Saturday, June 12, 2010

NGUYỄN THIÊN THỤ * NHỮNG CON CÁO ĐỎ VIII

NGUYỄN THIÊN THỤ
sưu tập



NHỮNG CON CÁO ĐỎ





TẬP VIII

MỤC LỤC

100. DU LỊCH XỨ HỒ
101.NGƯỜI MÊ ĐẠO THÁNH
102. TÌNH RUỘT THỊT
103. CẢI TẠO
104. VÌ CHÍNH NGHĨA

105. HÀ VĂN ĐỊNH
106. TẢNG BẠCH NGỌC
107. QUYỂN SÁCH TIÊN
108. QUAN THƯỢNG THƯ





100. DU LỊCH XỨ HỒ

Công tử Bạch Vân con quan Tổng trấn và công tử Thanh Hà con quan Tổng binh là bạn đồng song, nhân một hôm học ở trường quan Đốc học xong, bèn rủ nhau lên thăm núi Châu Thới. Sau khi vào chùa lễ Phật, hai cậu ra dạo sau chùa. Thấy trong sân chùa có một cây mộc lan cao to, cành lá sum suê, đầy những bông hoa trắng đưa hương thơm ngát, hai công tử bèn ngồi xuống trên thảm cỏ, gió mát hiu hiu thổi, giây lâu nằm ngủ quên.


Một lúc sau, một lão trượng đội mũ đỏ, mang bào vàng, thắt đai hồng, cưỡi ngựa từ trong núi bước ra cúi đầu chào hai công tử, và nói:
-Quan Tổng trấn chúng tôi kính mời hai công tử ghé bản trấn phủ .
Hai chàng ngạc nhiên, không hiểu nơi xa xôi hoang vắng này lại có ai quen biết hai chàng. Nhưng rồi hai chàng cũng gật đầu ưng thuận và thúc ngựa vào trong núi theo lão trượng đội mũ đỏ. Nhìn y phục của lão trượng, hai chàng biết lão là một vị đại quan.
Từ xa nhìn vào thì thấy một thành trì thành cao, hào rộng. Trên cao có tấm biển ghi "Đại Văn Minh thành".
Bạch Vân công tử hỏi:
-Thưa đại quan, xin cho biết đây là lãnh thổ nước nào mà thành trì "hoành tráng" như thế?
Đại quan cười mà nói:
-Thưa quý đại diện, đây là "Đại Hồ quốc", là một quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, "khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"!

Trên đường đi, hai cậu thấy một đám tiểu yêu hồ đang đùa giỡn với nhau. Thấy đại quan và hai công tử đến, bọn chúng vẫn thản nhiên nô đùa, không hề sợ hãi. Lão quan già lấy roi ngựa xua đuổi, chúng vẫn không đi mà còn ném đá vào ba người mà nói:
-Chúng ông đéo sợ chúng mày!

Khi ông quan mũ đỏ và hai công tử đến cửa thành thì cửa thành rộng mở, hai công tử theo lão quan mà bước vào bên trong. Trong thành cây cối xanh tươi, hoa nở khắp nơi, chim kêu ríu rít. Lão quan đắt hai chàng vào một cung điện uy nghi, ngoài đề "Tổng trấn phủ".
Từ ngoài cửa vào trong là những hàng quân lính, rồi đến những hàng thanh niên, thiếu nữ cầm cờ hoan hô hai công tử.
Bước lên thềm thì thấy những giai nhân chân trắng dài, eo thon, ngực nở tiến ra vừa ca vừa múa xung quanh hai chàng. Hai chàng rất "phấn khởi, hồ hởi".

Bước vào bên trong thì thấy trên cao là một bậc vương công, mão cao áo dài, cái đuôi màu đỏ rất to, cong lên ở phía sau, xung quanh có lính cầm quạt đứng hầu. Hai công tử bước vào quỳ lạy. Bậc vương công nói:
-Ta là Tổng trấn Đại Văn Minh thành, xin gửi lời chào mừng hai "đại biểu "đã tới tham quan tệ trấn.
Hai chàng thưa rằng:
-Bọn chúng tôi là học trò vô danh tiểu tốt, không đại diện cho ai, xin đừng gọi là "đại biểu", làm cho chúng tôi xấu hổ. Xin hỏi quan Tổng trấn, Ngài gọi chúng tôi đến là vì nguyên do nào, mục đích nào?
Quan Tổng trấn cười mà bảo:
-Khi hai "đại biểu" khởi tâm đi núi Châu Thới thì ban An Ninh bản trấn đã biết, bọn họ báo cáo lên Trấn, ban lãnh đạo bèn ra lệnh họ điều tra lý lịch hai đại biểu thì thấy lý lịch hai đại biểu rất tốt cho nên ta hạ lệnh cho người rước hai đại biểu về đây.
-Thưa quan Tổng trấn, xin cho biết Ngài cần gì ở chúng tôi?
Quan cười:
-Đêm xuân ta hãy còn dài. Hai cậu sẽ biết sau. Giờ đây xin mời hai đại biểu dự đại yến do bản trấn mời.
Hai công tử bèn theo quan tổng trấn bước vào đại sảnh thì thấy cỗ bàn linh đình đã dọn sẵn. Xung quanh chật ních những thiếu nữ xinh đẹp, tươi mát. Khi quan Tổng trấn và hai công tử an tọa thì các quan khách khác lần lượt tiến vào. Ông nào cũng mũ cao, áo rộng kéo cái đuôi dài. Xem vẻ như ông nào đuôi dài nhất, màu đỏ nhất là quan cao nhất.

Sau khi khách an tọa, quan Tổng trấn giới thiệu hai chàng với khách, và cũng giới thiệu các nhân vật quan trọng trong bữa tiệc. Sau khi giới thiệu, các thiếu nữ phục vụ bước vào rót rượu mời khách. Các cô đứng sát vào hai chàng khiến cho toàn thân hai chàng như bốc cháy. Lợi dụng khi các nàng đứng gần, hai chàng quan sát mông và thì không thấy các nàng có đuôi, có lẽ họ đã giấu kín đuôi chồn. Thanh Hà công tử tinh nghịch sờ thử thì cũng không phát giác điều gì mới lạ. Cô nàng phục vụ cười mà nói nhỏ bên tai chàng:
-Xin bảo đảm còn nguyên xi, chánh gốc hiệu Nai vàng, không có đuôi đâu! Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi, đại biểu muốn gì cứ nói ra, chúng tôi sẽ phục vụ từ A đến Z!

Xong tiệc, lính hầu đưa hai công tử vào phòng nghỉ. Mỗi cậu mỗi phòng, được hai thiếu nữ hầu hạ. Hai thiếu nữ bảo khách nằm xuống và đấm bóp toàn thân. Hai công tử sảng khoái toàn diện. Trong khi hầu hạ, hai cô chuyện trò với hai công tử. Một cô hỏi:
-Đại biểu có dự định đầu tư vào đất nước chúng tôi không? Đất nước chúng tôi tự do, dân chủ, đang phát triển, rất cần vốn đầu tư ngọai quốc. Nếu đại biểu đầu tư, chúng tôi sẽ giành cho đại biểu nhiều ưu tiên. Hơn nữa, xứ chúng tôi nhiều thiếu nữ đẹp, nhiều cuộc vui chơi giải trí. Đầu tư vào nước chúng tôi, các đại biểu sẽ có nhiều lợi ích về vật chất và tinh thần.
Hai công tử tạ từ mà nói rằng:
-Rất tiếc, chúng tôi là học sinh ăn bám vào cha mẹ, không có tiền đầu tư. Tuy nhiên khi về, chúng tôi sẽ vận động các nhà kinh doanh nước tôi bỏ vốn đầu tư vào quý quốc.

Ngày hôm sau, quan Tổng trấn nói:
-Ở đây có nhiều gái đẹp. Hai đại biểu nên sang đây đầu tư thì sẽ có lắm vui vẻ và nhiều lợi ích.
Hai chàng chối từ, vì sợ chơi với loài hồ e nguy hiểm, chỉ xin đi chu du thành nội . Quan xin đồng ý, sai hai hướng dẫn viên du lịch đưa hai công tử đi.

Đi theo hai chàng là hai hướng dẫn viên đầu đội mũ đỏ, mang áo đỏ, chân mang giày đỏ và tay cầm giáo đỏ. Nơi đây nhà cửa san sát, phần lớn là đền đài dinh thự và công viên rộng lớn. Trên công viên, từng tốp nam nữ nhảy múa, ca hát.
Hai chàng nghe như một điệu dân ca:

Yêu cha già
Yêu mẫu quốc
Yêu hòa bình tổ quốc chúng ta!

Đến một công viên khác, chàng thấy rất đông người tụ họp. Chàng hỏi hai hướng dẫn viên du lịch:
-Những người này là ai? Là dân chúng, quan viên, hay lính tráng?
Hai hướng dẫn viên du lịch đáp:
-Đó là nhân dân yêu nước.
-Khi hai chàng dừng lại ngắm cảnh, thì một nhân dân vai mang băng đỏ, ngực có bảng hiệu, tiến đến nói to với hai chàng:
-Nước chúng tôi đang thực hiện ba dòng thác cách mạng là Cách mạng Quan hệ sản xuất , Cách mạng Văn hóa tư tưởng và Cách mạng Khoa học Kỷ thuật mà cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt". Đến đây, người nhân dân thấy hai hướng dẫn viên mắt nhìn mĩ nữ ở đàng xa đang đi tới nên nói nhỏ: Nếu hai đại biểu yêu ai, thì xin đăng ký kết hôn để cho họ sớm xuất ngoại mà "theo chàng về dinh". Cơ quan chúng tôi sẽ hướng dẫn mọi thủ tục và lệ phí rẻ như bèo!
Nhân dân này nói xong bỏ đi thì một nhân dân khác tới, cũng băng đỏ, huy hiệu trước ngực, tiến đến trước mặt hai chàng nói to:

-Đoàn kết! Đoàn kết!
Hỡi các Việt kiều
Yêu nước trên hết!
Đầu tư thật nhiều
Là yêu nước Việt!

Khi thấy hai hướng dẫn viên du lịch mệt mỏi, ngáp dài, không còn chú ý nghe, người "nhân dân" nói nhỏ:
-Xin đại biểu ký giấy hợp tác đầu tư với công ty chúng tôi trong việc đưa công nhân ra ngoại quốc lao động. Hai đại biểu sẽ được hưởng hoa hồng rất cao! Hoặc hai đại biểu muốn thưởng thức "của ngon vật lạ", nước tôi gì cũng có, chúng tôi sẽ phục vụ tận tình!

Hai hướng dẫn viên hỏi chàng muốn đi đâu nữa không. Hai chàng muốn đi thăm nhân dân. Hai hướng dẫn viên tỏ vẻ ngần ngại, Văn công tử bèn rút một nén bạc tặng thì hai chàng tuân lời. Đi một đoạn xa, thấy nhà cửa lụp xụp, dân chúng nghèo đói xác xơ. Thấy hai hướng dẫn viên cầm giáo đỏ, họ tỏ vẻ sợ hãi mà lánh xa. Chàng nghe có tiếng lầu bầu:
-Tiên sư chúng mày đến đây làm gì?

Đột nhiên có tiếng bom nổ, đạn bay và tiếng chó sủa vang. Hai hướng dẫn viên hoảng hốt bỏ chạy, miệng la to:"Phản động!" Phản động!" Hai công tử sợ hãi chạy theo, giật mình tỉnh dậy, hóa ra chỉ là một giấc mộng.



101.NGƯỜI MÊ ĐẠO THÁNH

Cậu Mười Hùng ở Hồng Sơn là một thanh niên cường tráng, sớm tối lo việc cấy cày giúp đỡ mẹ cha. Một hôm vào trong núi, gặp một đạo sĩ già, tu luyện một mình trong sơn cốc. Chàng bèn xin vào thăm nơi ở của đạo sĩ. Đây chỉ là một cái động nhỏ. Chỗ nằm là một nơi khá cao ráo, kín gió, dưới trải một đống củi, cành và lá cây, trên cùng là cỏ khô. Bên cạnh giường cũng có cỏ khô chất thành đống để chui vào ngủ khi mùa đông lạnh. Bên cạnh có tảng đá lớn, trên có hương hoa là bàn thờ Thượng đế.

Chàng xin đạo sĩ giảng dạy. Đạo sĩ nói rất nhiều:
-Ta theo Tiên đạo thờ Thượng Đế. Ai đắc đạo thì có thể đằng vân giá vũ, đảo hải di sơn, chỉ đá thành vàng, và sống trong Thiên Đàng rất sung sướng, mọi người ấm no, hòa bình, có thể ngồi bên cạnh Thượng Đế. Muốn đắc đạo thì trước tiên phải diệt dục.
Đạo sĩ dạy chàng kinh kệ và phép luyện đan.


Một thời gian luyện đan, chàng vẫn không tiến bộ. Chàng vào núi, bái yết đạo trưởng. Đạo trưởng im lặng hồi lâu rồi nói:
-Diệt dục! Diệt dục! Diệt dục!
Chàng về suy nghĩ không hiểu thế nào là diệt dục. Ăn chay là diệt dục thì chàng đã ăn chay. Không mơ giàu sang phú quý là diệt dục thì từ thuở nhỏ chàng đã sống trong nghèo khổ, sớm trưa dưa muối, và bây giờ chỉ là một nông dân nghèo khổ. Nếu diệt dục nghĩa là không gần nữ sắc thì chính chàng chưa lấy vợ, có thể là không lấy vợ để giữ nguyên thần khí tinh.

Lòng tu đạo đạt phép màu thôi thúc, chàng bèn nghĩ cách lấy dao đoạn dục, cắt sinh thực khí của minh. Sau một thời gian đau đớn thì chàng thấy không còn tưởng đến việc ân ái cùng phụ nữ. Nhưng chàng vẫn không thấy đạt phép màu. Chàng vẫn là một con người bình thường, không bay lên không trung, vẫn là con người tầm thường phải ăn uống, phải mặc ấm, và vẫn bị bệnh tật như bao người khác.

Một hôm, chàng bèn vào núi thăm đạo trưởng và vấn đạo. Chàng vào hang mà không thấy đạo sĩ ở đâu. Chàng tìm kiếm khắp nơi. Chàng lo sợ đạo sĩ thầy mình bị cọp xơi hay ngã bệnh nằm chết ở một nơi nào đó. Chàng hốt hoảng đi sâu vào các hang bên cạnh. Chàng nghe tiếng người rên. Chàng bước vào thì thấy ba, bốn người đàn bà ,con gái trần truồng tay chân bị trói nằm trong động. Chàng hỏi han và cởi trói cho họ. Họ cho biết họ bị hồ ly bắt về hãm hiếp ngày đêm. Chàng bèn bảo họ trốn về quê và phải giấu kín việc này vì hồ ly tinh có thể báo thù.
Sau khi họ đi thì chàng thức ngộ ra rằng dù dương vật bị cắt đi nhưng khi nhìn đàn bà, con gái lõa thể, lòng chàng vẫn sục sôi lửa dục.

