Tuesday, December 13, 2011

TỨ THÁNH * GIẢNG XƯA

NGUYỄN THIÊN THỤ


CHÚ GIẢI

TỨ THÁNH





GIA HỘI 2011






TỨ THÁNH

NGUYỄN THIÊN THỤ
Chú giải





Lời nói đầu

Khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX , tại Châu đốc có cậu bé 9 tuổi bổng nói thơ khuyến thiện và tiên tri việc nước. Người ta ghi chép và xuất bản. Bản của Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng 500 câu lục bát, lời thơ cao thâm, gieo vần rất chặt chẽ . Theo Vương Kim trong đoạn viết về Tứ Thánh trong quyển Tận Thế và Hôi Long Hoa do Tân Sanh, Saigon xuất bản 1965 thì quyển Tứ Thánh ra đời từ năm sáu mươi năm nay, trong lúc nước Việt Nam còn đặt dưới quyền bị trị, thế mà đã cho biết về cuộc độc lập sau này. Như vậy là quyển Tứ Thánh ra đời khoảng đầu thế kỷ XX. Có thể nhiều người ghi chép nên có nhiều bản khác nhau. Sau 1975, tôi cũng mua được một bản, bên ngoài ghi là Kim Cổ Kỳ Quan nhưng bên trong lại là Tứ Thánh. Nay đã thất lạc. Có nhiều câu thơ khác với bản này. Tôi hy vọng sẽ tìm lại được và bổ túc cho tập thơ này. Có thể ông ra đời trước hoặc đồng thời với ông Nguyễn Văn Thới (1866-1926) vì trong Kim Cổ Kỳ Quan ông Nguyễn Văn Thới có nói đến Tứ Thánh. .Nhiều đoạn Kim Cổ Kỳ Quan giống với Tứ Thánh. Đây là một tác phẩm khá lớn và khá quan trọng trong Văn học Việt Nam, trong văn học Miền Nam và trong Phật giáo Miền Nam. Nay xin chú thích để độc giả có đủ tài liệu nghiên cứu.
Ottawa ngày 12-12-2011


TỨ THÁNH
(Giảng xưa)


1. Ngồi buồn, quạt mát xem trời.
Vui bầu rượu cúc vui đời nước non.
Quản cho tưởng xiết món ngon.
Phong trần nhân vật hao mòn tấm thân.
5. Cũng vì bạc nén vàng cân.
Làm cho trần thế nan phân chánh tà.
Cũng vì ham chức ông bà .
Cô cô cậu cậu mới là đoạ thân.

Tưởng gì nợ nước quân ân.
10. Buộc lòng Tứ Thánh phải phân đôi lời.
Nên hư số hệ ở trời.
Làm người dời đổi, đổi dời sao xong.
Ó bay xòe cánh thấy lông.
Cá kia ngập nước bày trông (1) vi kỳ.
15. Lao xao bạc lộn với chì.
Khó phân tà chánh, khó thì quan dân.

Tranh nhau kẻ cựu người tân .
Lao xao gươm giáo thôn lân (2) châu mày.
Mắt trông lo tháng, lo ngày.

20. Lo cho bá tánh đi cày không trâu.
Chẳng nuôi tầm lại trồng dâu.
Đến khi dâu lớn tầm đâu ăn rày.
Phất phơ mây trắng ló bày.
Mặt trời tỏ rạng mây mù phải lu.
25. Chó thấy trời mọc phải tru.
Thảm thương chú cộng (3) công phu đợi chờ.
Chờ “trăng” trăng lại trăng lờ.
Trông sao, sao lại dật dờ với sao.
Thả câu đáy biển quăng phao.
30. Muốn ăn cá lớn phải hao miếng mồi

Giang- san công kỷ đắp bồi.
Chín Châu mười Quận ơn rồi ai mang.
Cây cao khó nổi bắc thang.
Hố sâu khó nổi kêu vang tiếng thùng.
35. Người ngay ai lại có dùng.(3b)
Kẻ dại khó nỗi tháp tùng tri âm.
Rừng thoàn ( thiền) kết bạn đồng tâm.
Nhớ ơn ái- quốc phải tầm Long-Châu.
Hiệp đoàn bủa lưới thả câu.
40. Con sông Hưng- Thới ai đâu biết gì.
Tay chuông tay mỏ tu trì.
Tránh mưu ái- quốc (4) tránh vì kế sâu.
Chờ cho chú trọc thả câu.
Áo kia mất nút còn bâu (5) mới là.
45. Nói ra nước mắt chan hoà.
Thương cho anh chị khó mà thoát thân.

Tang điền thương hải khó phân.
Không toàn độc lập nhơn dân như bèo.
Tại ai cầm lái phăng lèo.
50. Tìm tân thê giới chịu nghèo lâu năm.(5b)


Có miệng không nói lại câm.
Hai hàng nước mắt chan dầm như mưa.
Nghĩ thương dân chúng thất thưa.
Cũng vì bá tánh không ưa Phật Trời.
55. Nói rằng : Phật ở xa vời.
Trời cao dấp dới vậy thời biết chi.
Thấy người niệm Phật quy y.
Nói rằng: kẻ dạy người ngây nghe rầy.
Làm khôn ỷ thế khoe tài.
60. Vinh mùi phải thác, quê kia lại còn.

Pháo vang bốn hướng hao mòn.
Năm màu phơ phất xây tròn tám phương.
Mây trắng chớp nháng như gương.
Tiếng vang nổ dậy Thái dương ánh trời.(6)
65. Thiên binh thiên tướng đổi dời.
Núi xương, sông máu góc Trời quá ghê.
Lìa gia chia rẽ phu thê.
Tiếng kêu khóc kể gia quê chẳng còn.
Xích tinh, phưởng phất lỗ tròn.
70. Nguyệt tinh chớp nhoáng mọc tròn năm châu.

Lao - xao dân chúng khó âu.
Sao giăng tứ hướng xuất thâu ngân hàng.
Phiên bang đảng cộng đôi đàng.
Chiến tranh giành giựt xóm làng thác oan.(6b)

75. Hắc long giá võ một phang ( phương).
Lửa luồn sấm chớp kêu vang góc trời.
Tân kiêm (Kim) phải chịu đổi dời.
Thành Thang biến cải biết đời mà chưa.
Ba màu phải chịu thớt thưa. (7)
80. Cậy cùng nòi giống sớm trưa giúp rày.


Thanh- long nối gót trổ tài.
Thòng vòi lấy nước phun ngoài âu quân.
Kiếm chi khó nổi bền quân.
Rút về Gia- định ngăn chừng Đồng- nai.
85. Trời ôi ! sao ó (8) biếng bay.
Xe kia biếng chạy tại ai xe ngừng.
Súng sao biếng nổ không chừng.
Chư bang thập bát ngập ngừng ngẩn ngơ.


