Tuesday, August 13, 2013

SẤM KÝ TRẠNG TRÌNH* PHỤ LỤC I * PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ


            


SẤM KÝ TRẠNG TRÌNHPHỤ LỤC
SẤM TRẠNG BÙNG
Lời nói đầu

Đây là bản nôm Phùng Thượng thư ký trong thư viện cụ Nghè Bân, người Hữu Bằng Sơn Tây. Bản chép tay này đã tồn tại hơn trăm năm, và đã 20 năm nằm trong tủ sách của tôi nay đem ra trình cùng bạn đọc. Điều này cho thấy nhiều người viết Sấm ký chứ không phải riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm.Chúng tôi xin trình làng, sau sẽ phiên âm và chú thích.
Canada ngày 14 tháng 10 năm 2010.
Nguyễn Thiên Thụ

I. TIỂU SỬ TÁC GIẢ

Phùng Khắc Khoan 馮克寬 (1528-1613) sinh năm 1528 tại Phùng thôn (tục gọi là làng Bùng), xã Phùng Xá - huyện Thạch Thất - tỉnh Hà Tây. Thân phụ của Phùng Khắc Khoan là Phùng Quý Công từng làm quan dưới triều Lê Sơ, là người tinh thông thuật phong thủy,. Ngay từ thủa nhỏ, ông đã tỏ ra thông minh, có khí chất. Lúc nhỏ ông ở nhà được cha dậy dỗ , đến năm 16 tuổi ông sang Hải Dương theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm 1552, ông đi thi ở đất Mạc chỉ đỗ Tam trường. Nhưng ông không làm quan cho nhà Mạc. Năm 25 tuổi, ông vào Thanh Hoá, giúp nhà Lê thực hiện công cuộc Trung hưng. Năm 1557, ông thi Hương ở triều Lê và đỗ đầu. Phùng Khắc Khoan được Trịnh Kiểm giữ lại và được giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều Lê - Trịnh. Sau đó, vì trái ý vua, ông bị đày ra Thành Nam, nay là xã Bồng Khê - huyện Con Cuông - Nghệ An. 
Sau đó ông được triệu về cho phục chức. Năm Canh Thìn 1580, ông tham dự khoa thi Hội và đỗ thứ hai. đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ, tức là Hoàng giáp vào năm Quang Hưng thứ 3 (1580). Năm 1597, ông được cử làm chánh sứ dẫn đầu một sứ bộ sang triều Minh và cuộc đi sứ của ông đã thành công lớn. Ông được phong nhiều chức vụ quan trọng như Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu Tán trị Thừa chính sứ ty, Thừa chính các xứ Thanh Hóa, Tả thị lang bộ Công, Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hộ.khi đi sứ Trung Quốc, ứng đối xuất sắc, nên được vua nhà Minh đặc cách phong làm Trạng nguyên.

Mặc dù ông chỉ đỗ Hoàng giáp nhưng người đời quen gọi ông là trạng Bùng.
Sau đó, ông xin vễ trí sĩ tại quê nhà,.Ông mất ngày 24/9/1613, thọ 86 tuổi. Ông là một công thần có nhiều thành tích với nhà Lê trong công cuộc chống nhà Mạc Năm 1613, ông qua đời, thọ 86 tuổi. Tương truyền, ông là em cùng mẹ khác cha của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

TÁC PHẨM
+ Tập thơ Vạn thọ - viết trong thời gian ông đi sứ nhà Minh được hoàng đế nhà Minh là Minh Thần Tông cho khắc in để ban hành khắp cả Trung Quốc. Sứ thần Cao Ly là Lý Toái Quang (이수광/Yi Su-gwang) là người viết tựa cho tập thơ.
+Ngôn chí thi tập
+Lâm tuyền vãn
+Mai Lĩnh sứ hoa thi tập.

II. BẢN NÔM PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ
 
 
tr.1

tr.3
tr.4
tr.5

tr.6


tr.7


tr.8


tr.9


tr.10
tr.11
tr.12

tr.13


tr.14

tr.15



PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ
(SẤM KÝ của quan thượng thư PHÙNG KHẮC KHOAN)

Phiên âm: Trương Quang Gia
Chú giải: Nguyễn Thiên Thụ

Ông Trương Quang Gia, hậu duệ của Trương Đăng Quế, đỗ Cao Học Văn Chương Việt Hán, trường Đại học Văn Khoa Saigon, tùng sự tại Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, mất năm 1996 tại Saigòn.





PHÙNG THƯỢNG THƯ KÝ


Thuận Đức niên hiệu (1)

1.Vận trung nguyên lấy năm canh tý (2)
Tiết tiểu hàn vừa thuở đông thiên.
(Thập nhị nguyệt thượng tuần)
Hợi cung sửa việc cầm quyền,
Nhưng sửa một trận mới yên bốn bề.
5. Lộ lộ bóng thỏ nghiêng kề,
Chiêng vàng ló thấy vừa khi mặt rồng.
Tản lửa giăng che thái ất
Thuở tay xe nhật phù lên,
Lậu lậu ngọ chánh đương thiên,
10. Rạng soi thế giới sơn xuyên xa gần.
Vẹn nhà trạch ấm đượm nhuần,
Nghiêng thùng rượu cúc đòi tuần mời khuyên.
Hợp bạn hiền những người tri kỷ,
Mở đồ xem luận lý xưa nay,
15. Những câu châu báu là hay,
Bằng dao chẻ nước bấy nay khôn tìm.
Vàng ấy cao giá dư ngàn,
Càng nhìn, càng thắm càng in càng màu.
Nếm mùi đạo gẫm lâu mới biết,
20.Tạc công lòng mở tiết mở không.
Ai hòa học được thần kinh
Ắt là gặp lối thánh minh tuần này.
Thánh hiền chén chuốc rượu say,
Nước vui bàng bạc vỗ tay reo cười.
25. Lại xem thấy sự đời thượng cổ,
Lạc Long quân là tổ nước ta,
Sửa sang bốn bể gần xa,
Làm vua Nam Việt khắp hòa đâu đâu.
Tuổi già hưởng được sang giàu,
30.Ngàn năm sức khoẻ trị lâu, ngôi dài.
Giản biên nói chưng đời ngoài
Kỷ luân chính thống mới kề từ Đinh.
Tiên hoàng tuổi còn phù sinh
Cờ lau tập trận dụng binh giữa đồng.
35.Ứng điềm từ thuở sang sông,
Ngang sông cao ngự hoàng long thụy lành.
Thiên thư đã định rành rành,
Mộc sơn đồng chữ tập tành nên câu:

39."Mộc căn đạp đạp,(3)
Mộc biểu thanh thanh,
Hòa đao mộc (4) lạc
Thập bát tử (5) thành
Đông A (6) nhập địa
Dị mộc (7) tái sinh,
Chấn cung hiện nhật (8)
Đoài cung ẩn tinh (9)
Lục thất(10) nguyệt gian
Thiên hạ thái bình".

49. Một câu là một hữu tình
50. Đời đời nước có điềm lành đế vương.

Ra tay vỗ trị bốn phương
Đời đời nước có đế vương ở trời.
Hòa đao mộc lạc Lê dân
Thập bát từ thành họ Lý đổi thay.
55. Đông A nhập địa Trần danh,
Họ Trần từ đế đời tay Chiêu hoàng
Trên ngôi vẹn nghiệp Đào Đường,
Giúp tay rủ áo âu vàng đặt an.
Đất Lam sơn vua Lê Thái tổ,
60.Thiên giúp uy cây cỏ dụng binh,
Ấy là kỳ mộc tái sinh,
Ra tay giíp lại đế kinh vẹn toàn.
Sửa sang tám cõi đều an,
Man di củng phục bể thuyền non cao.
65.Sự lạ thay chấn cung hiện nhật,
Bên đông phương giữa đất Cổ Trai
Thái tử bửu vị lên ngôi,
Thần kinh thoắt lại năm đời thánh minh.

Lại nói " Đoài cung ẩn tinh
70. Tây đô Trịnh thị đặc danh tướng tài.
Tướng tinh về ẩn phương đoài.
Tây đô chốn ấy tượng trời định vi
Quỷ ma chật vật đổi dời.
Bây giờ thiên hạ xem ngày bằng đêm.
75. Ngồi thấy những sương nghiêm tuyết lạnh
Loài cừ khôi cậy mạnh hung hăng.
Đua nhau làm sự bất bằng
Giết người lấy của nhung nhăng đã buồn.
Khoe khoang sức mạnh tài khôn,
80. Nào hay nhân nghĩa nào còn ái ân.
Chí toan mưu độc hại nhân.
Trên đầu chẳng hổ trời thần phủ che.
Những xưng xe phù Lê diệt Mạc
Cái oan gia người khác giết nhau.
85. Nào ai đã nhịn ai đâu,
Thủy chiến, bộ chiến mặc dầu sắm sanh.
Đêm ngày tập trận dụng binh,
Làm cho thiên hạ thương sanh hối lầm.
Chưa từng thấy cổ kim sự lạ,
90. Một đứa man giá họa muôn dân,
Cưu toan lòng độc dữ muôn phân.
Đua nhau quái độc muôn dân từ này.
Trăm họ ai chẳng chau mày,
Anh hùng ai chẳng cau mày lăng xăng.


95. Thư đường nhân thuở ngoài hiên,
Chép làm một tập để làm mai ngay.
Tân vị (11) thoáng ấy năm nay.
Truyền lên mây đã che rày về đông.
Nhật cung đoài khuyết giao long,
100. Năm hồ thuyền dạng ( rạng?) khảm cung tịnh đồng.