Năm đó, xứ Nghệ mất mùa, khắp nơi đói kém, Hùng phải tha phương cầu thực. Chàng ra đến Thanh Hóa. Khi đến Tĩnh Gia, trông thấy một nàng áo trắng dắt một con hầu nhỏ đang đi ở phía trước. Một lần cô gái quay đầu lại, thì ra khuôn mặt diễm lệ ít ai sánh được. Gót sen bước có vẻ chậm rãi. Cô gái quay sang nói với con hầu:
- Thử hỏi chàng xem có phải định đến Đông Sơn hay không?
Con hầu bèn gọi chàng hỏi. Hùng hỏi lại rằng có việc gì. Cô gái đáp:
- Nếu chàng đi Đông Sơn thì xin gửi phong thư.
Hùng lúc ra đi vốn cũng chưa định đi đâu nhưng muốn lấy lòng giai nhân nên nhận lời. Cô gái liền rút lá thư đưa con hầu, con hầu trao lại cho chàng. Hỏi họ tên quê quán người nhận thì nàng đáp:
- Họ Vương ở làng Đông Tiến.
Chàng bàn đáp thuyền mà đi. Ðến được huyện Đông Sơn vào lúc trời đã chiều tối. Hỏi thăm thôn gái họ Vương thì chẳng một ai biết cả. Ðành nhắm hướng Bắc mà đi, được chừng bốn năm dặm thì trăng sao đã hiện lên nhấp nháy, cỏ dại thơm lừng trải dài mờ cả mắt, chốn đồng không chẳng có lấy một quán trọ nào; tình cảnh thật khốn quẫn. Nhìn thấy một ngôi mộ xây đá bên đường, nghĩ muốn nằm nghỉ quách bên ngôi mộ đó, nhưng lại khiếp sợ hổ lang. Bèn ôm cây trèo lên, ngồi chồm chỗm trên ngọn cao. Nghe tiếng thông reo xào xạc, côn trùng tỷ tê, trong lòng thảng thốt, hối hận như thiêu như đốt. Thốt nhiên nghe bên dưới có tiếng người. Cúi đầu nhòm xuống, thì rành rành đã là một nơi sân viện; một cô gái xinh đẹp ngồi trên phiến đá, hai con hầu vấn tóc châm đuốc hoa đứng hầu hai bên. Người đẹp quay đầu sang bên trái bảo:
- Ðêm nay trăng sáng sao thưa, gói trà bà Vương vừa tặng có thể đem pha một ấm uống thưởng thức đêm thanh được đấy.
Chàng nghĩ đây hẳn là ma quỷ, trong mình sởn cả gai ốc, nín hơi không dám thở. Chợt một con hầu nhìn lên nói:
- Trên cây có người.
Cô hãi kinh hãi đứng bật dậy kêu lên:
- Trẻ ranh lớn mật ở đâu dám mò đến đây nhòm trộm người khác!
Chàng cả sợ, không còn chỗ nào để trốn nữa, đành ôm cây tụt xuống, phục xuống đất xin tha thứ. Cô gái đến gần, đưa mắt nhìn qua một lượt, chợt đổi giận làm vui, kéo chàng dậy cùng ngồi. Chàng liếc mắt ngó nàng, thì tuổi khoảng mười bảy mười tám, vẻ người xinh đẹp có một. Nghe giọng nói cũng tiếng vùng này, nàng hỏi:
- Chàng đi đâu đây?
Ðáp rằng:
- Có người nhờ đưa giúp lá thư.
Nàng nói:
- Ðồng hoang lắm trộm cướp, ngủ giữa trời sương rất đáng ngại. Nếu chẳng hiềm nhà tranh vách đất, xin mời vào nghỉ tạm.
Nói rồi đưa chàng vào nhà. Trong nhà chỉ có một chiếc giường, nàng sai con hầu sắp hai tấm chăn lên đấy. Chàng tự thẹn thân hình khiếm khuyết, xin nằm ở dưới đất. Nàng cười đáp:
- Khách quý đến nhà, con gái đâu dám thất lễ, đòi nằm cao hơn khách
Chàng không biết tính sao đành phải nằm chung một giường, nhưng trong lòng hoang mang lo lắng, không dám tự tiện co duỗi. Chẳng bao lâu, cô gái luồn bàn tay nhỏ nhắn qua lớp chăn, cấu nhẹ vào đùi chàng. Chàng vờ ngủ, như không biết gì. Lại một chốc nữa, nàng mở chăn ra chui hẳn sang, lay chàng, chàng vẫn nằm im không động. Nàng thuận tay lần xuống thám thính chỗ kín, bỗng ngừng ngay lại, dáng buồn thiu, rồi thiểu não lật chăn trở dậy; giây lát nghe có tiếng khóc. Chàng bàng hoàng cả người, không biết chui vào đâu cho hết thẹn, lại giận mình sao ngu xuẫn, ngông cuồng. Cô gái gọi con hầu thắp đèn lên. Nhìn thấy mặt nàng còn ngấn lệ, con hầu kinh ngạc có điều gì buồn. Nàng lắc đầu đáp:
- Ta tự thương phận mình bạc thôi!
Con hầu đứng trước giường, nhìn chằm chằm xuống mặt chàng. Nàng bảo:
- Hãy gọi anh ta dậy rồi bảo xéo đi!

Nghe mấy lời ấy chàng bội phần xấu hổ. Lại thêm lo đang giữa đêm hôm, tối tăm mù mịt chẳng biết đâu mà đi. Giữa lúc còn dùng dằng chưa quyết đi một người đàn bà đẩy cửa bước vào. Con hầu thưa:
- Bà Vương đã về.
Chàng hé mắt nhìn trộm thì thấy bà này tuổi đã ngoại năm mươi, nhưng còn giữ được phong vận. Thấy cô gái chưa ngủ, bà liền hỏi duyên cớ. Nàng chưa kịp đáp thì lại thấy trên giường có người nằm, bèn hỏi:
- Nằm cùng giường là ai đấy?
Con hầu trả lời thay:
- Lúc tối có một chàng trai trẻ đến đây xin ngủ nhờ.
Bà liền cười:
- Biết đâu con Tám hôm nay vui vầy đuốc hoa cơ chứ!
Chợt thấy cô gái ngấn lệ chưa khô, bà kinh ngạc hỏi:
- Ðêm hợp cẩn mà lại buồn bã khóc lóc không phải cách; chẳng lẽ chàng ta thô bạo lắm sao?
Nàng không đáp, mặt càng thêm âu sầu. Bà ta định kéo vạt áo để nhìn rõ chàng, vừa động đến áo thì phong thư rơi xuống giường. Nhặt lên xem bà bỗng sợ hãi nói:
- Đây là thư của con gái tôi đây mà.
Mở ra đọc, bà than lên một tiếng chua xót. Cô gái hỏi nguồn cơn thì bà đáp:
- Ðây là thư của con Năm, con gái ta báo tin nhà, nói rằng chồng nó đã mất, nó nay trơ trọi không nơi nương tựa. Chưa biết tính thế nào.
Cô gái tiếp:
- Ban nãy anh ta nói là chuyển giúp lá thư cho ai đó, may mà tôi chưa đuổi đi.
Bà già gọi chàng dậy, hỏi rõ nguyên ủy lá thư. Chàng kể tình đầu. Bà bảo:
- Xa xôi làm phiền lặn lội đưa thư, nay biết lấy gì báo đáp!
Lại ngắm kỹ chàng rồi cười, hỏi:
- Vì sao lại làm trái ý cô Tám?
Chàng đáp:
- Chẳng biết mình có tội gì.
Bà quay sang hỏi cô gái. Nàng than rằng:
- Chỉ thương cho thân mình, sống đã vớ phải anh chồng lại cái, chết cũng lại nhà đứa bị thiến mà ăn nằm. Vì thế mà tủi thôi.
Bà già quay lại nhìn chàng nói:
- Thông minh linh lợi thế này, vốn là trống mà hoá ra mái ư? Thôi thì khách nhà tôi, không thể làm phiền người khác mãi thế được.
Nói rồi dẫn chàng sang chái nhà phía Ðông, đưa tay sờ xuống khố mà khám nghiệm, rồi vừa cười vừa nói:
- Chẳng trách nào con Tám khóc hết nước mắt cũng phải. Nhưng may vẫn còn chút cuống rễ. Còn có thể cố sức được.
Bèn khêu đèn, lục hết hòm rương, lấy ra một viên thuốc màu hồng trao cho chàng, bảo nuốt ngay, lại dặn nhỏ rằng đừng cử động. Rồi đi ra.

Còn lại một mình chàng nằm nghĩ ngợi, không biết thuốc chữa chứng bệnh gì. Chừng khoảng canh năm tỉnh dậy, cảm thấy dưới rốn một luồng hơi nóng xông thẳng vào chỗ kín, lại lùng như có vật gì treo ở khoảng dưới háng. Ðưa tay sờ thử, thì ra mình đã thành một gã đàn ông hẳn hoi. Trong lòng mừng đến thảng thốt, giống như vị thượng quan thình lình được trao ngọc báu.

Khi hừng đông lờ mờ ở chấn song thì bà già trở lại, đem bánh mới hấp vào buồng cho chàng, lại dặn hãy cứ ngồi yên, rồi khoá trái cửa lại, ra ngoài nói với cô Tám rằng:
- Anh chàng vất vả mang thư đến đây, hãy giữ lại đấy, gọi con Năm về, cho nó kết nghĩa chị em. Với lại, cũng phải đóng cửa để khỏi người ta buồn chán.
Nói rồi ra cửa mà đi.

Chàng quẩn quanh mãi đâm buồn, thỉnh thoảng lại đến gần khe cửa, y như con chim ngó trộm qua nan lồng. Trông xa thấy cô Tám thì lòng thèm muốn nổi lên, cũng muốn gọi lại báo rõ sự tình, nhưng e thẹn ngập ngừng nên lại thôi. Mãi đến tối mịt bà già mới dẫn con gái trở về. Vừa đẩy cửa đã lên tiếng:
- Ðể sầu muộn giết mất lang quân rồi! Con Năm hãy vào mà bái tạ đi!
Cô gái gặp trên đường mấy bữa trước rụt rè bước vào, ngước nhìn chàng, e ấp vái chào. Bà mẹ bảo họ gọi nhau bằng anh em. Cô Tám cười:
- Gọi là chị em gái cũng được.
Rồi cùng kéo nhau ra gian giữa, ngồi quay quẩn quanh mâm rượu. Uống được vài chén, cô Tám hỏi đùa:
- Người hoạn thấy sắc cũng động lòng chứ?
Chàng đáp:
- Thì chân què vẫn nhớ đến giày; Mắt loà vẫn cứ loay hoay muốn nhìn mà!

Ai nấy cùng cười rộ. Bà già lấy cớ cô Năm vừa đi đường mệt nhọc, ép cô phải đi nghỉ. Bà mẹ quay sang cô Năm, bảo cùng nằm chung với chàng. Cô Năm xấu hổ mặt đỏ bừng, không chịu đi. Bà mẹ bảo:
- Ðây là nam mà cũng là gái còn có gì mà sợ?
Rồi giục hai người vào buồng, lại dặn riêng chàng:
- Trong thì làm rể ngoài cứ vờ làm con ta cũng được.
Chàng mừng rỡ, nắm cánh tay nàng dắt lên giường. Như dao sắc mới mài lần đầu đem thử, khoái trá thế nào cũng có thể biết rõ. Trong lúc đầu gối tay ấp, chàng hỏi nàng:
- Cô Tám là người như thế nào?
Ðáp:
- Là ma đấy. Tài sắc vô song nhưng số phận lại thường gập ghềnh trắc trở. Lấy phải cậu út nhà họ Lê , bị bệnh liệt dương, mười tám tuổi đầu vẫn chẳng nên hồn. Vì thế ẩn ức không vơi được, ôm hận mà chết.
Chàng thất kinh, ngờ cô Năm cũng là ma. Nàng nói:
- Nói thật với chàng, thiếp chẳng phải ma mà là hồ. Cô Tám sống lẻ loi không có đôi mà mẹ con thiếp lại không có nhà, nên mượn tạm căn nhà này ở nhờ.
Chàng rất ngạc nhiên. Nàng nói:
- Ðừng ngại. Tuy là ma là hồ, nhưng không gây hoạ cho nhau đâu.
Từ đấy, hàng ngày họ thường cùng nhau chuyện trò, yến ẩm. Dẫu biết cô Tám chẳng phải là người mà lòng chàng vẫn quyến luyến nhan sắc. Chỉ hận một nỗi muốn được hiến cho nàng mà không có dịp. Chàng vốn là người hoà nhã, lại giỏi yêu chiều pha trò, nên dần được cô Tám rất thương.

Một hôm, mẹ con họ Vương có việc đi vắng, lại đóng cửa nhốt chàng ở trong buồng. Chàng tức bực, loanh quanh trong nhà mãi rồi đứng cách lần cửa gọi cô Tám vào. Cô Tám bảo con hầu đem chìa khoá ra thử, mấy lượt thì cửa mở. Chàng ghé tai xin gặp riêng. Cô Tám bảo con hầu đi chỗ khác, chàng liền kéo nàng lên giường và nằm áp lại. Nàng đùa cợt, đưa tay sờ phía xuống dưới rốn mà bảo:
- Ðến là tiếc! Chỗ này lại khuyết mất rồi!
Nói chưa dứt lời thì tay đã chạm phải vật gì, to hơn một nắm, hoảng hốt kêu lên:
- Sao trước lờ mờ có thấy gì đâu mà nay đã lớn vổng lên nhanh thế?
Chàng cười đáp:
- Trước xấu hổ vì phải sắm vai khách nên nó rụt lại. Nay bị phỉ báng quá không chịu nổi, nên nó làm con ếch giận dữ đấy thôi!
Bèn cùng nhau giao hoan.

Xong xuôi nàng mới chợt nghĩ ra, tức tối nói:
- Thì ra nay mới biết đóng cửa là có duyên cớ. Hồi trước cả hai mẹ con lênh đênh không nơi nương náu, đã nhường nhà cho mà ở. Rồi con Năm theo học thêu thùa, cũng lại hết lòng bày vẽ, không giấu giếm tí gì. Thế mà nay lại sinh lòng đố kỵ, giấu diếm.
Chàng phải lựa lời khuyên giải, lại lấy tình thực mà nói, nhưng cô Tám vẫn hậm hực mãi. Chàng bảo:
- Giữ kín đấy nhé! Bà Vương dặn tôi nghiêm lắm.
Nói chưa dứt lời thì bà Vương đã đẩy cửa bước vào. Hai người vội vàng nhỏm dậy. Bà Vương trừng mắt hỏi:
- Ai mở cửa?
Cô Tám cười chặn lời, tự nhận mình mở cửa. Bà Vương càng giận, quát mắng mãi không thôi. Cô Tám vẫn cười mỉa, đáp:
- Mẹ này mới thật nực cười chứ! Ðã là trượng phu mà bất lực thì còn làm được gì nữa?
Cô Năm thấy mẹ mình và cô Tám chủ nhà ra sức khích bác lẫn nhau, trong lòng không yên, bèn đứng ra can ngăn, cả hai mới đổi giận làm lành. Cô Tám lời lẽ dẫu gay gắt, nhưng xem từ đấy đã muốn nhún mình coi cô Năm làm chị. Từ đó, cả nhà sống vui vẻ.
Nhân buổi thung dung, cô Tám nói chuyện cũ.
Cô hỏi:-Tại sao chàng bị thiến? Ai thiến chàng? Phải chăng chàng muốn làm thái giám trong cung?
Chàng bèn nói thật. Cả hai bà vợ cùng cười ngặt nghẽo. Cô Năm nói:
-Chàng bị người ta lừa dối rồi! Trong Hồng Sơn, phần nhiều Hồ ly giả đạo sĩ. Họ là anh em, chú bác của thiếp. Thần tiên và chân tu đều ở trên trời. Ở thế gian, ai xưng là thần thánh, hy sinh tình yêu, diệt dục để phục vụ quốc gia và đạo pháp, e rằng phần lớn là những con yêu râu xanh, là những kẻ đại gian, đại ác.