Ngồi buồn nói chuyện bá vơ.
90. Cho ai hiểu chút Thiên- cơ tại trời.
Khiến cho lũ nịnh hết đời.
Tay chơn rời rã xa vời hai phang ( phương).
Ai làm mà phải thác oan.
Phật thương trần hạ khó an toà vàng.
95. Lỡ xe rồi lại lỡ thoàng (thuyền) .
Lỡ non, lỡ thế, lỡ làng, lỡ dân.
Lỡ người cựu, lỡ người tân.
Lỡ trắng, lỡ đỏ, lỡ phân thành huỳnh.
Bớ dân hãy rán sửa mình.
100. Ăn ngay ở thật ngủ đình cũng cam.




Cũng gần sắp trổ nhà Nam.
Nay còn phong kiến tứ tam tranh giành.
Sắp đời như sợi chỉ mành.
Treo chuông khắp nổi chuông lành hỡi chuông.
105. Kèo săng (9) cột gỗ tiền muôn.
Gặp cơn khói lửa nó tuôn cấp kỳ.
Chớ nên ham bạc bỏ chì.
Đến khi hàng vá kiếm thì không ra.
Tốt chi là thứ bông hoa.
110. Đến chừng nhụy rã bông hoa lố cùi.

Thảm thương hoa rã mất mùi.
Hết thơm rồi lại lắp vùi hố sâu.
Bông tàn bởi đám mưa ngâu.
Bướm kia chẳng đậu bởi sâu hoá hình.
115. Thương kiêm (kim?)cô độc một mình.
Ngày sau ăn quán ngủ đình Đồng- Nai.
Gầm trời ó cất cánh bay. (10)
Nửa chừng dấp dới bằng nay dập dều.
Nghèo mà che trại cất lều.
120. Gặp cơn bừng thới biết điều mới hay.


Gặp thời gặp vận ra tay.
Đấp bồi xã tắc mới hay tiếng thầy.
Đất đồng cỏ mọc dẫy đầy.
Xúm nhau chen chúc đứng rầy mới vui.
125. Ghe thuyền kẻ tới người lui.
Giữ lời Phật dạy nhủi chui núi rừng.
Xử tiêu một cuộc không chừng.
Long- châu ước giáp, Phật trừng loài gian.
Thấy nằm chật đất ngổn ngang.
130. Đầu trôi sóng dập ngổn ngang hai hồ.

Phiên Tần hai nước mưu đồ.
Tóm thâu Nam- Việt bị Hồ phá tan.(?)
Bây giờ còn hỏi chưa an.
Bởi loài hung dữ ngỗn ngang dẫy đầy.
135. Giỏi chi lũ muỗi một bầy.
Bị làn khói tóc muỗi nầy phải tan.
Thánh- Hoàng còn ở lâm san.
Để cho thiên hạ nghinh ngang khó nghèo
Động buồm gặp sức phải chèo.
140. Vuốt râu cầm lái thẳng lèo khỏe thân.


Chạy chơi khắp hết thôn lân.
Hát hò kêu bớ nhân dân sửa mình
Tu tâm tu tánh tu tình.
Tu cầu Thất- Tổ của mình siêu thăng.
145. Quân tử mê đạo bỏ ăn.
Tiểu nhân bỏ đạo giữ ăn làm đầu.
Trông cho ô thước bắc cầu.
Sông ngân tái thế lập lầu Đế- vương.
Tu sao mà chẳng hiền lương.
150. Không lòng bố thí chẳng thương kẻ nghèo.


Tu sao thấy chết như bèo.
Ngổn ngang dầu sống kẻ nghèo chẳng thương.
Rao cùng khắp hết bốn phương.
Sao không thức giấc hoàng lương dòm trời.
155. Hướng Đông đã mọc mặt Trời.
Khỏe thời chài lưới mệt thời thả câu.
Đừng khoe sức giỏi làm dâu.
Gặp bà Phu-Thị (?) mang câu ở truồng.
Ngó dân ta lắm nỗi buồn.
160. Trở về non đảnh lập tuồng cờ tiên.


Cả kêu (11) các vị Đạo Tiên.
Ai mà muốn đánh để tiền năm quan.
Có thua xin chớ thở than.
Sắp cờ ngồi lại năm quan để liền.
165. Các Tiên nghe nói chịu liền.
Nước đỏ nước trắng chớ phiền lộn con.
Đi đầu chốt trắng quá ngon.
Bên kia pháo đỏ lòng son cập kề
Chốt trắng ra bị xe nghề.
170. Xe đỏ nghề nghiệp đem về chốn ngăn.


Pháo đỏ tượng trắng đã ăn.
Xe nghề đương chống đón ngăn nước cờ.
Pháo đầu xuất tướng bơ phờ.
Xe đâm tượng chết thẫn thờ tướng thua.
175. Thiếu tướng bắt sĩ làm vua.
Cờ ai đánh vậy mà thua uổng tiền.
Bá gia hãy rán chịu phiền.
Thiên cơ bất lậu khó quyền tôi phân.
Rán mà hết trí tỏ phân.
180. Để sau chẳng biết cựu tân hư mình.

Tắt hơi xác nọ phải sình.
Không chôn để đó thúi ình ai thương .
Mặc tình giục ngựa buông cương.
Khôn thời làm tướng dại xương không còn.
185.Hạ nguơn mỗi việc mỗi mòn.
Mòn sông mòn biển, lại còn mòn non.
Đổi chồng, đổi vợ, đổi con.
Đổi sông, đổi núi, đổi hòn Hà-Tiên.
Đổi Châu-Đốc, đổi Tịnh-Biên.(12)
190. Thất- sơn lại đổi Hoa liên Nhà-Bàn.
Qua liền năm nước chật đàng.
Qua lộ Văn giáo máu tràn như sông. (12)
Đổi nhật, đổi nguyệt, đổi phong.
Đổi năm, đổi tháng, đổi trong ngày giờ.
195. Đổi cha lại đổi nhà thờ.
Đổi cồn, đổi bãi, đổi cờ Nam-bang.
Trời xây Âu-Á bốn phang.
Nước tràn bờ cõi khó an thời kỳ.
Chuyển luân bỏ bực biên thùy
200. Ngửa nghiêng Trời Đất lập kỳ Thượng-nguơn.