Sấm ran tự bắc chí đông,
Đà giang nam mộc dưới dòng Nam kha.
Giang nam chốn ấy Vĩnh Gia,
Đà giang chốn ấy tên là Vĩnh Giang.
105. Côn sơn phủ đá thạch sàng ở trên.
Sau đền núi mọc bày ngang,
Bảy mươi hai núi ở liền,
Giang Nam là chốn thánh hiền tiên cung.
Ứng binh sửa trụ làm song,
110. Lò niên lọc thánh liễu trong ai ngờ.
Nối đời vương đế phen xưa,
Đường Ngu tam đại còn chờ đến nay.
Nho, Đạo, Thích cũng biết hay.
Học lấy trường học để nay anh dùng.
115. Ước gặp ông Lữ Thái công,
Cùng Trương Tử Phòng rạng che.
Giả làm thầy Sãi ông nghè,(11b)
Kẻ tôn người báng thị phi chẳng thường.
Dân quê chẳng biết đế vương,
120. Báng kia sàm nọ vua đâu đến mình.
Mặc ai ký ký quyền hành,
Miễn người đắc chi xin xin vui vầy.
Gặp thời, gặp thế, gặp người
Trời cho mới biết được hay sự tình.
125.Trung thu vọng nguyệt đêm thanh.
Ngưỡng lên trông thấy đẩu tinh giữa trời.
Bảng vàng chói chói các bày,
Kim ngưu , Hòang lận ở ngoài âm cung.
Trương đà tự bắc chí đông,
130.Cõi bờ vức vức phò không làu làu.
Nhiệm trao nhân thế biết đâu,
Nhân dân quý tiện nguồn sâu khôn dò.
Nhĩ hà nước chảy quanh co,
Tưởng rằng chốn ấy cố đô hoàng bào.
135. Muôn dân thiên hạ khát khao,
Cá cạn gặp nước ai nào chẳng mong.
Từ ông Phật tử dạy ra,
Hoàng giang chốn ấy ai từng bảo ai.
Tào Khê chốn ấy chẳng xa,
140. Ai ai đến đấy thực là đế vương.
Đến nơi thực biết tỏ tường
Tả biên bạch hạc thủy trường ức muôn.
Hũu biên tam đỉnh ngôi sơn
Ngàn oanh nước chảy áp đường mái sau.
145. Đại Lương số số chư hầu,
Vào ra ấp Vệ thánh quân giúp đời.
Tân quận khởi những mậu dần
Răn bảo người thế giữ thân cho lành.
Ngu dân chẳng biết sự tình,
150. Ngóng trông nào biết thánh quân đâu là.

Gặp thời có tuổi tác già,
Cũng tìm cho đến quốc gia giúp dùng.
Chu môn vinh hiển cao phong,
Muôn đời con cháu nối dòng cân đai.
155.Từ ngu chớ lấy xem chơi,
Dầu ai biết được gặp đời thánh minh.
Biết thời chẳng khá lộ trần.
Thánh ra trị nước, trị dân, trị đời.

Đại Minh, An Nam triều hội.
160. Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thòi tiết khai hoa.
Nghi đáo ngưu đầu quá mã.
Hồ binh bát vạn hồi gia.(12)

Thi vân:
Một áng mây che quáng giữa trời,
165. Nhìn xem đàn trẻ đánh nhau chơi.
Chờ thấy thầy tăng ra mới được,
Bấy giờ Bạch xỉ mới ra đời.

Thi vân
Ngũ thập tam đoài bách mộc khô,
Nguyệt tân ám thố tảo thành đô.
170.Song thiên thạnh mỹ sơn hà uế,
Nhất sĩ nghi hồ nhật nguyệt vô.(13)

Thị vân:
Phân phân tùng bách khởi,
Nhiễu nhiễu tự đông chinh,
Bửu giang thiên tử xuất
175. Bất chiến tự nhiên thành.(14)

Thi vân:
Thiên khí thương thương địa khí hoành,
Nguyễn gia sanh đắc nhất nam lang.
Quốc quân thời chánh thiên hạ định,
Nhất tịch thạnh sàng lập kỷ cương. (15)

180. Giang thái thủy hồng đa tài tật,
Lục nguyệt huỳnh hoặc tại sửu phương. (16)
Lão viên mẫm ngữ ca:
Bổ thượng thi vân:
Ba góc ruộng, bốn người cày
185. Ngươi hãy cày, ta mạ (17) tranh.
Chữ thiên cơ trời tỏ định,
Đến câu lục thất thị thái bình.


Vận nay minh chánh tiết lành, (Bản Sở Cuồng câu 1)
Thấy trong sấm ký tập tành nên câu.
190. Một câu là một nhiệm màu,
Anh hùng gẫm được mới hầu đứng cao.
Trải khắp sao che mây thái ất, (18)
Thuở tây cung xe nhật phò lên,
Việt Nam khởi tổ gây nền
195. Lạc Long ra trị đương quyền một phương
Thịnh suy bĩ thái chẳng thường
Một thời là một nhiễu nhương hằng lề.
Vua Ðinh tiên hoàng trong đời cửu ngũ
Mở bảng rủ áo chắp tay
200. Lê đao bỗng liền lại sinh.

Chấn cung nhật xuất đoài cung khoẻ phò.
Khôn chống trường thành bền cho.
Đoài cung vẻ rạng rừng thu,
Ra tay mở lấy đế đô vẹn toàn.
205. Tòa cửu thiên ám vừng hồng nhật
Dưới liền trên ăn vứt nhằm chân.
Sửa sang muôn việc cầm quyền.
Nằm nhưng ai dễ nhận giúp cho
Kìa liệt vương khí hư đồ ủng
210.Mặc quần hùng phong úng tranh khôn.
Trời sinh ra những kẻ gian,
Mặc khôn đổi phép, mặc ngoan tham tài.
Áo vàng mặc kẻ bỉ bai
Khi xui đắp núi khi sai mở đường.
215. Lấy độ điền làm công thiên hạ
Cậy mão nên đất nẻ cạn mòn
Con thơ ong óng tranh khôn
Vô già mở hội , Độc tôn mở chùa.
Cơ trời xem đã che mùa
220. Ðã đô lại muốn mở đô cho người.
Ấy trời ý hẳn lòng bất nhẫn
Suốt muôn dân cưu hận cưu hàn
Dưới trên dốc trí lo toan
Những đua bán tước bán quan làm giàu.
225.Lại rủ nhau làm mồi phú quí,
Mấy đấng hiền có chí an dân,
Ðua nhau làm sự bất nhân,
Ðã tuần biển nước lại tuần đầu non.
Quốc đồ chia rẽ càn khôn,
230.Mối giềng man mác làm buồn lòng nhau.

Vội sang giàu giết người lấy của
Sự có chăng mặc nọ ai suy
Sự làm thất thế lôi thôi,
Lệnh ra bỗng lại thấy thôi bấy giờ.
235.Xem tượng trời đã như ra trước
Còn hung hăng bạo ngược chẳng xa.
Gió cuồng cả sớm liền đêm
Còn đờn cửu khúc còn thi ngự đề
Ấy Tần hoàng hôn mê bất biết
240. Ðể muôn dân dê lại giết dê
Luôn năm chật vật những đi
Âm binh ở giữa nào thì biết cho
Thấy thành đô tiếng kêu ong ỏng
Cũng một lòng trời chống khác nào
245. Đêm ngày xem vững chiêm bao
Nào ai còn có ước ao thái bình
Một góc thành lao xao chúng quỷ
Ðều một lòng ích kỷ hại nhân
Bốn phương bời bời hồng trần
250.Làng kinh củi lửa , làng phân điếm tuần.

Quen vốn những suất dân làm bạo,
Khu đòi loài cáo quỷ tranh nhau
Nhân danh trọn hết đâu đâu (Nhân đoài soạn hết tự đâu)
Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê
255. (Hùm) Lợn khôn lạc dấu khôn về
Mèo con chi khắp tiêu về quỷ dương.(Mèo non chi chí tìm về cố hương)
Chân dê đầu khỉ leo tường
Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình
Nội thành chốn chốn hư kinh
260. Ðầu khỉ leo thành tin sứ đã sang.
Rẽ mậu dần Bắc giang tái mã
Trong hai xuân bỗng phá tổ long,
Quốc trung kinh dụng cáo không
Giữa năm vả lại khiếm hung (hung hoang) mùa màng
265. Gà đâu gáy sớm bên tường
Chẳng yêu thì quái ( cũng) bất tường chẳng không.
Thủy binh cờ phất vầng hồng
Bộ binh bát ngát (tấp nập) như ong kéo hàng (SC.84)
Ðứng (ngọ ngang ) hiên ngang đố ai biết trước
270.Ấy Bắc binh sang việc dĩ chi (gì) chăng ?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ, tưng bừng đòi nay (19)

Chưa từng thấy đời nào sự lạ
Bỗng khiến người vu (giá) họa cho dân
275. Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng bảo (dục) dân (ruộng) cày bừa.
Ðã nên dại (si) Hoàn Linh đời Hán
Ðúc tiền ra buôn bán nó ăn (bán tước cho dân)
Xưng xe mong khắp đôi quân,(Xun xoe những rắp cậy quân) (SC.95)
280.Chẳng ngờ thiên ý xoay vần đã công
Máy tạo hóa nặng tay dễ nói (hoá công nắm tay dễ ngỏ)
Lòng báo thù ai dễ sửa ngôi ( đã nguôi)
Thung thăng ban bổng (tưởng thấy) đạo trời
Phù Lê diệt Mạc (19b) cắt dời (nghỉ dời ) quân ra
285. Cát lầm bốn bể can qua
Anh (Nguyễn) thì chẳng được hóa( sẽ) ra lại về (20)
Còn (Quân) hùng quân nổi (binh nhuệ) đầy khe
Kẻ xưng cứu khổ (nước) người (kẻ) khoe trị đời
Bấy giờ Lê bấy khó thôi,(Bấy giờ càng khốn ai ôi)
290.Quỉ ma chật vật biết trời là đâu ?