102. TÌNH RUỘT THỊT


Cậu Tám Lọ họ Võ quê Nha Mân lấy vợ ở Vĩnh Bình, gặp buổi loạn lạc, bị giặc Cao Miên sang bắt đi. Vợ cả chết đi, để lại hai con tên là Trung và Trực, được vợ lẽ là Lâm thị nuôi dưỡng . Nhà nghèo, luôn bị giặc cướp, lại mất mùa nên cả nhà sống rất chật vật.

Chú ruột của Tám Lọ là cậu Sáu Trọng, là một tay cờ bạc, thường thua cháy túi, phải bán bớt ruộng đất để sinh sống và để chơi bời. Một đêm về say sưa, cậu té xuống chân đồi, rồi nằm ngủ tại đó. Tỉnh dậy, Sáu Trọng thấy mình ở trong một căn nhà lạ. Cậu bèn lần đường quanh co đi vào. Trèo lên lầu rồi, vẫn chưa thấy có gì khác lạ. Băng qua lầu đi quá vào trong nữa, thì nghe có tiếng người nói chuyện rì rầm. Lén nhòm xem, thấy hai ngọn đèn lớn thắp song song, sáng trưng như ban ngày. Một ông già khăn áo nhà nho, ngồi quay mặt hướng Nam; đối diện là một bà già, cả hai đều khoảng ngoài sáu mươi tuổi. Ngoảnh về hướng Ðông là một chàng trai tuổi chừng ba mươi; bên phía tay mặt lại là một cô gái, tuổi mới cập kê. Ai nấy đang cùng ngồi vây quanh một bàn đầy rượu thịt, vui cười trò chuyện.
Cậu Sáu đột ngột bước vào, cười, nói to lên rằng:
- Có một người khách không mời mà đến đây!
Cả đám cùng kinh hoảng chạy trốn, riêng ông già bước ra, quát hỏi:
- Ai mà lại dám xông vào nhà riêng nhà người ta thế?
-Tôi là người say rượu được quý phủ cứu về đây mà!
Chủ nhân bèn bảo gia nhân lấy ghế thêm cho khách ngồi.
Bèn đưa tay vái, mời cậu vào. Rồi gọi người nhà thay mâm cỗ.
Cậu ngăn lại. Ông liền rót rượu mời khách. Cậu Sáu nói:
- Xim cảm ơn lão trượng đã cứu vớt tôi lại cho tôi uống rượu.
Ông hỏi thân thế Cậu Sáu, cậu bèn kể hết việc mình.
Ông lão nói:
-Lão phu họ Hồ, giòng dõi của Tổ mẫu Đắc Kỷ. Nếu muốn sống phong túc, đánh đâu thắng đó, vang danh anh hùng, thì chuyện đó không khó, để lão sẽ giúp cho, nếu ngươi chịu một điều kiện.
Cậu Sáu hỏi:-Xin lão trượng cho biết điều kiện.
-Điều kiện này là ngươi phải nộp cho ta một vật trong ngươi.

Sáu Trọng nghĩ rằng trong người cậu không có gì quý mà phải tiếc, Sáu Trọng đồng ý ngay . Hồ lão lấy trong túi ra một viên thuốc đỏ, bảo cậu Sáu há miệng ra rồi lão bỏ vào miệng. Nuốt xong viên thuốc, cậu Sáu thấy cả người nóng bừng và trí tuệ thêm sáng suốt. Cậu cả mừng. Bỗng chốc Sáu Trọng mê man, lão nhân vươn tay móc trái tim của Sáu Trọng rồi bỏ vào miệng nuốt ngay. Thủ đoạn trong nháy mắt mà ngực Sáu Trọng không chảy máu và không có dấu vết gì cả. Một lát sau, Cậu Sáu tỉnh lại thấy mình khoẻ khoắn hơn trước. Hồ lão bảo cậu ra về, hễ có chuyện gì thì lão sẽ cho người đến gọi.

Từ khi uống viên thuốc thần, cậu Sáu như tăng thêm khôn ngoan, mưu lược. Cậu thấy gia đình cháu dâu là nguồn lợi chính. Cậu định đem bán cháu dâu và hai cháu bé thì cũng được một món tiền. Cậu thường lân la khuyên nhủ Lâm thị lấy chồng, nhưng nàng thề giữ chí, không chịu nao núng.
Sáu Trọng ngầm mưu bán cháu cho Trần điền chủ để làm hầu thiếp. Hai bên ước định đâu đấy cả rồi, mà người ngoài vẫn chưa ai biết. Trong làng có cậu Tư Mạnh con quan tri phủ thấy Lâm thị đẹp, muốn nạp thiếp. Sợ Lâm thị lấy Tư Mạnh, Sáu Trọng cứ khuyên Lâm thị thủ tiết thờ chồng nuôi con. Trong làng có Bảy Răng Hô thù oán với cậu Tư Mạnh nên nói xấu Lâm thị. Tư Mạnh nghe được, cho Lâm thị là người không có đức, bèn thôi .

Tin đồn khắp nơi đến tai Lâm thị nên nàng uất hận miệng người độc ác, lâm bệnh liệt giường hơn một năm, nhan sắc trở nên xấu xí. Vì vậy mà nhà điền chủ họ Trần bỏ cuộc mà âm mưu của Sáu Trọng không thành.

Trung đã được mười sáu tuổi, Lâm thị bèn lo việc hôn nhân cho con chồng. Vợ Trung là con gái ông bá hộ họ Đinh trong vùng, lại là người thông minh, đảm đang, giỏi việc tề gia nội trợ nên nhà cửa ngày càng khá giả.
Sáu Trọng thấy thế thì đem lòng ghen ghét, nhưng ngoài mặt lại làm ra vẻ thân thiện. Nhiều lần, Sáu Trọng thường mời Trung đi uống rượu, hoặc biếu xén bánh trái cho nên Lâm thị và Trung tin tưởng vào Sáu Trọng. Sáu Trọng thừa dịp nói rằng:
- Mẫu thân cháu thường đau yếu , không trông nom được việc nhà; em cháu thì chỉ ăn chơi. Hai vợ chồng cháu khổ quá, chi bằng cháu nên sớm ở riêng ra, có thế thì nghèo về em mà giàu sẽ về anh.
Trung nghe theo, về nhà, bàn với vợ, bị vợ mắng cho .
Nhưng ngày một ngày hai, Sáu Trọng nói mãi, nói ra nói vào, dần dần thấm thía, Trung bị mê hoặc, bèn quyết đem việc ấy nói thẳng với mẹ .

Mẹ giận, mắng chửi thậm tệ. Trung càng tức tối, cho rằng đã thế thì không cần gì nữa, thóc tiền cũng chẳng qua như của người khác, cho nên mặc kệ, không đoái hoài gì đến.
Sáu Trọng thừa cơ, rủ Trung đi đánh bạc, thóc trong kho ngày càng vơi, vợ biết mà chưa giám nói . Mãi đến lúc hết thóc ăn, mẹ kinh hãi, hỏi vì sao, vợ mới nói thật. Mẹ giận lắm, nhưng cũng không biết làm sao, bèn cho ra ở riêng.

Ðược cái may, cô vợ của Trung là người hiền đức, mỗi ngày hai buổi, thổi cơm hộ mẹ, và qua lại hầu hạ chẳng khác gì trước.
Trung đã ở riêng, không còn kiêng nể gì nữa, tha hồ đắm mình vào cuộc đỏ đen. Chỉ trong vài tháng đã bán sạch ruộng nương để trả nợ chơi bời, mà mẹ và vợ vẫn chưa biết. Khi đã hết kiệt vốn liếng. Trung không còn nghĩ được kế gì hơn, bàn đem vợ gán cho người ta để vay tiền, nhưng khốn nỗi không ai chịu nhận.

Trong huyện có tên Ba Búa, nguyên là một tên trộm cừ khôi sổng lưới pháp luật, ngang ngược tàn bạo nhất vùng. Nó vốn biết Trung ham mê cờ bạc, không dám nuốt lời, bàn khảng khái cho vay .
Trung cầm tiền đi, được vài ngày đã hết nhẵn. Còn trù trừ rấp tâm bội ước, thì Ba Búa đã quắc mắt dòm ngang. Trung sợ hãi, lừa vợ đến nhà Ba Búa để Ba Búa chiếm đoạt .
Sáu Trọng nghe tin, mừng thầm, chạy sang ngay mách với phú hộ, họ Đinh, nghĩ chuyến này thì nhà cửa người cháu phải tan nát mới vừa lòng.

Phú hộ giận lắm, phát đơn đi kiện. Trung hoảng quá liền bỏ trốn. Vợ Trung đến nhà Ba Búa mới biết là bị chồng lừa bán, khóc nức nở, chỉ muốn chết ngay.
Lúc đầu Ba Búa còn dỗ ngon dỗ ngọt, nhưng nàng không nghe, Ba Búa ra oai nạt nộ thì nàng lại càng mắng chửi, Ba Búa giận quá, lấy roi đánh đập, nàng cũng không phục, rút trâm tự đâm vào cổ .
Người nhà vội đến giật ra thì đã vào đến thực quản, máu phụt rồi. Ba Búa vội vàng xé lụa quấn xung quanh cổ, chắc mẩm rằng cứ để thong thả rồi thế nào cũng khuất phục được.
Ngày hôm sau đã có trát đòi, Ba Búa vẫn dửng dưng, không lấy làm điều .

Ra huyện, quan khám thấy vết thương của vợ Trung rất nặng, truyền nọc Ba Búa ra để đánh đòn. Lính lệ dòm nhau, không dám ra tay. Quan vốn nghe tiếng Ba Búa ngang ngược đã lâu, thấy thế càng tin, bèn nổi giận, gọi người nhà ra đánh, Ba Búa chết tươi .
Nhà họ Đinh bèn khiêng con gái về .

Mãi đến khi họ Đinh đi kiện, Lâm thị mới biết con mình khốn nạn như thế nào, hét lên một tiếng, cơ hồ đứt hơi, rồi mê man ốm nặng. Bấy giờ Trực đã mười lăm tuổi, vò võ một mình không dựa vào đâu được.

Nguyên Tám Lọ còn có một người con gái đời vợ trước nữa tên là Tư Bưởi, gả chồng ở quận xa, tính khí cương cường, mỗi khi về thăm, cho quà cáp không vừa ý, thì ngỗ ngược với cha mẹ, nhiều khi giận dữ bỏ về, do đó Tám Lọ giận và ghét; lại vì đường xa cho nên có khi vài năm mà không có một lần thăm hỏi .

Khi biết Lâm thị bệnh nguy, Sáu Trọng bàn lập mưu gọi Tư Bưởi về để gây cuộc tranh giành của cải trong nhà người cháu. Vừa gặp một người lái buôn ở cùng làng với chồng Tư Bưởi , Sáu Trọng nhắn tin cho Tư Bưởi về, xui Tư Bưởi nhân cơ hội này thâu tóm nhà cửa.
Ðược vài ngày quả nhiên Tư Bưởi đến, đem theo một đứa con nhỏ . Vào cửa, thấy em nhỏ đang trông nom mẹ, cảnh tượng thật thảm đạm, nàng bất giác mủi lòng. Hỏi em Trung ở đâu, Trực kể hết đầu đuôi. Tư Bưởi nghe giận đến nghẹn cả cổ, nói rằng:
- Nhà không có người lớn, để cho người ta giày xéo đến thế! Ruộng nương nhà ta sao quân ăn cướp kia dám phỉnh gạt bán hết!

Nói xong bèn đi xuống bắp, nhen lửa nấu cháo bưng lên mời mẹ trước, rồi gọi em và con cùng ăn. Ăn xong nàng hằm hằm ra đi, đến huyện nộp đơn kiện bọn đánh bạc. Chúng sợ, góp tiền để đút lót Tư Bưởi... Nàng nhận tiền nhưng vẫn kiện. Huyện cho bắt tên Giáp, tên Ất v.v... đánh đòn quở trách, nhưng không xử việc điền sản.

Tư Bưởi vẫn căm, đem con đi thẳng lên quận. Quận thú là người rất ghét cờ bạc. Tư Bưởi hết sức bày tỏ mọi nỗi cô khổ, cùng tình trạng bị bọn gian lừa đảo, lời lẽ thống thiết, làm cho quận thú động lòng, truyền cho huyện phải truy thu ruộng vườn mà cấp lại cho chủ cũ, và phải trừng phạt tên Trung để làm gương cho những đứa hư hoang.


Sau khi trở về, viên quan huyện nhận được lệnh trên, ráo riết thi hành, nhờ đó điền sản thu về được hết. Bấy giờ, Tư Bưởi goá chồng đã lâu, bèn cho đứa con nhỏ trở về nhà, bảo phải theo anh học làm ăn, đừng trở ngại nữa . Tư Bưởi thì ở lại nhà mẹ, nuôi mẹ dạy em xắp đặt trong ngoài có ngăn nắp cả . Mẹ rất hài lòng, bệnh dần dần khỏi, việc nhà thảy đều giao cho Tư Bưởi.

Bọn cường hào trong làng có lấn áp điều gì thì nàng vác dao đến tận cửa, cứng cỏi đấu lý, là cho chúng phải chịu khuất. Ðược hơn một năm, ruộng vườn ngày càng tăng, thỉnh thoảng lại mua thuốc, bánh, thức ngon vật lạ cho mẹ kế họ Đinh.

Lại thấy Trực ngày càng trưởng thành, nàng bèn nhiều lần cậy mối lái tìm nơi cưới hỏi .
Sáu Trọng nói với mọi người rằng:
- Sản nghiệp nhà cháu ta đều ở trong tay Tư Bưởi cả, e rằng sau này không thu về được.
Mọi người đều tin y, vì vậy không ai muốn nói chuyện hôn nhân với Trực .

Bên làng cạnh có Tào ông, cha đời trước là đại điền chủ, từng làm quận trưởng Cai Lậy, Mỹ Tho.Nhà có một khu vườn nổi tiếng bậc nhất ở tỉnh . Trong vườn, các loại hoa quý trồng hai bên đường chạy thẳng đến nội thất. Người nào không biết, đi nhầm vào đấy, thì ông nổi giận, cho là kẻ trộm, bắt đi trói lại đánh đập gần chết mới thôi .