Khuyên trong anh chị làm ơn.
Ăn ngay ở thật còn hơn làm giàu.
Giữ sao cho khỏi máu đào.
Giữ sao cho được cẩm bào Phật ban
205. Chó ai mà bỏ nhà hoang.
Thây phơi chết đói ngổn ngang xóm làng.
Heo tôi đã đứng làm hàng.
Cạo lông chia thịt ngon toàn năm châu.
Chuột nhỏ đào ổ quá sâu.
210. Nằm hang ca hát ai đâu biết gì.
Trâu tôi rất giỏi ai bì.
Chờ cho nước cạn bắt thì cày chơi.
Mặc tình đúng buổi nghỉ ngơi.
Thựơng nguơn ăn tết chiều mơi đã gần.
215. Trung quân thác dặng thành thần.
Nhờ ơn Trời Phật xoay vần có khi.
Ráng mà giữ dạ từ bi.
Tay chuông tay mõ thác qui Tây-Đài.
Chuyên lòng kinh sử dồi mài.
220. Chờ sao gặp hội ra tài văn thi.

Giữ câu sắt đá tri tri.
Ham màu ham sắc có khi mất hồn.
Chữ rằng: “tích thiện trường tồn”
Một lòng hành đạo tiếng đồn có khi.
225. Tham lam của thế làm chi.
Quỉ quyệt mưu kế có khi mắc nàn.
Cầu cho tỏ rạng Thánh-hoàng.
Minh vương trị chúng xóm làng bình an.
Thuận hoà chồng vợ gia cang.
230. Chớ nên phụ bạn đổi sang làm gì.

Bố thí đừng có phân bì.
Cúng chùa đừng có buồn gì sãi-tăng.
Có lòng phật chứng chẳng ăn.
Trước cúng sau các sãi tăng hầu tàn.
235. Thế tình đen bạc muôn ngàn.
Lao xao buổi chợ bạn hàng quá đông.
Chừng nào ngựa đá qua sông.
Phụng hoàng xuống biển thì Ông mới về.
Bây giờ kẻ Sở người Tề.
240. Đến kỳ Thiên định cũng kề một bên.

Bá gia xin chớ có quên.
Đừng ham linh nghiệm không nên đâu à.
Đồ cũ đồ thiệt vậy mà.
Chớ ham đồ mới thiệt là mau hư.
245. Nhứt định hành ác hữu dư.
Trọn đời hành thiện hà ư đủ nào.
Năm canh dạ thảm gan bào.
Đây lo cho đó chừng nào hết lo.
Ra thơ tiếng nhỏ tiếng to.
250. Cầu cho bá tánh tưởng cho tôi nhờ.


Sài-gòn Gia-định ai ngờ.
Nước đâu mà lại lỡ bờ lướt cây.
Nước Nam không phải nước Tây.
Tại ai chẳng tưởng mới gây chuyện nầy.
255. Kẻ hốt bớt, người đong đầy.
Đong sao cho khỏi ruột mầy chó ăn.
Bệnh đau khi giáng khi thăng.
Đêm ngày chẳng ngủ chẳng ăn chút nào.
Để tay bắt mạch thu vào.
260. Tế vi mạch nhảy dân nào có sai.(13)
Bộ xích trầm tiểu bằng nay.
Sạ trường sạ đoản chứng ngay bệnh tà.
Bệnh này bị quỷ vậy mà.
Tả xích trầm tiểu thân mà quá suy.
265. Bệnh nầy trước cảm đã y.
Bệnh giờ nhập lý tế di đã nhằm.
Đầu thang bài đọc không lầm.
Ma hoàng bảy chỉ, cương tầm bảy con.
Phật-tửu một tí mới ngon.
270. Tinh-tinh kỵ quỉ để son cho nhiều.

Quản bì là thứ dân kiều.
Thế nào cũng phải ít nhiều để vô.
Quế chi dẫn hỏa đề mô.
Huỳnh kỳ năm chỉ để vô kỵ liền.
275. Nga truật trợ thận bốn tiền.
Gia thêm cửu bổn da quyển bổ can.
Uống vô bịnh đó mới an.
Ba thang thuốc Phật Thất san mạnh liền.
Đời này nhiều kẻ tham tiền.
280. Bỏ nhơn, bỏ nghĩa, bỏ giềng ông cha.
Mê cha thời bỏ Thích-Ca.
Mê bả trần thế bỏ bà Quan-Âm.
Đạo Phật diệu diệu thâm thâm.
Dầu mà tận thế ngàn năm vẫn còn.
285. Kẻ dại bị khôn đánh đòn.
Vì thời bất đạt chìu lòn cho qua.
Gặp cơn bình địa phong ba.
Kẻ khôn lại dạ mới là lạ cho.
Có quạt máy lại phụ quạt mo.
290. Chừng nào hết điện quạt mo đắt tiền.
Đi tàu thì khỏe hơn thuyền.
Khi tàu chết máy xuống thuyền ai cho.
Nắm khi đói gói khi no.
Chê bai mắng nhiếc nhỏ to làm gì.
295. Mắng tôi tôi cũng làm lỳ.
Ngày sau mới biết tôi thì là tôi.
Nam-vang nhà gạch nhà vôi.
Ngày sau kiếm trại lá ngồi không ra.(14)
Ngày nay nhiều hát nhiều ca.
300. Huê tình huê tự làm ma không hồn.




Nước trong đựng lại một bồn.
Còn đồ cặn cáo bất tồn đổ đi.
Cất đầu tôi lại một khi.
Anh em xin rán nghĩ suy tôi nhờ.
305. Rán chèo tới bến tới bờ.
Lên nhà nghỉ khỏe bơ thờ bị mưa.
Rừng tòng (15) giữ dạ muối dưa.
Giải dầu mưa nắng sớm trưa bền lòng.
Non tòng hưởng ứng bá tòng. (16)
310. Ngày sau vận đạt xoay vần về Nam.


Mặc tình ăn muối mà cam
Ăn đường ngọt quá không ham chẳng bền.
Cỏ cây điện đá làm nền.
Khát thời nước suối giữ bền lòng son.
315. Buồn thời hứng cảnh dạo non.
Tối thời kinh kệ cốc bon thường hành.
Bạc liêu nhiều kẻ không lành.
Ngày sau hết muối dạ đành hết thêu.
Ỷ khôn tiếng dệt tiếng kêu.
320. Ê đầu không dính thây bêu sông hằng.

AN-GIANG nhiều chị không lành.
Phật ghi phải chịu nhiều lần khói tên.
Lo đời sắp đói một bên.
Quần sao không bận lại quên ở truồng.
325. Nghĩ suy ta bắt nỗi buồn.
Bước ra khó bước thẹn thuồng lòng ta.
Bây giờ xưng mẹ xưng cha.
Ngày sau phải chịu khóc la dẫy đầy.
Tu sao ăn thịt cáo cầy.
330. Rượu vô ít chén tao mầy lên tay.

Mặc tình ong giỡn bướm bay.
Ngửa nghiêng màu sắc thành tây vui vầy.
Sau ai phải chiu nạn nầy.
Làm người phải biết cáo cầy khác hơn.
335,Người thì biết nghĩa biết nhơn.
An cơm chẳng biết còn hơn thú cầm.
Tam canh nhiều bối đi thầm.
Ai mà mê giấc nó tầm của ai.
Làm người phải biết gần xa.
340. Tri tầm tà chánh thì ta mới còn.
Suối trong nước chảy đá mòn.
Trăng trong mây án trăng còn phải lu.
Đui cùi bố thí đồng xu.
Đó là phước ấy công phu để dành.
345. Chim khôn tìm chọn cây lành.
Người khôn ẩn nhẫn công thành hầu vương.
Đã đành mạt Trụ nhà Thương.(17)
Tử- nha Tây trút Văn-Vương mới phò.
Chèo thuyền rước khách đưa đò.
350. Chèo qua chèo lại hát hò kêu dân.


Kiến cơ nhi tác lập thân. (18)
Khuyên trong anh chị thôn lân xem chừng.
Phật rau xuống thế làm quan.(19)
Súng đồng gươm giáo tưng bừng bồn phang.
355.Phật mà xuống thế làm quan.
Hại làng hại xóm dân gian khó nghèo.
Mạnh ai thuyền nấy kéo lèo.
Tới màn tới lớp qua đèo qua truông.
Ba kỳ xuất trận binh muôn
360. Mượn quyền trời đỏ tròn vuông tung hoành.

Giỏi chi mạnh sức La-Thành (20)
Như Đông phương-Sóc (21) mắt lành một con.
Cờ giăng mặt biển đầu non.
Điễn thinh (22) chớp nháng cha con rã rời.
365.Ai ai thì cũng một đời.
Thế nào bẻ nạng chống trời đặng đâu.
Cuộc đời đặng lưới mất câu.
Đặng trâu mất ruộng không lâu bớ người.
Miễu đình để một ông từ.
370.Có đâu một miễu hai người đốt nhang.

Năm canh hết thế thở than.
Lo cho đất Bắc lại sang đất mình
Anh em ráng nghĩ chút tình.
Năm canh tay trán một mình nghĩ suy.
375. Có cầu vong nghĩa Phật ghi.
Ráng mà tầm chốn quy y kẻo lầm.
Giỏi chi ông lớn bà đầm.
Thất thời phải chịu ăn nằm Đồng-nai.
Đừng khoe thầy đội chú cai.
380. Ngày sau mất nón sưng vai rã hình.

Cheo leo điện đá một mình.
Tuỳ thời ẩn nhẫn mặc tình ngao du.
Nguyệt -Nga đã lắm công phu.
Chị Hằng trộm thuốc đi tu cung thiềm (23) .
385. Trang tử thử vợ một điềm.(24)
Nằm hòm bị búa bị liềm rã thây.
Mãi Thần vợ để đầu tây.(25)
Hết cơn đốn củi mang giây đai vàng.
Đầu tròn áo rộng thô (che? ) tàn
390. Ngày sau mới biết bạn vàng là ai.
Sắp đời có vá có may.
Hết may tới vá có ai tranh tài.
Nhân dân rán cuốc rán cày.
Trồng khoai tỉa bắp chờ ngày nuôi thân.
395. Đừng chê khoai bắp cầm cân.
Vặn điều bẻ trái không phân chánh tà.
Nhẫn nhẫn bá nhẫn mới là.
Ngày sau có Phật Di-Đà độ thân.
Nam tào nhơn chánh quân ân.
400. Cầu cho nội ngoại cựu tân siêu đài.



Hạ nguơn lộn lạo nhiều loài.
Một tháng còn có một ngày mà thôi.
Chừng nào Chợ-Lớn hết vôi.
Bắc-Nam hết cá người ngồi mới yên.
405. Vàm-Sáng lộ cập đầu tiên.
Sông-Đồng ba ngả nào yên dân tình.
Quỉ Vương nào kể miễu đình.
Thánh thần náo động ình ình giận thay.
Dầu cho động đến Bồng-Lai.
410. Hai năm phải chịu nào ai xuống trừ.
Thế gian nhớ khóc quên cười.
Đất sao lại trồ có người bốn tay.
Gió đông động lá chim bay.
Trống chầu da tiếng mới hay Láng-Bà.
415. Núi rừng trồ ngọc trổ ngà.
Long-hoa lại trổ trên tòa Thượng-nguơn.(26)
Nam-bang một lá quế đơn.
Năm châu tựu hội Thất sơn đông đầy.
Dân ôi ! chớ có tao mầy.
420. Rán mà giữ dạ chớ chầy sai ngoa.

Chữ rằng ! Ma Phật cũng ta.
Trồng bông thì lại có hoa nhà tình.
Để sau bão tố thình lình.
Sập nhà sập cửa rồi mình ở đâu.
425. Thế gian chớ khá cỡi trâu.
Hai sừng nó nhọn nó đâu để mình.
Thương dân khuyên nhủ hết tình.
Mượn xác chín tuổi một mình ra thơ.
Buồn đời coi lại làm ngơ
430. Nói rằng; nói dối làm thơ bắt vần.
Để rồi cuộc loạn quân Tần.
Biết cho Tứ-Thánh bắt vần hay không.
Ếch ngồi đáy giếng mắt trông.
Vịt nghe tiếng sấm cũng không biết gì.
435. Khoai lang lại với khoai mì.
Đến khi Tần khởi độ thì khầu ta.
Rán mà niệm Phật cho qua.
Vái câu Bồ-Tát độ mà trần gian.
Nguyện cùng tất cả bốn phang.
440.Dẹp ngòi súng ống cho an dân lành.
Tượng cao chớ khá lên bành.
Thế gian phải ráng làm lành khỏe thân.
An-trừơng An định phe văn.
Long châu phe võ hiệp đoàn Thất sơn.
445. Lập đời dụng nghĩa dụng nhơn.
Nhất nam cửu nữ Thất sơn được tồn.
Kẻ ác tiêu xác tiêu hồn.
Người lành còn lại tích tồn hậu lai.
Ngày sau có một không hai
450.Thất sơn duy nhất Như-Lai lập đời.(27)
Trăng lặn rồi kế mặt trời.
Gió thời hai ngọn đổi dời cũng không.
Ngồi buồn nói chuyện minh mông.
Kẻ lành nghe vậy thời mong tới đời.
455.An-giang sao lại đổi dời.
Đổi lên Châu-Đốc vậy thời mới yên. (28)
Chấp tay nguyện vái Hoàng-Thiên.
Vái cùng Hậu-Thổ chứng miêng người lành.
Cuộc đời chẳng khác tơ mành
460. Rồi như ổ kén cũng đành gần đây.
Nhà Nam chẳng phải nhà tây.
Bây sao chẳng tưởng mà bây nịnh thần.
Sau đây tiền phú hậu bần.
Kẻ dạy hậu phú tiền bần ngao du.
465.Thức Thánh bất thức giả ngu.
Mưu chơn thành sự công phu tại trời.
Dầu bây ác cũng một đời.
Đến kỳ thiên định mấy lời đâu sai.
Núi cao thảnh thót chim bay.
470.Biển sâu cá lội vui say nổi trầm.


Thương công chú cộng chan dầm.
Vào sanh ra tử lại lầm kế ai. (29)
Châu thành pháo nổ khói bay.
Tiếng rền dậy đất họa lây xóm làng.
475. Trời ôi ! Khó nỗi dân nhàn.
Giỏi chi thầy pháp đặt đàn tống ôn.
Tống châu thành lại tống thôn.
Thuốc Nam rồi lại cũng hườn về nam.
Nhện hùm bắt buớm đó cam.
480. Thằn lằn thấy vậy cũng ham nhện hùm.
Rủi tay rớt xuống vũng bùn.
Chú cắc kế lửa nuốt cùng lằn đi.
Mèo vằn thấy vậy một khi.
Chụp cắc-kế lửa tha đi vào nhà.
485.Chẳng may rớt xuống ao nhà.
Mèo kia chết nước vậy mà sống đâu.
Thảnh thơi nhện cũng giăng câu.
Mặc tình bủa lưới mà thâu bướm chuồn.
Thơ tôi hay nói tầm ruồng.
490.Ráng mà siêng đọc giải buồn tri âm.
Coi rồi cất kín vào tâm.
Nghĩa đen bàn trắng ắt lâm khổ hình
Khó nỗi biết tới năm thìn.
Mưu cao như gả Cống-Quỳnh ngày xưa.
495.Trời chuyển thì chắc có mưa.
Lược dày bắt chí lược thưa chải đầu.
Ngon chi một hộp khay trầu.
Ăn say mà lại nhức đầu bớ dân.
Kẻ hèn như lựu lan thân.
500. Mưu mô quỉ quyệt hại dân đọa đày.



Khóc đêm rồi lại khóc ngày.
Khóc than ai chẳng nghe rày lời tôi.
Vĩnh - Hạnh bạc trắng như vôi.
Ngó dân Sa-đéc vậy thôi hết cười.
505.Bạn hàng chị chín chị mười.
Miệng hô tay hấp không trừ một ai.
Nói nhiều thành thử nói dai.
Lầm lỳ nói nữa nói hoài chẳng thôi.
Nói cho ai biết nghe tôi.
510. Mặc tình anh chị bạc vôi thì làm.
Giả ra một chị bán vàm.
Tam canh ráo ríết tay làm miệng ăn.
Cuộc đời lúc giáng lúc thăng.
Ai la ai khóc thầy tăng khỏe mình.
515. Tuy là nương quán dựa đình.
Tranh giành chết sống mặc tình ai ai.
Chờ khoai có củ ra tay.
Kiến cơ nhi tác mới hay lời thầy.
Tam bảo Rạch giá đông đầy.
520.Gần đây còn có một thầy công phu.
Bởi điên nên nói quá ngu.
Bắt dần bắt tự thầy tu phước thầy.
Lao xao ong mật một bầy.
Đóng chơi một ổ chờ ngày hút hoa.
525. Nhắc xưa có gã Na-Tra.(30)
Mới vừa chín tuổi đi xa hỏa hài.
Thành-Thang binh đóng muôn đầy.
Tây kỳ xuất chúa. Trụ rày mạng vong.
Thành-Thang tiêu diệt tại ông.
530.Mê con Đắc Kỷ sát vong trung thần.
Nước thuở nhớ lúc vua Tần.
Gồm thu lục quốc tiền trần ghi danh.
Ai khôn, ai dại, ai lanh.
Thiệt khôn, khôn thiêt, đua tranh ích gì.
535.Cù lao ông Chưởng ai bì.
Cá tôm lại rẻ thiếu gì chuyện vui.
Vàm ông, năm chợ tới lui.
Ai mà tan nát thây trôi dập dìu.
Đường tràng ngựa chạy ngập kiều.
540. Trường hoa ứng thí dập dìu chim bay.
Bây giờ còn hỡi chưa hay.
Có ai tưởng việc dong dài làm chi.
Chừng nào đến lúc ai bi.
Xem thơ ngồi ngó vậy thì ngẩn ngơ.
545. Thọc tay vào nước rửa dơ.
Gội đầu tro mặn tóc tơ chơn chùi.
Ăn mít lấy hột mít lùi.
Ngó trong hang thẳm tối thùi thấy ai.
Con chị đứa cõng đứa đai.
550. Đứa bồng đứa dắt mới hay chuyện nầy.
Núi cao cây cỏ xanh dầy.
Bồng con mang gói cả bầy đi tu.
Đến đây xin dứt thi thơ.
Chúc cầu Nam-Việt hội thì thượng nguơn.
555. Ráng mà giữ dạ keo sơn.
Dứt lời Tứ-Thánh dời chơn phản hồi.
Cầu cho ba đạo đấp bồi.
Đấp nền Nam-Việt đặng hồi an khương.

Nam mô Quan-Thế Âm Bồ-Tát Ma-ha-Tát. (3 lần)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.




TAM HOÀNG THƠ

1. Chiếu manh mà trải góc đền.
Chị vô làm bé có bền hay không?.
Trái đời gái lấy hai chồng.
Một nhà hai chủ sanh lòng tranh ăn.
5. Cái nhà chỉ có ba căn.
Căn giữa của vợ hai căn của chồng.
Cá chim nhốt lại một lồng.
Ngựa trâu chung để một đồng sao yên.
Tức cười thầy pháp sợ điên.
10. Mặt trời lố mọc thầy ghiền anh coi.

Vàng ai mà đổi con voi.
Hay vàng chú chệt đổi còi an-nam.
Thấy bông tươi tốt anh ham.
Chừng huê nó rụng nước tràn năm châu.
15.Anh sui anh trốn đi đâu.
Nhà anh lửa cháy chị dâu mất chồng.
Thầy pháp ăn ở hai lòng.
Chữa nam, chữa bắc chữa giòng tây đông.
Trâu ai mà để ở không.
20. Sao không cày ruộng kêu công cấy giùm.

Ngựa ai hung dữ quá hùm.
Trâu cày ngựa cỡi ba thùng cắt gom.
Gạo tôi đựng hũ đựng om.
Lúa ông vô bịch ông gom vô bồ
25.Ớ nầy thiện tính ông cô.
Vợ tôi, tôi giữ chồng cô, cô gìn.
Sao mầy chẳng xuống chợ kinh.
Đi qua Châu-Đốc Trà-Vinh trở về.
Ngày nay hai chú làm hề.
30.Hát tuồng nhị chúa bốn bề coi chơi.

Bán rao khắp hết nơi nơi.
Ai mà đứt cổ chỗ rơi đứt đầu.
Nầy anh nhà cửa ở đâu.
Bị quân ăn cuớp nhà đâu mà về.
35.Để tôi bắt ngựa cỡi về.
Lùa dê uống nước gà nghề đá chơi.
Tháng bảy tháng tám đi chơi.
Mời anh mời chị đá chơi một sòng.
Ăn tết đi đá thiệt đông.
40.Đi qua Chợ-Lớn Gò-Công trở về.

Đi cùng thành thị thôn quê.
Chú đi lục tỉnh trở về tay không.
Ba kỳ anh thiệt có công.
Đi nam đi bắc đi đông mới về.
45.Thằng nầy mầy thiệt nhà nghề.
Cù son lạc sắn mầy chê chú thầy.
Mầy mua guốc, mua giày.
Mua râu cá chốt cậm mày cá trê.
Ham chi cô bảy mày mê.
50.Chú mầy bảy chục con dê có chà.
Sao mầy ham của bỏ cha.
Ông mầy còn sống mầy la chết rồi.
Chú sao nói chuyện ngoài môi.
Không lo cày cấy bỏ trôi ruộng mình.
55.Rủ nhau cất một cái đình.
Rước cha về ở tụi mình ăn chung.
Ai ôi chớ nói tôi khùng.
Ba mươi tháng Chạp giở mùng muỗi vô.
Tháng Giêng mắm muối làm khô.
60.Tháng tư chú sáu dẫn cô về nhà.

Chú Năm bợ đỡ nịnh lừa.
Nhà tôi hết gạo xách vùa đi xin.
Má ôi con má chết sình.
Nó không ăn muối thúi ình má ôi.
65.Rồi đây chị chín coi tôi.
Hóa long hóa cánh kéo lôi xóm làng.
Anh mười hung dữ nghinh ngang.
Để tôi hóa lửa nướng tràn anh coi.
Chị coi tôi bắt con voi.
70.Bắt con chuột nhắt nó moi vách nhà.

Chị nào mặc áo lang sa.
Cho tôi một vạt đây mà con beo.
Ăn lạt dân lại mang nghèo.
Mèo không bắt chuột chuột trèo lên ăn.
75.Con rắn mà nói con trăn.
Chị dâu có chửa đẻ bằng trứng không.
Tôi khùng nói chuyện minh mông.
Xin làng xin xóm chớ hờn giận tôi.
Tôi điên thân lại mồ côi.
80.Không cha không mẹ mồ côi một mình.

Tôi khùng tôi biết động tình.
Cớ sao cậu mợ vô tình giết tôi.
Bởi tôi không có mặt vôi.
Không son không phấn chê tôi không nhìn.
85.Hát chơi ở chốn ba đình.
Ai kêu ai réo mặc tình ai ai.
Anh em hãy rán trồng khoai.
Trồng khoai trồng bắp cấy cày ruộng tâm.
Chừng nào dứt giặc bảy năm.
90.Ông bà ăn tết một năm vui mừng.

Thiếu chi kẻ dọn người bưng.
Chừng Ông về tới Mặc Dưng chẳng còn.
Cả kêu bớ chú cõng con.
Cha về tới rạch Tàu mòn rả tiêu.
95.Đói ăn rau muống rong rêu.
Chừng Ông về tới dựng nêu cấm cờ.
Tôi khùng đặt lợp đặt lờ.
Đặt trên chót núi đặng chờ cá vô.
Chú giàu chú lập cơ đồ.
100.Tôi nghèo tôi giữ cái mồ của cha.

Đất trời tôi ở không xa.
Nhưng mầy muốn đuổi giấy mà mầy đâu.
Tranh nhau thì phải dập đầu.
Ai mạnh thì được ai cầu xin ai.
105.Xưa nay mầy cuốc trồng khoai.
Bây giờ mầy bỏ tao cày đất tao.
Quân bây khua đũa đánh nhau.
Cơm tao tao giữ, tao nào bỏ đâu.
Nuôi tầm ta khỏi trồng dâu.
110.Qua sông tao khỏi bắc cầu nữa chi.
Nước trong cá lội thấy vi.
Nhà tao sẵn của tao thì ấm no.
Ai khôn tôi dại đưa đò.
Chèo qua khúc vịnh tôi hò hát chơi.
115.Hò nam hò bắc trời ôi.
Chợ không người nhóm ruộng thời vô canh.
Ta ngu ta dại còn anh.
Cha thì nó lú chú thì nó khôn.
Mặc ai xây luỹ đấp đồn.
120.Đố cha nào dám dựt cồn Hà-Tiên.

Bán buôn không vốn không tiền.
Không tờ không giấy không quyền ký tên.
Giỏi sao không giựt Cao Miên.
Cậu năm ở trển chú lên hồi nào.
125.Mầy ham mua chức quyền cao.
Chức mầy để nướng ăn rau với hành.
Chú nó khôn dại thiệt lanh.
Cù lao Ông-Chưởng như manh đệm bườm.
Cô sang giầy vớ hột cườm.
130.Chú giàu sang quá lòng hờm giựt trâu.

Sang giàu như cá mắc câu.
Như chim mắc bẩy như trâu khôn g chuồng.
Lỡ vui lỡ khóc lỡ buồn.
Lỡ bần lỡ phú lỡ luồng gió mây.
135.Nam mô mấy chú mấy thầy.
Mô làng mô xóm mô hoài mô không.
Mô cho thầy ký thầy thông.
Mô sao cho khỏi cái còng Diêm-Vương.
Mô sao chẳng kẻ đi đường.
140.Nhà không người ở ruộng vườn vỏ hoang.

Sài Gòn con cuốc quá sang.
Le le choán ổ bạc vàng hết trơn.
Nói ra thầy chú chớ hờn.
Tôi đây ngây dại có khi điên khùng.
145.Bán mền bán chiếu bán mùng.
Mua cho đòn gánh cặp thùng không quai.
Người nầy con gái hóa trai.
Con trai hóa gái thiệt tài phép Tiên.
Chị sao đáng mặt thuyền quyên.
150.Chị đừng quí tử con hiền của ông.

Anh ôi chớ có hai lòng.
Giữ trung giữ hiếu, giữ lòng với cha.
Hỏi mầy ai đẻ mầy ra.
Ông mầy già yếu ông mầy còn kia.
155.Mầy hung như khoá không chìa.
Đất cày bảy cục mầy lìa đi đâu.
Ông cha còn ở điện đầu.
Biểu mầy phải niệm một câu Di-Đà.
Thân mầy côi cút không cha.
160.Thương dân miền Bắc cha già đợi trông.

Chị sao không chịu lấy chồng.
Cam đành ở góa tuyệt giòng không con.
Khen ai lựa chọn miếng ngon.
Ai người nam tử ai tròn nam nhi.
165.Đố ai ta nói chuyện chi.
Ai mà hiểu đặng đáng ghi con trời.
Tới đây tuyệt bút hết lời.
Kêu cùng nam nữ mau thời tầm tri.

CHUNG



Tài liệu Phât giáo Hòa Hảo
http://bskh.net/2007/12/tuthanh.htmTứ Thánh A (Giảng xưa) - HoaHaoMedia.org

Tứ Thánh A (Giảng xưa) - HoaHaoMedia.org

www.hoahaomedia.org/hoahao/?song_id=891 - Translate this page
Tu Thanh A (Giang xua) - doc giang vien Tran Kim Loi

Trình bày : Đọc giảng viên Trần Kim Lợi

Tứ Thánh A (Giảng Xưa)

http://www.hoahaomedia.org/hoahao/?song_id=891

Tứ Thánh B (Giảng Xưa)

http://www.hoahaomedia.org/hoahao/?song_id=892
http://community.vietfun.com/showthread.php?t=771924

Trình bày : Đọc giảng viên Trần Kim Lợi
http://www.mediafire.com/download.php?ka2zm57ytmm8tpr

http://www.hoahaomedia.org/hoahao/?song_id=890
http://www.mediafire.com/download.php?s4e1ad0r40q8487

Sấm Trạng Trình






_____
CHÚ THÍCH

(1). Bản cũ ghi là ngớp nước.Có lẽ là ngập . Nguyên bản viết trong. Thiết tưởng "trông" mới đúng. Ý nói cá lội trong nước trong có thể trông thấy rõ vây và kỳ của cá.
(3).Chú Cộng: Cộng sản. Khoảng đầu thế kỷ XX, Tứ Thánh đã biết cộng sản nổi lên ở Việt Nam.
(3b). Người ngay thẳng ai cũng được trọng dụng (Hữu tài tất hữu dụng)
(4). Ái Quốc: mưu ái quốc: Mưu Nguyễn Ái Quốc tức mưu thâm độc của Hồ Chí Minh
(5).Nút: nút áo, bâu: cái túi áo.
(5b). Cộng sản mơ ước một thế giới mới (tân thế giới) văn minh hơn tư bản nhưng trái lại chỉ làm dân nghèo, chết đói.
(6). Mặt trời: nói về Nhật ( quốc kỳ hình mặt trời đỏ), mây trắng: bom nguyên tử thả ở Nhật.
(6b). Khoảng đấu thế kỷ XX, Tứ Thánh đã biết Cộng sản và Pháp ( Phiên bang) đánh nhau.
(7). Ba màu: Cờ ba màu, tức cờ tam tài của Pháp.
Ba màu phải chịu thớt thưa / Cây cùng nói giống sớm trưa giúp rày: Năm 1945 Pháp trở lại Việt Nam nhưng yếu thế, phải nhờ Mỹ ( cùng anh em bà con châu Âu) viện trợ. Sau trận Điện Biện Phủ, Pháp thua Liên quân Hoa Việt, rút vào Gia Định rồi về nước, giao Việt Nam cho Mỹ.
(8). Ó: chỉ Mỹ có quốc huy con ó. Đoạn này nói Mỹ rút khỏi Việt Nam 1972-75.
(9). Săng: gỗ
(10). Mỹ sẽ trở lại Việt Nam
(11).Cả kêu: cả: lớn. Cả kêu: lớn tiếng gọi.
(12) Sau 1975, Cộng sản đổi Châu Đốc thành An Giang
(12). Chiến tranh lớn tại Văn Giáo là một địa danh ở Châu Đốc.
(13). Tế vi..
Tả xích: Đoạn này nói về cách bắt mạch của Đông Y
(14). Nói việc Pol Pot đuổi dân Nam Vang ra khỏi thủ đô rồi giết hại gần hai triệu dân.
(15). Rừng tòng tức rừng tùng, là rừng thông.
(16). Bá tòng : cây tùng cây bách là hai loại cây luôn xanh tốt dù mùa đông ý nói người quân tử, kẻ tu hành chân chính không thay lòng đổi dạ.
(17). Trụ: Tế Tân (帝辛), Trụ (紂), Trụ Tân (紂辛) hay Trụ Vương (紂王) - cũng có thể thêm "Thương" (商) ở trước các tên gọi này - là vị vua cuối cùng đời nhà Thương của lịch sử Trung Quốc, ở ngôi từ 1154 TCN - 1123 TCN[1] hoặc 1075 TCN - 1046 TCN[2]. Trụ Vương là con của Đế Ất, tên gọi là Ân Thọ, nổi tiếng là một ông vua dâm đãng. Ông mê Đát Kỷ đến quên việc triều chính. Ông và Đát Kỷ là một cặp được nhắc đến trong lịch sử Trung Quốc với sự phẫn nộ của nhiều người. Tuy vậy, Trụ Vương có sức khỏe hơn người và là một vị vua văn võ song toàn, vì sự tàn bạo đã dẫn đến mất nước về tay nhà Chu.Tây Bá Cơ Xương căm giận Trụ vương, cố tìm cách giấu mình, giả cách quy phục rồi ngầm tập hợp lực lượng chống lại. Cơ Xương được Khương Tử Nha phò tá. Khi Cơ Xương mất, con là Cơ Phát lên ngôi, mang quân đi đánh Thương. Do Trụ vương mất lòng người, các chư hầu ủng hộ Cơ Phát. Tại trận quyết định ở Mục Dã, quân Cơ Phát dù ít hơn vẫn đại thắng quân Thương. Tướng sĩ của Trụ vương trở giáo hàng Cơ Phát. Kinh đô Triều Ca thất thủ, Trụ Vương phóng hỏa đốt Lộc Đài rồi từ nhảy vào tự thiêu chết. Trụ vương làm vua được 32 năm (1154 - 1123 TCN).Cơ Phát lên làm vua, lập ra nhà Chu, tức là Chu Vũ Vương. Nhà Thương từ vua Thành Thang tới Trụ vương kéo dài 644 năm đến đó chấm dứt.
(18). Kiến cơ nhi tác: Kinh Dịch nói: Quân tử kiến cơ nhi tác nghĩa là người quân tử thấy cơ hội tốt thì hành động.
(19), Phật rau: nói bọn gian ác giả làm bậc cứu nhân độ thế. Phải chăng ám chỉ cộng sản xưng xe giải phóng dân tiộc, giải phóng giai cấp?
(20). La Thành: nhân vật trong Thuyế Đường, có sức mạnh.
(21). Đông Phương Sóc: nhân vật hiên ngang lại hay trào phúng thuộc đời Hán Vũ Đế (thế ký I trước TL), đồng thời với Tư Mã Thiên.
(22). Điễn thinh: tiếng sét
(23). Hậu Nghệ bắn giỏi, được Vuơng Mẫu cho thuốc trường sinh nhưng bị vợ là Hằng Nga lấy cắp rồi bay lên cung trăng. Các điển tích sau đều nói về đàn bà không chung thủy.
(24).Trang Tử
: Một hôm Trang Tử gặp một người đàn bà đang lấy quạt trên mộ chồng, vì chồng bà ta trước khi qua đời dặn bà ta hãy chờ khi mộ ông khô hẵng tái giá, bà ta khóc vì mồ ông ta lâu khô quá làm bà ta mãi vẫn chưa lấy được người tình. Về nhà, Trang Tử kể chuyện ấy cho vợ. Vợ ông cười chê lòng dạ người đàn bà kia sao bạc bẽo. Thế nhưng, Trang Tử có một kế hoạch. Ông giả chết rồi làm thuật phân thân mình ra hóa thành một cậu học trò gặp vợ bảo là đến đám tang thầy nên ở lại nhà Trang Tử. Đến khuya thanh vắng, hai người hàn thuyên tâm sự rồi ăn nằm với nhau. Rồi người học trò ấy đổ bệnh, bảo với tình nhân là mình chỉ có ăn óc người chết mới khỏi được. Vợ Trang Tử chạy ngay đến cái quan tài chồng giơ búa lên định bổ đầu người chồng mới mất đang nằm trong quan tài cho nhân tình ăn. Bà ta vừa giơ búa lên, Trang Tử trong quan tài bỗng ngồi dậy, bà ta sợ quá ngã lăn ra chết.
(25). Chu Mãi Thần nghèo, vợ bỏ đi. Sau Chu thi đỗ, làm quan, người vợ xin trở về. Chu đổ bát nước bảo vợ hót lên. Người vợ xấu hổ mà tự vẫn.
(26). Hội Long Hoa: hội Long Hoa ở Thất Sơn, lập đời Thượng nguyên, thế giới hòa bình. Hội này cả thế giới họp tại Thất Sơn.
Danh từ này rất quan trọng. Sư vải bán khoai, Huỳnh giáo chủ và Cao Đài cũng nói đến hội Long Hoa. Cao Đài Từ Điển định nghĩa:

  • 會龍花

  • A: The Universal (General) Judgement.

  • P: Le Jugement Universel (Général).

Long: Rồng, mạch nước, chỉ vua. Hoa: bông. Long Hoa là một cái cây có hình giống như con rồng đơm hoa rực rỡ.

Đức Phật Di-Lạc sẽ đắc đạo dưới cội cây Long Hoa nầy, cũng như Đức Phật Thích Ca đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề.

Đức Phật Di-Lạc sẽ làm Giáo chủ một Đại hội thi tuyển chung kết để chọn người hiền đức dưới cội cây Long Hoa, nên Đại hội nầy được gọi là Đại Hội Long Hoa.

Vậy Đại Hội Long Hoa là hội thi chung kết sau một giai đoạn tiến hóa dài của nhơn loại, để tuyển lựa những người hiền lương đạo đức, loại bỏ những kẻ hung bạo gian tà, thực hiện sự công bình thiêng liêng, để rồi sau đó sẽ chuyển qua một giai đoạn tiến hoá mới.

■ Những người hiền lương đạo đức là những người thi đậu, sẽ được ban thưởng bằng những phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tùy theo công đức nhiều ít.

■ Những người gian tà hung bạo là những người thi rớt nên họ phải chờ đợi và sẽ nhập vào một vận hội mới để học tập và tiến hóa, chuẩn bị một cuộc thi mới sau nầy.

Theo thiển kiến, Long chỉ thời gian khoảng năm Thìn, Long cũng chỉ địa danh, là Cửu Long, Long Châu.
Còn Hoa là hai phe đối địch: Hoa Kỳ và Trung Hoa. Sấm Trạng Trình có câu:
Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,
Can qua xứ xứ khởi đao binh,
Mã đề dương cước anh hùng tận,
Thân dậu niên lai kiến thái bình.
Theo tình hình biển đông và thế giới hiện nay, cuối năm Nhâm Thìn có lẽ sẽ có chiến tranh thế giới, Trung cộng bị tiêu diệt .Sau đó mới lập hội Long Hoa tại vùng Cửu Long..
(27). Phật ra đời tại Thất Sơn.
(28). Khi nào đặt tên tỉnh Châu Đốc trở lại như trước 1975 thì thiên hạ thái bình.
(29). Cộng sản mắc mưu mà thảm bại.
(30). Theo Phong thần diễn nghĩa, Na Tra vốn là hiện thân của Linh Châu Tử, đồ đệ của Thái Ất Chân Nhân trên thượng giới, do phạm phải luật trời, để Hồ Ly ngàn năm ăn trộm đào tiên nên bị giáng xuống trần gian chịu khổ. Na Tra đầu thai vào nhà Tổng trấn ải Trần Đường Lý Tịnh. Lúc bấy giờ phu nhân của Lý Tịnh là Ân Thị đã mang thai hơn ba năm mà vẫn chưa mãn nhụy khai hoa. Một đêm Ân phu nhân đang ngủ chợt mộng thấy ông tiên ném vào bụng mình một vật, đúng lúc đó thì trở mình đau bụng. Ân phu nhân sinh ra một cái bọc, từ cái bọc nở ra một đứa trẻ khôi ngô tuấn tú, tay cầm Càn Khôn Quyền, lưng quấn dải lụa Hỗn Thiên Lăng... Lý Tịnh đặt tên cho con là Lý Na Tra.Vốn là tướng nhà trời nên Na Tra lớn nhanh như thổi, mới bảy tuổi đã mình cao sáu thước, vai rộng hai thước, ngỗ nghịch muôn phần. Do còn nặng nợ trần gian và số kiếp gian truân, Na Tra đã tự mình gây ra họa lớn: Đánh chết con trai Ngao Bính của Đông Hải Long Vương, lột da bóc gân Ngao Bính, giương Càn Khôn Cung nặng nghìn cân bắn chết đệ tử của Thạch Cơ Nương Nương... Gia đình Lý Tịnh bị Tứ Hải Long Vương bắt, gây sức ép buộc Na Tra phải đền mạng. Để giữ trọn đạo hiếu và không làm liên lụy tới gia đình, Na Tra đã bóc thịt trả mẹ, lóc xương trả cha. Sau khi chết hồn Na Tra bay về với Thái Ất Chân Nhân, Thái Ất bày cho Na Tra báo mộng cho Ân Thị lập miếu thờ để giữ cho hồn không bị tan biến, song cũng vì Lý Tịnh quá cố chấp với những việc Na Tra đã gây ra nên đã đập tan miếu thờ. Chính vì lí do đó sau khi được sư phụ Thái Ất hoán thân tráo cốt vào cây sen,