mạnh thì được ai cầu xin ai.
Xưa nay mầy cuốc trồng khoai.
Bây giờ mầy bỏ tao cày đất tao.
Quân bây khua đủa đánh nhau.
Cơm tao tao giữ, tao nào bỏ đâu.
Nuôi tầm ta khỏi trồng dâu.
Qua sông tao khỏi bắt cầu nữa chi.
Nước trong cá lội thấy vi.
Nhà tao sẵn của tao thì ấm no.
Ai khôn tôi dại đưa đò.
Chèo qua khúc vịnh tôi hò hát chơi.
Hò nam hò bắc trời ôi.
Chợ không người nhóm ruộng thời vô canh.
Ta ngu ta dại còn anh.
Cha thì nó lú chú thì nó khôn.
Mặc ai xây luỹ đấp đồn.
Đố cha nào dám dựt cồn Hà-Tiên.
Bán buôn không vốn không tiền.
Không tờ không giấy không quyền ký tên.
Giỏi sao không giựt Cao Miên.
Cậu năm ở trển chú lên hồi nào.
Mầy ham mua chức quyền cao.
Chức mầy để nướng ăn rau với hành.
Chú nó khôn dại thiệt lanh.
Cù lao Ông-Chưởn g như manh đệm bườm.
Cô sang giầy vớ hột cườm.
Chú giàu sang quá lòng hờm giựt trâu.
Sang giàu như cá mắc ca u.
Như chim mắc bẩy như trâu khôn g chuồng.
Lỡ vui lỡ khóc lỡ buồn.
Lỡ bần lỡ phú lỡ luồng gió mây.
Nam mô mấy chú mấy thầy.
Mô làng mô xóm mô hoài mô không.
Mô cho thầy ký thầy thông.
Mô sao cho khỏi cái còng Diêm-Vương.
Mô sao chẳng kẻ đi đường.
Nhà không người ở ruộng vườn vỏ hoang.
Sài Gòn con cuốc quá sang.
Le le choán ổ bạc vàng hết trơn.
Nói ra thầy chú chớ hờn.
Tôi đây ngay dại có khi điên khùng.
Bán mền bán chiếu bán mùng.
Mua cho đòn gánh cặp thùng không quai.
Người nầy con gái hóa trai.
Con trai hóa gái thiệt tài phép Tiên.
Chị sao đáng mặt thuyền quyên.
Chị đừng quí tử con hiền của ông.
Anh ôi chớ có hai lòng.
Giữ trung giữ hiếu, giữ lòng với cha.
Hỏi mầy ai đẻ mầy ra.
Ông mầy già yếu ông mầy còn kia.
Mầy hung như khoá không chìa.
Đất cày bảy cục mầy lìa đi đâu.
Ông cha còn ở điện đầu.
Biểu mầy phải niệm một câu Di-Đà.
Thân mầy côi cúc không cha.
Thương dân miền Bắc cha già đợi trông.
Chị sao không chịu lấy chồng.
Cam đành ở góa tuyệt giòng không con.
Khen ai lựa chọn miếng ngon.
Ai người nam tử ai tròn nam nhi.
Đố ai ta nói chuyện chi.
Ai mà hiểu đặng đáng ghi con trời.
Tới đây tuyệt bút hết lời.
Kêu cùng nam nữ mau thời tầm tri.

CHUNG

Tài liệu Phât giáo Hòa Hảo
http://bskh.net/2007/12/tuthanh.htm


*

ĐỨC VÀ TÀI

*


*

ĐỨC VÀ TÀI

Buồn xem chữ Đức chữ Tài.
Tài thời đứng trước Đức thời đứng sau.
Chữ tài lợi hại biết bao,
Nhân dân đồ thán bởi chưng chữ Tài.
Nước nào sửa trị lâu dài
Cũng nhờ chữ Đức dân nay phục tùng.
Chũ tài nhiều kẻ lại dùng.
Có tiền lại trọng không tiền lại khinh.

Ở đời ít kẻ thông minh.
Muốn cho mình sống hại người thác oan.
Làm người sao chẳng lo toan.
Tham chi tiền bạc phũ phàng cháo rau.
Tới chừng gặp Chúa Nam trào.
Mảng ham tiền bạc làm sao mà phò.
Của tiền cất để bo bo.
Thấy ai đói khó không cho chút nào.
Sống thì chỉ dốc làm giàu.
Chẳng may có thác của nào còn đâu.
Di-Đà chẳng niệm một câu.
Để cho quỉ sứ nắm đầu kéo đi.

Sao bằng học chữ Từ-Bi.
Dương-gian Âm-phủ trốn đi đường nào.
Thương người chí khí anh hào.
Trung quân ái quốc chẳng nao tấm lòng.
Chẳng thà sống đục thác trong.
Sống mà nhơ bẩn sống không ích gì.
Ai ai cũng ở Nam Kỳ.
Tham nơi tiền bạc quên thì ông cha.

Làm người sao chẳng lo xa.
Để chừng tới việc làm ma không đầu.
Sông sâu khó nổi bắt cầu.
Chừng nào gặp Phật hết rầu hết lo.
Ham chi bạc giấy bụi tro.
Tiền ma bạc quỉ so đo ích gì.
Nói ra trong dạ sầu bi.
Làm người sao chẳng xét suy cuộc đời.
Tích đức sau đặng thảnh thơi.
Tích tài phải chịu kêu trời được đâu.

Trông cho rỏ mặt công hầu.
Chữ Đức đổi lại hết rầu hết lo.
Nước Nam chẳng có thầy nho.
Dạy dân ăn học đặng cho biết đời.
Chẳng còn mua lổ bán lời.
Giàu nghèo thì để Phật Trời định cho.
Làm người thì phải toan lo.
Dằn lòng niệm Phật, Phật cho mới nhiều.
Người khôn nói ít biết nhiều.
Tham nơi tiền bạc mai chiều sẽ hay.


Gắn lòng cầu Phật Như Lai.
Cửu Huyền Thất Tổ khỏi nơi A tỳ.
Mình người ở đất Nam-Kỳ.
Con Hồng cháu lạc vậy thì thua ai.
Chớ đừng tham sắc tham tài
Có lòng trung hiếu Phật rày thưởng ban.
Dầu ai của cải muôn ngàn.
Không tin đạo Phật không toàn mạng đâu.
Làm lành niệm Phật một câu.
Phật trời sẽ định đâu đâu hưởng nhờ.


Bấy lâu Chúa đợi tôi chờ.
Bây giờ Chúa ở sầm sờ một bên.
Người Nam chẳng phải người Mên.
Tham tiền tham bạc mà quên Chúa mình.
Trách ai ăn ở vô tình.
Ăn cơm của Chúa mà mình bất trung.
Những đồ dại dột vô cùng.
Ăn rồi quẹt mõ tách chung như gà.
Khôn thời khôn thuở nên ba.
Ngu thời đầu bạc vậy mà cũng ngu.
Người khôn chịu chữ lao tù.
Để cho đứa dại vỏng dù nghinh ngang.


Trong cho rõ mặt Thánh-Hoàng.
Căn nào tội nấy trách than đặng nào.
Người Nam ăn học sách nào.
Luật nhà chẳng biết nói sao nên người.
Hay đâu bị chúng chê cười.
Mang râu đội mũ như người Đổng gia.
Đàn bà như chị Nguyệt-Nga.
Không tham tiền bạc mới ra con người.


Con người sống đặng mấy mươi.
Mà ham tiền bạc hơn người thế gian.
Vác tiền mua chức làm quan.
Dân Nam nghèo khổ biết than ai cùng.
Đời này nhiều kẻ bất trung.
Hể nhiều tiền bạc kể gì nước non.
Anh em giòng họ bà con.
Ai nghèo chết chịu bà con ai nhìn.
Đời nầy nhiều kẻ bất bình.
Giàu thời con cháu nghèo thời người dưng.
Sang giàu kẻ đở người nưng.
Nghèo thời han hỏi có chừng vậy thôi.


Đồng bạc nó bạc như vôi.
Mai còn thấy đó chiều thời mất đi.
Những người vô giác vô tri.
Sống như tượng gỗ ích chi cho đời.
Tôi than bá tánh hết thời.
Phật đâu có bỏ những người hiếu trung.
Làm người chí khí anh hùng.
Những người gian nịnh ai dùng làm chi.
Đời nầy bạc lộn với chì.
Tiểu nhơn quân tử vậy thì khó phân.


Lao xao kẻ phú người bần.
Tiên phàm lộn xộn nhơn dân mới lầm.
Vô tình là gả Trịnh-Hâm.
Muốn cho mình sống hại thầm hiếu trung.
Tội chàng Trời Phật khó dung.
Tại mình tích ác họa hung tới mình.
Ai muốn cho đời thái bình.
Ăn ngay ở thật Chúa mình lên ngôi.
Cuộc đời cũng đã gần rồi.
Ráng cầu cho Chúa lên ngôi trị đời.
Gắng công tu niệm đợi thời.
Chừng nào chữ Nhứt lại dời chữ Tam.
Tu hành chẳng luận chùa am.
Lòng thương Minh-Chúa nước Nam đủ rồi.


Người trung có ghế bàn ngồi.
Có văn có võ Chúa tôi xum vầy.
Chừng nào hết lủ cáo cầy.
Nhà Vương mới đặng đông tây hiệp hòa.
Nước nào sánh kịp nước ta.
Vân-Tiên hào hiệp Nguyện-Nga thái bình.
Vân-Tiên sửa trị Hớn đình.
Bốn phương an lạc trào minh vững vàng.
Ai muốn làm tôi Minh-Hoàng.
Trước cầu cho Chúa sau an dân lành.

Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. (Tam Niệm)


*

LỤC TỰ DI ĐÀ

*

LỤC TỰ A DI ĐÀ

*


GIẢNG NGHĨA LỤC TỰ A DI ĐÀ



Di đà lục tự sáu câu.
Giải ra sáu nghĩa sửa tâm tu hành.
Bấy lâu chẳng biết cho rành.
Nay Thầy chỉ rõ lý chơn đặng tường.
Di Đà hãy niệm cho thường.
Đó là sáu báu ráng đem vào lòng.
Tìm ra sáu nghĩa cho xong.
Đặng mà sửa tánh trừ tâm nơi mình.


Nhớ ghi sáu chữ cho minh.
Niệm thì tầm nghĩa đặng mà làm theo.
Trước trừ sáu quỉ đùm đeo.
Sau là trừ khử thất tình vấn vương.
Chữ Nam giãi nghĩa cho thường.
Niệm thì diệt hỏa ở tâm vậy mà.
Thường thường tánh nóng của ta.
Phải mau vụt tắt lần lần bỏ đi.
Chữ Mô cũng ráng âm y.
Tâm không thanh tịnh đừng gây nợ trần.


Ráng mà trao sửa ân cần.
Tâm không của Phật có là quỉ ma.
Niệm thì tầm nghĩa cho ra.
Không gây không tạo đó là chữ Mô.
Nam Mô diệt hỏa hư vô.
Tâm phàm dứt bỏ theo lòng Hoàng thiên.
Chữ A phải giữ cho nguyên.
Khí tinh nơi thận giữ cho đủ đầy.
Nghĩa đừng dâm dục tạo gây.
Đông con nhiều vợ hao mòn thân ta.
Chữ Di phải giữ đó mà.
Ba báu tinh khí với thần đừng hao.


Muốn gìn ba báu làm sao.
Ta bỏ hờn giận ghét ghen phải chừa.
Ân cần tu luyện sớm trưa.
Chớ ham danh vị giàu nghèo lo chi.
Nếu ai giữ đặng cho y.
Thì là khỏi bịnh trường sanh tới già.
Lại thiêm cái nghĩa chữ Đà.
Tấm lòng sáng suốt phá mê cuộc trần.
Ráng mà trao sửa ân cần.
Tâm phàm vứt bỏ độc sâu phải chừa.


Ân cần dồi luyện sớm trưa.
Thì là trúng nghĩa khỏi sai với lầm.
Chữ Phật là tịnh cái tâm.
Hãy đem trí não mà tầm cho xa.
Đó là Phật chẳng có xa.
Tâm cho binh định cỏi Tiên đặng về.
Niệm thì phải phá tánh mê.
Tâm đừng vọng quấy gìn lòng từ bi.


Niệm thì ráng nhớ làm y.
Của Thầy sư vãi đặng mà làm theo.
Niệm phật chẳng luận giàu nghèo.
Không tốn tiền bạc mà sau thanh nhàn.
Niệm Phật chẳng tốn tiền ngàn.
Thì sau mới đặng tòa vàng an thân.
Niệm Phật sớm tối ân cần.
Ngày đêm siêng niệm khỏi trong luân hồi.
Niệm Phật muôn việc thôi thôi.
Chớ ham sự thế cực lòng khổ thân.
Niệm Phật gặp hội Long-Vân.
Ráng mà siêng niệm có ngày siêu sanh.


Niệm Phật đừng có đua tranh.
Theo đời văn vật hao mòn thân ta.
Niệm Phật khỏi đọa yêu ma.
Khuyên trần ráng niệm nơi tâm cho thường.
Niệm Phật khỏi dọa vấn vương.
Thường thường xét lỗi của ta hàng ngày.
Niệm Phật nợ thế đừng vay.
Nợ trần ráng trả có ngày thảnh thơi.
Trả rồi sau đặng vui chơi.
Hiệp cùng Tiên Phật tớ Thầy âu ca.

NAM MÔ A Di ĐÀ PHẬT

TỈNH THẾ VĂN


*

Tỉnh Thế Văn

* * *

Cuộc trần thế khuyên ai hãy gẩm.
Danh mà chi lợi lắm mà chi.
Bã công danh như bọt nước có ra gì.
Mùi phú quí như vần mây tan hiệp.
Sang cho mấy cũng thì một kiếp.
Giàu đến đâu cũng huởng một đời.
Cái tuổi xanh đeo đuổi kiếp con người.
Thân tứ đại có mấy đâu mà làm chắc.
Kìa sanh tử thấy liền trước mặt.
Đám cô phần đa thị thiểu niên thân.
Cái thân nầy là cái giả thân.
Nay còn đó mai đâu chắc được.
Thêm nổi bịnh nổi già thức phược.
Sống trên đời sống được bao lâu.
Mới mài xanh kế đã bạc đầu.
Rồi lại đến quan khâu một nắm
Ôi tam thốn khí tại thiên ban dụng.
Nhứt dáng vô thường vạn sự hưu.
Muôn việc đều mang lấy tất hơi.
Hơi vừa dứt cuộc đời cũng dứt.
Nào của cải vợ con tài vật.
Nhắm mắt rồi nắm lấy tay không.
Nghĩa tào khang có kẻ chẳng bền lòng.
Đành cải tiết dạ mong chồng khác.
Bỏ con dại mặt đời hành phạt.
Cái cuộc đời nghĩ thiệt buồn tình.
Hết mê danh mê lợi mê tình.
Toàn mượn thú đá-làm phong cảnh.
Gẩm cuộc thế vui gì ham tranh cạnh.
Thêm gây tình vợ vợ với con con.
Thà sớm khuya vui thú nước non.
Chiều lại niệm A-Di-Đà-Phật.
Nong giải thoát, tránh xong đường vật chất.
Sổ luân hồi yểm cựu với hành vi.
Ở thế gian nhiều tiếng thị phi.
Về cửa Phật từ-bi-hỹ-xã.
Qua biển khổ mượn thuyền Bát Nhã.
Rửa bụi trần mượn nước Ma Ha.
Nguyện sau thoát khỏi chốn ta bà.
Về Tịnh độ vui miền Cực Lạc.
KỆ Hay dở đâu nài viết ít câu.
Khuyên đời sớm sớm khá hồi đầu.
Tu là cội phúc đừng xao lãng.
Danh lợi giây oan mưa gắng công
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ( ba biến

KINH CỨU KHỔ


*

KINH CỨU KHỔ

Nam mô đại từ, đại bi quảng đại linh cảm Quan Thế- Âm Bồ Tát.
Nam mô cứu khổ, cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Bá niên vạn ức Phật, hằng hà xa số Phật vô lượng công đức Phật.
Phật cáo A nam, ngôn thử kinh đại thánh năng cứu ngục tù, năng cứu trọng binh, năng cứu tam tai, năng cứu bể nạn khổ.
Nhược hữu nhơn tụng đắc nhứt Thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn, tụng đắc nhất vạn biến hiệp gia ly khổ Nam Mô Phật lực oai, Nam mô Phật lực hộ.
Xử nhơn vô ác tâm, linh nhược tâm đắc tội.
Hội Quan Bồ Tát, Hội Thiện Bồ- Tát.
A nâu dại thiên vương, Chánh điện Bồ- Tát. Ma kheo, Ma kheo, Thanh Tịnh Tỳ Kheo.
Quan sự đắc táng, tụng sự đắc hưu, chư đại Bồ-Tát, ngũ bá A-la- hán cứu hộ đệ tử nhứt thân ly khổ nạn. Từ ngôn Quan Thế Âm Bồ-Tát bất tu giải nạn độc bá thiên vạn biến, tai nạn tự nhiên, đắc giải thoát, tín thọ phụng hành. Tức thiết chơn ngôn viết : kiêm bà, kiêm bà, đế câù ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ma ha dà đế, chơn linh càng đế, Bồ đề ta bà ha.


Lưu ý : Nhớ xem phía sau có bài Toa Thuốc Nam, của Đức Thầy đã dùng từ năm 1939, để trị bệnh cho bá tánh thập phương.