Thương những kẻ ăn rau ăn quả ( rới) ,(21)
Gặp nước nguy (bung) con cái cậy (ẩn) đâu
Báo thù ấy chẳng sai đâu,
Tìm non có chốn (rẫy) chưng sau mới toàn
295.Chê (Xin) những kẻ hai lòng sự chúa
Thấy đâu hơn thì phụ thửa ân
Vậy Cho (nên) phải trụy (báo) trầm luân
Ai khôn mới được an thân (bảo thân ) đời này.
Nói cho biết (hay) khảm cung rồng dấy
300. Đấng (Chí) anh hùng gẫm ( xem) lấy mới ngoan.

Sấm (Chữ ) rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới gan thánh (anh ) tài
Hễ nhân doãn (kiến) ai về ( đã dời) đất cũ
Thì phụ nguyên mới lũ (trổ) binh ra (SC. 120) (22)

305. Bốn phương chẳng động can qua
Quần hùng ong dậy (các xứ ) điều hoà làm tôi
Bấy giờ mở rộng qui khôi
Thần châu thu cả mọi nơi vẹn (vạn) toàn
Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh

310. Hoàng phúc xưa đã định tây phong
Làu làu thế giới rạng (sáng) trong
Lồ lộ râu (mặt ) rồng đầu có chữ vương
Trỗ (Rõ ) sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu ấy lượng (là trí) Cao Quang ấy (là) tài
315. Xem thiên ý ( trời ) có lòng sinh (khải ) thánh
Dốc sinh hiền điều đỉnh hộ mai
Soạn đẩu tinh sanh vị sao (Chọn Đẩu, Thai những vì sao cả)
Cả dùng chưng phụ tá vương gia (Dùng ở tay phụ tá vương gia).
Bắc phương chính khí sinh ra
320.Có ông Bạch sĩ điều hoà sáng ( hôm) mai (Sở Cuồng 136)

Song thiên nhật rạng sáng soi ( Ngôn Quý mão tuế ) (22b
Thánh nhân chẳng biết xem ( thì) coi tỏ ( cho ) tường
Ðời này thánh phục (kế ) vi vương
Đô kiêm (Ðủ no ) đạo đức văn chương trong mình
325. Uy nghi dạng mạo (trạng mạo ) dị ( khác) hình
Thác cư một dải (góc) kim tinh phương đoài
Đêm ngày tinh nhuệ (Cùng nhau khuya sớm) dưỡng nuôi
Ẩn cư sĩ (Chờ cơ sẽ) mới ra tài giúp (cứu) dân
Binh thơ mấy quyển kinh luân
330. Thiên văn địa lý kinh (nhân) luân càng mầu

Lọ là phải mượn tài đâu, (Ở đâu đó anh hùng hẳn biết)
Mới biết vân sắc thức âu long thành.(Xem sắc mây đã biết thánh long)
Thánh nhân ở (cư ) có thụy tinh (cung)
Quân thần đã định chiền (gìn) mình ( lòng) chớ tham
335.Lại khuyên (dặn) đấng chí (tú ) nam hào (chí cả)
Chớ say sưa tham trọng tham lòng (Chớ vội vàng tất tả chạy rông)
Học cho biết lẽ (lý) kiết hung
Biết phương hướng hội chớ nhằm (có dùng) lầm chi.
Hễ trời sinh xuống tế tài (phải thì)
340.Bất kỳ nhi ( chi ) ngộ màng (mòng ) gì tưởng trông (bắc đông)
Chê (Kìa) những kẻ vội lòng phú quí
Xem trong ( lòng ) mình một thí (tí ) hư (đều) không
Ví dù có gặp ngư ông
(Lưới ) Chài đâu mà vải (sẵn) nên công mà hòng
345. Xin khuyên đấng hiền (thời ) trung quân tử
Hãy mang lòng trung nghĩa (ai nhớ) cho tinh.
Âm dương cơ ngẫu ngô sinh (ngũ hành)
Thiên văn độn giáp (Thái nhâm thái ất) trong mình cho hay
Văn thì luyện tỏ bày ( nghiên bài) quyết thắng
350.Trương (Khen) Tử Phòng , Gia Cát (cũng đấng ) Khổng Minh.(SC.166)

Võ thời thông yên thủy, thần kinh
Thời (Ðược ) vào trận chiến mới lành (rành) biến cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết lay (ray) tay bẽm miệng nói không
355. Ngõ mai (hay) gặp hội mây rồng
Công danh lừng lẫy ( choi chói) chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí trai
Lọ cho (là) đến phải ngược xuôi nhọc mình
Nặng lòng thật có vĩ kinh
360.Cao tay mới gẩm biết tình năm nao (SC.176)
Trên trời ứng (có) mấy vì sao
Tỏ sanh (Ðủ no) hiền thánh ( tướng) anh hào đòi (đôi) nơi

Nước Nam vua ( thường ) có thánh tài
Ai khôn xem lấy hôm mai cho ( mới) tường
365. Đành (So ) mấy lời để tàng kim quỉ
Chờ hậu mai có chí sẽ cho
Trước là biết nẻo tôn phò
Sau là có ( cao ) chí biết lo chiền mình (mặc lòng )
Xem đoài cung đến ngày (thời) bất tạo (SC.185)
370.Thấy vĩ tinh thì ( liệu ) tháo cho mau.
(Ngôn hổ tướng tàn ngược, quốc gia bại loạn tại vu thử thủ dã, nhất vu thân niên thân nguyệt, thân nhật thân thời, vĩ tinh xuất thân phương, thiên hạ đại loạn dã.) (23)

Coi (Nguôi) lòng tham tước tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân.
(Ngôn xuất lâm hiếm xứ, nội hữu thiên thời, địa lợi, nhân hòa, khả dĩ ẩn thân dã. Nhất vân Thái Nguyên, sơn đổng trù ngạn nhất hiểm dã; Vị Khê sinh thánh, nhị hiểm dã;Đoài phương tịnh thất khu hiệu phục man đắc tam hiểm dã) (24)

Lấy (Trẻ ) con mang mệnh tướng quân
Ngữ (Ngỡ) oai đã dậy, ngữ ( ngỡ ) nhân đã nhường. (SC.190)
(Ngôn chung dụng tiểu nhân bị tái phong hầu, dĩ phòng thất sách dĩ thử phá lỗ dã). (25)
375. Hãy (Ai) lấy gương (vua) U vương thủa trước
Loạn bởi chưng ( ru vì ) tham ngược bất nhân.
Bốn (Ðòi ) phương ong khởi ( kiến ) rần rần (lần lần).
Mông (Muôn ) sinh tam phủ ( ba cốc ) mang quân (cầm binh ) dấy loàn.
(Mạc thị loạn thế cử binh phục thù, tam đạo đồng tiến cố dã)(26)
Man mác một đỉnh Hoành Sơn
380.Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù.
(Ngôn Nguyễn thị tái cử binh phục thù) (27)
Ý những thù binh thảy thảy ( Ấy là những binh thù thái thái)
Lòng trời xui ai (nấy ) biết tân cho ( ru) ?
Phá điền đầu khỉ cuối thu
Ải (Tái ) binh mới tới (động) thập thò liền sang (SC.200)
(Ngôn thân niên đông nguyệt, bắc binh thượng mã xuất tái tam đạo đồng tiến).(28)
385. Lộ (Lọ) chẳng thường trong năm khôn xiết
Vả (Vẻ) lại thêm hung hiểm (hiệt) mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù tối om (đủ năm )
(Ngôn thân tiết tứ phương binh khởi giai bị hỏa tai gia tận khởi thiêu tận tuyệt giả).(29)
Trông (Coi) thấy những sương nghiêm (xâm) tuyết lạnh
390. Loài bất bình cậy (tranh) mạnh hung hăng
Thành gia (câu) cá, lửa tưng bừng
Kẻ xuôi (ngàn ) Ðông Hải người chừng (rừng) sơn ( Bắc) Lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất kẻ chìm (trầm) đầy sông (SC.210)
395.Song thu lạnh tiết hồng trí dã (Sang thu chín huyết hồng tứ giả)
Nỗi (Noi) đàn dê tranh phá càng ghê (đôi nơi)
(Ngôn quần hùng khởi binh trí chiến dã) (30)
Ðua nhau đồ thán quần lê
Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương
Kẻ thì bị sửa (phải thửa) hung hoang
400. Kẻ thì binh hỏa chiến trường chết oan. (SC.216)

Kẻ thì người (mắc ) thửa hung tàn
Kẻ thì bị (bận) của đa mang (bỗng toan) khốn mình.
(Ngôn hợi niên thiên hạ đại loạn, tử giả thập phần tồn nhất) (31)
Chuột nhâm dựng tổ cắn quàng (Muông vương dựng tổ cắn tranh)
Ðiều thì làm bá (chước) xuất binh ( thủ thành)
(Ngôn nhâm tí thập tánh xưng vi tứ sứ quân, nam phương hữu tứ, bắc phương hữu nhị, tây phương hữu tam xưng vi trưởng quân dã). (32)
405.Bời bời đua mạnh tranh giành
Ra đâu đánh đấy đem binh tối (sớm) ngày
Bể xoi (thanh) cá phải đội ( ẩn) cây
Ðất bằng núi phẳng (nổi sấm) cát bay bụi ( mịt) mù
Nào ai đã dễ nhịn thua (nhìn u)
410.Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn
Cây khô lá héo (bay lá lửa) đòi ( đôi) ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao cho biết nơi hòa bảo thân (SC,230)