Nhân gặp tiết thanh minh, Trực từ trường học trở về, Sáu Trọng bèn rủ cháu đi chơi, lân la đến khu vường của Tào ông. Sáu Trọng đút tiền hậu trọng cho người giữ vườn để được vào xem cây cảnh và thăm các nơi đình tạ .
Bỗng đến một chỗ nước khe chảy xiết trên có cầu vẽ, một hàng lan can đỏ, dẫn đến một cái cổng sơn đen, trông vào thấy hoa rậm như nấm. Ðó là thư trai bên trong của Tào ông, Sáu Trọng phỉnh rằng:
- Cháu vào trước, ông phải đi giải một tý .
Trực tin là thật, lững thững đi qua cầu vào cửa, đến một toà lâu viện thì nghe tiếng con gái nô đùa, cười giỡn .Vừa mới dừng bước, thấy một con sen đi ra, dòm thấy chàng bèn quay gót trở vào ngay .
Trực bấy giờ mới thất kinh bỏ chạy. Giây lát sau, Tào ông bước ra, gọi người nhà lấy dây thừng đuổi bắt. Trực quẫn quá, nhảy luôn vào giữa khe nước. Tào ông liền đổi giận ra cười bảo người hầu xuống dắt Trực lên. Thấy mặt mũi và y phục của Trực đều có vẻ phong nhã, ông bảo đem áo và giày ra cho thay . Rồi lại dắt Trực vào một cái đình, gạn hỏi tên họ, dịu dàng nét mặt, êm đềm lời nói, có vẻ hết sức thân mật, xuề xòa . Một lát, Tào ông đi nhanh vào nhà trong, rồi trở ra ngay, cười cầm tay Trực dắt qua cầu, dần dần đến chỗ ban nãy. Trực không hiểu ra sao, dùng dằng không dám đi vào . Tào ông cố kéo vào, thì thấy trong giậu hoa thấp thoáng có bóng mỹ nhân đang dòm ngó . Khi cỗ bàn đã dọn ra, Tào ông đã an toạ, rồi mời Trực ngồi, Trực từ tạ, nói rằng:
- Cháu còn trẻ người non dạ không biết gì, đi nhầm vào chốn khuê môn, được ngài khoan hồng xá lỗi cho, như thế là ngoài mộng tưởng. Bây giờ chỉ mong được thả cho về sớm thì đội ơn vô cùng.
Tào ông không chịu, Trực phải ngồi xuống một lát lại đứng dậy, từ tạ là đã quá no say rồi . Tào ông kéo ngồi xuống, cười nói rằng:
- Lão có câu đối nôm. Nếu cậu đối xử được thì xin để cậu đi ngay .
Trực dạ dạ xin cho biết. Tào ông nói:
- Nhạc dựng thành khúc, lưu truyền vạn kiếp,
Trực ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đối rằng:
- Vàng chứa đầy kho, hưởng thụ muôn đời!
Tào ông cười to lên mà rằng:
- Đúng là khẩu khí Thạch Sùng!
Trực không hiểu ông nói gì . Nguyên Tào ông có một cô con gái tên là Bạch Huệ, xinh đẹp lại có học thức, đang kén chồng, đêm chiêm bao thấy có người bảo với mình sẽ lấy Thạch Sùng, hỏi ở đâu, thì nói rằng ngày mai sẽ rơi xuống nước. Sáng dậy, nàng nói chuyện lại với cha mẹ; mọi người đều lấy làm lạ . Câu đối trên là do Bạch Huệ nghĩ ra, Tào ông thấy khó mà đối lại. Việc Trực đến vừa rồi rất hợp với giấc mộng, cho nên Tào ông mời chàng vào nhà trong để phu nhân và đàn bà con gái trong nhà xem mặt. Tào ông nói rõ muốn nhận chàng làm rể. Trực luống cuống, khiêm nhường từ tạ, viện lẽ rằng mẹ đang còn ốm, phải về thăm mẹ và xin phép mẹ.

Tào ông bảo hãy cứ về nhà bàn tính, rồi sai người giữ ngựa thắng ngựa mang quần áo ướt và đưa Trực về. Về đến nhà, Trực kể chuyện lại với mẹ, bà mẹ sợ hãi cho là chuyện bất thường; từ đó mới biết Sáu Trọng chú chồng, lại là kẻ hiểm độc, đã bao phen mưu hại nhà mình. Ông chú đã âm mưu bán đất đai, nhà cửa và bán cháu, phá hoại gia đình các cháu chỉ vì tham vọng vinh hoa phú quý. May mà số gia đình họ Vũ chưa mất nên qua cơn bão tố, gia đình vẫn tồn tại. Bà mẹ khuyên các con nên luôn luôn đề cao cảnh giác, đừng tin người, tin những kẻ lưu manh giả đò nhân nghĩa.

Bên gia đình Tào ông vẫn luôn sang thúc giục việc hôn nhân. Bà mẹ lưỡng lự thì cô Tư Bưởi đứng ra nhận lời cho nên hôn sự của Trực thành tựu. Trực sang làm rể nhà Tào ông. Mấy năm sau, Trung được tha về, và được nhà vợ thứ lỗi. Và ông Tám Lọ cũng trốn trại tù bên Miên trở về đoàn tụ. Cả nhà vui vẻ. Còn Sáu Trọng một hôm uống rựợu say, rớt xuống cầu chết mà không ai biết. Ba ngày sau xác nổi lên tấp xuống Ba Xuyên, dân chúng bèn đem chôn bên bờ sông.



103. CẢI TẠO


Bảy Cường 16 tuổi, là một chàng trai hiền lành, nhà nghèo, phải ở đợ cho điền chủ Lê Văn Thọ ở Sóc Trăng. Chàng chăm chỉ làm việc cày, cấy, gặt hái cho điền chủ. Nhiều khi chàng phải ra đồng chăn vịt cho chủ, đêm ngày nằm một mình trong chòi tranh giữa đồng. Nếu cậu chăn vịt khu gần nhà, thì mỗi buổi, đầy tớ trong nhà mang cơm cho cậu ăn. Nếu chăn vịt nơi xa thì cậu phải tự túc, mang gạo, mắm, cá khô theo để nấu nướng. Thường thường , Bảy Cường bắt tôm cá, cua ăn dư dã. Đôi khi cậu bắt vịt nướng hay luộc nhậu chơi. Cuộc đời như thế thì cũng là ung dung qua ngày tháng.

Ông điền chủ có cô gái tên là Năm Huê , thân hình phốp pháp, mặt mũi xấu xí cho nên trai làng ít theo đuổi. Một buổi chiều nọ, cô mang cơm cho Bảy, rồi nán ná ở lại chuyện trò với Bảy. Cô ngồi cạnh Bảy, ôm Bảy rồi cả hai cùng nằm xuống bên nhau trong cảnh thôn quê yên tĩnh.

Thỉnh thoảng cô ra đồng một mình dù là đêm khuya khoắt. It lâu sau, bụng cô to lên, điền chủ bắt cô trói đánh và tra khảo. Cô phải khai thật. Ông điền chủ muốn đuổi Bảy Cường, đưa Bảy Cường lên quan trị tội, nhưng nghĩ lại làm như thế thì con mình không chồng , cháu mình không cha, nên ông nén giận, kêu Bảy Cường đến, rồi gả con gái cho Bảy Cường. Từ đó Bảy Cường trở thành rể điền chủ, cơm no, áo ấm, ra vào xênh xang.

Sau khi điền chủ mất, không con trai, Bảy Cường trở thành một điền chủ. Cô Năm Huê muốn cho chồng danh giá nên mua chức huyện hàm cho chồng. Bảy Cuờng từ đó trở thành quan huyện hàm.
Quan huyện bây giờ giao du rộng rãi với giới thượng lưu. Quan thường đi cao lâu, tửu lầu, thỉnh thoảng cũng đi xem hát hội, hát chèo, cải lương và hát ả đào ở trong tỉnh hoặc ở Thành Đô. Giao tiếp với nhiều người, nhất là gặp nhiều giai nhân bóng sắc, ông càng chán vợ ông. Bà huyện hàm càng già càng mập, càng xấu, trong khi quan huyện càng già, càng giỏi, càng hay.

Ông thường lui tới đền Bảo Quốc, quen thân với Bách Pháp đạo trưởng . Ông này được dân chúng gọi là Đạo Chuối vì trong đền trồng nhiều chuối và ông nghe nói quanh năm chỉ ăn chuối mà hành đạo. Thiên hạ đồn ông pháp thuật nhiệm màu, đạo hạnh cao thâm, học thức uyên bác. Quan huyện tới thăm, xưng mình là cử nhân, làm quan lâu năm, nay xin hồi hưu vì chán nản quan trường hiểm ác. Đạo trưởng thì khoe mình đã học nhiều phép màu của tiên trên núi Tà Lơn. Trong lúc hai bên rượu thịt say sưa, quan hỏi nhỏ đạo trưởng:
-Thưa đạo trưởng, đạo trưởng có phép thần thông không?
Đạo trưởng quả quyết:
-Tất nhiên là có ít nhiều. Ta nay lên trời thiên đình, xuống địa phủ như cơm bữa. Ngọc hoàng thượng đế, Diêm vương đều là chỗ quen thân của ta. Ông muốn ta giúp cho ông việc gì?
Quan bèn bày tỏ niềm riêng, than thở vợ già, xấu xí quá, làm sao cho bà vợ trở thành đẹp.
Đạo trưởng bảo từ từ ta sẽ tính. Ba tháng sau, vào lúc quá nửa đêm, quan huyện đang ngủ, bỗng nghe có tiếng gõ cỗng, vội vùng dậy, sai gia nhân chạy ra mở. Nhận ra là đạo trưởng, quan bèn mời vào nhà. Thắp đèn lên thì chợt thấy đạo trưởng xách theo một bọc vải, máu đào còn nhỏ giọt, Quan kinh hãi, hỏi:"Bọc gì thế?" . Đạo trưởng đáp:-:"Ðây là đầu mỹ nhân! Hôm nọ ông có dặn lo sửa sắc đẹp cho vợ ông, ta đã hứa nên nay đến để thi hành đại pháp thẩm mỹ. Ông dẫn ta vào ngay phòng vợ ông kẻo trễ. Quan kinh hoàng rung lập cập nhưng cũng gắng gượng dẫn đạo sĩ vào phòng vợ ông. Đạo sĩ xách bọc vải theo sau. Đạo sĩ bước tới, thấy bà phủ đang ngủ. Quan nói:-Đây! Nhà tôi đây!
Đạo sĩ đưa bọc vải cho quan cầm, rồi rút từ lưng một lưỡi dao sáng loáng, ấn vào cổ bà huyện, máu vọt ra thành vòi, và đầu bà huyện rơi xuống gối. Đạo sĩ bèn mở bọc, lấy đầu mỹ nhân ráp lên cổ bà huyện, ngắm nghía cho ngay ngắn, lấy tay ép đầu dính vào mình, rồi lấy gối phủ quanh. Sau đó, trao đầu bà huyện cho quan bảo cất đi vào hộp gỗ quý để có thể dùng về sau. Nói xong, đạo sĩ cáo biệt.

Sáng ra, bà huyện tỉnh giấc. Thấy cổ ngưa ngứa, bà đưa tay xoa thì thấy một vật nhỏ tròn tròn. Giật ra coi, thấy là cục máu, bà huyện kinh hãi quá, vội gọi con ở lấy nước rửa mặt. Con ở bưng chậu nước lên thì thấy đầu nữ chủ rối bù, tóc xõa kín mặt, đệm giường thấm máu, nên rất kinh hãi, há miệng đứng nhìn. Rửa mặt xong, bà huyện thấy chậu nước đỏ lòm, còn con ở thì thấy nữ chủ là một người khác lạ. Cả chủ lẫn tớ cùng cực kỳ kinh hãi. Bà huyện sai con ở đi lấy gương soi. Thấy mình chẳng phải là mình, bà hoảng hốt, lên tiếng gọi chồng. Quan huyện chạy vào. bà huyện hỏi:-"Sao diện mạo thiếp lại khác lạ thế?"
Quan huyện đáp: -Ta đã nhờ Bách Pháp đạo sĩ thay khuôn mặt cho bà để bà trở thành mỹ nhân trong thiên hạ!
Quan huyện nhìn kỹ bà huyện thấy quả là một giai nhân tuyệt sắc, hoa nhường nguyệt thẹn. Ông hỏi:
-Tôi đã tốn công sửa sắc đẹp cho bà, bà có vui không?
Bà huyện nổi giận đùng đùng, chỉ mặt quan mà mắng chửi:
-Tôi đã đưa ông từ thằng đầy tớ lên làm điền chủ rồi huyện hàm, thế mà ông vong ân bội nghĩa, luôn coi tôi là người xấu xí, đáng ghét. Ông nỡ phế bỏ tôi để đưa con đĩ rạc nào về làm vợ ông? Ông không coi tôi ra gì. Ông là thằng háo sắc, đổi trắng thay đen. Nếu hồi đó ông chê tôi xấu thì ông đừng lấy tôi. Chính ông cưỡng hiếp tôi, làm tôi mang bầu, bây giờ ông lại ngang nhiên làm điều phi pháp. Mặt mũi tôi, thân thể tôi là của tôi, ông không có quyền quyết định. Ông phạm quyền tự do của tôi.
Từ đó, bà không chịu nằm chung với ông nữa.

Trước đó, tại Cần Thơ, nhân ngày nguyên tiêu, con gái quan tri phủ Phan Văn Châu, nhan sắc xinh đẹp tên là Liên Hoa cùng thị tỳ vào chùa Linh Thứu lạy Phật. Chẳng may cho nàng bị một tên cướp nhìn thấy, sinh tâm chiếm đoạt, Y bèn theo về tận nhà. Đêm đó, tên cướp leo tường vào nhà toan cưỡng chiếm Liên Hoa. Thị tỳ lêu la, y rút dao đâm chết thị tỳ. Liên Hoa cũng có chút võ nghệ, vừa la cầu cứu, vừa ra sức chống cự. Tên cướp tức giận, đâm chết Liên Hoa mà thoát thân. Phu nhân nghe tiếng huyên náo ở phòng con, vội sai hai tì nữ chạy tới coi. Vào phòng, thấy hai xác chết, chúng kinh hãi quá, tri hô ầm ĩ. Cả nhà nhốn nháo, cùng chạy lên coi rồi cùng gào khóc thất thanh. Tới nửa đêm, quan phủ sai gia nhân đem xác tì nữ xuống quàn ở nhà ngang, rồi đem xác Liên Hoa lên quàn ở phòng khách, cắt hai tì nữ ngồi canh. Lát sau, hai tì nữ mệt quá, nằm lăn ra ngủ.
Sáng sau, quan phủ sai gia nhân khâm liệm xác con thì thấy xác đã bị mất đầu. Quan giận lắm, cho rằng hai tì nữ đã chểnh mảng, để sói hay yêu ma tha mất đầu con, nên ra lệnh đánh đòn.
Quan phủ viết tờ trình, giao công sai nộp lên quan tỉnh. Quan tỉnh giận lắm, ra lệnh cho công sai phải ráo riết lùng bắt tên cướp. Ba tháng sau, bọn thuộc hạ vẫn chưa tìm ra manh mối.

Một hôm, có kẻ phong thanh nghe được chuyện bà huyện đổi đầu. Quan bèn sai viên lại già phụ trách các án mạng cùng công sai đi điều tra. Khi đến nhà quan huyện, viên lại già được nghe tường tận việc đổi đầu, bèn thông báo cho quan phủ . Quan bèn sai một thị tỳ hầu cận Liên Hoa đến nhà quan huyện hàm để xem xét sự việc ra sao. Khi thị tỳ này đến thì thấy bà huyện quả là mang đầu cô chủ Liên Hoa của mình. Cuối cùng, quan phủ lại nghi rằng ông huyện hàm đã dùng yêu thuật sát hại con mình.
Viên lại già về trình quan tỉnh. Quan tỉnh sai lính bắt tất cả về tỉnh, đồng thời mời quan phủ đến nhận dạng. Kết quả vụ án, quan huyện hàm bị tù mười năm về tội mưu sát và tội tham sắc phụ nghỉa tao khang.