PHỤ THÊM
Vài Toa Thuốc Nam Mà ĐỨC THẦY đã dùng từ năm 1939. để trị bịnh cho bá tánh thập phương. ------------
1. Bệnh ho. É tía, rau tần, rể chanh, gừng lùi, lá bưởi, bông thọ, rể chòi mòi (sao) một xu nhơn trầu, một xu trắc bá diệp. 2. Bệnh ban. Chổi đực, vòi voi, hắc sửa, rau bợ, rể chòi mòi, năm thứ đậu,đọt tre mỡ một nắm ( sao chín ). 3. Bệnh thường. Lá xoài, lá ổi, lá mít, lá bưởi, bông trang hay là bông thọ (để sống). 4. Ho gió lâu quá mà thuốc nào cũng vô hiệu. Kha tử (nướng cho vàng) 5 chỉ, cam thảo 2 chỉ. Hai vị nầy chung lại, sắc uống hiệu nghiệm như thần. 5. Ho ra huyết ói cả tô tức đau,vừa ói ra nó nặng ngực (Thượng Tiêu) Đại hoàng tốt (sao rượu cho khô) 2 chỉ, xuyên hoàng liên 3 chỉ, Huỳnh cầm 4 chỉ, Sắc 2 nước, uống 2 lần, cho ỉa đừng sợ (mệt mà bổ). Xổ rồi lại uống thang dưới đây: Văn thảo (sao) 2 chỉ, Lảo thục día 8 chỉ, Ngũ vị tử 1 chỉ, Thiên mônđông (khử bỏ tim) 3 chỉ, Hoài sơn (sao) 4 chỉ. Phục linh củ 3 chỉ, Mạch môn đông 2 chỉ, Đơn bì 4 chỉ, Táo nhục 2 chỉ, đông hoa 2 chỉ. Hốt 1 thang sắc 2 nước,vắt lấy nước cốt uồng 2 lần, uống luôn 3 thang thì hết nếu uống nước sôi bụng ỉa ấy là tảo thục địa xấu, phải mua thứ tốt. 6. Con nít ói sữa. Thiên sanh ư trực 1 chỉ, Phòng đản sâm 1 chỉ, Phục linh 5 phân, Xuân sa nhơn 8 phân, Cam thảo chà 5 phân, hoài sơn 1 chỉ, Biển đậu 1 chỉ, Hoắc hương 3 lá. Hốt 1 thang để vô chưng cách thuỷ, 1 chén còn lại 4 phân cho uống nước nhứt mẹ uống nước nhì, cứ uống cho nhiều mau hết. Đừng để lâu vì bệnh nầy hay hại con nít. Chú thích : (1) Tứ Thánh : (1) Phật Vương (?); (2) Phật Thầy Tây An; (3) Đức Bổn Sư núi Tượng; (4) Đức Phật Trùm. (2) Kẻ cựu : nhóm người theo vua : Văn Thân, Đông Du … (3) Người tân : theo pháp văn minh Âu châu (4) Mây trắng : Mỹ trắng. (5) Mặt trời : Nhật bị 2 trái bom nguyên tử đầu hàng phải lui

(6) Cng hòa (1) cng hòa (2)

Friday, December 11, 2009

XIV. THỪA NHÀN 4

*
THỪA NHÀN


Dỉ đức dỉ thiện nhập tình
Hửu thân hửu khổ nhơn tình xét suy
Giác ở rồi giác việc đi
Giác lui giác tới đời y hoài hoài
Giác trí rồi lại giác tài
Giác hiền giác dữ giác hoài điếc tai
Giác chiều giác tới việc mai
Giác đời không thấy lòng ai giác dùm
Phật suy khác thể bụi lùm
Khuyên lòng anh chị giác dùm cho thân
Phật thương giác việc nghĩa nhân
Ai ai xét đặng giác thân thời nhờ


Ai ai đừng dạ sanh cờ
Làm lành tưởng Phật ơn nhờ Thánh-Tiên
Đừng phiền Tây-quốc Kim-Phiên
Tại mình chẳng tưởng Thánh Tiên đọa đời
Nước nào cũng nước Phật Trời
Tại mình bất chánh phạm lời Phật Tăng
Việc tu thiệt bổn thiệt căng (căn)
Phạm Phật khó cứu phạm tăng khi Thầy
Giả chơn người biết hội nầy
Phật Tăng dối sải phạm Thầy dối ma


Khó tri lòng Phật Thích Ca
Xác thì như xát lòng ma lòng thần
Có câu xá phú cầu bần
Xá gia cầu đạo vi thần vi quân
Trung cang nghỉa khí thành xuân
Lượng đại phước đại hữu quân hữu thần
Bàn linh tu thất thời gần
Một năm chẳng tưởng lòng Thần bàn linh
Tây phương cõi Phật minh minh
Có lòng hoài vọng bàn linh Phật về
Cổ kim lòng thế phân lìa
Bất cầu nan ngộ Phật vìa độ thân


Tiên đường nội ngoại Phật ân
Thích ca lòng tưởng Phật thân không cần
Thời người bất chánh tâm thần
Phật gần tưởng trước tấm lần Phật xa
Gọi rằng tri thức Phật ma
Những cổ vật do Ông Ba làm ra và lưu lại
Ảnh của MINH HẠNH Nhà Láng

Phật thân chẳng tưởng Thích Ca chẳng dùng
Khôn nay sao thiệt quá khùng
Anh em khôn thiệt anh hùng vô tâm
Không có một chút mưu thâm
Nhiều người tích oán thù tâm bạc tiền
Đời sau ít thấy người hiền
Lành lành chẳng dụng người phiền việc chi
Kiến thế hậu nhựt đa khi
Con ai nấy dắt thị phi ngán ngầm
Niệm Phật chử (giữ ) dạ Phật tầm
Khổ go làm chúa ngán ngầm làm tôi
Phật Trời xuống thế người tôi
Người không biết Phật gẫm thôi khó tầm
Thần tôi mang tiếng chát ngầm
Ngồi buồn nghỉ lại thương thầm thân tôi
Thấy đời nhiều chỗ bạc vôi
Như vầy chẳng uổng tiếng tôi nói đời
Nói ra nhiều kẻ cãi lời
Vô sư vô sĩ thương đời cải sư
Lại thêm đa sĩ bất tư
Mưu cao kế hiểm tâm chư chẳng dò


Ra công bắt cá nuôi cò
Cò ăn cho lớn cò dò lên cây
Đủ lông chớp cánh muốn bay
Ba câu học lóm gọi hay xưng Thầy
Tu đạt chí linh thơ bài
Có ai yểm nịnh yểm tài người trung
Mặc tình trí huệ si lung
Mặc tình hào kiệt nịnh trung xuất tình
Gẫm thôi nhiều việc bất bình
Việc tối nhiều kẻ khiến mình hạ ngu
Chẳng bì thượng trí trung thu
Có đâu khiến việc hạ ngu cho mình
E khi thượng trí lâm tình
Đưa tôi xuống biển đổi hình lên mây
Nói trước chẳng phải lời đây
Phủi lời rồi lại lấp nay chát ngầm
Cơ thâm độ chí âm thầm
Phật Trời độ lén nan tầm chúng sanh
Phật độ rạng tiết thơm danh
Phật ra độ tận chúng sanh giữ lành


Chúng sanh bất độ Phật hành
Độ dữ dữ mất độ lành lành thêm
Độ đời xem thế chẳng êm
Phật Trời độ tận khổ thêm tại người
Chẳng lo tội phước vui cười
Phật độ tận ý ít người chí chơn
Niệm Phật như chốn lâm sơn
Người đừng tính thiệt so hơn làm gì
Cây cao cây thấp nương tùy
Người mình cũng vậy phải bì nương nhau
Thương người lời nói có đâu
Phật mà nói láo khó âu đạo mầu
Mình dơ tự đít chí đầu
Chê người không sạch dạ sầu cho thân
Thân ai nấy độ toàn thân
Đừng lời nói việc phi ân Phật sầu
Khi đuôi phản dạ khi đầu
Khi thêm khúc giửa đạo mầu lu câm
Chữ rằng quân tử lao tâm
Tiểu nhơn lao lực ám thâm bất tường
Nhu thắng cang nhược thắng cường
Thiệt tồn sỉ chiếc nhị trường nhứt tâm
Dạ người bất siểng bất thâm
Lờ đờ lững đững loạn tâm bốn mùa
Nhiều sãi không đóng cửa chùa
Lấp ngơ chi bấy phụ vừa hương Tiên
Nói phải người cãi nói điên
Nói quấy người phải Thánh Tiên tức cười
Chiều mai còn thấy nhiều người
Mai chiều nhìn lại ít người thương thay


Bồi hồi không vọng ai hay
Phật ra án tự thương thay đạo mù
Rủ nhau tích ác ở tù
Xưng rằng thiên địa đạo mù sơn đông
Đạo nào cũng với tượng ông
Khổ đời cho kẻ dạ không cải tà
Đâu đâu trẻ trẻ già già
Phật cho hưởng thọ hậu hòa trường sanh
Nam Tần sau đặng tượng tranh
Huờn lai tráng kiện khôn lanh trên đời
Ai ai khá khá nghe lời
Niệm Phật thì phải niệm trời thì nên
Tam thinh quên tuổi quên tên
Quên giòng quên họ khá nên cải tà
Tạo thiên cũng có ông bà
Bây gời lập hậu nước nhà phu thuê


Dỉ dân di bổn đừng chê
Dân thời dĩ thực phu thê nối giòng
Nhiều bàn tu tội bao đồng
Quốc-vương thủy thổ tu lòng hay hơn
Nhứt thời tu thị Nghĩa Nhơn
Nhị thời tu núi, vô ơn tu Thiền
Tu theo đồng bạc đồng tiền
Tu thanh tu nịnh tu hiền vốn không


Tu Thiền nghĩ thiệt nhiều công
Tu mong làm mướn tu không Phật Trời
Tận ý luân sự thế thời
Tận tâm kiệt lực Phật Trời Không ai
Tu sao lánh nạn quí tai
Phật Trời chỉ sử chẳng ai giỏi gì
Có câu vũ xuất vũ kỳ
Cho hay tài đó kém gì tài đây
Ngựa hồng lấp cánh dầu bay
Tưởng tình trí huệ kết nay kim bằng
Ở sao thượng hạ có ngằn
Tận tâm kiệt lực mới rằng đệ huynh
Lời nguyền chứng có rộng thinh
Vong ngôn thất ước cao minh chứng vì
Bửu-Sơn am tự Hương-kỳ
Còn lâm đại nạn huống gì phàm phu
Trì tâm tưởng Phật mới tu
Nạn bao nhiêu nạn chí tu chớ sờn
Có đâu lâm nạn giận hờn
Nghĩ người niệm Phật như đờn đứt giây
Tu đâu không phải tu đây
Đứt đi nối lại sợi dây cho liền
Phật hành tu thị lại phiền
Còn tu sao đặng làm hiền sao xuôi
Tu tới người lại tu lui
Tu sao trọn đạo cho xuôi chúa mình


Đức chúa Tây đã hành hình
Phật Nam hành cốt lộng tình bai tu
Phật dạy ba đường công phu
Công phu tưởng Phật công phu la làng
No say ngã buội ( bụi) nằm đàng
Tụng kinh dối Phật một tràng sư huynh
Đời tà cũng muốn làm thinh
Ăn chay hút thuốc tụng kinh miệng cười
Phải nói tà chánh việc người
Việc tôi cũng vậy chê cười thiếu chi
Cõi trần một ở chín đi
Dạ an tưởng Phật hồi qui cung càng


Phật thương Nhân Nghĩa như vàng
Ghét đồ bất chánh làm đàng mây mưa
Ghét người lòng hại miệng thưa
Tâm xà khẩu Phật chẳng ưa việc lành
E sau bất chánh Phật hành
Phúc đao khẩu Phật hại lành khó thương
Cơ bàn (hàn?) như ngựa buông cương
Khá tua trồng chuối đỡ thương dân Trời
Anh em chử ( giữ) dạ nghe lời
Việc nầy thiệt đói hết đời bỏ thây
Đừng lo trồng ổi trồng cây
Khả tua trồng chuối đói nay đỡ lòng
Bắp khoai trở lại đất đồng
Khá tua thủ chánh lên giòng thấy vua
Tam thinh hết việc bán mua
Ba năm không chợ tranh đua hại hoài
Gắng công rèn chí luyện tài
Để dành cơn loạn tránh ngoài vô công
Giữ sao khỏi trận gió giông
Đường thời trống lỏng khó trông ra vào
Người dữ ngoài thấy ào ào
Người lành mới đặng đi vào vô trông

Làm lành sau Phật đền công
Làm dữ thôi củng khó trông lên giòng
Ở sao cho biết mích lòng
Mình sao người vậy đạo đồng tri thâm
Nhứt con nhì của cam tâm
Tiền tài phá tuyệt ân thâm nhơn tình
Ở sao dục lợi một mình
Lường công tham của đoạn tình nghĩa nhân
Ở sao chăng nghĩ, chẳng phân
Tiền tài phấn thổ nghĩa nhân lâu dài
Ở sao kẻ khó hành hài
Công kia một lượng tiền tài một phân
Ở sao nhiều kẻ phi ân
Chẳng suy chẳng xét chẳng cân cho đồng
Phật thương minh chánh tấm lòng
Gạn trong lóng đục lên giòng thì no
Khuyên lòng bá tánh khá lo
Làm lành niệm Phật thời no đời đời
Lạ lùng dương thế có Trời
Dương gian có Phật người đời không hay
Khôn thời bỏ vạy làm ngay
Học khôn bỏ dại mới hay lòng Trời
Cải tâm giả dại nương thời
Noi theo dương thế nhiều lời thề hư
Nhiều người dạ cẩu lòng trư
Cường tâm hung bạo thiệt dư chín phần


Thú cầm nhiều kẻ lòng Thần
Người ta là xác hồn gần xử tiêu
Thiệt đời là mị quần yêu
Sàng ba dần nửa xử tiêu xác phàm
Thuở xưa dễ nói dễ làm
Nỗi nay nằm chịu tiếng phàm hết hơi
Nói nhiều như thể nói chơi
Khó thời chịu khó thảnh thơi chớ bì
Lo âu mỗi việc khó kỳ
Cay đi cay nói việc gì cũng cay
Một ngày đi cũng khó thay
Bắt ra mà đánh mới hay chịu đòn
Việc nào cũng phải chiều lòn
Ép gan ép phổi dạ còn phiền riêng
Phiền mình thời vận đảo điên
Lòng thương Trời Phật Thánh Tiên ớt gừng
Độ cay độ đắng không chừng
Nói quấy nói phải nói rừng là tôi
Anh em phiền thị cao ngôi
Quê mùa đói khó thiệt tôi ở rừng
Anh em khôn quỉ có chừng
Thân tôi quây dại ở rừng nói sai
Mặc tình già trẻ gái trai
Khôn chiều thời biết dại mai thời tường
Khôn thời người kỉnh người nhường
Dại thời thiệt dại cao thường nhiều thương
Lỡ khôn lỡ dại oan ương
Vui đâu chúc đó bất lương bất cường
Lao xao tâm tánh bất thường
Kiến – an Thạnh mỹ hai đường như nhau


Chẳng dò biển cạn giếng sâu
Làm sao biết Phật ở đâu mà tường
Ai ai muốn dạ cang cường
Giử lòng hung bạo lấp đường Thánh Tiên
Thuở xưa ghi việc cao niên
Hội nầy hội Phật hội Tiên xử đời
Gian tham thây rả thân rời
Ai ai khá tưởng Phật Trời lập thâu
Đạo nào bằng đạo Nghỉa Nhân
Phật cho dạy bảo muôn dân làm lành
Học hành tỏ đạo học hành
Khó khôn khôn khó việc lành đừng quên
Lúc hư cũng có lúc nên
Khuyên người chử dạ chớ quên ơn Thầy
Công lao dạy đạo từ ngày
Bây giờ tiêu tứ vong Thầy phụ tôi
Ai ngờ lời cũ thả trôi
Tá Châu-kinh địa lập ngôi tân thiền
Gian nan trước cũng chẳng phiền
Thân nay bao quản vọng tiền thở than
Mịt mù sương giáng tràng an
Minh mông lầu các hiển vang có ngày
Công lao tiêu tứ mắc đày
Thánh công đắc quả hội nầy mới nên
Phiền người biết đạo mà quên
Nhắc đi nhắc lại việc nên cho người
Có đâu dụng miệng chê cười
Chánh tà không biết làm người sao nên


Nói thời như thể pháo tên
Nhát như con thỏ gọi nên phận người
Nhẫn nhẫn thấy nhẫn mà cười
Tỵ xà húy ác thì người mới nên
Nói phải nói quấy đừng quên
Quấy thời biết quấy mới nên là người
Quấy phải không biết chê cười
Mai danh ẩn tích lánh người thị phi
Niệm Trời niệm Phật từ bi
Đại hùng đại lực Tiên tri nên người
Việc ai khôn dại nói cười
Việc mình dại dội quá người ngu si
Rách rưới dơ dáy bất tri
Đứng đường hàng xóm dể khi việc người
Việc ai mong nói mong cười
Không biết khôn dại thiệt người bất minh
Lòng tưởng Phật độ tâm linh
Lòng không tưởng Phật bất minh khổ đời


Làm đâu vái Phật vái Trời
Có ăn không nhắc một lời Thánh Tiên
Thấy đời ăn ở khó yên
Nạn năm nạn bảy lời điên khó bàn
Thầy xưa xem đạo lưới hoàng
Ông bà xem đạo rỏ đàng lưới thưa
Tôi nay nói đạo không ưa
Dụng xem lưới trủ chờ mưa ra nghề
Mảy lông chẳng lọt bốn bề
Khen lòng bá tánh tưởng hề diểu chơi
Phật trí tất dạ tất hơi
Xem người trần thế lộng khơi tâm tình
Giây mình xe buộc cho mình
Rối đâu không sợ rối tình khó phân
Tờ truyền khắp hết các lân
Nhựt tình Vỉnh-bảo tỏ phân đành rành