415.Ðoài phương thực có chân nhân
Quần tiên khởi nghĩa nào phần hại ai ( chẳng phân hại người)
Tìm cho biết (được) chốn biềt (được) nơi
Thái nguyên một giải góc nơi trụ đình( lần chơi trú đình)
(Ngôn sơn động kỵ phong khả dĩ dung thân) (33)
Bốn bề núi đá vây đoanh (riễu quanh)
420. Một đường tiểu mạch nương mình ấy (đấy) an
(Ngôn Thái Nguyên đa sơn diệc hiểm, Tản Lĩnh khả dĩ dung thân bảo toàn)(34)

Thấy (Hễ ) Ðông Nam nhiều phen giặc dậy (tàn tặc)
Lánh cho xa kẻo mắc đao binh
Bắc phương (kinh ) mới thật đế kinh
Mình chưa dễ giấu, (Giấu thân chưa dễ) giấu danh được nào
425.Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho biết ( được ) chốn mới vào thần cơ (kinh ).
Ai dễ cứu con thơ sa giếng
Đều (Ðua) một lòng tranh chiến (tiếng) đua ( giục) nhau.
Muôn ( Vạn ) dân chịu thửa âu sầu
430.Kể từ (dư) đôi ngũ mới hầu yên ( khoan) cho
Cấy cày tua (thu) đợi (đãi) được (thời ) mùa
Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai.
(Phá điền thiên tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành). (35).
Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền quân nậu (binh nhọc) chẳng nài thêm lương (lương thêm) (SC.250)
435. Xem tượng trời biết lành (đường) đời trị
Gẫm thế nào ( về sau ) họ Lý xưa nên
Giòng nhà bát đấu (để thấy dấu) còn truyền
Gẫm xem tứ bửu ( bốn báu) nả khen (còn in ) đời đời
(Ngôn Lý thị viên tinh thành khỉ kỳ hậu đắc đạo, thu đồng chú An Nam tự khí dĩ vi bửu đồ gidã) (36)
Thần long (qui) cơ nổ ở trời
440.Cho (Ðể) làm thần khí giúp ( thửa) nơi trị trường (Ngôn quá Cổ Loa đắc thử thần khí) (37)


441.Lại nói sự Hoàng Giang sinh thánh
Sông Bảo Giang đã (thiên) ai hay
Lục thất cho biết ngày dầy (rày)
(Ngôn Nguyễn thị sanh ư bắc phương, cư tại Sơn Tây xứ)
Phụ nguyên ấy thực ở miền (rày) Tào khê (SC. 260)(38)
445.Có thầy Nhân thập đi về
Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh
(Ngôn thiên sanh ngọ tuế, tôn vi sư phó chi vị nhậm trọng kinh dinh dĩ thành vương nghiệp).(39)

Giốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp muôn (vạn) dân cho đẹp lòng trời
Ra tay điều đỉnh hộ mai
450. Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân.

Lọ là phải nhọc cất ( kéo ) quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.
(Năm) giáp tý vẽ khuê tinh đã rạng
Lộ Ngũ tinh trinh tượng bình (thái ) hanh (SC.270)
455.Ân trên vũ thí vân hành
Kẻ thi (thơ ) ký tuý kẻ canh Hữu ( xuân ) đài
Bản đồ chảng rốt (sót) cho ai
Ngàn nay (Nghìn năm ) lại lấy phục nay (hội nơi) vẹn toàn.
(Ngôn cử binh phạt Bắc Hồ phục dẫn thể bản cựu) (40)
Vững Hùng (nền) vương cha truyền con nối
460.Duy (Dõi) muôn đời một mối xa thư

Bể tăm kình ngạc bằng tờ (Bể kình tăm lặng bằng tờ)
Trăng đâu (thanh ai ) chẳng ơn nhờ gió xuân
Âu vàng xưa (khỏe) đặt khỏe (vững) chân
Cương kỳ thế nước muôn xuân hưởng dài (SC.280)
( Càng bền thế nước vạn xuân lâu dài)


465.Lại xem đứng làm trai quân tử
Xem kẻ đời biết giữ mới khôn,
Tìm cho biết bạn phương viên,
Mới mong có được gia môn vẹn toàn.
Thái sơ của chuốt dầy lên,
470.Dẫn khuyên đấng hiền kẻ có đầy khe.
Chớ nhầm phải bạn u mê,
Luống công ngày tháng có nghề chi đâu.
Lại dạy đấng trượng phu chí khí,
Tua thời lòng trung nghĩa thảo ngay.
475.Vàng bền gan sắt chớ khuây,
Mới nên đấng cả mai ngay anh hùng.

Phòng khi cơ biến mới hòng dậy nhau.
Xin chớ vội giàu sang mặt thấy.
Tua đợi thời lừng lẫy tướng khanh.
480.Trong lòng làu biết ám minh,
Ngàn năm bia tạc miếu linh còn thờ.
Làm người biết lo xa mới khá,
Chớ xem thường nữa họa đến thân,
Chọn người kẻ có tướng tăng,
485.Thử cho có phép biết chừng người sang.
Vàng toàn phải lấy lửa than,
Khôn ngoan thực có được nhân rượu nồng.
Mấy kẻ bao dung lượng rộng,
Càng rủ nhau ra chốn miếu đường
490. Chẳng như trí mọn tài thường,
Quen loài bạo ngược nói cường lấy hay.
Đến khi bấm miệng ra tay,
Xem tài cũng chẳng sánh tày ai đâu.
Biết lánh xa mới nên quý giá,
495.Mấy kẻ nên xem lạ khác vời.
Ngư ông là kẻ thuyền chài
Đã duyên lại lưới đã chài lại câu.
Sớm khuya đã có trí mưu,
Mói nên bộ tróc công thâu vẹn toàn.
500.Dang tay họp bạn hiền tri kỷ.

Tua sửa sang cương kỷ cho bền.
Thuốc thang phòng mãn đựa tiên,
Đã viên ngũ thánh lại viên lục thần.

(Xuất thái ất kinh lục thập tam quyển, trạch đắc Thiên nguyệt đức hướng bắc phương thiết đàn tế thiên địa thánh thần ngũ tướng các thần, luyện thiên thánh hoàn dĩ tẩy khí giới huựu sanh thập ác cửu xú nhật hướng bắc phương tế ngũ tướng, tái tự thiên thần, nhất hoàn dĩ tẩy khí giới khả dĩ miễn nhất thân chi nạn) (41)

Can qua ai khá vệ thân,
505.Thiên văn ,động giáp thâm phân chưa nhầm.
Tay làu biết thất cầm ngũ thánh,
Lòng lầu thông an thủy thần kinh.
Luyện chưng phép ấy cho tinh,
Gặp thời âu ắt nên danh phỉ nguyền.
510. Đời này sanh những người hiền,
Đó dùng dối trá có nên ích gì!
Lại khuyên kẻ tri cơ quân tử,
Chớ thấy thế ngại chí mà buồn.
Chớ nề bạch ốc chu môn,
515.Rồng mây cả hội dành còn về sau.
Hãy công nặng sức đèn dầu,
Hãy công kết nghĩa bạn theo người hiền.
Một mai ra gặp cơ duyên,
Quân thần cả nước bán thiên vui vầy.
520.Tâm truyền chép để cho hay

Suy gẫm mới biết sau này mặc ai
Lại nói sự tướng tài phụ tá
Ứng mỗi vì cửu tọa tam thai.
Đặt làm tứ trụ đầu ngôi
525. Bắc tam nam nhất trong đời dậy danh
(Tiên Du huyện, Núi Nguyên xã; Bảo Lục huyện,Phú Châu xã cư tại Tức Mặc xã; tánh Trần. Đông NGạn, Uy Nỗ xã, Thanh Trì huyện, Quang Liệt xã, tánh Võ) (42)
Kim Cang , Bát Bộ tướng tinh,
Đem binh ra sức chống thành Việt Nam.
Đồng thời Nguyễn thi, Nam Nghiêm,
Đào thời, Giang Việt, xã Hoàng Châu kim.
530.Lưu Lang, An Lão khác tìm,(Tầm thường dã)


Chàng Chậu, Bạt Lộc ầm ầm dậy vang.
Thiên hương bay nức họ Lương,
Cấu Sanh, Lan Xá, đón chàng Võ Công.

(Đông Di huyện, Lộc xá xã, Nguyễn.
Nam Anh huyện, Haòng Đồng xã, Nghiêm.
An Việt huyện, An Giang xã, Đào.
Kim Đồng huyện, Hoàng Vân xã, Chu.
Lão An huyện, Lão An xã, Lưu.
Bất Bạt huyện, Khang Bảo xã, cải Phùng thị.
Thiên Bản huyện, Cao Hương xã, Lương.
Thanh Lan huyện, Ca xá xã, Võ) (43)

Đến bốn bảy vị trong tinh tú,
535. Đôi mươi tám hiền phụ rập vai.
Giác nguyên sao trước rạng soi,
Lê nay Đông Vệ, Lương ngôi Nam Đường.