Vài năm sau, đất miền Nam rối loạn. Một mặt giặc Thổ xâm phạm biên cương, một mặt quân Hồ khởi loạn thành công, bắt loài người giam lại. Quân Hồ thi hành chính sách "giải phóng loài vật" và trừng trị loài người. Tất cả quan binh đều bị bắt giam trong rừng sâu đốn củi, khai hoang cho nhà Hồ. Công nhân thì phải xây nhà , đóng giường, ghế, xe cộ cho loài vật. Nông dân thì có nhiệm vụ sản xuất lúa gạo. Cực nhất là nông dân phải cày thay trâu, kéo xe thay ngựa. Những bọn người lưỡi dài môi nhọn thì hoan hô lao động là thành Phật, thành tiên. Nhân dân kể cả tù nhân không được giết hại loài vật và bắt loài vật làm nô lệ như trước đây. Trước đây loài vật khổ một phần thì nay loài người phải khổ trăm phần. Những đồ tể, thợ săn là kẻ thù số một của loài Cáo và của muôn loài vật khác nên bị đem ra xử tử. Những kẻ khôn ngoan thì bò bốn chân và sủa gâu gâu như chó, kêu meo meo như mèo hoặc kêu be he như dê và được vua quan Hồ khen là tiến bộ. Một số trí thức loài người gồm thượng tọa, đại đức, linh mục, mục sư, luật sư, tiến sĩ nghiêm túc thỉ lập Viện Ngôn ngữ nghiên cứu Ngôn ngữ loài Hồ, loài Sói, loài Sư Tử, Loài Chó, loài Dê.. .. Một số trí thức khác lập ra hội "Trí thức Yêu Hồ", hay "Hội Thân Hữu Hồ Việt" nhưng hội này dựng bảng được vài ngày thì vua Hồ bắt cả bọn giam hết và ngài phán:"Loài người là kẻ thù số một của loài Hồ"! Không có "xóa bỏ hận thù" hay "Hòa Hợp Hòa Giải!" gì hết. Loài Hồ là anh hùng đệ nhất, trí tuệ đệ nhất, thống trị muôn loài làm sao mà "thân hữu" vời loài người tàn ác và ngu si!

Ông đạo sĩ đền Bảo Quốc vốn là một Cáo già, giả làm đạo sĩ nằm vùng để lừa dối loài người. Nay loài Hồ thành công, ông ra mặt hoạt động. Ông được mời vào Cơ Mật Viện gồm những đại thần thân cận của vua.
Vua Hồ họp Viện Cơ mật, ngài nói suốt từ thìn đến ngọ, nội dung là nay loài vật đã đánh thắng loài người, từ nay vạn vật được độc lập, tự do, không ai còn dám xâm phạm biên cương vạn thú tức là các loài chim, muông, cá , bò sát. . .Muốn giữ vững độc lập, tự do, ta phải thẳng tay trừng trị loài người, phải phân chia loài người thành ba loại:loại nguy hiểm, loại tình nghi và loại dân thường. Bọn nguy hiểm là bọn vua quan, trí thức, tôn giáo, đồ tể và binh lính đã cầm vũ khí giết hại loài vật. Loại này phải giết sạch không tha hoặc bỏ tù hàng loạt vô thời hạn. Hạng thứ hai là hạng tình nghi. Ta phải cải tạo hạng này và dân chúng, nhưng chủ yếu là loại tình nghi. Loại này là những kẻ lưng chứng, đã theo ta hoặc giả vờ theo ta. Ta phải cải tạo chúng nghĩa là bắt chúng cam tâm làm ngựa trâu cho ta như trước đây trâu ngựa đã cúi đầu làm nô lệ cho chúng!
Vua nói xong, ngồi xuống, uống một hơi nửa chai Bồ Đào mỹ tửu. Bách quan vỗ tay rần rần trong tiếng tung hô vạn tuế. Quan tể tướng đứng lên yêu cầu các đại thần tâu bày ý kiến.

Các đại thần im lặng. Quan tể tướng bèn chỉ định Đạo sĩ Bách Pháp phát biểu. Bất đắc dĩ, đạo sĩ phải lên tiếng. Đạo sĩ nói:
-Muôn tâu bệ hạ, việc cải tạo bề ngoài rất dễ, có thể thay đầu người xấu thành đầu người đẹp. Nhưng cũng không phải dễ vì làm sao có hàng nghìn người đẹp để thay cho vạn người xấu? Còn về cải tạo tâm hồn, thay dổi tư duy lại càng khó khăn hơn. Cải tạo tinh thần là một ảo vọng, xin bệ hạ suy nghĩ lại!

Nghe quan đạo sĩ nói xong thì vua rất tức giận. Các quan thấy mặt vua có nét thịnh nộ, bèn xúm nhau mắng nhiếc đạo sĩ Bách Pháp. Quan Thượng thư bộ Lại quỳ xuống trình tâu:
-Muôn tâu bệ hạ, quan đạo sĩ đã nhiễm "văn hóa đồi truỵ" của loài người nên mất lập trường, xin bệ hạ trị tội!
Quan Thượng thư bộ Học tâu:
-Muôn tâu bệ hạ, vật chất chỉ đạo tinh thần, khống chế tinh thần, làm sao đạo sĩ lại ngông cuồng dám bảo không gì kiềm chế tinh thần. Đạo sĩ đã lộ tư tưởng phản động, tay sai của loài người ác ôn, phản lại nòi giống Tiên Hồ của chúng ta. Yêu cầu bệ hạ lập tức xử tử!
Các quan đồng thanh hô to: "Xử tử! Xử tử! Xử tử! Đả đảo phản quốc! Đả đảo gián điệp bán nước!"
Vua nghe theo bèn hạ chỉ treo cổ đạo trưởng, sau ba ngày thì thả xuống cho chó ăn!

Trước tình hình căng thẳng như vậy, các quan tranh nhau trổ tài. Quan đạo sĩ núi Bà Đen Tây Ninh quỳ xuống trình tâu:
-Muôn tâu bệ hạ, thần đề nghị dùng bùa chú cải tạo tinh thần loài người.
Vua hỏi các quan có ý kiến gì khác không, tất cả họ đều tán thành chủ trương của đạo sĩ núi Bà Đen.
Lập tức vua ra lệnh xây đại điện cho đạo sĩ vẽ bùa, làm phép. Các quan trong triều không ưa đạo sĩ này, nhưng tình thế bắt buộc phải có người đứng ra chống mũi chịu sào. Ông đạo sĩ đã nhảy vào lửa cứu các ông nên các ông phải gượng mà vỗ tay.

Sau vài ngày, một trăm người được đưa trình diễn. Trước mặt vua, sau khi được dán bùa vào lưng, họ làm ra vẻ say sưa ngây ngất, nửa tỉnh nửa mê, miệng hoan hô" Thánh thượng vạn tuế", Hồ đại quốc vạn tuế", "Cương quyết tiêu diệt loài người gian ác"!

Các quan bèn tâu trình là kết quả năm trăm phần trăm! Vua bèn thưởng đạo sĩ và bách quan.

Nhưng sau một năm, khắp nơi loài người vùng dậy, vua sai bộ An Ninh điều tra. Các quan bộ này không thể giấu diếm bởi vì bàn tay không thể che mặt trời. Bản phúc trình không dám kết tội đạo sĩ bất tài, bất lực, làm láo báo cáo hay, nhưng cho rằng bọn phản động đã có pháp thuật cao hơn đạo sĩ!

Vua bèn họp Viện Cơ Mật, mắng chửi các quan như tát nước vào mặt rồi bắt các quan làm bản kiểm điểm. Vua hằn học hỏi:
-Các khanh ăn bổng lộc triều đình mà chỉ cướp của, hại dân và lo du hí. Nay hãy tìm phương sách cứu vãn tình thế.
Đạo sĩ đảo Phú Quốc quỳ xuống tung hô vạn tuế rồi nói:
-Hạ thần có kế sách là dùng tiên dược làm cho chúng ngoan ngoản tuân theo lệnh ta, cam tâm tôn chúng ta làm chủ chúng nó.

Vua bèn chấp thuận, đuổi đạo sĩ núi Bà Đen ra ngoài, lấy đạo viện làm Y Dược viên.
Sau mấy tháng, đạo sĩ cùng đồng bọn chế ra hàng vạn viên thuốc gọi là " Khoái lạc hoàn." Kết quả thử nghiệm, một số đông các viên chức loài người đều chạy theo tiền bạc, gái đẹp mà quên hận vong quốc, cam tâm làm nô lệ cho bách thú. Tuy nhiên, "Khoái lạc hoàn" cũng có phản tác dụng. Các đạo sĩ trẻ và các bác sĩ, dược sĩ và công nhân viên đã lấy thuốc mà dùng thử và bán ra ngoài. Kết quả, khắp nơi, bọn tiểu hồ ly say sưa cảm giác đi gió về mây mà bỏ học hành, bỏ làm việc. Nhiều trẻ Hồ Ly bỏ nhà đi bụi đời, sống chung với nhau như bầy thú hoang. Lính tráng thì bỏ ngũ vì làm việc quá cực nhọc mà lương không đủ sống. Khắp nơi truyền đơn kêu gọi vùng lên!

Sau mấy năm cải tổ, triều đình đã chấn chỉnh quân đội. Triều đình ngoài Thuận Hóa đã cử Bình Nam tướng quân dẹp loạn. Quân Hồ tan tác, triều đình đã lập lại trật tự. Còn bà huyện, già mà vẫn xinh tươi nhưng tính tình trở nên bình hòa hơn trước. Quan huyện hàm sau khi họ Hồ lên, vẫn bị giam vì thuộc diện quan lại nên bị giam giữ vô thời hạn theo lệnh Hồ triều. Nay triều đình thu được thành trì, đất đai, ông huyện hàm được thả về, hai ông bà sống vui vẻ cho đến mãn đời.


104. VÌ CHÍNH NGHĨA

Nguyễn Xuân Tường 14 tuổi, người Lâm Xuân vốn dòng thi thư, bố làm quan Đốc học ở Thanh Hóa, cha mẹ đã mất khi cậu lên mười. Nhà có anh là Nguyễn Xuân Cát lấy vợ sinh ba con sau nạp thiếp họ Hoàng người La Hà, 13 tuổi vốn là một đào hát. Xuân Tường trọng lễ nghĩa. Cậu ấm không bao giờ dám nói thô lỗ với ai, luôn luôn thưa dạ với anh, không bao giờ dám nhìn thẳng vào mặt chị dâu, không la mắng các cháu.

Mặc dầu chị dâu nhỏ tuổi hơn mình, Xuân Tường không dám khinh nhờn. Một hôm, chị dâu leo cây hái quả trong vườn, trượt chân ngã xuống, cậu ấm không dám đỡ chị đứng dậy vì sợ xâm phạm tiết hạnh của chị, chỉ đứng ngó và kêu các thị tì ầm ĩ. Khi đi ăn giỗ nhà người, không bao giờ chàng dám uống rượu. Ra đường gái hò hát chòng ghẹo, cậu đỏ mặt, cúi đầu mà đi.

Cậu ấm học rất giỏi nhưng thi hỏng hoài. Mùa thu năm tí, triều đình mở khoa thi. Vào đến trường nhì thì hỏng, phải mang lều chõng ra về. Cậu vào tửu quán, uống rượu rất say, ngủ hai, ba ngày mới tỉnh dậy. Từ đó, cậu uống rượu, đánh cờ và mê thú ả đào hơn những tài tử trong thiên hạ.

Một hôm, cậu ngồi uống rượu với các bạn thì người nhà đến báo rằng ông Chánh tổng đã bắt thằng ở và trâu nhà cậu giải lên quan huyện vì tội để trâu ăn lúa ruộng của ông.
Cậu tức giận nói:
- Thằng chánh tổng kia vốn là nô bộc nhà ta sao dám hỗn hào như thế? Tổ tiên nó còn phải hầu hạ tổ phụ ta, thế mà nay mới gặp thời đắc chí đã không coi ai ra gì nữa.
Giận tràn lên cổ, cậu phẫn uất vùng dậy, muốn chạy ngay đi tìm chánh tổng mà chửi cho hả giận.

Các bạn trong cuộc rượu khuyên can:
- Thời buổi quá nửa quan lại cũng là lũ trộm cướp ngày, tức giận chỉ tổn hại mà thôi!
Cậu ấm không nghe. Các bạn năn nỉ hai ba lần, đến chảy nước mắt, chàng mới chịu, nhưng uất ức vẫn không nguôi, trằn trọc suốt đêm. Sáng ra bảo gia nhân rằng:
- Thằng chánh tổng cậy thế khinh ta quá, ta thù hận nó, nhưng hẵng để đấy đã. Còn quan huyện là quan của triều đình, nếu có chuyện thưa kiện thì phải hỏi cả hai bên, chứ sao lại như con chó “suỵt” đâu chạy đấy được? Ta cũng phải làm đơn kiện mới được!

Đám gia nhân hết thảy đều vun vào, chàng bèn viết tờ cáo trạng trình lên quan huyện. Quan huyện xé vứt đi. Chàng tức giận, dám vô lễ với quan, quan huyện bắt chàng tống ngục. Lúc bấy giờ quan vừa bắt được ba tên cướp núi, quan huyện cho tiền dặn chúng vu cho cậu là đồng đảng, rồi vịn vào lời khai đó mà lột bỏ mũ áo nhà nho, dùng roi tra khảo Cậu uất ức đến trào máu. Người anh vào thăm em mà ứa lệ! Sau người anh vào kinh vận động mới cứu được em.

Cậu ấm từ khi về nhà thì trở nên ít nói, suốt ngày đóng cửa, không giao du với ai.
Lúc bấy giờ cậu ấm đã 16, anh của cậu bèn lo việc hôn nhân cho cậu, cưới con gái quan giáo thụ họ Trần người Văn Phú làm vợ. Hai năm sau, cậu vẫn chưa sinh con, anh bèn lo việc nạp thiếp cho em, lấy con gái viên tú tài họ Lê người Thổ Ngọa. Người thiếp này nhân ngày xuân về thăm cha mẹ ruột ở Thổ Ngọa rồi đi chợ phiên Ba Đồn. Không may cho nàng, khi ra đò về thì bị con quan Đốc binh ở Ba Đồn sai thủ hạ bắt nàng, nàng bèn nhảy sông tự trầm. Cậu ấm bèn lên huyện Quảng Trạch kiện việc này. Quan huyện này là quan huyện mới, nhưng cũng theo đường lối quan huyện cũ là ăn hối lộ, bênh vực cho con trai Đốc binh, cho rằng cậu ấm thiếu bằng chứng cụ thể mà hủy vụ án.

Cậu ấm uất ức lâm bệnh mấy tháng trời. Người cậu ở Lệ Sơn thương cháu đau khổ, muốn cháu quên sầu muộn nên ngõ ý nhờ cậu lên Lệ Sơn dạy trẻ con trong nhà. Cậu bèn nhận lời.

Gặp đêm thu, trăng sáng lưng trời, chàng bồi hồi dưới bóng hoa, thả hồn tưởng nghĩ xa xôi. Bỗng một cô gái trèo qua tường vào, cười nói:
- Cậu ấm nghĩ gì lung thế?
Chàng đến gần nhìn thì mặt đẹp như tiên, mừng đến thảng thốt, bèn dìu nàng vào, cùng nhau ân ái thỏa sức. Nàng tự xưng họ Hồ, tên là cô Ba Thanh Hoa. Hỏi nhà cửa ở đâu, chỉ cười không nói. Chàng cũng thôi không cật vấn nữa, chỉ hẹn gắn bó lâu dài mà thôi. Từ đó không đêm nào nằm suông.
Một đêm ngồi kề vai cọ vế dưới ánh đèn, chàng yêu quá, ôm chầm lấy nàng và hôn chùn chụt. Nàng cười nói:
- Sao chàng cuồng nhiệt thế?
Chàng đáp:
- Nàng đẹp như tiên, lôi cuốn hồn ta làm sao mà không mê cho được!
Cô Ba nói:
- Thiếp thô lậu thế này mà chàng còn thích thú, nếu chàng gặp con Tư Thanh Nga nhà thiếp thì không biết chàng còn say mê đến đâu.
Chàng nghe vậy bèn van nài xin gặp cô Tư Thanh Nga. Đêm sau quả nhiên cô gái dắt cô Tư cùng đến. Tuổi mới cập kê, xinh đẹp tuyệt trần. Chàng mừng cuống cuồng, vội dẫn vào ngồi.