Giáo đạo thì phải lưu hành
Ai mà muốn việc làm lành xem coi
Sư nan sĩ tiện lòng soi
Nhứt thân nhứt mả tượng voi thiếu gì
Lôi thôi tấn thối nan kỳ
Một mình đầu lụy nương tùy bá tâm
Éo le nhiều khúc ca ngâm
Ở đời sợ kẻ lưởng tâm không chừng
Khi thì ngọt lạt khi gừng
Khi thương khi ghét không chừng oán ân
Bình thời muốn dựa làm thân
Gặp cơn rối loạn phủ ân vi thù
Tu sao lên vỏng xuống dù
Dạ lâm bắn nhạn cởi cù lên mây
Chừng nào cơ nghiệp Phật xây
Vinh thời tới đó nhục đây thảm phiền
Soi hang mạch nước lở liền
Người nào hung nóng chẳng hiền lở sâu
Xúm nhau nói chuyện con trâu
Không lo con cọp biết đâu con mèo
Chẳng lo phò chúa qua đèo
Tham sanh quí ( húy) tử lúc nghèo chẳng theo
Ngồi buồn xích chó đuổi heo
Cho người thấy việc khỏi có Phật Trời
Nguyện cầu thông thuộc đủ lời
Chư châu chư quận trải dài mới an
Cho tôi biết đủ các ban
Hội lành để tiếng dương gian an lời


Giang san trước đổi sau vời
Xem người phai lạt khác thời Trời ôi
Mới chuộng thấy cũ chê hôi
Vong ngôn chi bấy người ôi là người
Phép Phật mười việc lạ mười
Rồi đây ngó thấy lạ người lạ quê
Lạ con lạ việc phu thê
Lạ cha lạ mẹ sức chê sức cười
Phật lựa lòng dạ từ người
Tôi ngồi xem thế thấy người trước lâm
Nhà ngói lạ tiếng khác tâm
Dụng mưu tiền bạc cơ thâm làm giàu
Hao tài tốn của thời sầu
Không ai thãm Phật u sầu nguy ban
Lại thêm sanh tánh dọc ngang
Ỷ tài lấn lướt không than người nghèo
Giàu sang bọt nước hiệp bèo
Hoa thơm của Phật vận nghèo nhứt tâm
Biết người dạ siễng dạ thâm
Biết người tích oán loạn tâm cũng nhiều
Liêu – vương noi lệ tùng triều
Lòng Phật thấy ít thiệt nhiều lòng ma
Mãn trào Đại – Thánh ngài ra
Ngài tra việc Phật việc ma trong Trời
Phật ngài giải độ cứu người
Nước trà nước trắng giải mà tiêu ma
Phật giải tiêu bịnh tà ma
Huờn sanh cải tử người ta thiệt hồn
Phật giải bá bịnh bất tồn
Hườn thân giỏi mạnh giử hồn cho dân


Chớ đừng đắc thế ỷ thân
Ngày sau đọa lại Phật phân rõ ràng
Lăn xăn ( Lăng xăng) đỉ điếm đứng đàng
Láo lua lỗ miệng tội toàn sa môn
Xuất tình mới biết rằng khôn
Phật nào có cấm vô ngôn đoạn tình
Tâm trung xuất khẩu loạn bình
Chánh tà tự khẩu khôn tình tự tâm.
Mới biết ngu trí siểng thâm
Không nghe lời nói như câm khó bàn
Đôi ba dần nửa xảy xàng
Hột nào còn lại trên sàng chỉ tinh
Phật rao khắp hết muôn binh
Quỉ tà thì xử chỉ tinh thì chừa
Phật Trời xử thế lọc lừa
Muốn theo làm Phật phải chừa lòng ma
Mới đặng vìa chốn Tiên-nga
Bằng khôn qui chánh Diêm-la xử hồn
Thân tôi như giặc đánh dồn
Khẩn nguyền Trời Phật giữ hồn chánh minh
Nhơn trần khi Phật bất linh
Lòng tôi dám sợ cao minh phép tài
Tứ đại quá vảng xử tài
Khiến lòng nhơn vật cải ngoài đặng đâu
Tầm hiền tầm ngõ thì lâu
Người dữ chẳng thiếu biết đâu đẹp lòng
Trâu tôi con cỡi con dòng
Lại thêm con nghé cực lòng phải chăng
Tuy là lời nói lăn xăn (lăng xăng)
Năm mình năm Phật riêng căn không nhuần
Năm Phật ngày tháng có chừng
Năm mình lộn xộn năm nhuần năm không
Phật xét chẳng sót mảy lông
Ngày hung ngày kiết minh mông cõi trần
Sách xem cải Thánh vi Thần
Bất thuần nhơn vật cỏi trần nạn sâu
Đặt ra sao hạng đề câu
Đèn Trời thắp cúng biết đâu dạ người
Lập cung ký mạng từ người
Bói xem phù thủy hại người cao thâm


Dưng căn đổ đốt tại đâu
Thọ thai đâm lẻ thiệt âu việc tà
Bài tế con sát bất hoà
Nằm sanh đầy tháng cúng mà tại đâu
Giáp niên lễ cúng lo âu
Từ đó tới lớn biết đâu cải trời
Mười hai thành số ở đời
Chí kỳ lục giáp thức thời tuổi trai
Quá tuần là tuổi của ai
Mười hai người thế sống dai chẳng còn
Cúng nhiều càng thác hao mòn
Hai người thế giấy sao còn bịnh đau
Nam lâu thủy tạ cao sâu
Cháy giấy bài sậy tà đâu tà mình
Chẳng ai tưởng Phật Thiên đình
Tưởng tà tà mới nhập tình một câu
Người khôn biết lẻ cạn sâu
Làm sao biết đặng việc đâu tri tình
Muốn nên nên lại cho mình
Muốn hư hư củng độc tình nan lương
Ngồi buồn xem sách đau thương
Xem thơ ngũ truyện nan lương tại mình
Tài bay như gả Ôn-Đình
Tà binh giúp sức trợ tình cũng hay
Kinh nọn phù chú ca tay
Binh ma phép luyện linh nay vô hồi
Đau nam chửa bắc thấy rồi
Nọn thời ra Nọn Tiên ngồi tòa sen
Niệm Trời niệm Phật lòng quen
Đạo nào nghỉ cũng bạc đen vô tình
Niệm Phật binh Phật giúp mình
Quỉ ma phải sợ tà tình phải tiêu
Đời nầy như thể bún thiu
Đụng đâu rả rợt thuốc tiêu mốc xì


Ngó lén mà có hay gì
Chừng nào mở cửa biên thùy nhăn răng
Hết nhịn rồi mới tới ăn
Hết ăn tới nhịn lăn xăn hôi nầy
Hết tớ rồi tới làm thầy
Hết Thầy làm tớ hội nầy ngẩn ngơ
Hết tại hết phép trơ trơ
Hết khôn tới dại ngẩn ngơ cho người
Hết khóc rồi lại tới cười
Hết cười tới khóc thân người dể chi
Hết thạnh rồi lại tới suy
Hết suy tới thạnh xiết chi nổi phiền
Hết dử rồi lại tới hiền
Hết hiền tới dử tại tiên quả căn
Hết khuyết tròn lại là trăng
Hết tròn khuyết lại là căn đời nầy
Hết hay tới dở khó bài
Hết khéo tới vụng đời nầy trả vay
Hết vạy đổi lại làm ngay
Hết ngay làm vạy khó thay quả trần
Hết xa rồi lại về gần
Hết gần rồi lại định phần đi xa
Hết con rồi lại tới cha
Hết vinh tới nhục xét ra khó bì
Hết nhục rồi tới vinh kỳ
Luân hồi trả quả biên thùy khá lo
Hết đói rồi lại tới no
Hết no tới đói nằm co kêu trời
Hết ghét rồi tới thương đời
Hết thương tới ghét rả rời hai phương
Hết già tới trẻ càng thương
Hết xấu tới tốt Tây phương dựa kề
Hết tốt tới xấu như hề
Hết lành tới rách nhiều bề đắng cay
Hết rách tới lành thương thay
Hết lợi tới hại đắng cay tại lòng
Có khi hết vợ hết chồng
Hết cha hết mẹ sợ phòng hết con
Thấy đời đổi dạ thon don
Thương người dạ sắt lòng son không mòn
Đổi lòng đổi dạ sao còn
Cho nên Phật khiến hao mòn không ngăn
Nghe thời ngoài miệng lăn xăn (lăng xăng)
Trong lòng chẳng biết không ăn câu nào
Phật ngồi cho kẻ ra vào
Đường đi khuất lấp chỗ nào chỉ cho
Mặc tình bảy liệu ba lo
Phật nào có ép ăn no mặc tình
Mình suy mình nghĩ cho mình
Giỏi mà độ giải sáu Bình nên không
Mản lo giác việc minh mông
Vợ con chẳng kể cũng không sờn lòng
Trái tâm lỗi đạo vợ chồng
Một câu niệm Phật lổi lòng Thánh Tiên
Khác lòng thời bạn ở riêng
Nhứt tâm tận lực Thánh Tiên chung cùng
Nghe lời triếu ( trìu ) mến anh hùng
Chẳng nghe ba tiếng đùng đùng phân căn
Đồn rằng tàu chạy lăn xăn (lăng xăng)
Hội mười tám nước đủ ăn chỗ nầy

Bây giờ các việc tỏ bày
Nhờ Trời nhờ Phật độ rày công lao
Nhơn phi hiền việc bất giao
Vậy nhi phi nghĩa chiêm bao chẳng dùng
Phi nhơn mạc kiết anh hùng
Quí quyền bất chánh bất tùng bất giao
Việc đời như thể chiêm bao
Khó ăn khó nói khó sau phải bày
Linh dinh bất tớ vô Thầy
Nan tầm đệ tử khó rày tầm sư
Vãng sanh cứu tử lưu cư
Một phần Phật muốn cứu dư mười phần
Liếc xem sự thế nan thần
Lòng ma thì có lòng Thần vốn không
Cọp đi vỡ ổ chòm ong
Hóa làm một trận cuồng phong thấy đời
Mạnh ai thì nấy kêu trời
Người sao loạn dạ loạn lời người ôi!
Khuyên người chữ ( giữ) dạ nghe tôi
Tuy là nói dại thương ôi nói lành
Sống dầu khổ xác cũng đành
Thác vong trần thế làm lành qui Tây


Cúng chùa như của cho vay
Sãi làm không phải sãi nay tội nhiều
Việc nào lưu hậu mai chiều
Đáo đầu thiện ác ít nhiều thì hay
Chớ xưng phép giỏi tài nay
Lòng không tích Phật thương thay xác phàm
Lo độ cũng như lo làm
Không lo tích Phật xác phàm lưới mê
Xét đường tội phước ủ ê
Không xét vận đọa lê mê cả đời
Sợ lổi lòng Phật lòng Trời
Hồn sa địa ngục tội hành u mê
Xưa thời Nguyễn chúa trào Lê
Nay an Trần-chúa Nguyễn Lê thạnh thời
Tam thinh xuất hiện điềm Trời
Nguyễn Trần hai họ thuận thời nhơn dân
Đừng phiền nói việc hiếu ân
Có nhơn có đạo có thân coi đời
Vô nhơn vô đạo trách Trời
Minh tâm dạy đó Phật Trời dạy đây
Khuyên khuyên điểm điểm thảo ngay
Xét tâm tận xét theo đây vuông tròn

Đừng chưn ( chưng )mặt điếm Saigon
Đời nầy điếm mất quê còn người ôi
Người hiền thì hiệp chúa tôi
Người dữ thấy đó thương ôi không còn
Đời nào sóng bổ trôi hòn
Tang điền quá ( hóa ) hải núi còn thành đô
Ngồi buồn sầu đạo nam mô
Không ai chỉ tính héo khô gan vàng
Tới đây như kẻ lỡ đàng
Thử người cho biết ngở ngàng thân khô
Tá điền tứ đại Nam-mô
Ngặt tình thậm ngặt Gia-tô khi Trời


Việc nay phân đã cạn lời
Xem người trong dạ khi thời đơn cô
Dạy lành niệm Phật nam-mô
Tam niên hạng hán phơi khô thân hình
Lo sao lo có một mình
Than dài thở vắn thân hình xếp ve
Nói đời dòm ý ít nghe
Nhẩn mà chê đắng cay the lại dùng
Phát phù qui đạo xưng hùng
Xét lui xét tới vô cùng làm tôi
Đồng rằng khuyên giáo thương ôi!
Đại đề đất Thuấn chúa tôi sum vầy
Cười chê chi kẻ ăn mày
Sá bao thân tớ thương Thầy lâm nguy
Mũi dại lái chịu lời khi
Lái dạy lái chịu làm nguy nặng lời


Ngưỡng thân trên có Phật Trời
Người ngay mắc nạn nhiều lời đắng cay
Người phàm mắt bịt chẳng hay
Phật Trời soi xét người ngay mắc nàn
Đường qua Tây-điện một đàng
Vì ai lấp ngỏ lỡ làng từ đây
Khổ từ đây dễ nào hay
Làm thơ Minh-ký cầm tay than thầm

MINH KÝ


Nước lóng trong lụy nhỏ dầm dầm
Tưởng cổ vảng ngọc trầm bi lụy
Khán phường phố tận tình cáo-thị
Xuất tâm ngôn anh chị tường tri
Kể từ ngày sư phụ ra đi
Tôi lâm binh vận suy chùa miểu
Hữu kim lai tận tình thượng biểu
Sát Trần Gia-cổ miểu tàn tu
Phải ra lời tận ý thôn phu
Khuyên anh chị trí ngu độ lượng
E chẳng phải con cô hại dượng
Thiệt một giòng con dượng hại ngô
Có ai từng chú lại lấy cô
Sanh con dữ nam mô hại Phật
E phi tộc bàn nhơn dạt vật
Bất minh tình dối Phật nam mô
Tùng Tàu - man thiết kế Gia-Tô
Bất ưu hậu cơm khô gói cất
Khổ vô tình thị tôi cù bất
Vật ngọt ngon gói cất để dành
Con nhà ma chử ( giữ) dạ làm lành
Con nhà Phật không lành làm dữ
Kể từ thuở Thầy ra giáo tử
Xem lê dân nan xử định tâm
Thầy dạy Ông cứ hiềm cư lâm
Lai kinh địa cơ thâm Nam-điện
Phiền là phiền dỉ tiện say sưa
Rượu thịt nhiều nhiều kẻ dụng ưa
Vầy một tiệc say sưa dụng trí
Tửu bất túy nhân nhân tự túy
Huê bất mê nhân nhân ý mê
Hiếu trung hiệp ý phu thê
Hồng nhan Đắc-kỷ Trụ mê sát Thần
Bất sát trung nịnh ân cần
Cầu thê sát tướng trung thần mạt Thương
Sát thê cầu tướng tận vương
Cầu thê sát tướng tùng Thương vi tà
Phải xem trung nịnh nước nhà
Dưởng trung điều luật dưởng tà vương hô
Nịnh phụ sa đắm tùng ngôn
Tàn gia tận quốc phế khôn vong Càn
Trung can nghĩa khí vẹn toàn
Đạo nào xét lý tưởng Càn trọng khôn
Người nào tùng nịnh hiệp ngôn
Lòng không độ chánh một môn phản Thần
Vùa hương bát nước thì gần
Lòng người bất chánh phản thần thì xa
Có lời nói trước hôm qua
Bữa nay nhắc lại con ma chẳng dùng
Chê tôi nói trước nói khùng
Cho nên dạ đó bất tùng di ngôn
Nghỉ đời hết dại hết khôn
Hết khôn tồn dại chánh ngôn bất dùng
Xuất tình thức trí anh hùng
Vô tửu nhi túy bất tùng quỉ ma
Nào nào có ép nghe ta
Lòng Phật Phật biết lòng ma ma tường


Hai người đi hiệp một đường
Đây dầu biết một đó tường bảy phân
Rạng đền trên Nghĩa dưới Nhân
Đó mười đây một đây dân đó làng
Phải phân khôn dại rỏ ràng
Chừng nào thấy khó tầm đàng lại đây
Gà cồ ăn bẩn cối xay
Tự mình nói chuyện cà vay hởi lòng
Qua Tây vác lưới bủa vòng
Phật Tây Tây Phật mượn lòng ai hay
Cuồng tâm lộng ngữ khó thay
Khôn xưa tôi sợ khôn nay không màng
Phải đó quấy đó xiêu càng
Nhứt ngôn ít mặt lăng loàn nhiều ngươi
Như vàng để dạ tốt tươi
E khi dại dột mắc ngươi quỉ tà
Người khôn sợ kẻ thiệt thà
Nói thời đáng nói quỉ mà Thánh-Tiên
Vô sự vô lự thời yên
Quốc-vương thủy thổ Thánh Tiên chưa hòa
Không lo sao rạng nước nhà
Loạn đời loạn quốc ăn mà sao ngon
Thảm phiền một nỗi vợ con
Coi tôi như rác héo don tấm lòng
Thấy đời ngao ngán bao đồng
Ai sao tôi biết trong lòng hết trơn
Đời nầy hoặc giả hoặc chơn
Hoặc chơn hoặc giả thiệt ơn ít người
Thiếc chì muốn đổi vàng mười
Đời nầy tham vậy nhiều người bất nhơn