(Đông Sơn huyện, Đông Vệ xã, Lê.
Nam Đường huyện, Nam Đường xã, Lương.)(44).

Gia tiên Phùng ,Lý, Đào Dương,
Cơ, Tinh liền sánh mấy hàng Tĩnh, Nguy.
(Gia Lâm, Lý, Phùng nhị tánh; Tiên Du, Đào, Dương nhị tánh) (45)
540. Họ Đoàn Chân Lũng cậy thời, (Nam nhân, Sa Lũng)
Cầm quyền thủ tướng an bề Việt Nam. (45b)
Ứng vị Sâm, An, Nghi nhị huyện (An Lão xá, Nghi Dương huyện, Võ) (46)
Mão nhật kê lương Võ Thủy dao ( Lương Võ huyện, Dao Thủy xã, Võ. (47)
Hư Trương thái rạng đôi sao,
545. Cẩm Lương tài lạ ứng sao điều Trần ( CẨm Giang huyện, Trần; Lương Tài huyện, Trần).(48)
Sao Giao, An Viễn họ Thân, (An Viễn huyện, An Viễn xã) (49)
Khuê tinh giáng khách Tây Chân Nguyễn tài.
Hoàng cùng Nguyễn đôi người cỡi phụng
Sao Nữ Vỹ tương ứng Phàn Long
550. Nguy Chủy ,Châu, Dực, Hoàng, Phòng (Chủy, Dực: Hoàng thị, Châu thị nhị tánh) (50)

Đôi An, Đại Ý càng nồng càng ghê.
Lưu, Lê đều ứng Lâu, Đê,
MỘt quê Hữu Lũng, một quê Na Ngàn. (Ô Sơn huyện HoàngNguyễn; Ý Yên huyện đồng Hoàng; Đại Yên huyện: Phạm; Hữu Lũng huyệnLưu; Đông NgạnLê (51)

Tâm Nguyệt Cơ Thán Sơn họ Đặng,
555. Quỹ Kim dương thực đáng họ Vương (Kim Sơn huyện: Vương)
Thất Trư Trường Tân họ Hoàng (Trường Tân huyện)
Từ Liêm họ Quách sao Cang.
Lưu Ngưu Na Ngạn, Bích Trừ, Chân Lưu.
Ứng vì sao Đẩu, chàng Châu Lương Tài
(Từ Liêm huyện, Đông Ngạn xã: Quách; Lương Tài, Đich Sứ xã:Châu, Đông Ngạn huyện: Lưu) (52)

560.Sao nhiêu ứng đẩu tinh liệt vị
Cấu tinh anh hùng khí tiền nhân.
Bầy ngôi phụ bật tướng quân,
Nguyễn Lưu Tiên ấp kinh luân mối giềng( giường).
Võ Châu còn ứng vượng phương,
565. Thán thời có Nguyễn cùng Đường Hoàng Lưu.

(Tiên Du huyện: Nguyễn; Thán Sơn: Nguyễn; Đường An huyện Tô Võ Châu)(53)
Võ kia hai Võ tài ưu.
Đếu làm tướng súy giúp phò quốc gia.
(Linh Loại huyện, Võ;Võ Ninh huyện:Võ) (54)
Trần Khiêm cùng Tư Trần là

Một quê Chân Định, một nhà Thanh Lan.
570.Dương Khúc đôi ứng môt đoàn
Lại khen chàng Nguyễn có trang trung thần.
(Nghi Dương huyện, Khúc Xuân xã:Nguyễn) (55)
Đông Tây sao Đẩu xoay vần,
Nam Bắc tàm Lý Trần biệt mặc cố hương.
Một quê thời ở Quế Dương,
575. Một người ở lại miền Trương Hiệp Hòa
(Quế Dương huyện, Hoa Vi xã: họ Trần. Hiệp Hòa huyện, (Quế Dương huyện, Kỳ Sơn xã: họ Lý) (56)

Mỗi người đều ứng một tòa,
Vệ triều Tử Phủ vào ra Cấm Đình.
Bảy mươi hai võ tộc tướng tinh,
Tiên Du nhiều tướng hiển vinh.
580. Trong làm tiền hậu, ngoài kinh trập trùng.
Đào tươi, Dưong tốt thực dòng,
Đôi Lưu, năm Nguyễn, hợp cùng sáu Lê.
Đôi gia đồng chủng một bề
Chủy tinh cùng ứng cùng đều giáng sinh.
585. Ra tay nguyệt phủng thiên kình,
Kẻ đành họ Lý, người đành họ Vương.
Đôi ngàn nhiều cũng khác thường,
Úng chưng thiên mã ,kình dưong mỗi vì.
Hoa Trương thị, Nguyễn Chấn Lê,
590. Sao Cơ họ Lý, sao Kim họ Bùi.

Thả Kim Lộc những tài lương đống,
Hai họ Trần đều chống cả hai.
(Kim Hoa huyện, Mỹ Lộc xã: Trần; La Lộc xã:Trần) (57)

Thanh Đàn, Na ngạn, Thanh Oai
Lưu, Nghiêm, Nguyễn Phạm nên trai anh hùng.
595. U châu Nguyễn ứng Thiên Đồng,
Thiên Lương họ Võ ở dòng Võ Minh.
Thư Trì Phùng Đặng lưỡng khanh,
Ứng sao Thất Sát có tình Tham Lang.
Nguyễn Nam Tinh cùng Hoàng Dao Thủy,
600. Thiên Dũng Thế (Yên Dũng, Yên Thế) đôi phương là thường.

Nghi Dương xã Nguyễn BÙi Vương đắc,
Dương Lương Tạ Thanh Lan Lê Bùi.
Phụng Tiên, Hữu Lũng, Thiện Tài,
Phạm Chu Lý Nguyễn từng trai bày hàng.
605.Tướng Ngạn Sơn ngọ ngang càng lạ
Nguyễn danh công cùng Tạ danh công
Trường Tân sao ứng một dòng
Lê Trần đôi họ cùng thông một đoàn.
Từ Liêm, HƯơng Cát, Âu Lan.
610. Đón chàng Lê Nguyễn có gan mới bền.
Nội nhân diễn võ tương hiền,
Nguyễn miền ở Thẩm, Lê miền ở La.
Hữu tướng, phi tướng ai qua,
Ninh Đông có Phạm, Hợp Hòa có Lê
615. Sao Thiên Mã giáng sinh cấu khí
Độ nhị lang có chí ai qua.
Vác dao có Nguyễn vào ra,
An Lang họ Nguyễn, Nhạc là họ Lê
Lập Thạch cũng đấng hiền Lương
620.Linh tinh hạn thiệt Đào Lang chẳng ngờ.
Thiên Mã tướng tinh mãnh đạn
Thân Đắc Hán cùng Lý Quỳnh Khanh,
Võ thị họ Đào, Cẫm Giang Sơn Vi.
Lại có Trịnh Hoành các khanh,
625. Bấy nhiêu ứng sở vị tinh
Đều làm vương tá thánh minh phù trì.
Cùng nhau những tướng trí nho,
Gặp thời cũng được phong lưu sang giàu.
Ở nhưng chưa dễ nên đâu
630. Có đất, có phước mới hầu mong nên.
Dựa xem chép làm một thiên
Hậu sanh nghiệm trước mới sanh cơ trời.
Ấy lòng trời thái bình mới biết
Điềm tượng trời vốn đã đinh xưa.
635.Tình cờ chẳng phải tình cờ
Ngôi trời đã định lọ cầu thạch bi.
Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
(Tự thìn niên thập nguyệt chí tị niên tứ nguyệt) (58)
Mã đề túc tận hưu binh. (Tự ngọ niên lục nguyệt chí vị niên thập nhị nguyệt) (59)
Nhất sĩ thị tri anh hùng tận,
640. Thân dậu niên gian hưởng thái bình (Thân niên nhị nguyệt, dậu niên thập nguyệt) (60)

Thi vân:
Ngũ thập tam đoài bách mộc khô,
Tân niên thố ám tảo thành đô
Song luân binh xuất sơn hà uế
Nhất thố nguy khai nhật nguyệt vô.

Thi vân:
645. Lưỡng mộc tương ma hỏa tự sinh
Chi phân... đoạn khởi đao binh
Ngũ hồ đồng tánh thiên nguyên khí
Biến thế nhân gian hưởng thái bình.
Thi vân:
Nhị tam điệt tác diệu thiên công,
650.Tứ hải du niên hỗn nhất đồng.

Nhật nguyệt kê minh thường xuất mão,
Thố trung ta ức phỉ tùng phong.

Thi vân
Hoàng giang phún thủy tại nguyệt thành
Thùy thức thiên tâm dĩ triệu tường.
655. Tây lãnh... nhiên cao kỷ trượng
Khuyên võ kinh khẩu bất thương nhân.

Thi vân:
Thế thường lục thất nguyệt niên gian,
Bất tín tu cầu na sự khan
Thái nhĩ thiên tâm lương nghi
660.Khuynh quỳ xứ xứ cửu nhai hoan.
Huyền cơ thùy thức am minh trung
Chỉ phong nghiêm siêu nhân ý trung.
Chuyển vận tự văn đoài lạc địa
Tuần hoàn hựu kiến khảm cư cung


Hựu:
665. Hữu vô vô hữu thục đa đoan,
Bất tín tu cầu na sự khan.
Đông dĩ hướng khai tùy diệt tác
Tuần hoàn hựu kiến nhật tiền khan.

Thi vân:
Thiên hạ phân phân nhiễu nhiễu nhương,
670. Thùy tri thánh đế tại hà phương.
Hiền nhân dục thức vi thần phụ
Bất tại man hương tại địch hương.
Nhất tự tam nhân đồng,
Nguyệt vô thủy vô hỏa
675.Thử thánh nhân cho danh.

Hữu thi
Giang đông ngạn thượng đản tầm thường
Bị khởi trần lăng tác đế vương.
Thiên hạ đô lai quy nhất thống
Thử niên xuất trị vĩnh diên trường.

Hữu thi
680.Hỏa hiền thố nhân thú mộc dương
Thị thánh nhân thủy cung long đức
Ẩn vi sơn tự phụng hỏa thần,

Trư vận hưng vương thất
Niên gian lục thất tuần
685. Thế truyền thập lục diệp
Tộ lưu ngũ vạn xuân

Hựu:
Huyển trung thập tam khẩu dĩ chủy kiết chi nhân.
HẾT

___

XIN LƯU Ý

1. Các hàng chữ nghiêng trong ngoặc đơn là chú của tiền nhân đã ghi sẵn trong bản nôm.
2. Bản này do Phùng Khắc Khoan viết nhưng từ câu 188 cho đến 464 giống bản Sở Cuồng-Mai Lĩnh từ câu 1 đến 280 mặc dầu khác biệt một vài chữ ("Vận lành mừng gặp tiết lành "... . . Càng bền thế nước Vạn Xuân lâu dài")

CHÚ GIẢI
(1). Thuận Đức: Mạc Kính Hoàn hay Mạc Kính Vũ (1638-1677) là con của Mạc Kính Khoan lên ngôi đặt niên hiệu Thuận Đức , năm mậu dần ( 1638) - đinh tị ( 1677).
(2).Canh tý (1540). Mạc Đăng Doanh mất năm canh tý (1540), con là Mạc Phúc Hải lên ngôi. Năm này Nguyễn Kim khởi binh đánh Nghệ An, mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê.
Trong câu này có hai chữ " vận" và " nguyên".
Theo lịch số Á Đông, thời gian xoay chuyển. Mỗi hoa giáp (60 năm) là một nguyên. Khởi đầu là thượng nguyên, đến trung nguyên rồi hạ nguyên. Hết hạ nguyên đến thượng nguyên, trung nguyên, cứ như thế mãi.
Mỗi nguyên lại chia ra vận, mỗi vận 20 năm.
Theo độn giáp, cách tính như sau:
- Can Giáp Kỷ gia với Tý Ngọ Mão Dậu là Thượng nguyên
- Can Giáp Kỷ gia với Dần Thân Tỵ Hợi là Trung nguyên
- Can Giáp Kỷ gia với Thìn Tuất Sửu Mùi là Hạ nguyên
Do cách tính này, người ta biết cát hung, thịnh suy, bỉ thái.
Có nhiều sách Tử vi, lý số ghi rõ các nguyên vận:
Ví dụ
THƯỢNG NGUYÊN:
* Vận 1: từ năm 1864- 1883
* Vận 2: từ năm 1884- 1903
* Vận 3: từ năm 1904- 1923.

TRUNG NGUYÊN :
* Vận 4: từ năm 1924- 1943
* Vận 5: từ năm 1944- 1963
* Vận 6: từ năm 1964- 1983

HẠ NGUYÊN:
* Vận 7: từ năm 1984- 200
* Vận 8: từ năm 2004- 2023
* Vận 9: từ năm 2024- 2043

Theo cách tính của Phùng Khắc Khoan, năm canh tí (1540) là khởi đầu trung nguyên.

Ngoài Tam nguyên còn có Tam Kỳ. Nhiều số gia, đạo gia, trong đó có Cao Đài giáo cho rằng từ trước đến nay có ba thời kỳ, là nhất kỳ, nhị kỳ và tam kỳ ( Tam kỳ phổ độ). Nay nhân loại đang ở tam kỳ là thời kỳ cuối cùng.
Nhứt kỳ Phổ độ
Là thời kỳ hình thành nên các tôn giáo trên thế giới.Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với đặc điểm đó và đã mặc khải cho các đệ tử đầu tiên thay mặt Thượng đế để truyền đạo: Các đệ tử đó là: Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ.Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung Hoa.Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung Hoa; Thánh Moise mở Do Thái giáo ở nước Do Thái.
Nhị kỳ Phổ độ :
Cao Đài giáo cho rằng sau một thời gian, các giáo lý được Thượng đế truyền dạy đã bị các tín đồ diễn giải sai lạc. Vì vậy, Thượng đế một lần nữa đã truyền dạy cho các đệ tử của mình ở các nơi trên thế giới, thực hiện hiện vụ chấn hưng nền đạo: Các đệ tử đó là: Phật Thích Ca, Thái Thượng Lão Quân ,Khổng Tử , Chúa Jesus Christ .. .
Tam kỳ Phổ độ:
Với sự phát triển, xu hướng tất cả các tôn giáo đều hợp thành một tôn giáo duy nhất dưới quyền cai quản Thượng đế, được Thượng đế điều hành, truyền giảng trực tiếp cho các tín đồ thông qua hình thức cơ bút. Đó chính là đạo Cao Đài.


(3).Đồng ca truyền từ đời Lê Đại Hành ( 980-1065) : " Thụ căn.. . thái bình". Câu đầu có sách phiên âm là " yểu yểu". Phùng Khắc Khoan đã giải thich ở dưới.
(4). Hòa đao mộc là chữ Lê . Lê Đại Hành (941 – 1005) là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005. Lê Long Đỉnh lên ngôi từ 1005 đến kỷ dậu ( 1009), hai triều tổng cộng 29 năm.
(5). Thập bát tử là nhà Lý . Nhà Lý làm vua 9 đời. Lý thái tổ (1010- 1028) mở đầu đến đời Lý Chiêu hoàng (1225) thì truyền ngôi cho Trần Cảnh, tổng cộng 216 năm.

(6). Đông A : nhà Trần. Nhà Trần làm vua 12 đời, khởi đầu từ Trần Thái Tông (1225-1258) đến Trần Thiếu Đế (1398-1400)/ được 175 năm.
(7). Dị mộc: nhà hậu Lê. Lê thái tổ (1428- 1433) dựng nhà Lê đến Cung Hoàng gồm 10 đời vua dài 100 năm.
(8).Chấn cung hiện nhật : chỉ nhà Mạc trong chữ Mạc có chữ nhật. Chấn là phương Đông. Quê Mạc Đăng Dung ở Hải Dương xưa gọi là tỉnh Đông.
(9). Đoài cung: chỉ họ Trịnh. Họ Trịnh quê ở Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thanh Hóa là Tây đô (Thăng Long là Đông đô)
(10).Lục thất : nhà Nguyễn (lục thất dùng thay 陸, chữ lục gần giống chữ Nguyễn)

A. Đoạn trên từ câu 25 cho đến câu 85 "Những xưng xe phù Lê diệt Mạc/Cái oan gia người khác giết nhau." là nói sơ lược lịch sử nước ta từ Đinh cho đến Lê Mạc chiến cuộc.
(11). Tân vị (1571). Tác phẩm này viết năm 1571, lúc tác giả 45 tuổi. Năm 1570, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa. Cùng năm này, Trịnh Kiểm mất, hai con là Trịnh Cối, Trịnh Tùng tranh ngôi, Trịnh Cối hàng Mạc. Năm 1592, Trịnh Tùng chiếm Thăng Long. Năm 1557, Phùng Khắc Khoan ra thi Hương ở triều Lê, đỗ đầu, được Trịnh Kiểm giao việc, nhưng sau bị đày đi Thành Nam (huyện Con Cuông, Nghệ-An), rồi được phục chức, mãi đến 1580 mới thi Hội, đỗ thứ hai. Như vậy, bản Sấm ký này, Phùng Khắc Khoan viết khi phục vụ nhà Lê, dưới quyền họ Trịnh.
(11b). Thầy Sãi, ông nghè: Sãi vương, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). Chữ Nôm Sãi vốn là chữ Sĩ
B. Từ câu 95, tác giả nói về các việc xảy ra sau đời vua Lê chúa Trịnh.
(12). Đại Minh, An Nam triều hội.
Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thòi tiết khai hoa.
Nghi đáo ngưu đầu quá mã.
Hồ binh bát vạn hồi gia.
(Câu 159-163)

Đoạn này nói về việc quân Mãn Thanh sang Việt Nam rồi bị vua Quang Trung đánh tan. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, cầu viện hoàng đế nhà Thanh là Càn Long. Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 20 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long. Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà.

Cánh quân của đô đốc Long tập kích đồn Khương Thượng khiến quân Thanh không kịp trở tay, hàng vạn lính bỏ mạng. Chủ tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn. Hồ binh là quân Thanh, ngưu đầu quá mã nghĩa là trong khoảng tháng chạp ( trâu, tháng sửu) đến tháng năm (ngọ, mã) thì quân Thanh chạy về nước. Thanh minh thời tiết khai hoa: Thanh minh là tiết trời đẹp, muôn hoa đua nở. Cuối chạp đầu tháng giêng lkỷ dậu (1789) à mùa hoa nở.Phải chăng quan Thượng muốn ám chỉ quân Thanh (1644-1659). Lúc quan thượng thư còn sống thì thuộc nhà Minh.

Đoạn này rõ ràng là nói sự chiến tranh giữa Việt Nam và nhà Thanh (Đại Minh, An Nam triều hội . Nhưng đoạn này vẫn có ở các bản khác, như bản Sở Cuồng, Mai Lĩnh, chỉ khác vài chữ:
410.Cửu cửu kiền khôn dĩ định (38)
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập trường an.
Và bản Trịnh Vân Thanh 165- Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An.

(13). Ngũ thập tam bách mộc khô: không rõ
Thành đô trăng mờ. Non sông ô uế
Nhất sĩ nghi hồ nhật nguyệt vô.: không rõ.
Nói chung là đất nước tối tăm.


(14). Lược dịch:
Tùng bách mọc xanh xanh.
Đoàn quân đông chinh tung hoành.
Thiên tử xuất hiện ở sông Bửu ( không rõ Bửu giang ý nghĩa gì)
Không đánh mà đại thành


(15). Thiên khí thương thương địa khí hoành,
Nguyễn gia sanh đắc nhất nam lang.
Quốc quân thời chánh thiên hạ định,
Nhất tịch thạnh sàng lập kỷ cương.

Lược dịch:
Khí trời đất mênh mang
Họ Nguyễn sinh một chàng
Sẽ ổn định đất nước
Sẽ lập lại kỷ cương.

(16). Giang thái thủy hồng đa tài tật,
Lục nguyệt huỳnh hoặc tại sửu phương.
Sửu phương là phương bắc.
Sông dâng nuớc lụ, phương bắc ( sửu phương), tháng 6 loạn.
(17). mạ: Tiếng cổ, cũng ghi là mạ, mựa nghĩa là chẳng, không.
(18). Đọan 186-205: Đoạn này như là mở đầu của một quyển sấm khác, sơ lược lịch sử Việt Nam từ khởi đầu đến Lê và Mạc.

(19). Đoạn 265-270, nói việc quân Thanh sang xâm chiếm, Việt Nam cuốí năm mậu thân (1788) đầu năm kỷ dậu (1789).
(19b). Phù Lê diệt Mạc...(Chú trong nguyên bản :Thác Mạc chỉ trịnh : nói họ Mạc để ám chỉ họ Trịnh. (Tây Sơn Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lấy danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh. Phùng Khắc Khoan làm quan đồng triều với họ Trịnh nên thác ra họ Mạc).
285. Cát lầm bốn bể can qua
(20). Anh (Nguyễn) thì chẳng được hóa( sẽ) ra lại về. Nói việc Nguyễn Huệ đem binh ra Bắc diệt Trịnh phù Lê năm 1786. Nghe tin Nguyễn Huệ ra Bắc ,anh là Nguyễn Nhạc lập tức ra Bắc nhưng rồi lại về tay không. (Nguyễn Huệ chiến Thăng, được làm phò mã, được vàng bạc châu báu, còn Nguyễn Nhạc chẳng có gì!)
(21). Rới: Rới, rưới, giới là rau.Người ta cũng nói rau rới. Phải chăng do chữ芥 giới là rau?
(22).Sấm (Chữ ) rằng lục thất nguyệt gian
Ai mà nghĩ được mới gan thánh (anh ) tài
Hễ nhân doãn (kiến) ai về ( đã dời) đất cũ
Thì phụ nguyên mới lũ (trổ) binh ra (SC. 120)
Nhân Doãn: Chỉ Chiêu Thống. 統 trong chữ thống có chữ Doãn允 (Duẫn).Khi vua Chiêu Thống về nước thì quân Nguyễn ra đánh phương Bắc. Nguyễn Huệ hay sau đó Nguyễn Ánh?
Nhân Kiến cũng chỉ Lê Chiêu Thống vì tên ông là Lê Duy Khiêm 黎維謙 . Chữ Khiêm 謙 trong có chữ một phần chữ Kiến 毽 , 建 . Khi Lê Chiêu Thống theo quân Thanh chạy sang Trung Quốc, bỏ Thăng Long, sau đó thì Nguyễn Huệ đem binh đánh tan quân Thanh, và một thời gian nữa thì Nguyễn Ánh đem binh ra đánh tan Tây Sơn, thống nhất đất nước.
(22b).Song thiên: chỉ người tuổi quý mão. Chữ quý 癸 chiết tự thành song thiên.
(23).Ngôn hổ tướng tàn ngược, quốc gia bại loạn tại vu thử thủ dã, nhất vu thân niên thân nguyệt, thân nhật thân thời, vĩ tinh xuất thân phương, thiên hạ đại loạn dã.)Các tướng quân hung bạo, đất nước loạn lạc. Năm thân, tháng thân, ngày thân, giờ thân có sao chổi mọc, báo điềm đại họa.
(24).Ngôn xuất lâm hiếm xứ, nội hữu thiên thời, địa lợi, nhân hòa, khả dĩ ẩn thân dã. Nhất vân Thái Nguyên, sơn đổng trù ngạn nhất hiểm dã; Vị Khê sinh thánh, nhị hiểm dã;Đoài phương tịnh thất khu hiệu phục man đắc tam hiểm dã.
Nơi Tam hiểm:Nói việc vào rừng núi hiểm trở ẩn thân. Nơi này có đủ các yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Địa điểm thứ nhất là Thái Nguyên, có sơn động hiểm trở, thứ hai là Vị Khê là nơi sinh thánh (?), thứ ba phương tây (Đoài) có tịnh thất.
(25).Ngôn chung dụng tiểu nhân bị tái phong hầu, dĩ phòng thất sách dĩ thử phá lỗ dã. ( Nói về đất nước lọan lạc, bọn tiểu nhân xưng hùng xưng bá.
(26).Mạc thị loạn thế cử binh phục thù, tam đạo đồng tiến cố dã)(26) Họ Mạc đem ba đạo quân đồng tiến để báo thù. (27). Họ Nguyễn đem binh báo thù. Đoạn này nói về đời Mạc. NGuyễn Kim đánh Mạc.
(28). Tháng mười ta, mùa đông, năm thân, quân phương Bắc ba đạo tấn công. Phải chăng nói việc quân Mãn Thanh vào Thăng Long năm mậu thân 1788?.
(29). Hỏa tai khắp nước vào tiết thân.(Phải chăng tiết lập thu vào tháng bảy ta?)
(30).Ngôn quần hùng khởi binh trí chiến dã. Quần hùng nổi khắp nơi.
(31). (Ngôn hợi niên thiên hạ đại loạn, tử giả thập phần tồn nhất) : Năm hợi, thiên hạ đại loạn, bốn phần còn một.
(32). (Ngôn nhâm tí thập tánh xưng vi tứ sứ quân, nam phương hữu tứ, bắc phương hữu nhị, tây phương hữu tam xưng vi trưởng quân dã). Đời Mạc, năm nhâm tí , mười người nổi lên, xưng sứ quân . Nam phưong 4, bắc 2, tây 3.
(33). (Thái nguyên một giải góc nơi trụ đình/Ngôn sơn động kỵ phong khả dĩ dung thân) . Nói về Thái Nguyên có sơn động kín gió có thể nương thân.
(34). (Ngôn Thái Nguyên đa sơn diệc hiểm, Tản Lĩnh khả dĩ dung thân bảo toàn): Thái Nguyên, Tản Viên là nơi dung thân tốt.
(35).(Phá điền thiên tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành). Phá điền có người giải thích là năm sửu. Năm sửu nào?
(36). (Ngôn Lý thị viên tinh thành khỉ kỳ hậu đắc đạo, thu đồng chú An Nam tự khí dĩ vi bửu đồ gidã) . Truyện kể rằng, vào thời nhà Lý (thế kỷ 13) ở thành Ðại La (Hà Nội) có một nhà sư pháp thuật cao cường tên là Không Lô, tên thật là Dương Minh Nghiêm . Một ngày kia, sư Không Lộ lên đường sang Trung Quốc, mang theo một cái túi nhọ. Nhà sư xin yết kiến vua nhà Tống, để quyên một ít kim khí, đựng trong một túi vải nhỏ đem về đúc thành tượng Phật. Ông có pháp thuật khiến cả kho kim khí Trung Quốc đều bị thu vào bao của ông. Lý thị là vào đời Lý.
(37). (Ngôn quá Cổ Loa đắc thử thần khí) . Nói chuyện nõ thần thời Trọng Thủy, Mỹ Châu.
(38). Lục thất cho biết ngày dầy (rày)
(Ngôn Nguyễn thị sanh ư bắc phương, cư tại Sơn Tây xứ).
Phụ nguyên ấy thực ở miền (rày) Tào khê (SC. 260) Lục thất là họ Nguyễn ở phương Bắc, sống ở Sơn Tây.
(39). 445.Có thầy Nhân thập đi về
Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh
(Ngôn thiên sanh ngọ tuế, tôn vi sư phó chi vị nhậm trọng kinh dinh dĩ thành vương nghiệp). Ở đây chú rằng Nhân Thập là ngườui tuổi ngọ làm sư phó, giúp vua thành vương nghiệp.
Trong lịch sử ta, từ đời Lê Lợi cho đến sau này, chưa có người Sơn Tây họ Nguyễn làm vua xây dựng một nước Việt Nam thịnh trị dài lâu. (40). (Ngôn cử binh phạt Bắc Hồ phục dẫn thể bản cựu) . Đem quân ra Bắc, thâu phục giang sơn: Phải chăng Nguyễn Ánh?
(41). (Xuất thái ất kinh lục thập tam quyển, trạch đắc Thiên nguyệt đức hướng bắc phương thiết đàn tế thiên địa thánh thần ngũ tướng các thần, luyện thiên thánh hoàn dĩ tẩy khí giới huựu sanh thập ác cửu xú nhật hướng bắc phương tế ngũ tướng, tái tự thiên thần, nhất hoàn dĩ tẩy khí giới khả dĩ miễn nhất thân chi nạn)
Lược dịch:
Theo sách Thái Ất thần kinh quyển 63 ( sách dạy quân sự, bói toán, Thiên Văn Địa Lý) ,chọn ngày Thiên Đức, Nguyệt Đức, lập đàn trường, hướng phương bắc, tế trời đất và các thần linh, và ngũ tướng, rồi luyện thiên thánh hoàn để rửa khí giới, rồi chọn ngày thập ác cửu xú, hướng phương bắc tế ngũ tướng, và các thiên thần , làm một viên thuốc để rửa khí giới, để bảo vệ thân thể khỏi tai nạn.