Trong khi cô Ba cùng chàng chuyện trò cười nói thì cô Tư chỉ ngồi cúi đầu, tay mân mê tà áo, thỉnh thoảng liếc mắt nhìn chàng. Lát sau cô Ba đứng dậy cáo biệt, em gái cũng định ra theo, nhưng chàng kéo lại, không chịu buông. Cô Ba bảo:
- Anh chàng si mê em lắm. Em hãy nán lại một lát.
Thấy cô Ba đi rồi , hai người bèn ôm nhau mà ân ái thật thỏa thích.
Xong cuộc vui, cô Tư thố lộ tâm tình. Cô nói cô là hồ, có phép tiên. Từ đó, cô Tư dạy cho cậu ấm những cách phóng đao, nhảy qua tường, phép sái đậu thành binh, và phép ẩn thân.

Lúc bấy giờ khắp nơi mất mùa lại bão lụt. Ban đêm dân kéo nhau đi ăn trộm. Ban đầu chúng đào khoai, bẻ chuối, hái ổi, hái mận các nhà lân cận, sau sang làng bên . Ngoài vườn không còn cây trái, khoai sắn thì chúng vào nhà lấy thóc lúa, quần áo, nồi niêu. Tiến lên bước nữa, họ xông vào phủ huyện cướp kho gạo, kho bạc của triều đình. Trong bọn họ có Trần Văn La là giỏi võ và can đảm nhất nên được bọn chúng tôn làm chủ tướng.
Lực lượng của Trần Văn La hùng mạnh, lập căn cứ ở vùng nguồn Nan, Quy Đạt, Minh Cầm, uy thanh lan đến Thanh Nghệ Tĩnh. Trần Văn La xưng là Thái Bình thiên vương, mời cậu ấm Nguyễn Xuân Tường làm quân sư. Cậu ấm nghĩ mình là nho học uyên thâm, làu thông Tam lược lục thao, giỏi nhâm độn và phép tiên, đủ sức làm quân sư cho nên cậu nhận lời. Quân sư bây giờ cảm thấy đây là lúc cho mình thi thố tài năng, thực hiện công bằng xã hội, và đạo nhân nghĩa. Cậu làm đôi câu đối treo ở bên án thư để tỏ chí mình :
Theo Nghiêu Thuấn, dựng hoàng kim thời đại,
Học Khổng Khâu, xây thế giới đại đồng!

Theo đường lối "nhổ cỏ tận gốc" và căm thù bọn nhà giàu bóc lột và bọn phong kiến tàn ác, quân sư bèn ra lệnh diệt trừ chúng một cách quyết liệt, không khoan nhượng. Quan ra lệnh bắt quan lại, hương lý chánh tổng, cùng bọn binh triều ra chém hết, không cần tra khảo. Quân sư ra lệnh tịch thu vàng bạc, ruộng nương, nhà cửa của bọn nhà giàu, ai chống đối là giết. Nghĩa binh xông vào là đốt phá sạch, đào xới không chừa thước rau, tấc đất, giết sạch tất cả già trẻ trai gái, không cần bắt tù binh cho vướng bận bước hành quân. Vì chính sách cảm tử và quyết liệt này, quan quân nghe "nghĩa quân" tới là tháo chạy cho nên "nghĩa quân" đánh đâu thắng đó.

Một hôm chị em họ Hồ về quê, quân sư một mình, bỗng nhiên, một thiếu phụ áo vàng từ ngoài bước vào , dáng điệu thanh tân. Nàng đến gần bảo chàng:
- Chàng việc gì phải quyến luyến chị em nhà họ Hồ như thế? Đêm nay, chàng đừng buồn, thiếp và chàng chúng ta cùng vui vẻ. Nàng đặt lên bàn mấy gói nem chua, một con gà luộc chín và một bình rượu. Nàng xé thịt gà bày ra dĩa, nàng cũng bóc mấy miếng nem, rồi rót rượu ra mời chàng. Chàng chưa kịp nâng ly thì nàng đã dốc cạn chén. Chàng thấy nàng thật tình bèn cùng nàng uống rưọu. Sau đó cả hai quấn quít lấy nhau suốt đêm. Trời sáng, cả hai mới dậy. Khi người đàn bà đang ngồi ở đầu giường xỏ chân vào giày, bỗng chị em họ Hồ về.
Cả hai chị em đồng thanh mắng chửi người đàn bà áo vàng:
-Quỷ ma xứ nào mà dám buông tuồng như thế?
Nói xong, cả hai xông vào người đàn bà áo vàng. Cả ba giao chiến ngất trời. Quân sư phải vào can thiệp. Nàng áo vàng bị cào một bên mặt, quân sư bèn đỡ nàng lên và trách mắng hai chị em họ Hồ. Hai chị em họ Hồ tức giận nói:
-Chàng tham dâm, tàn bạo, phụ nghĩa quên tình, ngày sau phải gặp quả báo!
Sau trận đấu long trời lở đất này, cả ba phụ nữ ma và hồ ly đều bỏ quân sư mà đi!

Các tướng quân của triều đều thất trận thảm thương. Triều đình bèn cử quan Tổng Đốc Sơn Hưng Tuyên là Vương Duy Nghĩa làm Tổng Đốc Thanh Nghệ Tĩnh để cử binh diệt trừ loạn quân. Quan bèn ra sức thao luyện quân sĩ, chọn lấy ba ngàn tinh binh xung trận. Quan bèn bí mật tuyển lựa một ban hát gồm ba kép và năm đào, tất cả khoẻ mạnh và tinh thông võ nghệ. Quan bèn cho họ làm đoàn hát dạo, từ Bắc Ninh đi vào Huế qua Thanh Nghệ Tĩnh. Một hôm ở Lệ Sơn , dân làng tổ chức hội xuân, rước ban hát về đình làng. Ban hát đang trình diễn thì bọn cướp xông vào bắt lên núi. Dân làng sợ hãi chạy tứ tán, bọn tuần đinh cũng quăng thước, đao mà chạy .

Đoàn hát dạo bị bắt về ra mắt chủ tướng. Chủ tướng bèn truyền lệnh mở tiệc khao quân. Ba quân được ăn uống no say lại được nghe ca vũ rất khoái chí. Các đào nương ngoài việc ca hát còn đứng ra mời rưọu chủ tướng, các đại tướng quân và quân sư. Một lát sau, chủ tướng và ban tham mưu đã trúng rượu độc, các đào kép bèn lén bật hỏa hồng, đốt sơn trại. Thấy lửa bốc lên trong sơn trại, quân triều đổ vào giết quân giặc cướp. Tìm trong đống tro tàn, người ta thấy xác Trần Văn La, các thủ hạ và quân sư Nguyễn Xuân Tường.





105. HÀ VĂN ĐỊNH

Đất Hà Tiên có nho sinh Hà Văn Định, hai mươi tuổi, còn độc thân, dòng dõi thế gia, cha mẹ mất sớm. Nhân ngày giỗ bên ngoại ở Định Tường, chàng bèn mang lễ vật tới cúng bái. Hôm sau, chàng thuê thuyền đi Hòa Đồng (Gò Công) để thăm quan huyện Trần Xuân Tiêu là bạn thân của thân phụ chàng thuở trước.

Hà sinh bèn ra bờ sông Mỹ Thu thuê thuyền thủy hành. Ra đây, xách hành lý lên ghe kiếm chỗ ngồi, nhìn quanh, chàng thấy quang cảnh ở bến thực là náo nhiệt, trên bộ thì người đông như kiến, chen vai thích cánh, dưới nước thì thuyền tựa lá tre, san sát liền nhau. Chợt thấy ở thuyền bên có một cô gái tuổi mười lăm, mặt rất tươi thắm, bận aó hồng, quần tía, thắt lưng vàng, đang ngồi cặm cụi thêu áo. Chàng bèn chăm chú nhìn sang, lòng thầm nghĩ chắc nàng là con gái chủ thuyền. Cô gái cũng biết là ở thuyền bên có người đang đứng nhìn mình, nhưng cứ giả vờ như chẳng biết. Hà Văn Định cất giọng hò huê tình :
Cô kia má đỏ hồng hồng,
Xuân xanh bao tuổi, có chồng hay chưa?

Biết người ấy hát ghẹo mình, cô gái chỉ ngửng đầu liếc nhìn rồi lại cúi xuống cặm cụi thêu áo. Bắt gặp cái nhìn của giai nhân, Hà sinh bủn rủn chân tay, tâm thần mê mẩn. Lát sau, khi đã định thần, Hà sinh mở bọc lấy một xuyến vàng ném sang, cô gái cứ lờ đi, coi như chẳng biết. Bỗng nhiên, lúc ấy một ông lão từ trên bờ bước xuống thuyền. Chàng lo sợ ông lão là thân phụ của nữ lang, và sẽ nhìn thấy chiếc xuyến. Còn đang nghĩ cách đối phó với cảnh tình bất lợi, bỗng Hà sinh thấy nữ lang lấy chiếc áo thêu phủ lên chiếc xuyến để che mắt lão nhân. Hà sinh mừng rỡ mừng quá, bỗng thấy ông lão nhổ neo, lái thuyền ra giữa dòng rồi đi về hướng nam. Hà sinh đứng than trời và thẫn thờ nhìn theo chiếc thuyền đã mang mỹ nhân đi mất.

Thu xếp xong công việc, Hà sinh thuê thuyền về Hà Tiên. Về nhà, hình bóng giai nhân cứ ám ảnh tâm trí suốt ngày đêm, kể cả lúc ăn lúc ngủ. Năm sau, đến ngày giỗ bên ngoại, sinh lại về Định Tường. Hà sinh mang theo tiền bạc quyết chí ở lại lâu dài tìm giấu vết người đẹp. Chàng bỏ tiền thuê dài hạn một chiếc thuyền, thả neo ở bến để cư ngụ. Hàng ngày, Hà sinh chỉ ngồi quan sát thuyền bè ngược xuôi qua bến, cầu Trời khấn Phật cho mình được gặp lại giai nhân. Nửa năm sau, Hà sinh thuộc lòng từng cột buồm, từng mái chèo của mỗi con thuyền xuôi ngược song vẫn chưa dò hỏi được tin tức của giai nhân. Nửa năm sau nữa, tiền lưng đã cạn, Hà sinh đành phải thuê người lái thuyền ngược bắc. Về nhà, sinh cứ thẫn thờ như kẻ mất hồn, suốt ngày thở vắn than dài, chẳng lúc nào quên được hình bóng giai nhân.

Năm sau nữa, chàng lại về Định Tường giỗ bên ngoại. Chàng cũng thuê dài hạn một chiếc thuyền Một buổi chiều, Hà sinh thả bộ dọc theo một bờ sông lạ, rồi quá bước, lạc vào một tiểu thôn. Ði qua mấy ngôi nhà quay mặt về hướng bắc, chàng thấy một túp nhà tranh, cổng gỗ quay mặt về hướng nam. Nhìn qua cỗng, chàng thấy một vườn hoa. Nhìn vào xa nữa, chàng ở cuối vườn có một hàng rào bằng cây nhỏ được cắt tỉa cẩn thận. Bỗng chốc bên trong một cô gái trẻ bước ra, nhìn kỹ thì thấy chính là giai nhân ở bến Mỹ Thu ba năm về trước.
Hà sinh mừng rỡ hô to:- Cô ơi, tôi là kẻ ra kẻ đã ném xuyến sang thuyền cô tử ba năm về trước đây!" Vừa dứt lời, Hà sinh liền nghe thấy tiếng giai nhân vọng lại:"-Ủa! Thế ra công tử là người ở bến Mỹ Thu năm nọ đó ư? Công tử đi đâu mà lại lạc vào đây?"
Sinh đáp:-"Tiểu sinh cưỡi ngựa đi thăm một người quen, chẳng dè lại lạc vào đây! Sinh hỏi tên họ nàng, nàng đáp:-Tên thiếp là Kim Liên.
Nàng hỏi:-Còn chàng tên họ là gì?
Sinh bèn kể rõ cho nàng nghe.
Nàng nói:-Chàng là con nhà quan thì muốn gì mà chẳng được, biết bao gái đẹp bên mình mà phải lặn lội đường xa đến đây?
Chàng đáp:-Trong hàng ngàn giai nhân, ta chỉ yêu nàng mà thôi!
Nàng cảm động bèn mời chàng vào nhà.
Chàng bèn hỏi:- "Chiếc xuyến năm xưa, nàng còn giữ không?"
Nàng đáp:-Ngày đêm thiếp vẫn giữ bên mình.
Chàng hỏi:-Ta yêu nàng tự buổi đầu tiên. Sao hồi đó ta thấy nàng nghiêm nghị lòng buồn rầu tưởng nàng không thích ta.
Nàng đáp: -"Thiếp cũng thế, cũng yêu chàng ngay từ đầu. Thiếp cũng biết là công tử có cảm tình với thiếp! Năm xưa, thoáng thấy tướng mạo công tử, thiếp đã đoán là người chung thủy. Vì thế, thiếp tin là thế nào rồi công tử cũng sẽ tìm gặp thiếp. Nay quả là đúng. Gần đây, có mấy người tới làm mai, thiếp đều từ chối! Giờ đây, nghe giọng nói chân thành của công tử, thiếp lại càng tin là mình đoán đúng!"

Hỏi gia thế, nàng đáp:- Thiếp là gái Hồ, song thân mất sớm, chỉ sống một mình. Chàng có ngại về giống Hồ không?
Sinh đáp:-Ta yêu nàng, ta không phân biệt chủng tộc, giòng giống.
Tối hôm đó, hai người sống thật với nhau như vợ chồng. Hai ba năm dài, hai vợ chồng sinh sống trong hạnh phúc.

Một đêm, chàng và nàng đang ân ái, thì nghe tiếng gõ cửa liên tiếp, tiếng chân người chạy thình thịch, và tiếng ngựa hí. Hà sinh mở cửa ra thì thấy bốn bề đầy quân lính. Họ xông vào bắt trói hai vợ chồng rồi mang lên ngựa đi vào trong núi. Đi quanh co thì đến một khu cung điện to lớn. Bọn họ giải hai người đến trước một vị tướng già, râu bạc, mặc nhung phục. Từ trong ra ngoài, quân lính, nô bộc, nữ tỳ vào ra tấp nập.
Các người hầu cận quát nạt bắt hai người phải quỳ xuống. Vị tướng quân ngồi chính giữa im lặng, một viên quan ngồi bên phải dường như đóng vai hỏi cung:
-Tên họ nam nhân là gì? Làm nghề gì, quê quán ở đâu?
Hà lang trình bày rõ ràng. Một viên quan ở bàn dưới ngồi ghi chép.
Viên quan đó hỏi tiếp:
-Nữ nhân tên gì? Nghề nghiệp, quê quán ở đâu?
Kim Hoa thưa:
-Tiện thiếp tên là Kim Liên, giống Hồ, ở Định Tường.
Viên tướng quân ngồi bên trái như giữ việc kết tội nói:
-Hai ngươi phạm nhiều tội. Toà án Thánh giáo tuyên án như sau:
+Thứ nhất: hai ngươi không được phép cha mẹ mà tự do lấy nhau, coi thường luân lý, đạo đức.
+Thứ nhì: Hồ thị chưa được phép thánh giáo mà ngang nhiên lấy chồng tà giáo.
+Thứ ba: Hồ thị mang tội phản giống nòi, phản quốc, lấy kẻ thù làm chồng.
Tòa án quyết định lưu đày cả hai ra biên cương, mỗi người một nơi, vĩnh viễn không cho gặp nhau và chung sống vợ chồng.