Trải xem một cảnh Thất sơn
Nhìn tường hương tổng phi ơn bất tùng
Thêm dân chê Phật nói khùng
Nơi nơi cường bạo xưng hùng bất lương
Phạm tăng phạm Phật khá thương
Phạm lời ghi gắng phạm vương phản Thần
Nhơn phú tất phạm nhơn bần
Phật Trời tất chí khi trần nhơn hung
Bất khi đạo nghĩa hiếu trung
Phật Trời chịu tiếng si lung cảm phiền
Chẳng nghe thưở trước tu hiền
Giáo nhơn phò chúa cảm phiền tu hung
Đừng khi điên dại cùi phung
Quả trần để đó nịnh trung coi đời
Tu sao buôn bán cái lời
Nói hơi cỡi hạc lên Trời thông tri
Kim-Cổ lập hội tràng thi
Nam-kỳ Lục-tỉnh tu tri ra tài
Mặc tình văn vỏ thơ bài
Trí mưu lập hậu hửu tài mới khôn
Chữ rằng nhỉ thính thiện ngôn
Bất đọa tam ác nhứt môn phước tài
Thiện nhơn hậu nhựt hớn hài
Sum vinh quyền quí lâu dài Thái-sơn
Chẳng kỳ nói nghĩa nói nhơn
Trong lòng phi nghĩa phi ân củng tường
Dạ sao dạ ở phi thường
Sớm đầu tối đánh làm đường rối toan
Lương y xưa giỏi Triệu-Ngan
Vân-Tiên vắn tủi còn mang đui mù
Bói xem sau đặng vỏng dù
Người ngay khỏi bịnh đui mù chẳng an
Vận nghèo ôm bụng thở than
Thiệt mà không thiệt dọc ngang không
chừng
Nhiều lời cay đắng ớt gừng
Sợ người ăn nói không chừng chỉnh ghê
Chữ tình là đạo phu thê
Thiên-Luông thể phụng ai chê không bì
Lê Huê đầu Tiết nan kỳ
Một vay mười trả biên thùy khá ngay
Phép Phật như thể hàng the
Đứt đầu mọc lại không nghe Gian-Phàm
Mười người nó chuyện ăn làm
Không ai nói đạo Gian-Phàm khớ trông
Thân liền mà mất khi không
Chẳng kỳ đứt cổ khó trông đứt đầu
Đứt đầu mọc lại khó cầu
Rồi đây ngó thấy đứt đầu thả trôi
Làm chay mỏ rối chay thôi chỗ nào
Rối thì thiệt rối chay thôi chổ nào
Trên có Bắc-đẩu Nam-Tào
Xét soi chay mặn lòng nào vạy ngay
Hạ trần ai cũng xứng hay
Đạo thời ái đạo lời ngay phải bày
Thuở xưa người chẳng tưởng Thầy
Tiếng đồn Lục Tỉnh việc nầy nghỉ thôi
Tôi nam tầm Phật Bướm Vôi
Tìm qua Tây quốc Thánh tôi Chúa Trời


Phật tôi đức cả trao lời
Xét soi thế giái tri thời càn khôn
Phật Trùm sánh đức chư môn
Niệm tâm tích Phật Càn khôn ứng lòng
Thân tôi như thể bánh phòng
Trở qua trở lại mặt hồng lửa than
Miễn cho nổi mặt bằng trang
Quân Thần phụ tử đạt an một lòng
Nguyện cho sum hiệp bá tòng
Nhành dương héo dạ héo lòng từ đây


Than rằng chê Phật không hay
Chê Trời không độ lạ thay cái lòng
Phật Trời soi xét bao đồng
Đâm heo thuốc chó khó lòng người ôi!
Làm giặc loạn chúa loạn tôi
Sát nhơn vô số tôi thôi nặng nề
Nước nào trị nấy trọn bề
Trào nào giấy loạn tội về Diêm-vương
Giứt tình thiên các nhứt phương
Thầy đeo đoạn thảm tớ vương mối sầu
Qua Tây nhứt bái cúi đầu
Trở về Nam-quốc lập lầu Nam-khương
Vô trào quân quốc thi lương
Thi tài văn võ đao thương hại người


Chẳng lo việc thế chê cười
Sợ lòng lòng sợ cho người người ôi!
Sợ Trời Phật ghét mà thôi
Thị phi dầu ghét thiệt tôi không màng
Thủy thổ ân trọng ngàn vàng
Đạo lý tối đại sao chàng chẳng nghe
Dùng nước súc miệng sạch ke !
Cà kê dê ngổng không nghe lời nầy
Sạch dơ lời nói tỏ bày
Líu lo ngọng liệu chê rày nói dai
Dụng nước rửa đặng sạch dơ
Không biết thủy thổ trơ trơ huần huần
Dưỡng nhọn ẩm thực phú bần
Ơn thâm thủy thổ mậu trần dưởng nhi
Dưỡng tử sanh tử bất ly
Mẹ dơ con sạch con đi vớ giầy
Cần tớ ít kẻ cần Thầy
Nuôi ong tay áo cho rầy lỗ tai
Trong lòng chẳng muốn của ai
Lộc đời để hậu chiều mai nuôi đời
Con mà lấy mẹ nghịch Trời
Cha lấy con dại sanh đời loạn ly
Nói rồi cho nhớ lời ghi
Chừng nào thấy việc loạn ly biết lời

Nơi nơi khổ não cho đời
Dư trăm việc khổ biết lời để ghi
Thứ ba người hởi còn ghi
Thứ tư thấy việc sầu bi muôn ngàn
Tới đó mới biết đá vàng
Bây giờ như lửa cà ràng mới nhen
Người nghèo ai thấy mà khen
Nhắp nhem ngọn lửa dễ chen mấy lò
Gắng công ăn học nên trò
Muốn an phận sĩ phải dò lòng sư
Lửa vùi chưa ấm lòng lư
Không say quên hết lời sư dặn dò

Không nhạn phải gởi thơ cò
Gởi qua Tây-điện tôi phò Hớn-ban( bang)
Nói xuôi thì việc mới an
Om tai trái mắt để ngang dựa lòng
Nương theo thế loạn bịch bồng
Nói ngay nhiều kẻ phản lòng ghét ta
Gập ghình trào quốc quỉ ma
Nói ngang theo Phật xuôi ta đoạn tình
Dư trăm việc thế bất bình
Lòng xuôi theo thế sợ mình không xuôi
Lòng phiền tà nịnh không nguôi
Ơn thâm chưa trả sao xuôi lòng phiền
Ngưỡng than trên dưới hai miền
Xét soi tỏ rạng trợ hiền ra công
Đời nầy nhiều nổi mưa giông
Mùa màng thất bát nặng công cày bừa
Nói ra nhiều kẻ chẳng vừa
Chuột chim ăn phá chẳng chừa việc chi
Sao bằng niệm Phật từ bi
Không làm sao có vật chi mà xài

Việc làm là việc ở ngoài
Niệm tâm tưởng Phật thường hoài ai hay
Có làm có của cho vay
Tưởng bao nhiêu đó không hay việc lành
Làm quan ai khỏi oai hành
Làm giàu ít kẻ nói lành việc tu
Thủng thẳng làm độ ngao du
Ít người thức trí việc tu rõ ràng
Trái tâm lổi dạ lạc đàng
Thuận tâm thuận dạ ngay hàng phép phuông
Làm lành một thuở lụy tuôn
Gặp cơn bát loạn lành tuôn một lần
Hết cơn bát loạn rần rần
Đụng đâu chưởi đó bất Thần bất quân
Làm sao khỏi chốn trầm luân
Chẳng thiệt tâm tánh khi quân sát Thần
Quốc loạn xỉ nhục quân Thần
Gia loạn xỉ nhục phú bần chủ gia
Ở đời mất mẹ còn cha
Mắt cha còn mẹ chủ gia một người
Loạn sao loạn việc chín mười
Loạn gia loạn quốc loạn người chúa tôi
Phi quân phi phụ thương ôi
Phi Thần phi tử phi ngôi quân Thần
Bắt tham phu quí đọa trần
Thú tri gia thảo hiến cần quí nhơn
Lập tâm thủ nghĩa vi ơn
Lập thân hành đạo tri nhơn gia bần
Thấy thác niệm Phật rần rần
Hết cơn thác đúi (?) khi Thần dối Tiên
Nước nào giấy loạn chẳng yên
Hao binh tổn tướng tội riêng dễ gì
Làm cho xao xuyến biên thùy
Quân Thần bất chánh dễ gì nhơn dân
Quân Thần bất chánh loạn phân
Bất thuần thiên địa nhơn dân dễ gì
Xuất tình ngôn chánh nan kỳ
Hoàng thiên giáo đạo bất tùy mang eo


Nam-thiên mặt trắng phải theo
Hớn Gia duyên thiện cheo leo phải tùy
Ông xưa thất thủ Hạ bì
Nay tôi độc mã phải vì làm gương
Nhựt nhựt hành đắt tiện phương
Thời thời phát thiện tâm vương trungbình
Mình củng một cõi trung đình
Xử trần bất chánh đọa hình dễ đâu
Trào nào vua trị chẳng lâu
Quân Thần vô nhản thấy đâu cho tường
E lâm tội hậu nhiều đường
Hoàng thiên hữu nhãn minh tường xét soi
Trung trần hữu thể mờ coi
Diêm – đình vô dạng nhản soi tỏ tường
Dương-gian lầm lỗi nhiều đường
Văn chương chế sự bất tường loạn tâm
Đa hộ đa quận như lâm
Đa cung đa mạng đa tâm bất bình

Đa nhơn đa vật đa hình
Nhiều người cung mạng trong mình biết đâu
Thời người cũng được sống lâu
Không biết mà chết để đâu cũng bằng
Khiến chi éo sách không ngằng
Quanh co vạy vọ thiệt rằng vô phương
Nước nghèo Trời Phật còn thương
Thời hưng vận đạt tứ phương phục tùng
Mưu gian phá hội tung bùng
Giấu nào không biết xưng hùng dễ chi
Thiên cơ vận chuyển thạnh suy
Tu tâm tích đạo dỉ tri bất tùy
Thọ tài oán trái nan kỳ
Mắc nợ công khố dễ gì người ôi!
Làm hiền thủ chánh theo tôi
Phật còn nhồi nhả chưa thôi xác phàm
Tích Phật hơn tích dạ làm
Đời nầy cận địa hồn phàm viển thiên
Làm thiếu Du-Thánh ngài biên
Tôi ai nấy chịu ghi riêng từ người
Rủ nhau dụm bảy dụm mười
Khúc tùng a ý thì người tội chung
Một nhà kẻ nịnh người trung
Kẻ là người chánh bất chung tội mình
Chẳng nghe Thánh giáo thiện tình
Nhơn gian phước tội thiên đình chiếu tri

Ngọc hoàng chiếu số nhơn khi
Phật ngồi cõi thọ từ bi thảm phiền
Xem đâu không thấy việc hiền
Thấy nhiều việcdữ thảm phiền từ cơn
Giữ lòng gắn chặt keo sơn
Chừng nào dời đổi nguồn cơn tại Trời
Nên hư phước họa tại thời
Người phàm cải đặng Phật Trời hay sao?
Dặn lòng lòng chớ lãng xao
Nhứt tâm niệm khổ lao vận thời
Thiên Tiên trí thức Phật Trời
Phải ra đầu thú để lời hậu lai
Địa Tiên bất thức chiều mai
Bất tri nhơn sự hậu lai phục tùng

Trước xưng Tây-sỉ anh hùng
Hậu lai Nam-việt vô cùng trí tri
Thời Trời vận khiến trước suy
Kim lai kế hậu tiên tri vận thời
Tri tri vàng đá để đời
Biết là có đổi có dời hay không
Phật Trời sở định của công
Giữ lòng minh chánh phước không tại Trời
Giỏi sao qua phép Phật Trời
Mà xưng rằng giỏi người đời không phân

Lá lay am tự các lân
Lều tranh trại muối tu thân xưa thiền
Không nhớ thuở trước người hiền
Hậu lai cực khổ chớ phiền nhiều hung
Nghỉ mình trung cũng mất trung
Thảo như mất thảo suy lung tiếng đời
Chừng nào Nam-Việt thạnh thời
Hết sầu hết thảm hết lời ngu si
Để cho trần thế người khi
Việc nào trả trước bất tri nhản tiền
Luân hồi ba cõi ưu phiền
Qui lai trả quã qui tiền quá thân
Tu phải gặp đặng Thánh ân
Người nào tu quấy huờn dân đọa hoài
Tu trong còn sợ đọa ngoài
Sợ e âm tự tu ngoài đọa trong
Sang giàu bọt nước mùa đông
Lao xao buổi chợ gió giông tan tành
Chim khôn thì kiếm cây lành
Người khôn kiếm chốn chúa lành nương thân

Bất kỳ nam nữ quan dân
Hửu tình nhi ngộ tế tân an hòa
Đạo Ông hiệp với đạo Bà
Sum vinh tấn phát nước nhà tựu đông
Anh hùng dõng lực đắc công
Tiểu nhơn thối chí tăng long bất tường
Do mạng bất do cang cường
Do nhơn phước đức minh tường oai linh
Bất do cang dỏng sử kinh
Nhơn do phước chí tâm linh tại tình
Tích đức huờn đức cho mình
Tích ác huờn ác đọa mình hình sử kinh
Minh tâm bất giáo tà tinh
Cuồn ngôn loạn ngữ sử kinh đa lời
Chẳng suy nghỉa lý ở đời
Chế đa văn chế rã rời Phật ta
Chế đời hết Phật còn ma
Lòng Phật Phật biết lòng ma ma tường
Chữ nghỉa lý luật giữa đường
Hữu tà hữu chánh bất tường tại tâm
Phật trời cấm việc tà dâm
Vi nhơn bất dục cơ thâm bất tà
Làm sao nối trị nước nhà
Dài giòng cả họ ông bà con đông
Cô thân độc mả vô công
Quốc-vương thủy thổ vốn không cậy nhờ
Sao mao tiếng giậy sanh cờ
Xưng Thầy Gia-Nghị một giờ xử tiêu
Trương buồm bao quản gió xiêu
Giữa vời biển thẩm Trời Nghiêu thổi ròng
Ố ái ái ố tại lòng
Quản bao bao quản giữa giòng hải đông
Nam-mô hột Phật Hóa-Công
Tu nào có giỏi tôi không theo rày
Tôi theo Thánh chúa trả đày
Lầm mưu gian trá hội nầy báo ân
Phật Trời tưới nước vun phân
Tại mình phi nghĩa bất nhân chẳng dò
Lộ lỡ sau có bến đò
Bộ hành Lục-tỉnh lần dò tới đây
Phật cho dở dở hay hay
Tại Trời Phật khiến lòng nay cho người
Rẻ mà không biết khó cười
Mắc mà biết hết thương người đời nay
Tiền trần xử thế chổ đây
Bản rao chư quận đều hay ra lời
Nên hư trên có Phật Trời
Giặc mà không giặc người đời biết đâu


Hạ nguơn thọ họa ốm đau
Bá nhơn bá bụng biết đâu an hòa
Sợ là thiệt sợ giặc nhà
Không mà nói có thiệt là khó âu
Bửu Sơn mưu kế thâm sâu
Tây Nam Tần Khách đâu đâu thọ trì
Xuất Vương nước lụt một kỳ
Dời ra biển ngoại nước tùy lụt chung
Qui y bổn đạo si lung
Đều thì lầm quán cội thung giả người
Nơi nơi lầm quán tức cười
Phật ngồi giáo đạo thương người tưởng ma
Bồi hồi thốn thức quốc gia
Tý vi ẩn sỉ thiết tha nan tường
Thuở xưa Thiên-Tuế phò Đường
Bao-Công giúp Tống miên trường quốc gia
Vận suy Tiên Thánh chưa ra
Giả làm thương quán giúp ta truyền nghề
Nói ra thậm khổ nhiều bề
Dấu mà dấu mất không nghề nào hay

Nghiêng vai lãnh bức tờ mây
Dạ trong vương thổ tầm Tây cha mình
Thú vui huê nở biên đình
Tai nghe các nước giống hình tới đây
Dập dìu quan khách Tàu Tây
Đức cha nhà phước vui thay lạ lùng
Nhớ xưa tam hửu xưng hùng
Đào viên kết nghĩa nay cùng đường đi
Bao giờ gặp bạn cố tri
Kết tình huynh đệ tử ly sanh tùng
Cổ vãng Ngủ hổ tam hùng
Kim lai dục đắc phục tùng bá nhân
Nhứt tâm ngọc hữu vi ân
Lưỡng tình phản bối phi ân bất tùng
Các nơi chư sĩ an (anh ) hùng
Nam thanh nữ tú phục tùng vui thay
Tôi đặt mấy bổn không hay
Nôm na mấy lớp nói nay tật khùng
Dám khuyên chư sĩ anh hùng
Coi dầu biết quấy chẳng dùng chớ chê
Người Điên thì nói việc quê
Đứa khùng đâu dám cưới chê anh hùng
Người khôn chê đứa tầm khùng
Tầm khùng chê kẻ anh hùng khùng Tiên
Đêm nằm trăn trở chẳng yên
Tức cười đứa dại chê Điên chẳng dò
Chim khôn tránh bẩy tránh giò
Người khôn tránh kẻ cu cò mới âu
Thấy lòng con vợ sầu đâu
Sầu nầy nghèo khổ chẳng âu đạo mầu
Nói ra vùi hốt chẳng cầu
Phủ ngang phủ dọc nhức đầu điếc tai
Sầu đời mai hiệp trước mai
Sầu đâu sầu đó không ai đỡ dùm
Nói sao nhiều việc lạ lùng
Ai mà bất nghĩa chẳng dùng một ai
Thấy xưa buộc cổ giây gai
Đắng cay cho đó không ai giữ lòng
Sơn khê đá nổi chập chồng
Phật Trời xét đạo khó lòng người ôi !

Thủ trung mới hiệp lòng tôi
Lòng nào bạc nghỉa lòng thôi bởi lòng
Đồng xu đồng bạc vợ chồng
Không xu không bạc tấm lòng sơ rơ
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT


Gửi mail cho bạn bè
Tên *
Gửi từ *
Gửi đến *
Tiêu đề *
Nội dung *
Nhập vào ô bên dưới
*



XIII. THỪA NHÀN3

*
THỪA NHÀN

(tiếp theo)

Vô duyên sĩ khó lỡ đàng
Hiển vang là kẻ giàu ngàn giàu muôn
Đêm nằm nước mắt chảy tuông (tuôn)
Trăng sầu ngàn thảm tròn vuông lỡ bề
Cho nên nước mắt dầm dề
Bây giờ lỡ cậu lỡ hề (1)cò thân
Cây héo dạ giốc vô phân
Nào hay dức nghĩa đoạn nhân giữa đàng


Chỉ tơ rối rấm xóm làng
Cho nên ra dấu giỏi bàn mới khi
Thiệt là nhiều kẻ bất tri
Thấy bề đạo Phật vận suy hại rày
Chòm ong lũ kiến nhiều bầy
Khổ trầm sự thảm dài ngày nhơn dân
Phật đọa Phật biết nghĩa nhân
Dân đọa dân chẳng tỏ phân chánh tà
Dân đọa sỉ mạ nước nhà
Phật đọa Phật xét thương mà nhơn dân
Niên ngoạt nhự thời khó phân
Thời thìn dị đáo nhơn dân khi Trời
Chẳng qua vận khiến rã rời
Đố ai bẻ nạn chống Trời cho lâu


Mắc trước sợ mắc làng sau
Mất mèo mất chuột mất trâu tỏ tường
Đại điềm xuất hiện cang cường
Chăn dân một cõi phi thường bất lai
Bây giờ lố mí chông gai
Mà người chẳng biết để (dễ) ai biết dùm
Biết thời vạch bụi vạch lùm
Không biết làm phước chỉ dùm lại chê
Tới đời mới biết vinh quê (huê)
Bây giờ còn việc khen chê li bì
Súc (sút) vung mắc góc mất chì
Ra công lội lặn gở thì phải xuôi
Nhiều người dạ giốc làm suôi
Chài còn mắc góc chưa xuôi ra bề

Dạ noi canh mục một nghề
Nghêu ngao mé biển dựa kề non sông
Chài nầy dầu gở đặng xong
Phơi giăng trên ngáng nước rông ngâm dần
Bình thi đậu phú lần lần
Ngâm nga sông vịnh Mẹo Dần về non
Mẹ sao mẹ chẳng thương con
Con sao con chẳng héo don (hon) mẹ già
Đời nầy con vịt mẹ gà
Gặp nước con lội mẹ mà bơ vơ
Ngó đâu bảng lảng bơ lơ
Không thương không mến ngẩn ngơ trăm bề
Chẳng lo bên Sở bên Tề
Chẳng lo chúa Bắc đem về chúa Nam
Lo lòng xấc xược gian tham
Việc nào có lợi dạ cam cho nhiều
Chẳng lo nặng tội buổi chiều
Chẳng lo đặng phước mai nhiều hơn nay


Nợ đời mai trả mốt vay
Trả đi vay lại cái thây rã rời
Chẳng lo nay đổi mai vời
Người lo việc chắc ở đời khổ thân
Chuối mít xốc ních không phân
Kiến bò bốn phía khổ thân hoài hoài
Biết độ biết lượng vắn dài
Hao tài tốn của chẳng nài bao nhiêu
Chẳng phải tiền bạc để thiêu
Việc nào làm phải bao nhiêu chẳng nài
Làm ra có của hành hài
Việc nào chẳng phải lâu dài chẳng cho
Có của mà giữ bo bo
Tới cơn bát loạn nằm co kêu Trời
Phải dụng tiện tặng trọn đời
Ăn chời ( chơi)ở lỡ hết thời không no


Cơm cá coi như bụi tro
Lúa gạo hủy hoại không lo hậu bần
Nói xa rồi phải nói gần
Nói cho bá tánh cõi trần nghiệm suy
Đừng chê Trời Phật bất tri
Oán thì báo oán bất suy nhản tiền
Anh em nghĩ lại đừng phiền
Việc dữ cũng thấy việc hiền cũng hay
Ngồi buồn luận việc khó thay
Tôi dơ tôi biết người hay sạch người
Nên tôi chẳng dám chê cười
Ai dơ ai sạch mặc người với ai

Chữ rằng tử khứ sanh lai
Tử lai sanh khứ đố ai tu bằng
Lều tranh kinh sử đã rằng
Nhà rách có Phật đạo hằng trồng tre
Chữ đâu nghĩa đó dễ nghe
Mỏng tai lẹ miệng trồng tre chậu sành
Bưng lên để xuống sao đành
Chưng lên bàn án người lành biết phân
Bỏ lòng yểm cựu nghinh tân
E là dạ tớ khó phân lòng Thầy
Hỉ nộ ai lạc dạ nầy
Ái ố lòng tớ với Thầy cao thâm
Tớ Thầy thời dụng chữ tâm
Quân Thần phụ tử cao thâm chữ tình


Khổ chi thân thể dạn (dạng) hình
Một trăm việc khổ chữ tình mà thôi
Việc trước lấp rồi lòng tôi
Việc sau cải quá thương ôi cho người
Thấy vui bụng chẳng muốn cười
Xem sau xét trước thương người không cha
Đặng lòng Phật mích lòng ma
Ruột mà chẳng phải ngoài da đem vào
Chớ ham ăn nói ồ ào
Người mà chẳng phải Phật nào độ cho
Độ người Tây-điên âu lo
Phật nào lại độ ăn no làm giàu
Khiến nên ủ mặt dào dào
Thương người trung hiếu dạ sầu như đây


Lòng người khiến việc chẳng ngay
Sợ e khó nổi theo dây cái lòng
Xuất tình giác dắt bao đồng
Nào ai ép đặng cái lòng người ôi
Thấy đời mệt đổ mồ hôi
Sợ e sau kẻ không thôi gian tà
Lá lay con quỉ hại nhà
Rơi thơ mạo tấu án toà sát Ngô
Đem lòng sát tuyệt nam mô
Cám thương cho kẻ Gia tô khuấy đời

Muốn cho cơ nghiệp rã rời
Con ai mà vậy Phật Trời chứng tri
Phật ngồi dương thế từ bi
Thấy đời yêu quỉ muốn đi về trời
Ở đời mang tiếng nặng lời
Cõi ma Phật ở con Trời đắng cay
Nhiều lời nói vạy bỏ ngay
Người ngay phải đắng phải cay trong lòng
Lại đây bán ( bánh) tránh (tráng), bánh phòng
Lửa than sáng rực đỡ lòng trà phe
Nhai dòn cái miệng tai nghe
Ngọt cho biết ngọt lạt the thì đừng
Nước trong đóng váng ớt gừng
Thương Ngô chí quyết nói chừng hại Ngô
Thương Ngô hai chữ nam mô
Niệm thêm Đức-chúa Gia-tô mặc người
Mấy khi mà đặng vàng mười
Kiếm quanh kiếm quất ngọc ngưòi dấu đây

AUDIO 8B TEXAS

Đột phàm khó nói việc ngay
Nương đời tùng vạy tiếng bay hai mình
Vạy ngay chứng có Thiên-đình
Chừng nào Phật khiến thình lình bể om
Ghe xuồng có nước thì hom
Dầu chai không có bể om loạn rừng
Tam thinh xuất trước lẩy lừng
Rưng rưng lụy thảm ớt gừng nhơn dân
Để cho Trời Phật định phân
Làm tôi phải trả nghĩa nhân vẹn toàn


Đi đâu lơ láo chàng ràng
Đường cũ không lấp thiếp chàng chẳng đi
Phật gần nhịn đói sầu bi
Ma xa gánh của tìm đi mỏi đò
Lả lê tiếng nói đưa đò
Có bạc ngồi chiếu chẳng dò tay không
Bến đò rước khách vội trông
Luận chi kẻ của người công làm bề
Muốn cho quốc trị gia tề
Tầm (Tìm) người trung chánh lập bề quốc gia

Khôn thời trong bụng khôn ra
Khó khiến một nỗi ngoài da khôn vào
Lưỡi không xương nói lẽ nào
Hoặc khôn hoặc dại hổn hào ngọt ngon
Hai bề chữ mực chữ son
Chữ mực làm tớ chữ son làm Thầy
Trước tới sau mới làm Thầy
Gian nan chữ mực dấu Thầy chữ son
Làm sao thấy đặng mặt con
Còn trong bụng mẹ trắng son mặt nào
Tôi nghi thế sự như Tào
Chừng nào Phật đẻ mặt nào cũng nên
Biết là còn nhớ hay quên
Đẻ rồi Phật đặt mấy tên không tường


Có đi cũng có biết đường
Tây-Phương Phật lập viển trường cũng lâu
Từ năm Kỷ Dậu mất trâu
Tới nay nhìn đặng gẫm lâu con bò
Lưng trâu còn đậu con cò
Con cọp léo luống lần dò kiếm ăn
Việc nào một việc siêng năng
Như cây có gốc thiệt căn lâu dài
Than ôi một tấm tình hoài
Trời cao vọi vọi dậm dài vơi vơi
Đất dày ở chẳng an nơi
Rừng già trối kẻ thảnh thơi reo cười
Non xanh vắng vẻ tiếng người
Vẳng nghe bạch-vượn reo cười chỉnh (chỉn )ghê

Trải xem dấu thỏ đường dê
Tàu bè chi lụy mê mê bộ hành
Còn đâu mà dạ không đành
Nào ai có ép việc lành hằng chê
Đời nầy không bạc rằng quê
Phật trời xét thế khen chê cái lòng
Huynh đệ thủ túc đạo đồng
Phu thê y phục hai lòng bất minh
Phu xướng phụ tùy chữ trinh
Phu thê thủ túc chánh minh chữ tình
Phu thê huynh đệ lưởng hình
Ngày sau đem lại nhứt tình kiết (kết) tâm

Ngày sau nhơn bất loạn dâm
Người nào nghịch tánh binh âm vật rồi
Phật cho tâm tánh định hồi
Măng (man)ri mọi rơ tiêu rồi sạch trơn
Thiên sanh tiền hải hậu sơn
Tiền Tần hậu Hờn mang ơn cũng nhiều
Tần xưa dạ thể Ngư Tiều
Hạ-nguơn sanh thế gian nhiều tùng Nam
Bây giờ nhiều kẻ tánh tham
Nước nào hiệp với nước Nam tham kỳ
Sanh tâm khôn quỉ ai bì
Ngược xuôi thừa thiếu nương tùy một khuôn
Nói câu khoe giỏi luôn luôn
Tụi mình rằng giỏi lụy tuôn tụi mình
Nghĩ thôi thậm ức tâm tình
Nước nào ở đậu hiếp mình gọi ngoạn
Thỉ chung có việc chẳng an
Làm người sao chẳng lo toan việc nào

Toan mưu Tứ-sắc bài cào
Làm cho tận mạng sạch bào thì thôi
Biết gì việc chúa việc tôi
Vui say một thuở rồi thôi cũng đành
Biết đâu việc dữ việc lành
Không khó chờ của để dành mà ăn
Chẳng phiền thẹn nước thẹn trăng
Thẹn người dương thế thẹn ăn cơm trời
Cho biết hổ thẹn ở đời
Thẹn mình rách rưới thẹn lời chẳng ngay
Ở phải ít kẻ khen hay
Ở quấy chúng mắng khoanh tay mà dòm
Quấy phải lộn xộn giặc chòm
Bất như học hữu phải dòm phải coi
Khó dễ tự ý xét soi
Hung chi chúng đánh chúng thoi bầm mình
Tức ôi là tức cho tình
Ngọt ngon tiếng nói thác hình không hay


Sổ lòng (lồng) biết sức chim bay
Chừng nào té nặng mới hay đau mình
Bấy lâu long (lộng)ngữ nan tình
Đua tranh việc quấy gọi mình rằng ngoan
Ỷ mình ăn nói dọc ngang
Người nghèo giữ đạo thở than không dò
Mấy khi Tiên Trưởng tầm trò
Hòa thi đối phú giả đò ngó ngơ
Của tiền bối rối như tơ
Tiền tài ám nhản ngẩn ngơ mối sầu
Mau mau trống dục Nam-lầu
Của ai trả nấy hết sầu hết lo


Lơ thơ mặc kẻ đói no
Đó đăng rách hết mặc lo làm giàu
Qua cầu than thở cùng cầu
Cầu cao mấy nhịp dạ cầu mấy nơi
Cầu đây đây lại mệt hơi
Không cầu đây đặng thảnh thơi nhẹ nhàng
Lửa muôn nước cũng cả ngàn
Ai mà chửa đặng lập tràng mang ơn
Bề nào hội thí Thất sơn
Biết rằng quân tử tiểu nhơn vuông tròn
Hội nầy đàng điếm chìu lòn
Còn mong dựt của hao mòn con ngươi
Hoa tàn bao nở tốt tươi
Hay phải ủ dột sao ngươi chẳng ngờ
Nhện giăng trước mặt sờ sờ
E khi vướng mắt mật mờ khó xem
Thấy người gánh nước ướt mem
Dầu mà nói phải anh em chẳng dùng


Bây giờ chê kẻ tầm khùng
Chánh tâm bỉnh chánh anh hùng có khi
Tre tàn măng mọc đường đi
Ngồi muồn nghĩ việc bất tri tức cười
Ví dầu vàng chín vàng mười
Vàng tới đất người vàng cũng như xu
Biết thời biết sức quế vu
Không thời vàng cũng như xu ten đồng
Khác nhau có một cái lòng
Vàng xu sắt thiếc bạc đồng riêng căn
Tuy là ăn nói lăn xăn ( lăng xăng)
Giúp lời giúp đũa khó ăn cơm người
Bạc bảy dám sánh vàng mười
Bần nhơn dám sánh con người phú gia


Lời nói gạo quỉ tiền ma
E khi bần tiện phú gia lỡ làng
Phù dung sớm nở tối tàn
Khác nào bông bí lấp đàng củ co
Khen người khi dễ chẳng lo
Củ co ( Của cho?) giúp hội chẳng no đỡ lòng
Của nay lay láng tràn đồng
E khi đói lạnh sốt lòng không căn
Bây giờ ỷ kẻ có ăn
Gặp cơn đói rách lăn xăn (lăng xăng) không quần
Nói đi nói lại cầm chừng
Nhắc lui nhắc tới cho nhuần lời rao


Gặp cơn lao khổ khổ lao
Hay vầy niệm Phật ước ao việc lành
Lên non hái trái lựa nhành
E khi rụng cội lìa nhành mạng vong
Làm người có Tổ có Tông
Có thân có thích cho đông cậy nhờ
Đỡ cơn giữa biển xa bờ
Trơ trơ một kẻ dạ khờ không ai
Kiếm người đỡ thuở chiều mai
Cớ sao biết họa lánh tai xa mình
Sanh tử bất ly là tình
Hoạn nạn tương cứu biết mình hà (là?) trung
Gió vay cây cả nhánh rung
Cậy người dắp đất cội thung lên chồi
Dương hương cứu phụ một hồi
Nhan hồi đoản mạng hết rồi công danh
Nhà Tùy Nguơn Bá khôn lanh
Khi Trời Trời giết bia danh lại rày
Vô địch tài giỏi ai tày
Tử nhi vô hối thác rày không căn

Thẹn người hổ nước hổ trăng
Trào nào đa nịnh lăn xăn (lăng xăng) đão quyền
Cú kêu miệng cú miển tiền
Thịt xôi bất thực dạ phiền bất trung
Nước nghèo dân loạn dạ hung
Nhà nghèo con vợ tứ tung ngũ hoành

Ít ai chữ (giữ) dạ lời lành
Khua môi múa mỏ tranh giành khôn ngoan
Thánh tri để việc tam cang
Trong Trời ba mối dị đoan quỉ tà
Ngày sau dốt nát thiệt thà
Hay hơn văn võ quỉ tà đời nay
Đời an biết vạy biết ngay
Biết thưa biết dạ phép hay kỉnh nhường
Đời nay dạ bạo tâm cường
Nơi thưa lổ miệng đưa đường chê sau
Lão lai tài tận khó âu
Trẻ khôn già dại biết đâu đời nầy
Toan mưu giết thác có ngày
Bảy mươi chớ gọi việc rày lành thân
Tiếng nào để tiếng các lân (2)
Phần nào mà để tỏ phân việc đời
Tu thời tu Phật tu Trời
Đường tu ma quỉ rã rời người tu
Thiên đình cho ấn mấy thu
Qui y thế độ công phu giáo truyền
Đừng khi Trời Phật lòng hiền
Mạo tờ ấn sắc phản tiền vong ngôn
Chẳng kiêng đại đức càng (càn) khôn
Thàn trần như thác chưa chôn để gì
Da phấn chẳng dụng mới kỳ
Dụng chi da hổ môi chì gọi sang
Ví rồi mặc kẻ lo toan
Giác cho thế thế cư an ưu bần
Gia ác gia phú gia bần
Tam gia đồng đẳng Phật cần gia lương
Nát gan nát ruột như tương
Thấy đời mặn lạt ghét thương không chừng
Khi ghét tiêu tỏi ớt gừng
Khi thương chuối bánh nữa chừng chanh me
Giúp thêm tu hú gai tre
Trao lời hàng xóm đừng nghe lời khùng
Biết đâu khôn quỉ thời dùng
Nào ai có ép tầm khùng nói vơ
Ngơi dâu nào kén ra tơ
Lộn đi lộn lại ngẫn ngơ ông tằm
Biết sao đối dấu cho nhằm
Nhọc mà dấu mất khó cầm nước Nam

Trước đèn trổ mối từ tam
Còn lo kế hậu nước Nam mối nào?
Phật đà về trước bên Tàu
Làm thơ gởi lại tâm bào nước Nam
Bụng nào vong tứ phản tam
Trừng hai mất đổng xác Nam tiêu điều
Dễ hay thương ít ghé nhiều
Thương nhiều ghét ít để nhiều lời thương
Đa hờn nói việc vong cương
Mặc tình thương ghét ghét thương không cần
Hai vai có Thánh có Thần
Người ngay mắc cạn cõi trần quản bao
Mảng (Mãn ) đời chưa biết làm sao
Huống chi thơ ấu xưng tao kêu mầy


Tuổi trăm chưa trọn làm Thầy
Đầu hai loại tóc ăn mày làm tôi
Xét đời nhiều việc châu ôi!
Làm dữ thác nắm tay vôi mà về
Cho nên ba cõi phân lìa
Ngôi ai nấy xử giỏi về thượng thiên
E người kinh sử truân chuyên
Mà ngưòi chẳng biết Thánh Tiên chỗ nào
Như tằm vô kén nằm vào
Bướm sanh sâu nhỏ chỗ nào phi ân
Chớ đừng yểm cựu nghinh tân
Yểm tân nghinh cựu e thân bất thuần
Xét sao ăn ở có chừng
Xuất ngôn vô độ lẫy lừng tâm càng
Mắt nhìn nhiều nỗi tham gian
Phừng phừng như thể lửa than đốt lòng
Mặc ai tưởng đạo bao đồng
Lòng tôi thủ chánh một lòng mà thôi
Nào hay nước chảy huê trôi
Nào hay thân bạc như vôi làm vầy

Chí tâm đèn sách bấy chầy
Nào hay lỡ hội thân nầy trơ trơ
Bây giờ nhớ lại cuồng tơ
Lấy ra mà gỡ mối ngơ rút nuồi
Ai dơ thì nấy lau chùi
Tôi dơ tơ tóc rút nuồi ( nùi) mặc tôi
Tôi nói chẳng nghe thì thôi
Thân ai nấy độ nào tôi nói gì
Mình tôi điên lạ điên kỳ
Nhà Thương để dấu biên thùy biết đâu
Bà phước ra dấu cao sâu
Hai bên đối đáp để sau coi đời
Ai giỏi cầu Phật cầu Trời
Cầu cho đặng thánh ra đời hiển linh
Một hai trăm dấu quản thinh
Trong chùa nhiều dấu tinh minh quản đường

Bá gia kiến diện bất tường
Phật Trời dụng phép dị thường thâm mưu
Phật trời diệu phép năng ưu
Ngồi buồn lưu lụy lụy lưu tràn trề
Thuở xưa trào cũng bất tề
Phật Trời cho tướng ra bề phò bang
Trào nay thậm ngặt gian nan
Phật Trời chưa giúp phò an Hớn trào
Ruột gan bứt (biết?) để chỗ nào
Phật Trời giúp sức anh hào rạng danh
Để vầy người gọi hôi tanh
Làm sao rạng tiếng thơm danh Phật Trời
Phật cho nói việc cạn lời
Tôi nào có biết việc đời làm sao
Phật Trời cha mẹ ngôi cao
Trung trần ( thần?) mắc đoạ biết sao than phiền

Đâu đâu chẳng thấy người hiền
Đẩy đưa lỗ miệng Phật phiền thế gian
Khát nuớc lòng cũng chẳng an
Đói cơm chẳng dễ khóc than dầm dề
Lọng (Lộng) tâm tham của nhiều bề
Đường tên mũi đạn thác về tay không
Tội hành địa ngục thời đông
Đường Tây-phương Phật sao không ân cần
Sanh vi tướng tử vi thần
Quả lai báo quả cõi trần tồn vong
Dạ cầu nguyện vái Thần-Nông
Thay đời ngài độ đạo long đời đời
An vui hớn hở thịnh thời
Nơi nơi thong thả đời đời ấm no
Khẩn nguyền Trời Phật thương cho
Làm người sao chẳng toan lo lâu dài
Cơn loạn thân khổ hành hài
Tưởng cho chúa rạng chi này thân tôi
Thấy đời đen bạc than ôi!
Mặc ai thương vạy ghét tôi không màng
Sợ Trời Phật chẳng ngó ngàng
Sợ quanh sợ quất sợ đàng lụy tuông
Biết sợ mới đặng tròn vuông
Bằng không biết sợ như truông tối trời
Sợ lỗi là sợi ở đời
Việc phải là việc trải đời thế nan
Ai hay Phật đoạ chùa gian
Phật trời ở cõi Tây Phang không ngờ
Phật không ép kẻ phụng thờ
Mà đày đọa Phật dại khờ dương gian
Tu nhiều tu phải lo toan
Phật ngồi dãy dọc dãy ngang hỡi còn
Phước sâu như biển nổi cồn
Đời nầy hao hớt ai còn thung dung
Quả nầy nghĩ lại quả chung
Có phần phước hậu thung dung người hiền
Phước riêng tôi rẻ chớ phiền
Quả đời chung quả dữ hiền hai căn
Từ từ lỗ miệng có ngăn
Ai mà không nói không ăn dễ gì
Mình tôi ăn ở dị kỳ
Ai ghét không ghét chê thì không chê
Xem đời nhiều việc chỉnh ghê
Người khôn mắt thấy mắt quê như mờ
Tai nghe lời nói phỉnh phờ
Thò tay vô lờ mắc kẹt cái hôm (cái hom)

Lủng chày mất cá làm om
Lòng tong lọt lưới khó . . . khó mờ
Vô duyên con ở bến đò
Bộ hiền lui tới ngắt ngò ngó ngơ
Ai dè Đông-lộ đường dơ
Hại người trung liệt bơ vơ giữa vời
Nên hư người hỏi Phật Trời
Phần ai tội phước đừng lời hỏi tôi
Kẻ phải người quấy thương ôi
Hai đường lành dữ nghĩ thôi tại mình
Nói cùng việc thế bất bình
Cớ sao người lại nghi tình chẳng lo


Ất-Mẹo sắp tới chẳng no
Canh-Than (thân) định chánh nhơn do vấn thùy
Nói trước người lại bất tùy
Nhơn tranh ngôn ngữ vấn thùy nhi ngôn
Nực cười tôi dại người khôn
Biết chi mà nói một môn tầm khùng
Việc không nói có chẳng dùng
Tới đâu hay đó tầm khùng làm thinh
Có rồi người cũng chưa tin
Chừng nào thấy việc đao binh mới tường
Nói ngọt khác thể như đường
Người liều của thí cúng dường ác tăng
Như tôi lòng có tham ăn
Kim trời diệt thứ búa trăng một từng
Ngó đâu thấy những ớt gừng
Trước đèn xem truyện nửa mừng nửa lo
Khói tàn phất gió bay tro
Làm người trí dỏng phải lo hội nầy
Mất bảy còn sáu để bày
Nói theo đường củ dấu Thầy di ngôn
Mất sáu còn bảy thế khôn
Mất bảy còn sáu một môn phá rừng

Hoáng tẩy (?) bàn hậu để gừng
Dẫu y như ý tu rừng tranh đua
Đem lời cay đắng chát chua
Nam mô thì bán hơn thua mua vào
Ngược xuôi khôn quỉ hổn hào
Từ bi tưởng Phật người nào cũng không
Thoàn (3) câu dời bến đợi trông
Ngư, Tiều, Canh ,Mục hóa long có ngày
Con vua mà lấy ăn mày
Căn duyên trời định hội này phải cam
Tu nhân tu nghĩa đừng tham
Tu trung tu hiếu phải đam vào lòng
Để coi cọp nọ hóa rồng
Sấu nằm đáy biển ngựa hồng lên mây
Mục Liên đây lại một cây
Nhan hồi bất hạnh xuất nay Thần đồng


Nào hay rắn nọ lộn rồng
Rồng thời lộn rắn có chồng hay không
Cha già luống những đợi trông
Chừng nào gặp hội không trông năm nầy
Thuấn xuân trâu chẳng đi cày
Trời Nghiêu lập lại ăn mày thành Tiên

Mảng đày căn bịnh mới yên
Chăn dân một cỏi thời khuyên nước nhà
Khuyên trong bá tánh trẻ già
Phật xa tây-tự ma mà gần đây
Chớ lo đốn gốc bừng cây
Giây nầy khác thể như giây chuổi rày
Trước mưu đạo nghĩa của Thầy
Để cho Phật định hồi nầy phải lo
Bần tăng sãi khó ăn no
Học đòi Lang thị hết lo hội nầy
Cám thương bá tánh khó rày
Tràng an diễn thí ăn mày nhà thương
Ải quan giả dại biên cương
Giấu thời để dấu oan ương vái Trời.




AUDIO 9A TEXAS

Thương cho bá tánh nhiều lời
Hội nầy tân cựu rả rời hiệp tan
Thiên cơ lố máy dị đoan
Họa Trời gởi lại Phiên bang ngày rày
Khác như nhạn nọ lạc bầy
Mai chiều cũng đặng một ngày thọ an
Cực lòng chớ thở đừng than
Nên hư có lúc hiển vang có thời
Huỳnh hôn tốt đất sáng trời
Xác phàm cũng đặng đổi vời thượng thiên

Ép gan xử dạ đừng nghiên
Vạt xiêu sửa vạt chưa yên nỗi phiền
Hai mai hợp lại một tiền
Người trong Trung quốc hay miền càn khôn
Chơn kinh bạch chỉ thế tôn
Chí tâm mài sắt nhứt ngôn tu trì
Kỳ Hương tiếng để biên thuỳ
Càng nhơn hai tỉnh dị kỳ cười chê
Võ Hoàng đày kể chăn dê
Triệu Vương mắc đọa khuyển kê tại trời
Giang san nay đổi mai vời
Sóng cao vì gió sáng Trời nhờ trăng
Ngàn trùng nước yếu lăn xăn (lăng xăng)
Màng màng đóng váng không ăn cơm Trời
Đền Nam sơn thủy sáng ngời
Nam thanh nữ tú một lời tu thân
Tỏ đèn Nghỉa dạy nhân phân
Gào thưa lưới bũa phi ân bất tùng
Tích cốc mới rỏ anh hùng
Phòng cơ cho kẻ phục tùng trí tri
Đời nào có thạnh có suy
Phàm trần nhiều kẻ khinh khi Phật Trời
Tam quan mở cửa sáng ngời
Giấu non để đó nhờ Trời năm sau
Chừng nào hết thấy con trâu
Môi son má phấn đâu đâu xem tường
Tới đây mới gặp mối tường
Sang ba dục bảy mới tường ấu nhi
Sông ngang sông dọc một khi
Ngả tư Chợ quán bất tri minh tình
Khôn thời chơi quán ngủ đình
Dại thời vào chốn minh tình nghe kinh

Họa lai phước chí tâm linh
Mặc hồng đổi lại đao binh dấy loàn
Tới đây thôi mới nửa dàng
Tráng An diễn thí nhứt tràng an ninh
Khó thời niệm Phật trừ kinh
Dễ thời chấp ấn đao binh hàng đầu
Một sông biết bắt mấy cầu
Kẻ qua Đông lộ người hầu tây phương
Giữa vòng có núi trung ương
Nam thiên mở cửa khó thương bạo tàn
Mương khai có núi ngăn đường
Sông sau lộ cái hai làng hiệp chung
Nổi nầy phân rẻ cội thung
Vận nghèo phải chịu Tiên cung hiệp hòa
Nam mô hai chữ Di-Đà
Bồ đề chuổi hột Phật mà la ma
Thuở xưa Đại-thánh ngài ra
Tam thiên đồ đệ xét ra không trò
Mưu sâu kế hiểm chẳng dò
Lọng khơi trong dạ tam dò đưa sông
Hạ-nguơn nay đã hết trông
Tại nơi Thất-thập Văn-công chê đời

Đa ngôn đa ngữ loạn lời
Đa kinh đa sử ở đời loạn tâm
Phật vương tưởng đạo mười lăm
Tam Nguơn tứ quí minh tâm dặn dò
Tích chi đồng bạc con cò
Vàng mười thấy đó giả vờ ngó ngơ
Hội nầy tôi chúa bơ vơ
Chim không cây đậu ngẩn ngơ mối sầu
Vì ai dạ đứt Nam-lầu
Lòng đây chỉ giốc bắc cầu qua Tây
Chợ voi thưa thớt ngày nay
Chiều mai cũng đặng một giây phố lầu
Để coi dạ đó không cầu
Sông không nước uống lòng sầu khát khô
Hay chi hai chữ Nam-mô
Nhà giàu nhiều của ta vô mới tày
Ý tình để tiếng lâu dài
Gẫm trong tiền của có tài phép chi
Làm người lấy đó mà suy
Nhiều tiền nhiều bạc ngu si thêm nhiều
Chẳng biết việc cực sáng chiều
Chẳng lo thân khổ lo nhiều lời hơn
Lo việc bạc nghĩa phi ơn
Thâu đa xuất thiểu tình hơn một mình
Ít ai xét lẻ ân tình
Thương người đói khó nghĩ mình no đây
Ít ai xét việc vạy ngay
Thương người cực khổ mình đây sướng rồi
Ít ai sợ thác luân hồi
Sống trên dương thế ỹ ngồi trên cao
Người nói thác mất hay sao
Tôi e Diêm-chúa đề lao chen người
Nặng tội sa cửa thứ mười
Nói ra đủ lẽ cho người đặng hay
Tới cửa mười hai phân thây
Nhồi da xáo thịt huờn nay thú cầm
E cho mắt bịt người lầm
Đừng e việc tội thú cầm nhẹ vo
Mèo nọ no lại nằm co
Mèo nằm rình chuột còn lo đói lòng
Chuột lan nó chạy ra đồng
Trâu ai thả đó mích lòng không lo
Phải đem tiền bạc dằn kho
Rước quan Thầy-kiện lại lo chuyện nầy

Trước tang tớ để cho Thầy
Thầy đưa cho tớ việc nầy phải phân
Việc Phật chẳng phải việc dân
Dân là dân Phật phải cân cho đồng
Việc phân Phật chẳng vị lòng
Tội ai nấy chịu dự phòng tội thân
Phật Trời thì phải cầm cân
Không lui không giác mà dân trách phiền
Tiền hậu hữu Chánh giáo truyền
Một nhà con dữ con hiền giết nhau
Phật Trời người chẳng thấy đâu
Hai Mèo hai Cọp hai Trâu ngầy ngà

Cai rằng chia ở hai nhà
Hai rồng tranh đấu giỡn mà trái châu
Việc đâu phải nói việc đâu
Mới là mới nói cũng lâu bầy chấy
Bấy lâu nhiều tớ một Thầy
Bây giờ một tớ nhiều Thầy quá kinh
Trước linh sau cũng có linh
Lẻ nào Phật để u minh vậy hoài
Trước tài sau cũng có tài
Lẻ nào Phật để dại hoài không khôn
Cố thiệt năng xử đa ngôn
Xử tà xử chánh xử ngôn xử cuồng
Tâm dục hỉ nộ sầu buồn
Ai lạc ái ố dục cuồng than gian
Dục ma dục quỉ đa nan
Dụa đắt minh thiện bình an trẻ già
Dục đắt tâm Phật thiệt thà
Dục lòng hung dữ thiệt thà lòng ma

Nhựt trình khán quá gần xa
Xem trong Nam Việt nước ta thạnh thời
Đêm nằm niệm Phật vái trời
Cầu cho trăm họ tùng đời Thánh Tiên
Bây giờ tới vận hòa Phiên
Hiệp tinh nhị quốc mới yên nước nhà


Mảng lo hiếu đạo cần cà
Phúc đâu vận chí tấn hòa Thới-Hưng
Nhìn xem phàm cảnh rưng rưng
Thấy tà ma quỉ đều xưng anh hùng
Một mình luống những nằm mùng
Phúc đâu trận gió đùng đùng ra oai
Làm người sao khỏi ba tai
Hết cơn bỉ cực thới lai mới tường
Tuy không chinh chiến cang cường
Vọng cầu quốc thái minh đường khương ninh
Bất đụng xuất động giao chinh
Cầu hòa Phật giúp khẩu binh trợ tài
Cầu cho bá tánh lâu dài
Xuất chinh vô pháp vô tài hao binh
Thác nhứt nhơn sự bất minh
Tội đa thậm tội chiến chinh hại người
Phép mầu đánh giặc vui cười
Đánh giặc mà khóc hại người tội đa
Cầu Trời khẩn Phật độ ta
Giặc ta quỷ giặc ma thời đừng
Đời nầy nhiều việc ớt gừng
Sát nhơn hại vật thì đừng mới nên
Đừng lòng sanh sự phao tên
Phao tên sát hại nghĩ nên việc gì
Tích thiện hưởng đất hương-kỳ
Tích tên tích pháo sự thì tích hùng
Thiện tâm tích đức tích trung
Ác tâm tích bạo tích hung lo hoài
Nhẫn nhẫn mới dặng lâu dài
Hung hăng tà nịnh phước tài có đâu
Phật cho kim bút đề câu
Giáo người thiện nghiệp đâu đâu hãn tường


Mặc ai rước khách đưa đường
Phật Trời dạ thẳng thường thường không sai
Ai ở quấy phải mặc ai
Gắng lòng tới lúc chiều mai coi đời
Giáp Tý hội Phật hội Trời
Qua năm Kỷ-Tỵ lập đời thanh nghiêm
Mãn cổ lập lại đời kim
Mãn kim lập cổ thanh nghiêm đời đời