C. Từ câu 525. :"Bắc tam nam nhất trong đời dậy danh " cho đến đoạn sau, tác giả nói về các văn quan và 72 tướng. Người ta tin rằng các văn võ tướng xuất hiện ở đời là từ các sao trên trời ứng hiện. Các võ tướng và văn quan đều ứng vào các sao như Tam thai, Cửu Tọa:, Kim Cang, Bát Bộ, và nhị thập bát tú. Nhị thập bát tứ (二十八宿)
+Đông phương Thanh long (青龍):
Giác (角) · Cang (亢) · Đê (氐) · Phòng (房) · Tâm (心) · Vĩ (尾) ·Cơ (箕)
+Nam phương Chu tước (朱雀): Tỉnh (井) · Quỷ (鬼) · Liễu (柳) · Tinh (星) · Trương (張) ·Dực (翼) · Chẩn (軫)
+Tây phương Bạch hổ (白虎): Khuê (奎) · Lâu (婁) · Vị (胃) · Mão (昴) · Tất · Chủy/Tuy (觜) · Sâm (參)
+Bắc phương Huyền vũ (玄武): Đẩu (斗) · Ngưu (牛) · Nữ (女) · Hư · Nguy (危) · Thất (室) · Bích (壁)
(畢) (虛)

42. Các vị sao. Các vị sao ứng vào bốn vị quan đầu triều (tứ trụ đại thần): Bắc ba vi, Nam một.Huyện Tiên Du, xã Núi Nguyệt; huyện Bảo Lục, xã Phú Châu ở tại Tức Mặc có hai ông họ Trần. Huyện Đông Ngạn, xã Uy nỗ; huyện THanh TRì, xã Quang Liệt: hai ông họ Võ.
(Tiên Du huyện, Núi Nguyên xã; Bảo Lục huyện, Phú Châu xã cư tại Tức Mặc xã; tánh Trần. Đông NGạn, Uy Nỗ xã, Thanh Trì huyện, Quang Liệt xã, tánh Võ)

(43).Những vị tướng xuất hiện ở các huyện xã:
Đông Di huyện, Lộc xá xã, Nguyễn
: họ Nguyễn ở huyện Đông Di, xã Lộc Xá
Nam Anh huyện, Hòang Đồng xã, Nghiêm: Họ Nghiêm ở huyện Nam Anh, xã Hoàng Đồng.
An Việt huyện, An Giang xã, Đào: Họ Đào ở huyện An Việt, xã An Giang.
Kim Đồng huyện, Hoàng Vân xã, Chu.Họ Chu ở huyện Kim Đồng, xã Hoàng Vân.
Lão An huyện, Lão An xã, Lưu. Họ Lưu, huyện Lão An, xã Lão An.
Bất Bạt huyện, Khang Bảo xã, cải Phùng thị. họ Phùng ở huyện Bất Bạt, xã Khang Bảo.
Thiên Bản huyện, Cao Hương xã, Lương. họ Lương ở huyện Thiên Bản, xã Cao Hương.
Thanh Lan huyện, Ca xá xã, Võ: họ Võ ở huyện Thanh Lan, xã Ca Xá.

44. Đông Sơn huyện, Đông Vệ xã, Lê.

Nam Đường huyện, Nam Đường xã, Lương.
Họ Lê ở huyện Đông Sơn, xã Đông Vệ; họ Lương ở huyện Thanh Lan, xã Nam Đường.
(45).Gia Lâm, Lý, Phùng nhị tánh; Tiên Du, Đào, Dương nhị tánh :Ở Gia Lâm có họ Lý, họ Phùng; ở Tiên Du có họ Đào, họ Dương.
(45b).Họ Đoàn ở Chân Lũng làm thủ tướng.Nhưng trong lịch sử từ thời Trịnh Nguyễn cho đến nay chưa có người họ Đoàn làm thủ tướng Việt Nam và xây dựng Việt Nam hùng cường.
(46) .An Lão xã, Nghi Dương huyện, Võ: họ Võ ở huyện Nghi Dương, xã An Lão.
(47). Lương Võ huyện, Dao Thủy xã, Võ: họ Võ huyện Lương Võ,xã Dao Thủy .
(48). CẨm Giang huyện, Trần; Lương Tài huyện, Trần: họ TRần ở huyện CẨm GIàng, và huyện Lương Tài. (49). Sao Giao, An Viễn họ Thân, (An Viễn huyện, An Viễn xã): huyện an Viễn, xã An viễn có họ Thân.
(50 ).Chủy, Dực: Hoàng thi, Châu thị nhị tánh: Sao Chủy , sao Dực ứng vào hai ông họ Châu , và
họ Hoàng .
(51). Ô Sơn huyện HoàngNguyễn; Ý Yên huyện đồng Hoàng; Đại Yên huyện: Phạm; Hữu Lũng huyệnLưu; Đông NgạnLê:
Ở huyện Ô Sơn có họ Hoàng, họ Nguyễn; ở huyện Ý Yên có họ Hoàng; ở huyện Đại Yên có họ Phạm; ở huyện Hữu Lũng có họ LƯu; ở huyện Đông Ngạn có họ Lê.
(52). Từ Liêm huyện, Đông Ngạn xã: Quách; Lương Tài, Đich Sứ xã:Châu, Đông Ngạn huyện: Lưu) :Họ Quách ở huyện Từ Liêm, xã Đông Ngạn; họ Châu ở huyện Lương Tài, xã Đich Sử; họ Lưu ở huyện Từ Liêm, xã Đông Ngạn).
(53). Tiên Du huyện: Nguyễn; Thán Sơn: Nguyễn; Đường An huyện Tô Võ Châu: họ NGuyễn ở Tiên Du; họ Nguyễn ở Thán Sơn; họ Tô, Võ và họ Châu ở huyện Đường An.
(54). Linh Loại huyện, Võ;Võ Ninh huyện Võ; họ Võ huyện Linh Loại, và ở huyện huyện Võ Ninh.
(55).Nghi Dương huyện, Khúc Xuân xã Nguyễn: họ Nguyễn ở huyện Nghi Dương, xã Khúc Xuân.
(56).Quế Dương huyện, Hoa VI xã: họ Trần. Hiệp Hòa huyện, Quế Dương huyện, Kỳ Sơn xã họ Lý: Tại huyện Quế Dương, xã Hoa Vi, có họ Trần; tại huyệnn HIệp HÒa, huyện Quế Dương, xã Kỳ Sơn:có họ Lý.
(57).Kim Hoa huyện, Mỹ Lộc xã: Trần; La Lộc xã:Trần: Huyện Kim HOa, xã Mỹ Lộc có họ Trần; ở xã La Lộc có họ Trần.


D. Từ câu 590 đến 635 tác giả nêu tên các anh hùng ở các huyện xã thí dụ :
Thanh Đàn, Na ngạn, Thanh Oai
Lưu, Nghiêm, Nguyễn Phạm nên trai anh hùng.
595. U châu Nguyễn ứng Thiên Đồng,
Thiên Lương họ Võ ở dòng Võ Minh.

Nghĩa là ở Thanh Đàm, Na, NGạn, Thanh Oai có các họ Lưu, NGhiêm, Nguyễn , Phạm.; U châuy có họ Nguyễn vốn là sao Thiên Đồng, họ Võ ở Võ Minh là sao Thiên Lương ứng hợp.
Trải các đời, chỉ có đời Mạc đến đời Trịnh Nguyễn và Tây Sơn nước ta nhiễu nhương qua nhiều thế kỷ. Các anh hùng này thật ra là bọn thảo khấu, lẽ nào do nhị thập bát tú sinh ra?
Lại nữa, từ khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa mở ra cơ đồ mới thì anh hùng thiên hạ cũng chuyển về Nam như đám Tây Sơn, Ngô Văn Sở, Nguyễn Huỳnh Đức, Võ Tánh... đâu phải chỉ người vùng tam giác châu Bắc Việt?

(58).Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
(Tự thìn niên thập nguyệt chí tị niên tứ nguyệt)
Từ tháng 10 năm thìn đến tháng 4 năm tị.

(59). Mã đề túc tận hưu binh. (Tự ngọ niên lục nguyệt chí vị niên thập nhị nguyệt): từ tháng sáu năm ngọ đến tháng chạp năm mùi thì ngưng chiến.

(60). Nhất sĩ thị tri anh hùng tận,
Thân dậu niên gian hưởng thái bình (Thân niên nhị nguyệt, dậu niên thập nguyệt)
Kẻ sĩ biết đó là các bậc anh hùng hết thời ; đến tháng hai năm thân, tháng mười năm dậu thì thiên hạ thái bình.

E. Các bài thơ sau, ý tứ sâu xa, khó dịch.

1 comment:

viên thông said...

Bác chủ trang có thể đăng trang thứ 2 của ảnh chụp được không ạ. Trang 2 bị trùng là trang 3. Xin chân thành cảm ơn !