106. TẢNG BẠCH NGỌC

Cậu Năm Bảo ở Gia Định nhà nghèo,tính tình hiền lành, làm nghề đánh cá trên sông. Chàng có nhà ở trên bờ sông, mà đôi khi cũng ở luôn trên thuyền cả tháng, ăn ngủ, nấu nướng đều ở trên thuyền. Một hôm, cậu chèo ra một giòng sông xa câu cá thì thấy một bà già ngồi trên cầu giặt quần áo , rồi trợt chân té xuống sông. Chàng vội vớt lên. Bà già bất tỉnh nhân sự, cậu phải đưa lên thuyền săn sóc. Mấy ngày sau bà già tỉnh lại, tỏ ý muốn trở về nhà. Chàng hỏi nhà bà ở đâu. Bà trả lời nhà trong xóm. Thấy bà yếu đuối, chàng phải đưa bà về nhà.

Chàng theo bà đi vào trong một xóm vắng ở gần sông. Bên ngoài là cây cối rậm rạp như rừng. Đi vào là khu đất mới vừa khai phá, xung quanh có hàng rào tre, có hoa tím, hoa vàng leo lên tươi thắm. Thỉnh thoảng có những khóm hoa hồng, những cây hoa quỳ, những bụi hoa cúc. Ở giữa là một túp lều tranh. Bước vào nhà thì quang cảnh vắng tanh. Chàng hỏi thăm bà có mấy con, bà nói các con đã lấy vợ, lấy chồng xa. Thấy cảnh bà già cô đơn, thỉnh thoảng chàng ghé thăm, lúc biếu chục con cá bống, lúc lưng rổ tôm bạc, lúc chục quả trứng gà. Một ngày nọ, chàng đến thăm, thì bà già hấp hối. Bà già nắm tay chàng bảo:
-Ta nói thật với con, ta là hồ, nay ta sắp chết. Cảm ơn con đã cứu ta và săn sóc ta. Nay ta có tặng vật cho con, đeo vào người thì may mắn. Con cứ tiếp tục câu cá, đánh lưới ở giòng sông cũ, con sẽ gặp may. Nói xong , bà tắt thở. Chàng đem bà chôn trong rừng.

Một thời gian sau, cậu ra sông giăng lưới, không may vướng lưới, cậu phải nhảy xuống gở lưới. Thì ra lưới vướng vào một tảng đá. Nhìn kỹ tảng đá thì thấy là một tảng đá rất đẹp, cậu liền vớt lên, rửa sạch rồi đưa vào nhà. Chàng đem ra sân đánh rửa sạch sẽ, thấy tảng đá bề ngang khoảng hai gang tay, bốn mặt long lanh, thấy trên là mây bay, dưới là núi non trùng điệp. Chàng mừng lắm, bèn thuê thợ lấy gỗ quý đóng một cái khay lớn có chân quỳ để tảng đá lên trên đặt ở giữa bàn. Mỗi khi trời sắp mưa thì tảng đá biến thành màu xanh nhạt, trên mây có rồng bay phượng múa, dưới núi rừng có hoa nở.

Chàng tánh tình rộng rãi, có của quý đẹp thì mở cửa cho thiên hạ cùng xem chung. Có nhà giàu nọ, đến cửa xin cho xem, đoạn trao ngay cho một đứa đầy tớ khoẻ mạnh vác lấy, quất ngựa đi mất. Chàng sức cô, thế yếu chỉ biết kêu la tuyệt vọng mà thôi. Ðứa đầy tớ vác đá đến bờ sông nghỉ vai ở trên cầu, chợt tuột tay, đá rơi xuống sông. Nhà hào phú giận, lấy roi đánh đầy tớ, rồi bỏ ngay tiền ra, thuê người lặn giỏi, tìm đủ cách mò lên, rút cuộc không thấy đâu cả. Từ đó, người mò đá ngày ngày kéo đến đầy sông, mà chẳng ai thấy được.

Sau đó, cậu Năm đến chỗ đá rơi, nhìn dòng sông mà than thở thì thấy nước trong suốt đáy, tảng đá vẫn ở dưới đó. Cậu mừng quá, cởi áo lặn xuống, ôm đá lên. Về nhà rồi không bày ở nhà sảnh nữa, mà bỏ vào khạp lấy nắp đậy lại để gần giường ngủ.
Một hôm, có một ông cụ gõ cửa xin xem đá, cậu nói rằng đã mất đã lâu. Cụ cười mà rằng:
- Ở phòng khách không có sao?
Cậu bèn mời vào phòng khách, để chứng tỏ là không có thực. Vào đến nơi thì rõ ràng tảng đá này ở trên kỷ, ngạc nhiên không biết nói sao.
Ông cụ vỗ vào tảng đá nói rằng:
- Ðây là vật cũ của nhà tôi, mất đã lâu, vẫn còn ở đây à?
Cậu tức giận bảo là của cậu. Ông già bảo:
-Nếu là của cậu thì có gì đặc biệt?
Chàng không trả lời được. Ông già liền đưa tảng đá ra ánh mặt trời thì thấy hiện ra hình Quan Âm bồ tát ngự trên tòa sen hồng.
Ông già bảo chàng:
- Bảo vật trong thiên hạ là của chung, nay ở nhà này, mai sang nhà khác. Châu ngọc có linh khí , có thể tự chọn lấy chủ. Chỉ sợ cậu sau này vì nó mà mang họa.
Nói xong, ông già từ biệt mà đi. Cậu Năm hết sức giữ lại, ông cụ nhất định từ chối; hỏi họ tên, cũng không nói, rồi đi ngay.
Ðược hơn một năm, chàng Năm có việc đi vắng, đêm có kẻ trộm vào buồng, lấy tảng đá mà mang đi. Chàng về tiếc tưởng chết, dò hỏi thuê tìm, tuyệt không ra vết tích. Ðược vài năm, tình cờ vào chùa Báo Quốc, thấy có người bán đá, thì ra là vật cũ của minh, bèn nhận lấy. Người bán đá không chịu, nhân đó vác đá đến cửa quan.
Quan hỏi:
- Lấy gì làm bằng?
Người bán đá nói hình dáng. hỏi còn gì khác nữa, người bán đá không nói được. Cậu bèn đưa đá ra ánh mặt trời thì thấy hình Quan Âm bồ tát ngự trên tòa sen.
Quan toan phạt đánh người bán đá, người ấy khai là mua ở chợ mất hai mươi đồng vàng, bèn tha.
Chàng Năm lấy được đá về, lấy gấm bọc lại, cất vào trong rương, thỉnh thoảng mới lấy ra ngắm nghía một lần, đốt trầm trước rồi mới lấy đá ra.
Có ông phú hộ nọ đem một trăm đồng vàng đến mua. Chàng bảo:
- Dẫu là vạn lạng, cũng không đổi .
Ông phú hộ thù hận cậu, tìm phương hại cậu.
Một hôm, quan phủ sai lính vây nhà Năm, khám xét, tịch thu tảng đá quý và bắt Năm giải lên phủ. Quan hỏi:
-Nhà ngươi làm sao có được tảng đá này?
-Con tìm thấy ở sông.
-Ngươi có giấy phép tìm đá quý, khai thác đá quý không?
-Dạ không. Con cũng chưa hề nghe ai nói phải xin giấy phép.
-Ngươi có giấy phép đánh cá không?
-Không.
-Ngươi có biết quý vật thuộc tài sản quốc gia không? Trong chế độ ta, không một ai có quyền tư hữu. Ngươi vi phạm điều luật chiếm hữu tài sản quốc gia.
Vì vậy, ngươi bị hai tội, một là không có giấy phép khai thác kim khí và đá quý mà lại khai thác đá quý. Và hai là chiếm hữu tài sản quốc gia.
Tòa xử án hai mươi năm tù và phạt năm trăm đồng vàng, đồng thời tịch thu toàn bộ gia sản.

Ông phú hộ bèn bỏ ra hai trăm đồng vàng mua tảng ngọc. It lâu sau, trời làm một cơn sóng thần, dân chúng chết hàng ngàn, cả nhà phú ông và tảng bạch ngọc đều ra biển. Năm sau, có kẻ tâu vua về việc tảng bạch ngọc của cậu Năm, Vua ra mật chỉ bắt quan tổng trấn phải giao nộp tảng bạch ngọc về kho bảo vật nhà vua. Quan Tổng trấn sai kị binh tới phủ đem tang vật về nhưng tảng bạch ngọc đã vào tay phú ông, rồi trôi ra biển mấ từ lâu. Quan phủ bị tội ăn cắp tang vật, bị cách chức và đày đi nơi xa.



107. QUYỂN SÁCH TIÊN

Khương Đức Thịnh người Khánh Hòa, học rộng tài cao nhưng nhà nghèo lại mẹ già phải nuôi dưỡng. Chàng lấy việc viết muớn, vẽ thuê để kiếm ăn. Ðã hai mươi lăm tuổi mà vẫn phòng không lạnh lẽo. Trước cửa nhà chàng là một ngôi nhà bỏ hoang từ lâu, một hôm có một bà già cùng một cô gái đến thuê để ở. Vì thấy không có đàn ông, nên chàng cũng chưa tiện thăm hỏi gốc tích của họ. Một hôm tình cờ từ ngoài về, chàng gặp cô gái trong phòng mẹ đi ra, tuổi chừng mười tám mười chín, xinh đẹp, thanh tú, trên đời ít có người sánh kịp.

Gặp chàng, cô không tránh mặt nhưng có vẻ nghiêm lạnh.
Chàng vào nhà hỏi mẹ, bà bảo:
- Ðó là cô gái ở nhà trước cửa, sang mượn thước và kéo may.
Cô vừa cho biết nhà cũng chỉ có một con một mẹ.Trông cô có vẻ không phải con nhà nghèo. Hỏi sao không lấy chồng, đáp vì còn mẹ già. Ðể mai mẹ sang chào bà cụ, nhân tiện dò xem sao.
Nếu ước vọng của họ không cao xa quá thì con có thể phụng dưỡng mẹ già thay nàng .
Hôm sau bà qua nhà cô gái, thấy mẹ nàng là một bà lão điếc. Nhìn trong nhà, tịnh không còn một bữa gạo cho ngày mai; hỏi cách sinh sống thì chỉ trông nhờ vào hai bàn tay cô gái. Dần dà mẹ chàng đem chuyện kết thân giữa hai nhà ra ướm hỏi; bà cụ như ý cũng bằng lòng, nhưng còn quay sang bàn bạc với cô gái; nàng nín lặng, xem chừng không được .

Mẹ về, kể lại cho con nghe và tỏ ý ngờ vực nói :
- Hay là cô ấy ngại nhà mình nghèo chăng? Tính tình nghiêm nghị không nói không cười, xinh như đào mận mà lại lạnh lùng như sương tuyết, thật là người kỳ lạ!
Mẹ con than tiếc một lúc rồi cũng bỏ qua.
Lát sau chàng vào nhà trong, mẹ bảo:
- Vừa rồi cô gái sang xin gạo, nói đã hai ngày bếp không đỏ lửa.
Cô gái thật có hiếu nhưng nhà nghèo quá, kể cũng đáng thương, ta cũng nên chu cấp ít nhiều. Chàng nghe lời, mang đấu gạo sang, gõ cửa nói lại ý mẹ. Cô gái nhận gạo cũng không cảm tạ . Hàng ngày nàng sang nhà, thấy mẹ chàng may vá, cũng vá áo xâu kim giúp mẹ.

Ra vào trong nhà, làm lụng mọi việc như con dâu. Chàng càng thêm biết ơn nàng, mỗi khi có ai biếu xén thức gì đều chia ra biếu lại mẹ nàng. Cô gái vẫn không hé răng nói một lời cảm tạ.

Bỗng nhiên mẹ nàng mọc cái nhọt ở chân, đêm ngày kêu khóc. Chàng thư sinh bèn lấy sách thuốc nghiên cứu rồi tìm cách trị bệnh cho bà già. Chàng thường xuyên đến tận giường chăm sóc, rửa mụn bôi thuốc cho bà, ngày ba bốn bận. Mẹ nàng áy náy nhưng chàng không nề hà chuyện bẩn thỉu.

Ngày ngày nhiều lần qua lại, thường gặp nhau luôn, nhưng nàng không hề làm bộ tươi cười hay dùng lời đưa đẩy; hơi đùa cợt một chút đã nghe những câu lạnh người. It lâu sau bà mẹ nàng trở bệnh nặng. Bà cầm tay sinh nói:
-Ta cảm ta con đã săn sóc ta. Mẹ con ta vốn giống Hồ. Ta xem con có khiếu về y dược, xin tặng con quyển sách về Tiên Dược. Ta mong muốn con làm rể ta nhưng con ta đã được chọn làm Sư tỷ trong Thánh giáo cho nên không được lấy chồng. Con nên lấy vợ khác, không nên cưỡng số trời.
Sau khi chôn cất mẹ, nàng từ biệt chàng. Nàng nói: "Từ nay xin vĩnh biệt! Ðêm khuya đừng làm kinh động đến mẹ chàng, thiếp đi đây!

Từ khi có sách Tiên, Khương Đức Thịnh đọc đi đọc lại nhiều lần. Chàng lại mua các bộ sách Hải Thượng Y Tông Lĩnh, Thương Hàn Luận, Kim Quy, Linh Khu, Nan Kinh, Tố Vấn để đọc. Chàng cũng bỏ công đi học cách bắt mạch, cho toa, cách bảo quản thuốc ở các lương y trên trấn. Năm sau, toàn vùng bị bệnh dịch, Khương bèn tự mình ra tay cứu dân không lấy tiền bạc và đã thành công. Từ đó, danh tiếng của Khương Hữu Định nổi vang.

Sau khi Khương Hữu Định chết, nghề y truyền lại cho con, rồi cho cháu. Đến đời cháu là Khương Hữu An thì một đêm nằm thấy Hồ Tiên đến bảo:"-Gia đình ngươi sắp gặp tai họa, mà ta không thể làm gì được. Ta nay được lệnh Thượng Tiên thu hồi sách vì không thể để rơi vào tay kẻ ác. "
Từ đó, sách thất truyền, Khương Hữu An vẫn hành y theo những điều được cha ông truyền dạy.

Khoảng chục năm sau, Quận Lía ở Bình Định nổi lên chiếm cứ một vùng lớn mà căn cứ lớn là Truông Mây, là một vùng núi rừng hiểm trở. Lúc nhỏ, Lía vì nhà nghèo nên phải đi chăn trâu thuê cho nhà giàu trong vùng. Lía thường tổ chức chơi trò đánh trận với các trẻ em chăn trâu. Một lần tình cờ, Lía trong thấy một chú cá lóc vọt phóc từ duới nuớc lên qua một bờ đất cao, Lía nảy ý muốn muốn học thế nhảy này. Hàng ngày Lía đào một cái hố, rồi đứng duới hố bắt chuớc theo thế nhảy của cá lóc nhảy vọt lên. Do luyện tập cực khổ nên khả năng của Lía mỗi ngày một tăng. Theo truyền thuyết, sau khi tập luyện thành công cú nhảy cá lóc, Lía có thể tung nguời nhảy vọt qua khỏi nóc nhà. Cũng nhờ cú nhảy cá lóc, Lía đã nhiều lần thóat thân trong những lần đi cuớp của nguời giàu chia cho dân nghèo hay những lúc đánh trận với quân lính.