Thập bát quốc hội Phật Trời
Bất dạ bất nhựt một đời minh linh
Xuất binh ở ngoại quản (quảng )thinh (4)
Đằng vân giá vỏ tinh minh quản đường
Giáp Tý hiệu một thái bường
Ký hiệu lập hậu thượng đường mấy năm
Thứ nhứt tồn dĩ cơ thâm
Thứ ba giáo thế thứ năm ra đời
Thứ sáu hòa hiệp nước trời
Khuyên người chữ (giữ) dạ nghe lời thảo ngay
Ngày sau không có ăn chay
Giữ lòng cho chặt thảo ngay thọ trường
Ai còn dạ bạo tâm cường
Lập đời thanh tịnh bất tường xử tiêu
Độc trùng ác thú phi diêu
Nhơn trần thậm tội xử tiêu quỉ tà
Uống phù như con một nhà
Tiền khi thánh đạo bất hòa bá gia


Hậu lai đất Thánh ngài ra
Độ phù giáo đạo tiêu ma tiêu tà
Nghêu ngao sơn thủy rừng già
Lòng ngay làm Thánh lòng tà xử tiêu
Trước noi đất Thuấn Trời Nghiêu
Hậu huờn cỏi thọ tiêu diêu trung thần
Qui lai Trời Phật Thánh Thần
Lọc lừa chí để phế trần thánh tâm
Tiền đường lập đế phế âm
Hậu lai phế thế phế thâm trung trần
Tây phương cõi thọ hưởng phần
Ai ai gắng chí cỏi trần khá tu
Phải cần biển Thánh rừng Nhu
Đặng mà chiếm bảng trung thu danh đề
Trào xưa có Cậu có hề
Trào nay có Cậu không hề tớ tôi
Xem đời chắc lưỡi than ôi!
Hữu sư vô đệ thương thôi hậu đời
Đờn bà Phật dạy nghe lời
Đờn ông nhiều kẻ cải trời loạn tâm
Trở dương vận khí vi âm
Trở Âm vận khí minh tâm dối lòng
Âm dương vận khí hiệp đồng
Quang minh tương hội một lòng an khương
Vận khí qui Trụ phế Thương
Chừng nào mạc Trụ an khương nước nhà
Vận khí từ trẻ tới già
Quang minh chánh lý nước nhà loạn dâm
Vô cùng kế hiễm mưu thâm
Dụng đường vận khí loan dâm minh tình
Ngọc hoàng chiếu số trào đình
Phật Trời khiến loạn minh tình khó phân
Vận khí kẻ nghĩa người nhân
Những đường vô loại khổ thân lại gần
Việc Phật tiêu xuất ba lần
Khuyên người Nam Nữ tưởng thần nhập tâm
Đời nầy như đất tồn lâm
Đuốc soi hang tối cơ thâm ít người
Ngưõng than Trời Phật ít người
Một mai tôi thác thương người mồ côi

Bao giờ cho hiệp chúa ôi
Cho tôi thấy Chúa Trời ôi là Trời
Phụng loan sánh phận theo thời
Hoa tàn tiếc ngọt nương đời từ bi
Vận khí thiên địa tu tri
Quang minh linh tánh tham chi tục đời
Trái lý khó biết Phật Trời
Phép nhiều việc lạ trái đời nan tri
Việc trước Phật hành ngu si
Tai nghe mắt thấy cung ly thảm sầu
Một Thầy chỉ bảo đạo mầu
Lóng nghe vắng vẽ từ đầu chí đuôi
Bao giờ cho gặp nước xuôi
Thấy đường nước ngược không nguôi trong lòng


Sóng xao đất lỡ chập chồng
Tai nghe thuở trước động lòng thở sau
Bây giờ căn bịnh còn đau
Nghỉ hồi thuở trước lo sau thảm phiền
Loạn dâm huờn thú như tiền
Dâm khuyên bá tánh lòng hiền phân căn
Ngồi buồn dọc nước giỡn trăng
Nhứt thinh rửa sạch phân cân riêng mùng
Phân cho dân chúng tương phùng
Kết duyên nam nữ phục tùng phu thê
Phân căn cho kẻ kiểng huê
Bạc tiền của Phật phu thê hưởng phần
Lương duyên rồng phụng châu trần
Nữ nhân hửu phước dựa phần quân sư
Dạy đều các quốc phân chư
Chia vườn chia đất an cư tịnh bình
Hai sáu là tuổi vua mình
Thập tứ hưởng thọ trào đình gia tăng

Một nàng Hoàng hậu hiệp căn
Tuổi vừa hai tám Trời trăng hiệp hòa
Phụ mẫu trường thọ nước nhà
Nhứt phu nhứt phụ thiệt thà qui căn
Thiên địa nhựt nguyệt Trời trăng
Quốc vương chánh thất ngoại căn vợ chồng
Trời chiều tri thức tấm lòng
Tới mai coi đủ vợ chồng hay không
Biết mà không nói như không
Nói ra biết chuyện mênh mông khó bàn
Trước bịt (biết?) xem ý xóm làng
Sau dầu tỏ rạng chỉ đàng người đi
Bất kỳ nhơn thính nhơn khi
Khai đường mở ngõ không đi không cầu
Trào nào quan tướng không hầu
Trào nay thất mẫu bất cầu như không
Chưa thấy nói chuyện minh mông
Việc rồi nhắc lại cũng không hay cùng
Xứ xứ diệt hữu anh hùng
Sợ người nói bậy vô cùng đắng cay
Thoạt ăn thoạt nói khó thay
Nói bậy nói bạ đắng cay bực mình


Trách thay Bắc địa lọng (lộng) tình
Tác thơ kinh sử bất bình trung cang
Đêm nằm nát một lá gan
Oán thù nịnh tặc chẳng an trong lòng
Ngày sau thiệt vợ thiệt chồng
Căn duyên Phật định tơ hồng xe săn
Bấy lâu trời lại cách trăng
Hội nầy nhựt nguyệt hiệp căn vững bền
Thiên cơ dựng nghiệp một nền
Nhứt thinh ngó thấy điện đền vui thay
Xuất tình mật trí người hay
Chim đậu không bắt chim bay theo rình
Khoe khoang chi bấy cái hình
Bao nhiêu tâm sự xuất tình con ( còn ) ghi
Như vầy Phật cũng từ bi
Ngọc-hoàng chiếu số dung chi cho đời
Sông mê phủi sạch trong Trời
Kiển (Kiểng) tiên (5) đem lại người đời vui thay
Đừng chê Trời Phật chẳng hay
Ngày sau thân thể như cây không trồng
Khát nước thì chạy vô đồng
Giếng Tiên hai cái rửa lòng nhơn dân


Bạc vàng lộn lạo không phân
Trông Trời nhứt sĩ dạy dân rõ ràng
Thấp cao vàng biết tuổi vàng
Gặp cơn lửa đỏ màu càng thêm xuê
Anh em đừng cười tôi quê
Khỉ mà cỡi Rắn con Dê cỡi Rồng
Một khi lộn lạo vợ chồng
Thiên đường hiệp nhản phụng rồng sánh đôi
Cảnh phật có chúa có tôi
Không sanh không đẻ kết đôi sum vầy
Chơi Tiên tỏ rạng như ngày
Không chơi thầm tối hội nầy u mê
Hội nầy lập Trụ thả dê
Trái phần nhơn bất mê huê xử đời
Hiệp nhản mới thuận lòng Trời
Trái tâm lỗi dạ phế thời cho huê
Mặc tình thế sự khen chê
Tu mà không vợ tu quê tuyệt đời
Phật sanh thiên hạ trong Trời
Có nam có nữ nối đời quốc vương
Ỷ giàu như ngựa buông cương
Như trâu rút mũi khó nương ỡ chuồng
Dạ sao mà dạ không buồn
Thiên cơ thất quốc luôn tuồng bất lương
Ăn ngay ở thẳng Phật thương
Người nào bất chánh bất lương tội nhiều
Hạ-nguơn Phật đã bỏ liều
Phật cho sĩ xuống dạy chiều huờn mai
Dạy lành kẻ gái người trai
Mặc tình giá trẻ nào ai ép lòng
Nghĩ đời càng não càng nồng
Càng xao gia đạo càng lòng đắng cay


Nguyện Trời không cánh mà bay
Chưn không đạp đất thoại thay con Trời
Hạ-Nguơn nay đổi mai vời
Phật cho trẻ ra đời nối sau
Bấy lâu cá ẩn trong ao
Hội lành bao nở trên cao phụ lòng
Hiếu trung khá giữ rặt giòng
Vẹn toàn mới đặng đạo đồng Bửu-Vương
Sách đèn công khó vi luơng
Chí tâm đặng quả Phật-Vương địch phần
Chẳng lo hiển Thánh hiển Thần
Dạ lo phú quới cõi trần đọa thân
Phật dụng tích đức tâm ân
Phật Trời bất dụng phi ân quới quyền
Lục thất trí độ như tiền
Bơ vơ người thế như thuyền lọng khơi
Nay nói như thể nói chơi
Khổ thâm khổ hạ mệt hơi chớ phiền
Ở sao cha mẹ đừng phiền


Tử giai kỳ tử con hiền nỡ vong
Ngồi buồn trách phận long đong
Tưởng hồi tự ái hóa long đã rồi
Nào hay dương thế còn ngồi
Linh đinh sống-dập gió dồi từ đây
Phụng hoàng đủ cánh rồi bay
Chim sâu chưa đủ nằm đây thảm sầu
Quản bao thân trẻ giải dầu
Đội ơn tứ đại lập dầu xót xa
Bao giờ thấy Phật Thích-Ca
Thấy chùa Công-phủ gần xa dục tùng
Bấy lâu tưởng thiệt thằng khùng
Bây giờ mới biết anh hùng trí tri


Đại hùng đại lực đại bi
Thương thân vận bĩ thế suy thãm sầu
Bắt con Ô thước đội cầu
Qua Tây vần đạo dạ sầu Nam-bang
Ông phò nhị-tẩu cư an
Đầu Tàu vấn đạo Nam bang sụt sùi
Thiếc ten sắt sét khó chùi
Vàng mười củ vỏ ngậm ngùi lòng son
Điểu nằm chót núi thon don
Ngư trầm thủy để núi non hao mòn
Thú ngơ bề thú sao còn
Người ngơ dạ ngọc hao mòn con ngươi
Cảnh mầu một cụm tốt tươi
Phiền người niệm Phật xúm bươi đạo Thầy


Thuở xưa Phật có tỏ bày
Ngày sau bổn đạo chê thầy không linh
Ngồi buồn vở sách xem kinh
Tu tâm phước chí tâm linh Phật mình
Cơ gia phản trí lộng tình
Giết nhau như thể trâu sình cá ương
Rồi đây thấy thảm thấy thương
Thấy đường sanh tử oan ương giửa vời

AUDIO 10A TEXAS


Ai ai tâm chánh giữ lời
Việc tà đừng nhớ chánh thời đừng quên
Ông mà kêu ổng sao nên
Bà mà kêu bả không quên lời tà
Mợ mà kêu mở chẳng hòa
Cậu mà kêu cẩu thiệt là tội đa
Cô mà kêu cổ thiết tha
Dì mà kêu dỉ xét ra dối lời
Dượng mà kêu dưởng khác thời
Anh mà kêu ảnh trái lời bất minh
Chị mà kêu chỉ lưỡng thinh
Vợ chồng thứ tự bất minh nghịch thời


Trường xuân minh chánh lập đời
Chồng anh vi chánh vợ thời làm em
Tây-dương vợ chị chồng em
Nghịch phần nhơn vật khó xem minh đời
Ai ai chớ trách Phật trời
Minh tâm thuyết lý nhiều lời cao sâu
Trớ trêu đờn khảy tai trâu
Nước xao đầu vịt gẫm lâu nực cười
Thánh xưa trước đã lầm người
Sau người lầm Thánh vui cười ngữa nghiêng
Ngồi buồn cất bút chép riêng
Đặt làm chín bổn bình yên coi đời
Xem trong thế giái để lời
Ăn cơm dưới đất nói đời cười quê
Tu thời thảo thuận phu thê
Cha con hiệp dạ kiểng huê sum vầy
Dương gian khó tỏ lòng Thầy
Nhiều người mắt bịt cải rày trí ngu
Cải tà Thầy dạy việc tu
Việc nào cũng bỏ thiệt ngu cho mình
Đời nầy loạn chí bất bình
Tùng tâm sự thế tất hình nan kham
Có câu thất hiếu hữu tam
Vô hậu kế đại việc tham tu hình
Tu tâm qui chánh đại tình
Việc tà trước mắt lánh mình thời nên


Thầy xưa dạy chánh vội quên
Tùng tà mà gọi việc nên khoe tài
Trường thi không có một bài
Xưng rằng quân tử anh tài văn chương
Đạo lý tối đại vi lương
Sách nào chữ đó cám thương anh hùng
Rừng nho biển Thánh vô cùng
Bất hành bất đáo xưng hùng nan phân
Sang giàu khó biết thích thân
Nước còn an trị khó phân chánh tà
Đói rách mới biết việc nhà
Nước loạn mới biết chánh tà quan dân
Chữ tình buột ( buộc) với chữ ân
Muốn bề phải trước phải phân chánh tà
Lung tung sát hại nước nhà
Muốn làm hào kiệt phế tà vi ân
Chữ rẻ trước mắt quan dân
Chữ mắc để đó vô ân làm gì
Giáo sĩ dựt (giật) của biên thùy
Lập thân hành đạo chỗ gì nói ra
Chi bằng ra chốn hương tha
Trước hang tầm bạn lân gia gởi mình
Cớ sao không có hiệp tình
Sửa tâm nan biện dỉ hình thiết tha
Nước nhà gẫm thiệt không cha
Văn mà nuôi vợ mẹ cha ít nhờ
Ai cho ăn học dại khờ
Lớn khôn nhiều kẻ cậy nhờ mẹ cha


Quốc-vương thủy thổ kể ra
Đời nầy thất quốc mẹ cha không quần
Ngọn rau tấc đất nói chừng
Sử kinh để đó ớt gừng để đây
Tam cang trung hiếu đời nay
Ngũ thường giữ việc thảo ngay đời nào
Thiệt đời u ám hỗn hào
Vô nghì lễ nghĩa xưng hào chỉnh ( chỉn ) ghê

Tu nhiều vốn thiệt tu tê
Nói theo tiếng thổ nhiều chê nhiều cười
An-giang hại Phật nhiều người
Vui chi Sađéc ghét người công phu
Quan tướng vẻ mặt mà ngu
Hương nhân chẳng đặng chiếm thu cầm chầu
Mất cha sao dạ chẳng sầu
Mất mẹ khó kiếm nương hầu thiếu chi
Ông bà thuở trước có ghi
Tu trần chịu chữ ngu si bực mình
Khôn ngoan ngôn ngữ lọng ( lộng ) tình
Người tu phải giữ ý mình tái lai
Quốc loạn miệng chớ hở mai
Nhuyễn nhừ mối nước mặc ai tranh tài
Giấu gương hậu kiến soi ngoài
Phải dùng ẩn sỉ ẫn tài dả (giả?) ngu
Chí xuân chí tuyết trung thu
Anh hùng hội thí công phu sách đèn
Chí thân chịu chữ khó hèn
Chừng nào tỏ rõ ngọn đèn tâm linh
Hội lành nhờ đức âm binh
Thình lình tiếng giây quản thinh tốc trầm
Xét xem sự thế cho nhầm
Hậu lai vô sĩ tốc trầm nhứt tâm
Vô nhơn tri hậu cơ thâm
Không người nhứt tánh nhứt tâm lo đời

Mấy khi nhơn thế thành Trời
Phật đem Nam việt ở đời Cao mên
Dặn lòng kim thạch đừng quên
Rồi đây thấy việc hư nên tức thời
Phật ra ân xá cho đời
Tội ma ma xử tội Trời Trời phân
Phật cho loạn động quan dân
Xác phàm khá giử cho thân tích tồn
Phật xử tiêu xác tiêu hồn
Giữ sao cho đặng tích tồn Đồng nai
Một năm súng nổ điếc tai
Hai năm điêu hảo chẳng ai tranh tài
Tây về đói khát nằm dài
Đừng lo mắng lén chưỏi xài người Tây
Chừng nào tới đó thì hay
Bây giờ chưởi lén người Tây hoài hoài
Chẳng lo học phép học tài
Để lo nói lén mắng xài người Tây
Đều chê phép Phật không hay
Tây hầu cận Phật người Tây cũng tài

Thấy người khác thế nói hoài
Nước nào như nấy phép tài Trời cho
Người nào dạ tưởng lòng lo
Có phần Phật định Trời cho phép tài
Tu đâu chơn hớn chơn hài
Tu đồ sắc phục diện ngoài gọi tu
Tu người tu trái mù u
Ba da ruột đắng đựng lu nấu dầu
Tu Phật tu thảm tu sầu
Tu Trời giữ đạo vọng cầu quốc vương
Người nào lòng tưởng Tây phương
Có khi gặp phước khỏi vương lưới mành
Phật Trời minh chánh chẳng đành
Vong cha phản mẹ chẳng lành thọ ương
Phật Trời xử mạt nhà Thương
Lập thêm Trụ chúa Châu vương đại tài
Cửu vương nhà Hớn lâu dài
Quân sư trí huệ đại tài phụ vương
Tám con hoàng-tử an khương
Một con kế hậu chánh vương vị trì

Xủ (?)địa khai huê giảng tuỳ
Bần cùn (cùng) phát phước hữu trì vững ngôi
Dục tốc bất đạt người ôi
Bạo tàn bạo phát nghĩ thôi không đời
Nên hư Phật khiến vận thời
Lòng người dời đổi đổi dời sao xong
Sang giàu có thuở long đong
Người ngay mắc nạn ám long phải tùy
Tam thinh rốc hết mới kỳ
Trơ trơ hột mít còn gì nói le
Miểng vùa sánh với đũa tre
Tô kiểu chén đá sạch que chẳng còn
Đồ sành tới đó hao mòn
Đồ đồng thau thiếc chẳng còn nhứt thinh

Tam thinh tiêu hết sử kinh
Nhứt thinh tiêu sạch bình minh Phật còn
Của Phật hơn mười Saigon
Trân châu bửu vật sách còn nôm na
Tới đó Bồ tát - ngài ra
Chăn dân một cõi quốc gia phép tài
Phật ra hội thế cõi ngoài
Của trần phi nghĩa Phật xài tội chi
Bao giờ gặp chốn cung ly
Hội nầy chịu chữ ngu si khó hèn
Hạ-ngươn thân thể bóng đèn
Lao xao buổi chợ mắt ghèn lấp người (ngươi)
Bây giờ thì tốt thì tươi
Chàng ngang dắt dọc sau ngươi ở truồng

Bây giờ vui vẻ thơ tuồng
E sau không khố ở truồng sầu bi
Làm hội dạy thế tu tri
Dạy người giữ đạo xét suy thơ bài
Hội đồng tam giáo phép tài
Phật Trời quân chánh sách ngoài còn ghi
Tràng an dụ giảng hòa thi
Ai mà liễu đắt Tiên tri ra tài
Việc Phật lạt nhách hoài hoài
Dạy đời chí thiết nghe ngoài lỗ tai
Lạt nhách lòng gái lòng trai
Nghe thời ngoài miệng không ai nghe lòng

Nên hư cũng tại cái lòng
Nói nhiều nghe ít lại phòng oán ai
Nói ít nghe đầy lỗ tai
Suy đời cổ - giảng kim-lai biết lòng
Từa tựa da bưởi da hòng (bòng?)
Ruột thời như ruột cái lòng khác nhau
Dò sông khó biết cạn sâu
Dò lòng thấy đó khác đâu miệng người
Thấy đời ruột héo miệng cười
Một muôn không có mười người nhứt tâm
Liếc xem đạo lý cơ thâm
Hờn sầu chưa bớt một trăm dư ngoài
Chẳng thương việc vắn nói dài
Thương thời khỏa lấp che ngoài dấu trong
Khen người thiếu việc dư công
Đất Tần Nam ở Tổ Tông không mồ
A dua múa mỏ hầm hồ
Nghỉ bầy vô loại quá đồ súc sanh
Tối Trời nhà ngói như tranh
Nhà ai nấy biết tan canh mới tường


Liếc xem nhơn thế nan thường
Nan tri quỉ cốc nan tường Tiên sanh
Vật còn nhớ nghĩa khôn lanh
Người mà bất luật hôi tanh chẳng dùng
Ăn no trở súng bắn đùng
Phật Trời nỡ phụ anh hùng lâm nguy
Hiệu đề cung hạ tân-hi
Ba Ông về độ lâm nguy buổi nầy
Lục bình chưng cúc tỏ bày
Huê sen hớn hở đèn Thầy song song
Quốc vương thủy thổ gia phong
Trần truồng trước mắt phụng long Phật-Trời
Thảm thương mắt thịt ở đời
Trời mà hành Phật Phật hành Trời đây
Người phàm xét chánh mới hay
Vọng thờ gia thất đời nay khó bì
Nhựt gần lố mắt biên thùy
Nội tuần chánh ngoạt chí kỳ Phật lai
Tuy chưa tới cảnh Thiên thai
Song đà gặp Phật Như lai giáo đời
Chẳng nghe tại ý dân Trời
Giáo răn chí để cạn lời thì thôi
Thiệt thằng phá của là tôi
Của đời ma quỉ để thôi làm gì?
Dụng không tại ý biên thùy
Tôi phân cho đủ việc kỳ mới thôi
Tưởng của tội nghiệp thân tôi
Âu lo mối đạo lấp thôi miệng người


Tuy là ăn nói vui cười
Sai ngoa thất thế nỗi người than ôi!
Thương đời không chúa không tôi
Loạn tâm dân chúng thương ôi hao mòn
Chớ quên nẽo cũ đường mòn
Rủi chưng trợt té hỡi còn bịnh đau
Đường mới người chẳng biết đâu
Lội càng đế . . . . . . . . nước sâu hụt giò

Chăn trâu chẳng phỉ chăn bò
Đưa đò người cũng đưa đò chung thân
Không phần người cũng không phần
Già đời phi nghĩa phi nhân già đời
Trái thơm vỏ . . . . . . . . . . . . cúng Trời

Bỏ cùi còn mắt ăn thòi (thời) rát môi
Ghét chúa bao thuở thương tôi
Ghét tôi bao thuở thương ôi chúa mình
Trái thơm nhiều mắt cang tình
Đặng ăn chặn ( chặng ) giữa bất bình ngoài trong
Mẫu long sanh đắc tử long
Hổ phụ hổ tử trái bông tại nhành
Cây đắng trái ngọt để dành
Cây ngọt trái đắng chẳng lành bỏ đi
Lời ghi người hởi lời ghi
Người ở ăn hết người đi thời còn
Dân xưa như thể gổ tròn
Dân nay bát giác dạ còn lục lăng
Thương dân không cội không căn
Tây-phiên trấn thủ lo ăn bạc tiền
Đa ngân phá luật phản tiền
Tòa-sơ thầy kiện cải liền bạc trăm
Khiến dân bất chánh tà tâm
Người quấy mà có bạc trăm phải rồi
Đồng bạc bất chánh bại tồi
Mắt tham đồng bạc thôi rồi nghĩa nhân
Nặng nề mang nhục chữ dân
Trung-huê Dân-quốc khó phân vùi đầu
Thôi thôi thấy nói mà sầu
Từ cơn ly loạn nhức đầu điếc tai
Cậu giàu coi thiệt cậu hai
Chúa nghèo không biết chúa ai mà nhìn
Ở chi lưỡng dạ bất bình
Gia bần trí đoản tức mình thế suy


Trải xem Tây-hớn tùng qui
Tự tiền dĩ hậu thế suy vọng cầu
Như lai Phật hiện Nam-lầu
Khẩn nguyền Trời Phật giải sầu Hớn-bang
Cầu cho quốc thới hiển vang
Như-lai cứu độ thiện đoan làm đầu
Lý thàm (?) tối thị nan cầu
Quân thoàn dân thủy dân đầu vua sau
Nhà thờ lập chánh mấy lâu
Tây-Nam một dạ lo âu Phật Trời
Quốc thơ giao hội để lời
Ngày sau cho biết Phật Trời một ngôi

Đời chê Trời Phật bí bôi
Phế miền cực lạc gẫm tôi tri tình
Phật tâm lộn lạo nhơn hình
Soi người trần thế bất bình ở ăn
Khác nào váng nhện che măng
Chừng nào thấy ngọn biết căn đất bồi


Mới ăn ăn nói đứng ngồi
Dụng heo cúng kiến đền bồi thâm cao
Bấy lâu tiêu tứ công lao
Chư binh đói khác (khát) biết sao cúng thường
Song song tỏ ngọn đèn hường
Cầu may cứu Nguyễn tỏ tường Kiến an
Ước sao biết tiếng chư bang

Xuất tâm đối ngữ mới an tấm lòng
Bấy lâu lai láng tràn đồng
Nay qui nhứt thống cầu lòng Thánh-Tiên
Ra công đối ngữ trừ Phiên
Hữu tình Trời Phật Thánh Tiên độ hòa
Hữu tài hữu pháp an tà
Hội ơn minh kiến nước hòa nhà an
Đền ơn khi hiệp lúc tan
Kẻo thân áo não tâm can nặng nề
Ơn người trả đặng trọn bề
Mang ơn chưa trả nặng nề lòng son
Lời nguyền biển cạn mòn non
Mới rằng quân tử lòng son đá vàng

Chí tâm khai rạch đấp đàng
Bắc cầu Tây Quốc qua tràng Nam Bang
Nhà thờ phố ngói chẳng an
Đạo lai sao đặng hiển vang trên đời
Học đạo bất cố Phật Trời
Bất thường chiêm ngưỡng khó đời dân ôi !
Lao xao lòng dạ khổ tôi
Chẳng suy chẳng nghỉ lòng thôi khổ lòng
Lánh nơi cá chậu chim lồng
Lao xao sóng bổ chập chồng đôi ma
Tuy là lời nói Phật xa
Có lòng Phật hiện tại gia độ mình
Loạn ly phước họa nan tình
Họa phần phước chí thời mình mới yên

Họa nầy Trời gởi Tây phiên
Ai mà cầu đặng Thánh Tiên an lòng
Một thầy chỉ đạo giáp vòng
Đạo kia đạo nọ lộn lòng thì hư
Tuy là mối đạo phân cư
Khác người khác thế bất tư tấm lòng
Đắng cay việc đạo chập chồng
Tu mà dấu đạo tấm lòng chát chua
Tu hành nói đạo hơn thua
Nên không tỏ đạo chát chua cho đời

Thấy sao những kẻ khi Trời
Người thời khi Phât nói đời ai nghe
Không thấy lòng Phật lóng Tre
Lòng tà dạ vạy muôn xe dư ngoài
Tu hành học chánh thường hoài
Nhuần tâm nhuần tánh phép tài có khi
Luận xem tà chánh nghiệm suy
Phật cho tài phép một khi nhuần mình.

Niệm tâm tích đạo nhứt tình
Lộng ngôn cuồng ngữ việc bình thế thôi
Thiệt tôi không giỏi người ôi
Phật Trời ngồi ẩn cao ngôi trao lời
Thiệt giỏi ông Phật bà Trời
Hạ sanh dân chúng nghe lời thời nên
Làm lành niệm Phật chớ quên
Thâm thâm chi diệu độ nên cho mình
Thọ giáo phép Phật Thiên-đình
Tu tâm luyện tánh nhuần mình nhập căn.


Khó thì lấy họ mà lăng
Thân tôi đói khó chúc ăn người ngoài
Tủi thân lao khổ hành hài
Làm lành cô bác mắng hoài khổ thân
Chẳng thương cũng nghĩ chút ân
Con cháu làm dữ hủy thân cũng vừa
Thân sao nhiều kẻ vày bừa
Mạnh ai náy (nấy) mắng sao vừa lòng ai
Vận nghèo phải chịu họa tai
Trong nhà cũng mắng lượng ai ngoài đường


Ngày nay phân việc tỏ tường
Bổn nầy nói việc thế thường ở ăn
Đời nầy người ở như trăng
Khi tròn khi khuyết sơn băng thủy trầm
Buồn riêng dạ héo than thầm
Thấy người ăn ở ngọc trầm vàng phai

Đinh Tỵ cái bị mất quai
Cái quần không vận đố ai ở truồng
Trôn kim sợi chỉ chun luồn
Đờn bà như thể chiếc xuồng rã mê
Không biết là việc phu thê
Vợ chồng xiêu lạc con dê cầm chuồn
Mới biết là việc ở truồng
Mới đem dạ thãm lòng buồn cho ai
Không ai chỉ tính chiều mai
Gọi rằng việc quấy vàng phai ngọc trầm

Tây qua Mậu-ngũ vua lầm
Tới năm Mậu-ngũ Tây tầm về Tây
Thương người trí huệ bị vây
Tam thinh Thánh-giá đại Tây nằm dài
Khôn chi tranh đấu tiếng ngoài
Trong lòng không có trí tài chút chi
Trách ai kiến nghỉa bất vi
Đồng tình tích ác thị phi trí tầm
Phụ nhơn chắc nết khó cầm
Nan tầm trung hiếu nan tầm nhơn lương
Nhứt quê tích thiện an khương
Lập đời tam cảnh nhơn lương thuận hoà
Thương trung thương hiếu ghét tà
Vì chưn ( chưng ) hay ghét bởi là hay thương
Ghét đời Đắc-Kỷ Trụ-Vương
Thương là thương thuở Châu vương lao tù
Ghét người Bàng-thị vỏng dù
Thương người Trịnh-thị cựu thù bất lương
Ghét đời Võ Hậu sát Cương
Thương xưa tiên Thánh nhơn lương thuận hòa
Nhứt thiên quân quốc mới già
Qua đời Ngũ-bá qui tà phân vân
Nhút bá thậm tội nau phân
So le bá tánh muôn dân gian tà
Hậu lai bất dụng nước trà
Mỷ miều hồng- cúc uống hòa thơm tho
Ghét đời quân nhược chẳng lo
Thần cường đắc thế ăn no đứng đường
Trung quân cơm cháo chẳng thường
Kẻ gian người nịnh giử đường no say
Làm người lo hậu mới hay
Nghiệm tiền mới giởi lo nay bất tài
Lo nay để Phật lo ngoài
Lưới thưa Phật bủa phép tài thấy đâu
Thấy tài mới biết phép sâu
Bây giờ như thể lưởi câu không mồi

Tây Minh quốc truyện xem rồi
Đói năm không phải một hồi khó lo
Lạ đời kẻ đói người no
Nghèo ăn không hết giàu lo ẩn hình
Mèo con vỡ chạy thình lình
Mèo mẹ ra thế đổi hình trị ban
Kỷ dậu hai tiếng nói vang
Người đều nghe hết không toan tiếng nào
Chuột Phật dân vỡ ào ào
Mèo nhà bắt rắn chỗ nào cũng hay
Trước Đèn giữ đạc hòa Tây
Thiên cơ Phật định thiệt hay vô cùng
Nước nào cũng có anh hùng
Căn duyên Phật định vô cùng nghiệm suy
Thế kim dỉ thế nhơn y
Cổi ra mặc lại nan tri rách lành

AUDIO 10B TEXAS

Cảnh hư để vậy sao đành
Giăng tay vung lại chẳng thành chẳng ưng
Trung thần bất sự nhị quân
Vi nhơn liệt nữ bất luân lưỡng thằng
Thất ngôn bất kiết kim bằng
Vi nhơn nhứt cổ lưỡng thằng sát quân
Quân chỉnh trào chánh bất tuân
Phục tiền phản hậu bất quân bất thần
Tiên sư giáo thiện Gia trần
Vô sư vô đệ vô thần phản tu
Liệt nữ bắt giá lưỡng phu
Hiền nhơn bất xuất ác tu chơn tình
Chánh sự minh chánh trào đình
Bá quan văn võ nhứt tình chơn quân
Bây giờ xa xứ người dưng
Ngày sau đem lại kết xuân một lòng


Hư khai ứng nghĩa đạo đồng
Trương trừ Mẹo nhựt đặng lòng chánh minh
Vị trừ việc trước quản thinh
Chừng nào gặp hội âm binh độ mình
Chí nan nan chí tận tình
Niệm Phật tân ý hơn tình tụng kinh
Niệm Phật thấy Phật đức tinh
Bây giờ còn việc minh minh có gì
Bất tính Trời Phật mới kỳ
Phật xem việc thế biên thùy khó răn
Lo bề phú túc ở ăn
Không lo niệm Phật khó khăn cho đời


Niệm Phật khác thế khác thời
Niệm Phật ác chí dục lời lường công
Thứ nhì quốc loạn minh mông
Thứ tư chí loạn dạ không sợ rày
Bao giờ tôi mãn căn đày
Trời cao soi xét đất dày chiếu tri
Chí tâm khai diễn trường thi
Chư Văn hội thí thức tri bạn mày
Cạn lẽ Trời Phật cho bài
Thâm thâm chi diệu việc nầy chẳng lâu
Lội giỏi khỏi lội đường sâu
Hết con trâu Phật biết đâu thời tìm
Lên non vắng vẻ im lìm
Có chùa Công phủ để nghiềm hậu lai
Dặn dò già trẻ gái trai
Đùng đùng ba tiếng hùy tai dò lần
Tới đó một cuộc lánh trần
Còn một cuộc nữa định phần ngày sau

Niệm Phật như đào giếng sâu
Dại người tu tỷ phải âu lo đời
Ai sanh ông Phật ông Trời
Bà Trời bà Phật lập đời ai sanh
Hỏi thăm anh chị khôn lanh
Thân tôi ngây dại hôi tanh biết gì

Tiếng đồn Lục-tỉnh Nam-kỳ
Khôn hơn các nước chỗ gì gọi khôn
Khôn làm đày tớ một môn
Khôn ăn khôn nói khôn chôn Phật Trời
Căm gan tức dạ ngán lời
Ai sanh không tưởng Phật Trời người ôi
Đem lòng tích bạc phụ tôi
Chê ngây thì mắc chê hôi thì lầm
Loạn ngôn ti thế ăn nằm
Lánh trần ẩn tích giận bầm là gan
Chữ rằng vấn vị ( dị) đáp nan
Xuất tình đối đáp tầm an đắc bình
Thông minh trí huệ Phật tình
Vi nhơn bất xét bất bình tâm cang
Việc ai lo nấy thời an
Con ai nấy khiến nguy ban tại Trời
Lo lo liệu liệu cạn lời
Xem sau xét trước thấy đời căm gan
Đời khổ bất khổ bất than
Trái tai trái dạ khó an nỗi người
Giác trước không nỗi khó cười
Bây giờ giả dại người ngu si
Lão giả thì lão an chi
Hườn lai tráng kiện cung ly độ mình


*
Chú thích:
(1).Hề: Hề đồng: đứa trẻ đi theo hầu cậu chủ hay ông chủ.
(2). Gác lân: lân các, là đền thờ các vị anh hùng.
(3). Thoàn: thuyền
(4).Quảng thinh: khoảng thinh không, khoảng trống , trên không gian cao xa, trên trời.
(5) .Kiểng tiên: cảnh tiên.

Blog Archive

Google Analytics

Google Analytics

Bravenet Hit Counter