Khi đã đánh chiếm thành Quy Nhơn và các vùng lân cận, dần dần thế lực Quận Lía đã mở rộng từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận. Quận Lía lập nước tên là Lạc Quốc, lập triều đình gọi là "Trung ương", tự xưng là Đại Chủ, các đại quan trong triều thì gọi là Đại biểu, các quan địa phương thỉ gọi là Đại Cán. Trung ương ra lệnh từ nay nhân dân phải theo đường lối "cách mạng". Mọi người phải tiến lên chủ nghĩa Đại Đồng:
-Toàn dân đồng lao động như nhau, không có kẻ ngồi không hưởng lợi.
-Toàn dân đồng hưởng thụ như nhau, không có kẻ giàu, người nghèo, xã hội thế là bình đẳng, hạnh phúc.

Để thực hiện chủ nghĩa Đại Đồng, toàn dân phải nộp vàng bạc, nhà cửa, ruộng đất cho trung ương và phải vào làm việc trong các đại nông trường, đại công trường của trung ương do các đại quan và thủ hạ của họ lãnh đạo.

Đại Chủ có viên Tú tài là Văn Đình Chi là tay mưu sĩ dưới trướng. Văn Đình Chi vốn người Khánh Hòa, đã từng làm nghề thuốc nhưng ế khách, sinh ra thù ghét gia đình họ Khương nổi danh. Văn Đình Chi cũng nghe đồn gia đình họ Khương có sách Tiên nên muốn chiếm đoạt. Y đuợc Đại chủ cử làm Chủ quản Khánh Hòa. Nhân cơ hội này, Văn Đình Chi bắt ngành Y cũng phải làm ăn tập thể, bắt các y sĩ phải vào tập đoàn Y dược thị trấn. Y tuyên bố trong chủ nghĩa Đại Đồng, mọi điều là của chung, không ai được có của riêng, Ngành y dược cũng phải làm ăn tập thể, phải nộp bí phưong gia truyền, nộp tất cả sách riêng vào thư viện chung, phải xem mạch tập thể, phải khám bệnh tập thể, phải cho toa tập thể. Nhân dân trong nước chia ra làm ba hạng:
-Hạng theo ủng hộ Quận Lía gọi là gia đình Cách Mạng.
-Hạng dân thường gọi là gia đình yêu nước.
-Hạng quan quân đời trước thì gọi là gia đình phản động. Những gia đình này không được hưởng quyền lợi y tế và các quyền lợi khác của Trung Ương.

Gia đình cách mạng được các đại lương y săn sóc và dùng thuốc tốt, thuốc hiếm quý.
Các gia đình Cách Mạng được phát sổ vàng và gia đình yêu nước được phát sổ hồng. Tất cả bọn họ phải đến y quán mà xin chữa bệnh và các y sư cũng không được đến nhà nhân dân chữa bệnh. Ai bất tuân sẽ bị trừng trị.

Y bắt Khương Hữu An nộp sách Tiên, An thưa rằng sách Tiên đã được Tiên nương thu hồi. Y không tin, cho quân sĩ lục soát nhà Khương Hữu An nhưng không thấy. Y kết tội Khương Hữu An ngoan cố, chống lệnh Trung Ương, ra lệnh bắt Khương Hữu An giam lại và tịch thu gia sản. Hàng ngày y cho thủ hạ tra tấn sách ở đâu. Khương Hữu An chịu không nổi, đập đầu mà chết trong ngục tối!


108. QUAN THƯỢNG THƯ

Ở Hoàng Giang có một vợ chồng trẻ sống bằng nghề làm ruộng. It lâu sau chồng chết, người vợ phải mưu sinh bằng nghề bán nước vối ở gốc cây đa đầu làng. Chị ta vẫn còn chút xuân sắc và tính tình cũng đôn hậu, đối đãi với khách hàng rất lịch sự chứ không chỏng lỏn, chanh chua như đa số đàn bà, con gái thời Xích Hồ sau này. Một hôm có một ông thầy phong thủy người Tàu ghé qua, trời tối không nơi trọ, bèn ngỏ ý ở lại quán tranh. Chị ngần ngại nhưng sau khi ông thầy đưa ra một nén bạc thì chị bằng lòng. Ông thầy thấy chị có hảo tâm, bèn ở lại mấy bữa, tìm cho chị một cuộc đất tốt, gọi là "Văn võ toàn tài, tướng tướng chi tướng". Ông cho câu thơ tiên đoán hậu vận nhà chị:
Găp tuyết thì lên,
Lan huệ thì tán.
Làm lành thì bền,
Làm ác gặp nạn.
Chị bèn đem cốt của chồng mà chôn tại đó. Ba tháng sau, chị mang thai, làng bắt chị tra hỏi, chị nói ban đêm tối tăm bị cưỡng hiếp, không biết thủ phạm là ai. Làng bèn đuổi chị.

Chị phải ôm bầu đi lang thang khắp nơi xin ăn. Đến Thiên Sơn, vào chợ xin ăn thì gặp một trung niên làm nghề săn bắn, hái củi , nhà dưới chân núi, thương tình đưa chị về ở chung. Sau chín tháng mười ngày, chị sinh một trai . Thằng bé lên ba đã thích cầm búa múa may cho nên hàng xóm gọi nó là Hai Búa. Lớn lên, Hai Búa đuợc cha ghẻ truyền dạy võ nghệ và y thường theo cha ghẻ vào rừng săn băn và làm rẫy bái.

Một hôm theo cha vào núi săn bắn, Hai Búa gặp một đạo sĩ tu khổ hạnh ở thâm sơn. Y vào lều tranh thăm hỏi, đạo sĩ vui vẻ tiếp chuyện. Hai Búa xin tôn đạo sĩ làm thầy, đạo sĩ chấp thuận. Từ đó, Hai Búa thường vào sơn cốc thăm thầy. Một hôm, Đạo sĩ nhìn chàng rồi nói:
-Con sau này sẽ làm tướng soái. Con nên đầu quân thì sau này sẽ mang áo tía, thắt đai ngọc.
Hai Búa vâng lời, hôm sau xin phép cha mẹ lên kinh dự thi tuyển quân. Không ngờ đi đưọc nủa đường, gặp cướp núi là một nữ lang xinh đẹp. Hai bên giao đấu rồi thành vợ chồng. Hai Búa ở lại sơn trại làm nghề cướp núi với vợ.

Lúc bấy giờ ở miền núi phía bắc có nhiều đạo tặc. Trong đám này có tên chủ tướng Lê Tuyết xưng Thanh Sư đại vương, thường đem quân cướp phá khắp nơi. Chúng dụ dỗ vợ chồng Hai Búa nhập bọn. Hai vợ chồng Hai Búa chấp thuận nên cả hai liền được phong làm tướng quân. Sở dĩ vợ chồng Hai Búa được mời mọc vì vợ chồng này quân hùng, lực mạnh lại cùng giai cấp thợ săn, cùng theo Tiên giáo và đồng hương với nhau.

Thanh sư vương đánh đâu thắng đó, chiếm được kinh đô, lập triều đại mới, xưng là Toàn Trí hoàng đế và đặt quốc hiệu là Đại Văn Minh quốc. Tướng quân Hai Búa được phong là Đô Thống trong coi binh mã trong nước. Hai Búa nhớ lời mẹ truyền lại lời dạy của cha ruột là tên Tàu phong thủy thì quả đúng là "Gặp Tuyết thì lên"!

Trong triều dưới vua có em vua được phong Thái sư. Thái sư không ưa Hai Búa nên dèm xiểm với vua, khuyên vua nên tước binh quyền của Hai Búa. Vua bèn phong Hai Búa làm Thượng thư bộ Học.
Trong triều thường chia hai ban văn võ. Lúc chiến tranh, quan võ nắm mọi quyền hành, nhưng buổi thái bình, thói thường trọng văn khinh võ:
Quan văn ngũ phẩm đã sang,
Quan võ nhị phẩm còn mang gươm hầu!

Quan Đô thống được phong thượng thư là nhất phẩm triều đình, đó là một vinh phong nhưng thực tế là mất quyền. Đô Thống là võ quan cao nhất nước, chỉ ở dưới Binh bộ thượng thư, nhưng oai quyền to lớn, muốn ăn bao nhiêu cũng được, quát nạt ai cũng phải cúi đầu. Binh bộ và Đô Thống có binh hùng tướng mạnh, vua cũng phải sợ huống là dân. Còn bộ Học là bộ rách nhất trong các bộ. Quan Đô Thống mà trông coi bộ Học coi như là con cọp rụng răng hoặc biến thành cọp giấy! Hơn nữa người ta chơi khăm quan. Ông không biết chữ nhất là một mà người ta lại giao ông chức thượng thư Học bộ. Thiên hạ bàn tán xôn xao. Có kẻ đã ra một vế đối:
"Vô học quản lý học bộ, bộ thiên hạ không còn ai có học?"
Quan uất ức nhưng lệnh vua phải tuân theo. Quan bèn nhớ đến vị đạo sĩ trong núi, bèn cho người mời đạo sĩ đến tính kế. Đạo sĩ sau một hồi suy nghĩ, bèn nói:
-Việc không khó. Quan Thượng thư có thể làm giàu rất nhanh. Đạo sĩ bèn nói nhỏ vào tai thượng thư vài câu. Từ đó, đạo sĩ ở luôn trong dinh, giúp thượng thư hoạch định kế sách, mưu lược.

Một hôm nhân buổi chầu, quan tân thượng thư học Bộ đã đưa ra chính sách phát triển giáo dục. Bản tâu của quan rất dài, nhưng đại khái nói rằng triều đình cũ lạc hậu, thi hành chính sách ngu dân, việc học dành cho thiểu số ưu đãi. Nay phải chủ trương phát triển giáo dục cho toàn dân để đưa đất nước tiến lên văn minh giàu mạnh. Khẩu hiệu là :
-Dân tộc,
-Đại chúng hóa
-Trí thức hóa vô học.

Vua và các quan trong triều đều nhận thấy Hai Búa quả là thiên tài giáo dục, ai ai cũng vui vẻ tán thành chủ trương cách mạng của quan. Sau đó thì trường học mở ra khắp nơi. Thiếu ngân sách mở trường thì dân chúng, đặc biệt là phụ huynh phải đóng góp. Ngày xưa chỉ có kinh đô là mở trường đại học, nay thì mỗi tỉnh đều có trường Đại Học. Ngoài ra Học bộ còn mở các trường chuyên tu, tại chức và bổ túc văn hóa. Trước đây, giáo dục được tạo ra theo hình tam giác, nghĩa là càng lên cao càng it nguời đi. Quan chủ trương khác, mô hình giáo dục là hình chữ nhật, đầu ra và đầu vào bằng nhau. Thí dụ đại học năm đầu là một ngàn sinh viên thì ba năm hay bảy năm sau tốt nghiệp cũng là một ngàn bác sĩ, kỹ sư. Đường lối của quan là tiến nhanh, tiến mạnh. Ưu tiên là trí thức hóa trung ương, thứ là trí thức hóa các tỉnh, và sau là nhân dân. Trong ba năm thì vua quan đều thành tiến sĩ, thạc sĩ. Cứ như vậy mà tiến hành.

Lịch sử giáo dục nước này đến đây là sang bước ngoặt mới. Lúc trước, triều đình yêu dân lao động chân tay, ưu tiên là giai cấp thợ săn, giai cấp đồ tể, giai cấp chiến binh bao gồm các lục lâm đạo tặc. Các chiến sĩ và lãnh tụ Thanh Sư đại vương xưa kia ai cũng căm thù nhà giàu, quan lại và bọn khoa bảng, cho họ là bọn ăn bám, là bóc lột nay thì ai cũng thích nhãn hiệu ông nghè, ông cống. Ngày trước, trong chốn cộng đồng, họ huyênh hoang là dòng chiến sĩ lao động, nay đi đâu, họ cũng khoe "cha là ông tú, chú là ông nghè".

Tại sao vậy?Vì khi họ ra ngoại quốc, hoặc tiếp đón sứ thần các nước thì thấy vua quan các nước ai cũng là tiến sĩ, thạc sĩ, tệ lắm là cử nhân. Người ta hỏi tiểu sử vua quan nước Đại Văn Minh thì thật nghẹn ngào khó nói. Vì vậy, nay quan Thượng thư Học bộ đưa ra kế sách này thật là đỡ cho họ gánh nặng ngàn cân trên vai.

Từ khi thi hành chính sách phổ thông hóa giáo dục, trong vài ba tháng đã xuất hiện hàng vạn tiến sĩ ma, tiến sĩ quỷ mà nghe đâu các vị này cũng là tiến sĩ tiền, tiến sĩ vàng, viết không xong một toa thuốc, đọc không thông một trang báo cáo của cơ quan, làm không nổi một bài toán nhân hay toán đố lớp ba tiểu học!
Ông nghè Gàn ở kinh đô làm bài thơ nay còn truyền tụng vài câu:
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Văn chương chữ nhất đọc không đúng,
Triết lý i tờ nói cũng sai. . .

Ai nói mặc ai, vua quan từ kinh đô đến tỉnh huyện vui vẻ và hoan hô quan thì đó là một đại thành công của quan. Sau ba năm thi hành phát triển giáo dục, quan đã tổng kết thành tích là đã làm giàu cho ngân khố quốc gia mấy vạn lượng vàng. Từ đó, quan làm ăn thịnh vượng, tiền bạc dễ kiếm hơn thời làm Đô Thống. Và từ đó, quan hiểu rằng chỗ nào cũng có vàng nếu mình biết khai thác!Justify Full

Quan từ nhỏ lo việc săn bắn, rẫy bái; lớn lên theo đại vương chiến đấu lập công. Sau khi tân vương lên ngôi lập triều đại mới, quan lo việc chính trị bù đầu. Nay thì danh vọng, địa vị, tiền bạc đều có đủ, quan bèn nghĩ đến việc hưởng thụ.
Quan nghe đồn trong cung có nhiều mỹ nữ. Quan bèn bàn với đạo sĩ làm sao nhập động đào nguyên và đem hoa xứ lạ về trồng trong vườn nhà.
Đạo sĩ bảo:- Cũng dễ thôi.
Từ đó trong cung, hoàng hậu, quý phi cho đến cung nữ đêm đêm có người đến chòng ghẹo, hoặc ép liễu nài hoa. Cũng có một số cung nữ trẻ bị mất tích. Vua tức giận, mật truyền quan Đại Tổng quản nội cung điều tra. Viên Đại tổng quản họp mật với các quân sư, tất cả đều cho đó là yêu quỷ hoặc hồ ly xâm phạm cấm cung. Viên Đại Tổng quản bèn sai một viên Tổng quản giả dạng khách thương đến xin gặp Pháp Nhãn đại sư ở Linh Sơn tự. Đại sư bèn đội mũ thái giám, mang y phục thái giám đi kiệu vào cung. Pháp sư bèn lập đàn cúng tế rồi làm bùa chú vào những giây ngũ sắc, bảo giao cho một số phi tần, cung nữ đẹp nhất đeo vào trong người.

Nửa đêm, ma quỷ quen thói xâm nhập cấm cung. Thấy có người lạ ôm ấp, sờ mó, Huệ phi và Lan phi liền ôm chặt lấy và kêu lên. Các nam nhân dâm dục và phạm pháp này đều bị giây ngũ sắc trói chặt, không thể thoát thân, không thể biến hóa hay tàng hình. Các thái giam vệ binh xông vào thì bắt được quan thượng thư Học bộ và đạo sĩ. Vua bèn xử trảm ngay tại cung trung. Khi chém quan thượng thư thì thấy không có máu đỏ phun ra mà chỉ có vài giọt máu đen. Còn chém đạo sĩ xong thì thấy hiện ra xác một con Cáo già.

*

No comments: