Tuesday, September 26, 2017

VÕ PHƯỚC HIẾU- HIẾU ĐỆ * NIỀM ĐAU BẠC TÓC II

VÕ PHƯỚC HIẾU- HIẾU ĐỆ *  NIỀM ĐAU BẠC TÓC
-**-

                                                     Bác Thầy Hù

             Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, dân chúng thủ đô Sài Gòn không sao quên được chánh sách giản dân và kinh tế mới do Cộng sản chủ trương nhằm trả thù và cướp của của đồng bào. Chánh sách này đi kèm ngay sau những biện pháp kiểm tra sơ yếu lý lịch, phân phối nhu yếu phẩm định kỳ hằng tháng theo hộ khẩu, kiểm kê tài sản, đánh tư sản mại bản, đổi tiền, xóa bỏ văn hóa phẩm đồi trụy và tập trung cải tạo v.v....

            Chủ trương đưa người dân thành phố đi sản xuất nơi những vùng kinh tế mới được triển khai như một quốc sách của nhà nước lúc bấy giờ, xuống tận các quận huyện, phường khóm và các tổ dân phố đã được thành hình nhanh chóng sau ngày Miền Nam hoàn toàn bị cưỡng chiếm. Học tập chánh sách liên tục      hằng đêm, phân loại tổ viên, lên danh sách đối tượng để động viên, rúng ép, đe dọa rút hộ khẩu, một biện pháp giết người thầm lặng bất nhân ác đức trong sự đau đớn dày vò triền miên cơ thể do sự đói khát xác xơ dằn xé con người.

            Cộng sản thâm độc do bản chất cuồng tín cố hữu, không tình người. Chúng thành lập những ban kinh tế mới ở khắp các phường trong thành phố, đề bạt và giao trách nhiệm điều hành cho đám cán bộ ba mươi, bọn đón gió trở cờ vào giờ phút chót.

Đó là những trưởng ban kinh tế mới của phường. Chúng lấy gậy ông đập lưng ông, dùng bàn tay bọn chầu rìa ngây ngô khờ khạo, nhẹ dạ non lòng dễ bị gạt gẫm này để giết hại người mình.

            Đám tay sai khuyển mã ấy tha hồ dựa hơi hùm, lộng hành hống hách, lên mặt lên mày, kênh kênh tự đắc phát ghét. Chúng làm biết bao nhiêu chuyện động trời động đất, kể cả những việc mờ ám tống tiền những nạn nhân bất hạnh.

            Chúng bị bà con đàm tiếu, chế rểu qua những câu chuyện tếu rỉ tai hay những câu ca dao thời đại cười ứa nước mắt. Nhưng bọn Phường ủy và Ủy ban Nhân dân phường vẫn làm ngơ im re như câm như điếc. Chúng tỏ ra hờ hững lạnh lùng, xem chẳng có gì quan trọng xảy ra cả.

            Vì thực sự, chúng có một thâm ý duy nhứt. Miễn là đám lốc chốc cặn cáo, thừa nước đục để a dua nịnh bợ một cách vô liêm sĩ đó hồ hởi, tích cực công tác đạt kết quả ở mỗi lượt phát động, đúng theo chỉ        tiêu qui định đưa người ra khỏi thành phố. Như vậy là đạt trọng tâm, trọng điểm của chúng rồi.

            Đám này càng thất nhân tâm bao nhiêu, bọn Phường ủy và Ủy ban Nhân dân phường càng bằng lòng phấn khởi, thắng lợi bấy nhiêu. Biết bao đứa nhờ đó hằng năm, nhân những ngày lễ lớn của Cộng sản, được bình bầu tiên tiến và còn được hứa hẹn hão huyền đề bạt đối tượng này nọ.

            Những người không có công ăn việc làm vững chắc sẽ là mục tiêu chuyển đi kinh tế mới trước tiên. Đó là nói theo ngôn từ tuyên truyền đường mật của Cộng sản, chớ thực sự lúc bấy giờ việc sản xuất quá đổi èo uột do người dân, tất cả đều không còn tinh thần gì để sản xuất. Và nguyên liệu của Mỹ Ngụy để lại chẳng còn bao nhiêu sau những chiến dịch cướp của tịch thu ùn ùn chuyển thẳng về Bắc.

            Dù vậy, người ta thấy ở thành phố lúc ấy mọc rộ lên như nấm không biết bao nhiêu là tổ hợp tạp pín lù, hợp tác xã thập vật xà bần để bà con có nơi chui vào đó ẩn thân, mong được qua cơn giông to gió lớn. Nào là tổ hợp hớt tóc, tổ hợp may mặc, tổ hợp sản xuất xì dầu nước tương, tổ hợp làm tranh sơn mài, hội họa, hợp tác xã đan tre, đệm chiếu, hợp tác xã sản xuất dụng cụ canh tác như rèn búa, lưỡi liềm, dao rựa, cuốc xuổng...

            Đó là chưa kể những cơ sở quốc doanh và hợp doanh do nhà nước trực tiếp quản lý òi ẹp, dở sống dở chết do cái tài điều khiển của những "đỉnh cao trí tuệ của loài người". Đám cán bộ "Cục Rờ" vô sản năm ba         đời bần cố này, "trên răng dưới..." quần xà lỏn, ngu ngơ xớ rớ như gà mở cửa mả.

            Dĩ nhiên, tất cả những cơ sở sản xuất ở lãnh vực này nhứt thiết được chỉ đạo theo "đường hướng sản xuất qui mô xã hội chủ nghĩa", trên cơ sở tập thể công nhân đói rách xác xơ, bỏ nhà cửa, bỏ gia đình liên tục thi đua làm việc thí mạng không giờ giấc để được chế độ "đãi ngộ xứng đáng" làm giàu giai cấp lãnh đạo mới.

            Cứ một hai tuần, ban kinh tế mới phường tập họp các tổ dân phố tại một nơi nào đó như chùa chiền, chợ búa hay những biệt thự có vườn tượt rộng rãi để nghe "lên lớp" và điểm danh những đối tượng phải rời thành phố. Mọi người đều thắc thỏm lo âu cho số phận hẩm hiu bất hạnh của mình.

            Nhưng đối tượng chánh yếu được Cộng sản tập trung chiếu cố vẫn là những thành phần chúng nghi kỵ và đánh giá là phần tử nguy hiểm, có ý đồ đang âm thầm chống chế lại chế độ mà chúng thường gán cho mấy chữ như để kết án trước, không cần phải truy tố ra trước tòa án nhân dân: "Tay sai của Mỹ Ngụy và CIA được bố trí trường kỳ mai phục chờ ngày ngốc đầu dậy". Hay gia đình những sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa hoặc các nhà lãnh đạo trọng yếu trong chánh quyền Miền Nam cùng những vị lãnh tụ cao cấp các đảng phái chánh trị, đoàn thể, tôn giáo... đang được cộng sản "khoan hồng" tập trung cho đi học tập cải tạo dài hạng nơi vùng rừng thiêng nước độc giết người.

           

            Lúc này, tôi cũng phải giành phần lớn thì giờ chạy đôn chạy đáo, xuôi ngược khắp hang cùng ngõ hẹp, dò dẫm bạn bè chí cốt mong tìm kiếm một chỗ làm tương đối "vững chắc", khả dĩ được đám cán bộ địa phương nhìn nhận có tánh cách ổn định tức có nhiều triển vọng "sản xuất làm ra của cải". Như vậy để được yên thân. Tôi không phải thường xuyên bị khuấy rầy về chánh sách đuổi xô khắc nghiệt đó, một chánh sách có một không hai trong lịch sử mở nước ở phương Nam.

            Mà tìm được một chân trong các ngành nghề không bấp bênh ở giai đoạn này chẳng phải dễ dàng gì. Thật trăm bề khó khăn nhiêu khê.

            Tổ hợp, hợp tác xã, hợp doanh, công tư hợp doanh... bao nhiêu mỹ từ, bao nhiêu cơ sở mới toanh với những bảng hiệu hực hỡ qua hai màu vàng và đỏ chói chang đập mạnh vào tầm mắt mọi người. Cả một bối cảnh vô cùng phức tạp, hỗn độn xô bồ chưa từng thấy ở thành phố Sài Gòn, dù trong thời kỳ chiến tranh gay go khổ ải nhất của đất nước. Nơi này, sự dụ dỗ lường gạt, mánh khoé cướp đoạt, chen lấn tranh nhau sống còn trong cuộc đổi đời nghiệt ngã là chuyện xảy ra hằng ngày hằng bữa, nhởn nhơ trước mặt, nghe đầy cả hai lổ tai.

            Muốn vào hợp tác xã hay tổ hợp, đương nhiên nạn nhân phải bán bàn ghế tủ giường, vật dụng lớn nhỏ còn sót lại trong nhà... để có đủ một số tiền góp vốn tối thiểu. Đó là điều kiện tiên quyết nhứt thiết cần phải có, ngoài việc hứa hẹn và cam kết sẽ tích cực góp công góp sức, góp khả năng và tri thức của mình.

            Nhưng nhiều tổ hợp, hợp tác xã, hợp doanh... ma, chưa hình thành xong trên mặt giấy tờ hành chánh phức tạp do sự ngu dốt mà ra, đã nhanh chóng rã đám. Hậu quả là của mất tật mang, vợ con thêm đói dài dài, ngày ngày vẫn cứ phải bấm bụng ăn độn bo bo và khoai mì thối.

            Còn nói gì xin được một chân trong các xí nghiệp quốc doanh và cả công tư hợp doanh kể như việc đi mò kim đáy biển. Ở lãnh vực nhà nước này, thực tế kể như không bao giờ và chẳng bao giờ chui vào được đối với người dân Miền Nam có quan hệ, dính líu xa gần với chế độ cũ.

            Chẳng qua cũng do bản sơ yếu lý lịch truy nguyên xuyên suốt năm thế hệ của mình, kể cả bên vợ bên chồng mà chung cuộc cộng sản chẳng ngần ngại mạnh dạng phê là không trong sạch, ít nhiều đều có tội với nhân dân vì có thân nhân thuộc thành phần "ngụy quân nguỵ quyền". Cho dù nạn nhân khốn khổ có cố công moi móc trí nhớ tìm về nguồn cội gốc rễ, đào đi xới lại quá khứ trước đây để có thể hạ quyết tâm, xuống bút ghi trên giấy trắng mực đen rạch ròi gốc gác bần cố nông nghèo mạt từ đường của mình hay may mắn hơn, xuất thân từ lớp nghèo chí tử nơi thành thị.

            Bản sơ yếu lý lịch là bức tường rào kiên cố chơm chởm gai nhọn khó thể vượt qua. Bọn cán bộ Cộng sản khai thác tỉ mỉ nó để gạn lọc, cản ngăn mọi dự tính của người dân lương thiện.

Quả thật trần thân khổ ải vô cùng.

            Một hôm, anh Hai Hoàng, ông bạn hàng xóm xấp xỉ tuổi tôi, cùng ngụ chung dãy phố từ mười lăm năm nay có dư, qua nhà tôi đấu chuyện tào lao tầm phào với giọng dè dặt nho nhỏ thường ngày vừa đủ cho nhau nghe. Chúng tôi hay qua lại trao đổi tâm tình, nghe ngóng tin tức thời sự và những đường dây vượt biên để thần kinh đỡ bớt căn thẳng.

            Anh đã bị bọn cải tạo công thương nghiệp thành phố dập vùi không thương tiếc trong đợt đánh tư sản mại bản đầu tiên. Chúng gán cho anh cụm từ "tài phiệt ác ôn lộng hành có nợ máu với nhân dân". Anh cũng đã từng bị chúng giàn dựng lôi lên truyền hình hạch xách để anh phản tỉnh nhận tội lỗi trước đây làm gương. Nhưng chủ yếu của chúng là bức bách anh khai báo tài sản cất giấu để được hưởng chánh sách khoan hồng.

            Giá nếu ghi lại ở đây tâm trạng cùng những đòn phép hành hạ rúng ép tinh thần và vật chất  mà anh đã chịu đựng trong thời gian nghẹt thở này thì chẳng bút mực nào đủ để anh trang trải nỗi lòng đớn đau đến mức tuyệt vọng lúc ấy của anh.

Nó có muôn hình vạn trạng...

            Cũng may, hồi xưa, cơ sở buôn bán vật liệu xây cất đồ sộ của anh không do anh trực tiếp đứng tên làm chủ. Nếu không, anh sẽ là đối tượng ưu tiên bị chánh quyền đưa đi kinh tế mới từ lâu rồi. Anh chỉ là người quản lý còn chủ nhân là ông anh vợ đã nhanh chân dẫn dắt vợ con thành công ra đi vào giờ phút chót trên chiếc tàu sắt Trường Sơn. Chiếc tàu này đã một thời gây chấn động lương tâm thế giới và mở mắt nhân loại. Tất cả cơ sở ấy đều bị kiểm kê và tịch thâu ngay giờ đầu của chiến dịch.

            Lại cũng may, nhờ anh có tờ khai gia đình chánh thức ở địa chỉ này nên đội kiểm kê chưa trục xuất anh như bao nhiêu trường hợp tương tự khác. Chúng cho anh cùng vợ con tạm thời ở một căn nhà sát bên cơ sở.

Nhưng anh nào được yên thân đâu. Cứ vài ngày, anh bị chúng lôi lên làm việc một lần gọi là để điều tra bổ túc, nhưng để hăm dọa là việc thường xuyên phát xuất từ cửa miệng của mấy tên cán bộ hung thần ác ôn.

            Nhưng dù sao, nơi căn nhà ấy bây giờ anh vẫn thu xếp gọn gàng vén khéo, biến thành chỗ cư trú qua tháng đoạn ngày của gia đình anh. Nó cũng đắm chìm, không sao thoát khỏi bị cuốn lôi trong khí thế hồ hởi đổi đời của "cách mạng vô sản".

            Bộ mặt hực hỡ lộng lẫy, bày biện ngăn nắp, dễ ngắm dễ nhìn, ngày xưa từng lôi cuốn khách hàng giờ đây không còn nữa. Giờ đây trông quá xơ xác hắt hiu, trống hoát trống huơ. Từ trước nhà thông suốt đến sau bếp. Dã sử có người mù hay bị bịt đôi mắt tối đen, họ vẫn cứ phon phon đi tới, không hề sợ bị đụng chạm vật dụng và vấp ngã.

            Anh thấy tôi đang cắt tóc cho các con tôi. Vì từ ngày Miền Nam thân yêu của chúng ta bị Cộng sản cưỡng chiếm và đày đọa, thì giờ tương đối dư dả thừa mứa do ăn không ngồi rồi. Ngày ngày, tôi loanh quanh lẩn quẩn tới lui trong xó nhà xó bếp tồi túng.

            Tôi chỉ có mỗi một việc duy nhứt là để tâm suy nghĩ, nghiên cứu phương cách tìm đường trốn lánh thiên đường nghiệt ngã xã hội chủ nghĩa thôi. Cho nên việc gì trong nhà trong cửa, dù lớn nhỏ khó khăn gì, tôi cũng cố gắng nhúng tay vào, trước hết để choáng thì giờ và sau nữa để lãng quên thực tại nghẹt thở ngoài xã hội. Những việc này, ngày xưa, tôi đâu có rổi rảnh để quan tâm ghé mắt tới bao giờ.

            Hơn nữa, gia đình tôi cũng bắt đầu thấm đòn đau điếng do hằng ngày có nhiều việc tiêu xài bắt buộc mà thu nhập dù ít oi cũng không hề có, ngoài việc thỉnh thoảng phải đem ra chợ trời chợ chạy bán đi đủ thứ tạp vật trong nhà có thể bán được. Gia đình tôi phải hạn chế đến mức tối đa những việc chi tiêu không cần thiết.

            Tôi lại càng cố gắng thêm nữa, tự mình nai lưng, xăng tay áo làm được việc gì hay việc nấy. Vì tôi nhận thấy con đường u u tăm tăm mờ mịt, con đường tối đen hun hút trước mặt mình là làm sao chuẩn bị tinh thần vững vàng để đối phó một cuộc sống trường kỳ trong kham khổ. Tôi nghĩ bà con trong thành phố lúc ấy cũng có một thái độ và quyết tâm như tôi, không cần phải làm thầy bùa thầy bói hay tử vi tướng số mới đoán được.

            Anh Hai Hoàng thấy vậy chớp lấy thời cơ đề nghị tôi cùng anh đứng ra thành lập một tổ hợp hớt tóc để có lý do chánh đáng và hợp pháp được tạm trú yên thân. Chúng tôi sẽ không bị nhức đầu nhức óc lo lắng, không bị những tay "cán bộ ba mươi" làm phiền hay những người vì nặng gánh đời cơm áo trong thời điểm nghiệt ngã đổi đời, đã đánh mất lương tâm, lường gạt bạn bè quen biết qua những tổ hợp ma, tổ hợp dởm.

            Anh cũng đề nghị tôi cứ lấy phần phía trước căn nhà anh đang ở làm cửa tiệm. Anh còn nhấn mạnh là rất tiện lợi và phải chỗ lắm vì thuộc mặt tiền đường chánh, lại hợp với phong trào nữa. 

            Tôi xửng vửng ngạc nhiên. Trong lòng, tôi cứ ngờ ngợ tưởng anh nói chơi cho vui miệng trong lúc bất chợt, tình cờ cao hứng. Vì xét ra cả hai anh em chúng tôi chưa một ai biết cầm cái kéo, cái lượt, "tông đơ" và dao cạo bao giờ đâu. Nhưng không dè anh nghiêm sắc mặt bảo rằng anh không nói đùa mà anh nói thật lòng đấy.

            Như lúc hạn hán lâu ngày gặp được mưa rào, tôi đồng ý ngay trong sự khấp khởi vui mừng chung của hai anh em chúng tôi. Tôi không biết vì sao tôi lại đồng ý nhanh lẹ đến thế. Có lẽ cái tổ hợp tương lai đang manh nha trong trí chúng tôi là cái phao cứu rổi để chúng tôi bám vào thành phố?

            Thế là tổ hợp hớt tóc Thanh Phú ra đời với sự cho phép miệng của Uỷ ban Nhân dân phường. Đám cán bộ cộng sản ngu ngơ dốt đặc thường làm việc bằng miệng, không có văn bản hay giấy tờ chi cả. Tuy vậy, tổ hợp chúng tôi cũng có bản hiệu hai màu đỏ vàng mới sơn nhưng với những tay nghề vừa tập tểnh,             thường xuyên lúng túng hồi hộp khi bắt buộc phải tiếp khách do xử dụng dụng cụ còn chưa vững để khỏi nói là vụng về.

            Nhiều lúc hớt trậm trầy trậm trật vừa xong cái đầu của đám con nít, lòng mừng vui khấp khởi, thở ra nhẹ nhỏm nhưng khi nhìn thấy những sọc dưa tiếp nối nhau với những chỗ đậm xen kẽ những nơi nhạt, lòng chúng tôi thêm thèn thẹn và đâm ra thương chúng nó biết dường nào. Có lúc "tông đơ" ăn tóc chúng nó đau điếng nhưng chúng vẫn không hề có phản ứng phiền hà, cự nự. Chúng chỉ mở đôi mắt tròn xoe, chầm chầm ngạc nhiên nhìn chúng tôi qua tấm kiếng to lớn treo vững chắc trước mặt, lặng im không nói một lời.

            Hôm nào hớt được đôi ba đứa trong đám trẻ nầy, chúng tôi mừng húm, xem như là những cơ hội hiếm hoi ngàn vàng để trao dồi cái nghề mới vạn bất đắc dĩ này, cái nghề không phải để kiếm cơm hằng ngày hằng bữa mà thực sự để được ổn định một chỗ ở trong thành phố.

Vì đối với chúng tôi, làm gì thì làm, bằng mọi giá, nhứt định phải bám ở thành phố mà sống. Ra khỏi nơi nầy là tự mình ký nhận bản án tử hình của mình vậy.

            Còn hôm nào gặp phải vài ba ông khách người lớn, dù lúc bấy giờ các ông không hề tỉ mỉ khó tánh, nhưng kể như một đại nạn đối với chúng tôi. Chúng tôi vừa hớt vừa phập phồng không yên trong lòng. Tình trạng nầy không thể để kéo dài được. Chúng tôi quả có lý khi nghĩ đến việc nầy.

            Do đó, chúng tôi có tranh thủ thời giờ, lục lọi trong khu phố, mời thêm một hai tay nghề bản lỉnh, có nhiều kinh nghiệm hầu phục vụ những khách hàng người lớn trong khi chúng tôi rất mực hài lòng chuyên gọt đầu bọn con nít con nôi. Đám nầy chẳng đòi hỏi gì vì đa số đều là bạn bè trang lứa với các con cháu chúng tôi.

            Trong số thợ, chúng tôi xem như có tay nghề đảm bảo vững vàng, điêu luyện là khác để làm đầu tàu đứng mũi chịu sào cho tổ hợp có bác Hai Nhím. Bác được bà con trong phường gọi đùa là bác Hai Việt Câu Tiển.

            Bác lớn tuổi rồi, ngót nghét sáu mươi hoặc trên dưới vài tuổi là cùng, nếu tôi đoán không lầm. Mặc dầu bác có một quá khứ lang bạt, dầy dạng phong trần nhưng tóc râu bác còn đen huyền, điểm rải rác đó đây một ít tóc sương. Da dẻ bác sẫm hồng chắt nịt, thể hiện sức sống của lứa tuổi thanh xuân "bẻ gãy sừng trâu" không khó.

            Con người bác trông quắc thướt yêu đời, lanh lợi lịch duyệt lắm. Nhưng nhiều lúc bác rất hưỡn đãi, trầm lắng, suy nghĩ chính chắn. Mọi người một khi tiếp xúc với bác đều nhìn nhận như vậy.

Gặp bác lần đầu tiên, tôi có nhận xét bác rất trẻ trung trong tinh thần hơn ngoài thể xác. Lời ăn tiếng nói thanh bay, lịch sự dễ mến.

            Tôi không biết rõ mức độ học vấn của bác ra sao, cỡ nào. Nhưng có điều chắc chắn không thể sai lầm trong nhận xét của tôi, bác tỏ ra là một con người hiếm hoi ít khi gặp được ở lứa tuổi của bác. Bác có trình độ văn hóa trên xa mức trung bình. Và sự hiểu biết cùng suy nghĩ của bác quả khá sâu sắc, quả có chiều cao.

            Lúc ấy, bác đang hớt tóc ở cuối phố, nơi bác chỉ xuất đầu lộ diện từ sau ngày thành phố Sài Gòn bị bức tử. Bà con ở đây chẳng biết bác từ đâu đến khóm phường tôi vì trông bác lạ hoắc lạ huơ. Trước đây, họ chưa từng thấy mặt bác một lần.

Nhưng cuộc sống xô bồ phức tạp những tháng gần đây xô đẩy con người đổ ra đường phố tìm kế sinh nhai và cảnh tấp nập chung đụng thường xuyên làm cho con người càng gần gủi thêm, càng dễ dàng xích lại bên nhau hơn trong nương tựa, chia xẻ âm thầm. Bác trở thành một khuôn mặt thân quen như người căn cư lâu đời trong khu phố. 

            Dù vậy, bác vẫn có hộ khẩu tạm trú đàng hoàng và hợp lệ nhờ giấy tờ trồng tréo qua sự chạy chọt, ép bụng đút lót tên công an khu vực phường lúc tranh tối tranh sáng khi làm thủ tục đổi tiền đợt I. Tên công an răng đen mã tấu miền Bắc, nghèo xơ nghèo xác, được dịp hiếm hoi "ngàn năm một thuở" trong đời để vương lên làm giàu, không thể từ chối được. Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng tiền là huyết mạch, mua tiên cũng được, nhứt là đối với mấy ông vua con công an không ngai ngự trị một phường, mặt mũi lộng hành hống hách.

            Hằng ngày, bác mang cái túi đồ nghề bằng vải tám bồng bột, lớn không quá giỏ xách đi chợ của đàn        bà, cùng tấm kiếng soi mặt to vừa vặn một trang giấy đôi học trò. Sáng sáng, bác treo tấm kiếng nhẹ hêu đó ở gốc bàng cổ thụ, nơi đây bác đóng một cây đinh nhỏ, đầu đinh có bọc một mảnh vải lên nước đen ngòm do được dùng nhiều ngày.

            Đó chính là tiệm hớt tóc của bác. Nói tiệm hớt tóc nghe qua cũng khá oai thật đấy nhưng thực tình, nó chỉ là cái tiệm lộ thiên, không hơn không kém, e ấp núp gọn lỏn dưới tàng cây bàng suốt ngày râm ran bóng mát.

            Mỗi ngày, bác chỉ treo tấm kiếng lên vào buổi sáng, lúc bắt đầu làm việc. Buổi chiều, khi ánh sáng thiên nhiên khởi sự nhòa nhạt chuẩn bị chào đón hoàng hôn, bác ngừng tay nghỉ sớm do đôi mắt kém. Việc bác không hề quên là cẩn thận tháo tấm kiếng ấy xuống rồi cặp nách cùng mang tứi đồ nghề lầm lũi thả bộ theo phố về nhà.

            Còn cái ghế ngồi, loại ghế đẩu cũng sắp sửa như răng cỏ những bậc trưởng thượng ở tuổi ướm rụng. Nền đất thì có lúc khô hẳn, cũng có lúc vừa mới ráo sau cơn mưa nên cái ghế này để đâu bác không an tâm chút nào, sợ lún làm té người, nhứt là đám con nít con nôi nghịch ngợm.

Mỗi lần, bác cẩn thận lấy hai tay đằng xuống dưới đất thật mạnh cho ghế được vững vàng chắc chắc. Mỗi chiều, bác cột ghịch ở gốc cây bàng nhờ sợi lòi tói nhỏ nhắn có gắn một ổ khóa to không bằng đầu ngón tay cái. Bác khóa cho có hình thức, phòng ngừa mấy đứa nhỏ rống mắt tay chưn thái mái lấy chơi.

            Thật sự, nếu ai muốn lấy mà chẳng được. Họ chỉ cần giựt mạnh một chút là ổ khóa bức néo ngay. Mà thực tế từ khi bác trụ bộ hớt tóc ở đây, chẳng ai đan tâm nỡ đành lấy cái ghế ấy của bác cả. Cái ghế chính là nồi cơm của bác hằng ngày. Nó là dụng cụ sinh sống của bác đã đành nhưng có lẽ vì nó không còn một chút giá trị gì dù ở thời kỳ thạnh hành, cao điểm của chợ trời chợ chạy.

            Dụng cụ hành nghề khác của bác đa số đều thuộc loại xài rồi lâu ngày, mua lại với giá rẻ mạt nơi những tiệm hớt tóc chuyên nghiệp lộng lẫy đồ sộ ở thành phố. Chủ nhân trong lúc hoảng hốt vội vã bán đổ bán tháo trước khi đóng cửa tiệm, đổi vùng, lao lách tránh né đòn thù của các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp.

            Nhưng bác rất hãnh diện với khách qua chai Eau de Cologne với cái vỏ màu mè bên ngoài chớ thực tế chỉ chứa nước "phông tên" thuần chất bên trong, không hơn không kém. Thêm lủ khủ mấy chai nước hoa đủ kiểu, hình dáng lạ mắt và màu sắc sặc sở nhưng không còn hiệu nghiệm. Bác chỉ để đó làm cảnh cho vui mắt ngắm nhìn, nhắc nhớ một thuở huy hoàng xa xưa.

            Nơi hớt tóc ấy của bác quả thật vén khéo gọn gàng nhờ vào tàng cây bàng cổ thụ xum xuê cho bóng mát quanh năm và tiếng chim không ngớt líu lo êm tai. Chắc cũng nhờ vậy nên quến khách chăng? Và khách hớt tóc thường xuyên của bác, tuy không rộn rịp phải ngồi đợi chờ lâu lắc nhưng cũng giúp bác lây lất đủ sống qua ngày. Đa phần đều là những khách tới lui nhiều lần, trở nên quen mặt quen tên thân tình, có thể tâm sự với nhau không phải rào trước đón sau, dè dặt chi cả. Và có lẽ nhờ những lần gặp gỡ tâm tình dong dài ấy mà tinh thần họ bớt căn thẳng chăng?

            Gặp những hôm mưa gió trái mùa, bác nghỉ ở nhà buồn hiu, ngồi nhìn trời mây, nhìn những hạt mưa đan chéo nhởn nhơ trước mặt mình, trầm ngâm đếm thời gian trôi qua để suy gẫm cuộc đời và cũng để bùi ngùi hồi nhớ quá khứ không xa mấy của bác. Cái quá khứ đã từng giúp bác sống hạnh phúc, ấm no và mãn nguyện so với thời buổi "cách mạng đại thành công", "thống nhứt đất nước", hồ hởi "đổi đời", "làm chủ tập thể" bây giờ.

            Nhưng gặp những khi mưa giông đến bất thình lình lúc bác đang hành nghề, bác nhanh tay thu xếp dụng cụ đồ nghề gói trong túi xách rồi khép nép đụt mưa, trú thân ở mái hiên những nhà bên cạnh, mặc gió lạnh tới tắp bên ngoài. Làm ăn đắp đổi qua ngày như vậy, bác những tưởng là tạm ổn cho đoạn tháng qua ngày chờ giờ phút xuôi tay nhắm mắt theo ông theo bà, chấm dứt một kiếp người bất hạnh, tuổi cao sức yếu vẫn chưa yên thân, vẫn còn bị hành xác trong vòng khổ lụy.

            Các ban an ninh và xã hội phường khóm đâu để bác an phận tuổi già, sinh sống nuôi miệng với sức lực mồ hôi của bác, đúng theo chính sách của đảng và nhà nước cách mạng ngày ngày rầm rộ rêu rao qua       mấy ống loa treo ở khắp khu phố. Mấy cái loa này thỉnh thoảng cứ vang lên chát chúa, bưng tai điếc óc: "có làm mới có ăn", "sản xuất vì đảng và vì nhân dân", "lao động là vinh quang"... Dù rằng bác chỉ nuôi có mỗi bản thân gầy gò xơ xác của bác. Vì theo nhiều người biết chuyện kể cho nghe thì bác vốn sống độc thân từ nhỏ tới nay, do cuộc đời lang bạt kỳ hồ, rày đây mai đó của bác.

            Nhà nước cách mạng đã nhiều lần ra lệnh cấm người dân trong khắp các quận huyện nội ngoại thành hành nghề dưới hình thức "cá thể" của chế độ "Mỹ Ngụy" cũ. Tất cả đều phải gia nhập vào các tổ hợp hay hợp tác xã theo đúng phương chăm phương hướng làm ăn "tập thể, sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa", có tổ chức hẳn hoi, có ban điều hành mọi việc, nhứt là có sự lãnh đạo sáng suốt và duy nhứt của đảng.

            Tuy vậy, bác nghe chỉ để bụng. Bác vẫn dằn co, tiếp tục tránh né, do thừa hưởng tinh thần tự do phóng túng, không chấp nhận dễ dàng những ràng buộc rúng ép không hợp tình hợp lý bất kỳ từ đâu đến. Cái thói cố hữu của dân tình Miền Nam mà! Bác lau lách dùn thẳng, viện dẫn hoàn cảnh nầy nọ, nêu đủ thứ lý do để tiếp tục sinh sống với cái nghề cắt ca cắt củm gọt đầu thiên hạ.

            Nhưng lý do nào của bác dù có chánh đáng đến đâu cũng không được ban lãnh đạo phường khóm chấp nhận cả. Họ có lý của họ, cái lý của kẻ chiến thắng hống hách coi trời bằng vung. Họ có trọng tâm trọng điểm của họ, cái trọng tâm dựa trên hận thù nhỏ nhoi và cái trọng điểm nhằm quơ quào cướp của càng nhiều càng tốt.

Họ núp dưới những danh từ đường mật mỹ miều rổng tuếch về chánh sách và chủ trương, đường lối. Mà đã là chủ trương, chánh sách, đường lối thì phải nhứt trí triển khai để thi hành thẳng thừng.

            Rồi sau cùng đến lượt tên công an khu vực, một tên dao tu mã tấu lạ hoắc lạ huơ gốc gác tận Hoàng Liên Sơn hay Hà Tây, Bắc Kạn gì đó, mỗi lần mở miệng ra tay là hăm dọa, đuổi xô càn quét. Hắn ta không ngớt bô bô:

            - Ơ ơ, thế này "nà" thế nào đây? "Nàm" sao vậy? "Nại" vẫn ở đây tiếp tục "nàm" ăn theo "nối" sống cũ của Mỹ Ngụy?

            - Chống "nại" chủ trương của Đảng và nhà nước cách mạng à?...

            Liệu thế không kham, bác dẹp cái tiệm hớt tóc dạo nhỏ hếu, lâu nay là niềm vui duy nhứt của bác. Bác giã từ gốc cây bàng râm ran bóng mát. Bác giã từ tiếng chim chóc cứ hò hẹn thay phiên tiếp nối líu lo ca hát suốt ngày. Dù sao, từ ngày cuộc sống bỗng nhiên trở nên quá khắc nghiệt khó khăn ở thành phố Sài Gòn, nó cũng giúp bác kiếm chút cháo nuôi thân cầm hơi.

            Bác bèn đổi phương hướng làm ăn. Bác ôm đồ nghề đi lang thang các khu phố và ngõ hẻm để hớt tóc dạo. Nhưng tai mắt của ban an ninh phường khóm cùng khắp. Chúng theo dõi, phát hiện chẳng khó khăn gì.

            Vả lại, ở thời buổi hổn độn xô bồ đó, cuộc sống bị xáo trộn từ trong gốc rễ. Vào nhà người hớt tóc không phải là việc dễ dàng và thuận tiện đâu. Người người e dè nghi kỵ người người. Không ai dám tin cậy ai cả.

Lý do rất dễ hiểu. Nơi cái xã hội "ưu việt đầy chất tình người", sự đấu tố, báo cáo, kiểm tra, kiểm điểm được khuyến khích tối đa, xem như một nghĩa vụ hàng đầu của "con người mới" giác ngộ tinh thần đấu tranh giai cấp.

            Người ta tránh sự dòm ngó soi bói của người lạ, nhứt là đối với những gia đình có nuôi ý đồ và một chút hy vọng mong manh nào đó để vượt thoát khỏi thiên đường cộng sản. Của cải của họ vơi dần. Bàn ghế, tủ giường bán sạch sành sanh. Nhà cửa trống trước trống sau lưu ý kẻ tò mò manh tâm tố cáo, lập công lấy điểm. Do hoàn cảnh bất thuận lợi như vậy, ngày ngày lội bộ rã chân rã cẳng, bác không hớt được mấy cái đầu. Viễn ảnh chết đói và bị đuổi đi kinh tế mới lờn vờn trước mặt bác.

            Tôi gặp bác Hai Nhím trong một đêm họp khoáng đại liên tổ nơi một cảnh chùa xơ xác đìu hiu trong khóm để nghe ban kinh tế mới phường lên danh sách, công bố những đối tượng ưu tiên phải đi sản xuất ở các khu kinh tế mới. Các khu này mang những cái tên rừng rú hoang dã nhưng bỗng nhiên rất quen tai lúc ấy, đã được khoanh vòng dành cho phường tôi.

            Da số đều nằm thụt lõm sâu hút trong rừng khô cằn sỏi đá thuộc tỉnh Bình Long, một Bình Long          anh dũng ngày nào với trận tử chiến thắng lợi vang danh một thuở dưới sự chỉ huy can cường và kiên quyết của cố Thiếu tướng anh hùng tuẩn quốc Lê Văn Hưng. Cả hai chúng tôi đều nằm gọn trong danh sách dài sọc bị gọi tên đêm hôm ấy.

            Không khí buổi họp thật lâm ly áo não và ngôi chùa cổ được cán bộ xử dụng làm nơi họp, đèn đuốc lờ mờ với những hàng liễn đối chữ Hán đen thẵm và tượng Phật lớn nhỏ nhạt nhòa ngổn ngang càng làm cho quang cảnh thêm u trầm buồn thãm.

Cái thời lễ lộc Phật sự tưng bừng và uy nghiêm thuở nào đã thuộc về dĩ vãng xa xôi hẳn rồi. Các vị sư sãi, các chú tiểu đã bị kết tội là những kẻ ăn không ngồi rồi, những kẻ từng bốc lột ăn bám xã hội, nay phải đi sản xuất tạo ra của cải, lúa thóc, rau khoai... mà nuôi lấy tấm thân như mọi người. Còn chùa chiền do nhà nước trực tiếp quản lý.

            Như đã nói, trong các buổi học tập chính trị đêm đêm ở tổ dân phố, bài học đầu tiên về chánh sách của đảng và nhà nước là đề cao câu kinh nhật tụng "có làm mới có ăn". Và ăn ở đây là ăn theo hộ khẩu, theo tiêu chuẩn phân phối nhu yếu phẩm định kỳ hằng tháng, đúng với chủ trương lấy cái miệng (hộ khẩu) khống chế cuộc sống. Nhiều bạn bè tôi mỉa mai là Phật, Chúa dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã ngủ hoặc chết mất hết rồi!

            Bác Hai Nhím rất mừng khi nghe tôi đề nghị bác cùng vào tổ hợp hớt tóc với mấy anh em chúng tôi. Dù sao, bác cũng đã có tay nghề. Bác có khả năng giúp tổ hợp đứng vững tới đâu hay tới đó. Bác đồng ý ngay, không chút do dự ngần ngại.

            Và tổ hợp hớt tóc của chúng tôi tới giờ phút này mới chánh thức thành hình. Chúng tôi trình xin giấy phép hành nghề. Một thời tổ hợp hoạt động không đến đổi nhộn nhịp nhưng những khách lối xóm thân quen thương tình nhứt loạt đều đến giúp chúng tôi qua tháng qua ngày. Từ đó, chúng tôi an tâm tạm thời không bị làm khó dễ nữa.

            Lần hồi, quốc sách của đảng và nhà nước đưa mọi tầng lớp nhân dân thành phố thẳng hướng vào ngõ cụt của nghèo khổ đói rách do những biện pháp hận thù siết hầu siết họng người dân, gở tay cướp của và mở rộng cửa nhà tù. Trong mỗi gia đình, người người từ lớn chí nhỏ đều băn khoăn đổ xô ra đường, nhanh chân nhanh cẳng lo chạy gạo tối mày tối mặt. Đâu ai còn tinh thần hay niềm vui để săn sóc sắc đẹp, hớt tóc đều đặn định kỳ nhằm trang điểm làm đẹp cuộc đời?

            Đó là phần người lớn. Họ phải bươn chải lo gánh nặng gia đình đã đành. Còn nói gì mấy đứa nhỏ nhóc con, tóc tai chúng cứ để mọc tự do bùm xùm, dài thậm thượt. Tiền để mua thức ăn không có, có đâu dư thừa đi hớt tóc!

            Có dạo, một ngày chín mười tiếng đồng hồ chờ đợi khách, bốn năm anh em tổ viên chúng tôi ngồi nhìn nhau trong thầm lặng. Tất cả không nói gì với nhau nhưng trong lòng mỗi người đều thắc thỏm lo đói. Chúng tôi giải khuây quên hiện tại, quên đời bằng cách bày biện đánh cờ tướng, cờ chó. Cả ngày chỉ hớt được đôi ba móng là cùng.

            Thối chí chán nản, nhưng dù thế nào chúng tôi vẫn phải bằng lòng với tình trạng ế ẩm đó. Chúng tôi nhứt thiết phải duy trì bằng mọi cách cái tổ hợp hớt tóc bất đắc dĩ ấy, không cho nó chết tức tửi. Vì dù sao, nó chẳng phải là bức bình phong che chắn gió mái phong ba? Vì dù sao, nó cũng giúp chúng tôi hợp thức hóa tình trạng hộ khẩu qua ngành nghề của mình, đã được nhìn nhận như một cơ sở sản xuất tập thể danh chánh ngôn thuận.

            Nhưng rồi một bất ngờ đến với chúng tôi. Cái bất ngờ của người đi giữa sa mạc nóng cháy thiêu đốt vừa được thấm giọng một vài giọt nước mát không hề dám trông chờ. Chúng tôi tưởng chừng đang trên đà sắp chết đói đến nơi, không dè bỗng dưng lại có một số khách mới.

            Đó là những tên cán bộ phường ủy và ủy ban nhân dân phường, lúc này đã rời đôi giép râu, vứt bỏ đâu đó cái nón tai bèo cùng với cái khăn rằn lên nước đen thâm để thay thế vào đó bộ mã hào nhoáng xa xí của Mỹ Ngụy để lại.

Chúng láng nhuốt. Chúng dư của dư tiền do quơ quào rúng ép đó đây trong lãnh địa bất khả xâm phạm của chúng nên ăn tiêu chưng diện theo thời. Đầu tóc chải chuốt mướt mượt, râu ria cắt tỉa phẳng phiu.

            Ngay cả cái tên công an khu vực quê mùa cục mịch ở Hoàng Liên Sơn, Hà Nam Ninh hay Sơn Tây, Bắc Giang, Bắc Kạn gì đó... hồi mới vào Nam với bộ đồng phục màu vàng xúng xính xùng xình, xanh xao vàng vọt như tàu lá chuối non, ốm yếu trơ bẹ xường như cá lẹp tăm nhang, mặt mày hống hác nhăn nheo như những người già háp. Bây giờ, chỉ không được bao nhiêu ngày hồ hởi phấn khởi "ba mươi năm mới có ngày này", đã thấy hắn ta phì ra tròn vo, căng da trắng mởn.

            Hắn ta cũng đến với chúng tôi đôi ba tuần một lần và mỗi lần miệng mồm tía lia, không ngớt bô bô ca tụng "Miền Bắc thiên đường xã hội chủ nghĩa", thành quả của sự "chỉ đạo sáng suốt của Bác Hồ vĩ đại kính yêu" làm cho anh em tổ viên chúng tôi lắm lúc phải cố gắng ém nhẹm nụ cười khinh bỉ của mình. Vì chúng tôi đã biết quá rõ về cái thiên đường ca tụng không hết lời ấy.

            Nhưng khách sộp nhứt của chúng tôi vẫn là những tay cán bộ cải tạo Hà Nội được gấp rút đưa hằng loạt vào Nam từ thời của tên đồ tể dốt đặc cán mai Đỗ Mười nhằm đánh gục nhân dân "vùng mới được giải phóng" để mạnh dạng dùng bạo quyền bạo lực khống chế đưa họ vào khuôn khổ mẫu mực của Miền Bắc triền miên xơ xác đói nghèo. Những tên này chôm chĩa no nức trứng, cấu kết thành một hệ thống chuyển vận ngày tiếp nối ngày đủ thứ vật dụng tiêu dùng và thiết bị máy móc đem về "hậu phương vững mạnh" miền Bắc.

            Thực tế, những của nổi này nhằm nhò gì đối với chúng. Của chìm mới đáng kể hơn. Tên nào đút lót thành công bè phái cấp trên được "biên chế" vào Nam kể như là một đại phú mới trên đất nước vô sản "Việt Nam xã hội chủ nghĩa anh hùng", nơi mà đại đa số người dân ba miền đều trắng tay, suốt đời bị kềm kẹp còng lưng làm thân trâu ngựa.

            Thừa tiền dư của, chúng phải chi tiêu ăn xài chút đỉnh để thụ hưởng những lạc thú rơi rớt còn sót lại, những thú phong lưu tư bản đồi trụy mà suốt một đời xả thân nhắm mắt theo "tiếng gọi thiêng liêng" của đảng trong thiếu thốn khổ cực, chúng thèm khát và âm thầm mơ ước. Nay trong lúc nhập nhầy, chúng thừa cơ hội này để lén lút thực hiện ước mơ của mình với tiền của có được không một giọt mồ hôi, xem như tự thinh không rớt xuống.

            Chúng khỏi phải sợ đồng bọn theo dõi, an tâm với những vụ kiểm tra xử lý cụi ở Miền Bắc. Vì hình như lúc cặn cáo lẫn lộn này, tên nào cũng giống nhau như khuôn đúc, mạnh ai nấy tìm tòi sáng kiến làm giàu và hưởng thụ.

            Buổi trưa, các bạn tôi trong tổ hợp đều bách bộ ra về dùng cơm trưa ở nhà cho đỡ tốn kém, tiết kiệm được phần nào hay phần nấy. Riêng bác Hai Nhím và tôi ở lại ngay tổ hợp nghỉ trưa, ăn qua loa củ mì củ lang đỡ lòng.

            Tôi lại có thói quen, từ ngày "cách mạng thành công", ít khi chịu đi bộ ngoài đường phố trừ những khi tối cần thiết. Lý do dễ hiểu là tôi không thích nhìn ngắm những cảnh trái tai gai mắt đổi đời nhan nhản đó đây lúc bắt buộc phải chạm mặt.

Tôi thích được yên tịnh. Tôi thích sự cô đơn. Lắm lúc sự yên tịnh đến mức độ lạnh lùng này làm cho tôi sợ những chỗ đông người. Và tôi sợ cả những tiếng động chung quanh mình nữa.

            Có một bữa trưa, bác Hai Nhím kể cho tôi nghe một mẫu chuyện thâm trầm ý nghĩa làm cho tôi nhớ mãi, không thể nào quên được con người từng trải và sâu sắc của bác, một con người có tấm lòng và nhân cách đáng kính.

            Giọng trầm trầm bác kể:

            - Chú còn nhớ thằng cán bộ cao lều nghều có hàm răng hô như bàn nạo dừa khô ở vùng Mỹ Tho Bến Tre của mình không?

            Vì mỗi lần có khách, tôi phải tập trung tối đa với ám ảnh thường xuyên tay nghề mình non kém quá, chểnh mãn lỡ hớt hư khách buồn mà mình cũng chẳng vui gì. Đôi khi còn thêm phiền hà lắm chuyện nên tôi trả lời ngắn gọn đúng với sự thật:

            - Không bác à!

            Bác tiếp lời:

            - Thằng cán bộ lều nghều này đặc biệt quá mà cháu không để ý à? Hớt với bác nhiều lần đâm ra quen quen rồi nó bắt đầu chuyện trò dông dài khoe với bác đã được Đảng điều vào Nam công tác khẩn trương trong ban Cải tạo Công thương nghiệp ở thành phố Sài Gòn mình. Mỗi lần nó đến hớt tóc, bác để ý thấy nó thay đổi hẳn, trông ngày càng thêm sạch sẽ hơn nhiều. Hồi trước nó nghiêm nghị, mặt vênh vênh hống hách, hiu hiu tự đắc như ếch ngồi đáy giếng trông trời bằng vung. Mỗi lần đó, bác nhìn vào khung kiếng phía trước, trông thấy bản mặt khắc khổ hắc ám, hãm tài hãm của của nó mà phát ghét. Bác nhòm tỏm nó, trong lòng nhói lên một niềm đau ứa gan ứa mật. Nó là bọn mang họa đến cho cá nhân bác và cho bà con Miền Nam mình.

            Ngừng một đổi, bác hớp một hơi trọn ly nước "phong tên" trong vắt rồi lấy giọng qua nụ cười cay đắng:

            - Được một cái là nó trả tiền hớt tóc sòng phẳng để bác cháu mình sống lây lất cầm hơi. Nếu không, xin lỗi cháu, cục c... bác còn ngó xem nó lớn nhỏ, dài ngắn và màu sắc ra sao chớ với bản mặt hãm tài ấy của nó, bác thề có hai vai chứng giám, chẳng thèm nhìn đến bao giờ.

            Rồi bác hạ giọng:

            - Ngặt một nỗi, mỗi lần hớt tóc, bác cơ hồ như bị bắt buộc phải nhìn mặt nó mãi qua tấm kiếng treo nơi vách tường trước mặt mình. Bác không tài nào tránh được. Không biết bao nhiêu lần như vậy rồi! Và cứ mỗi lần hớt tóc cho nó, thật khổ tâm cho bác biết dường nào.

            Bỗng dưng, bác tỏ ra bí hiểm, khác hẳn với sự hóm hỉnh dễ thương thường gặp ở bác:

            - Hớt hoài, nó đâm ra làm quen với bác. Nó chào hỏi và gọi bác là Bác Hai ngọt xớt như đường phèn hay mía lùi không bằng. Rồi mấy lần sau, nó bắt đầu mở miệng dò la, hỏi thăm huyên thuyên lắm chuyện ở Miền Nam mình ngày trước. Dường như nó muốn thăm dò tìm hiểu chi đó nhưng còn ngại ngùng chưa muốn nói ra huỵch tẹt. Nó muốn biết mình thực sự sinh sống và làm ăn ra sao thời Mỹ Ngụy. Vì bác áng chừng nó cũng đã bắt đầu có những suy nghĩ và nhận xét khác hẳn với nội dung những bản báo cáo dài thậm thượt nó từng đọc không biết bao nhiêu lần, nhừ như cháo trước khi vào Nam công tác. Nhưng cháu biết bác quá mà! Trước sau gì cũng vẫn vậy. Nó lầm chết đi thôi. Đừng hồng. Cạy miệng cạy mồm bác, bác cũng chẳng bao giờ hở môi, chẳng bao giờ nói một chữ một lời. Mình đã mắc mưu chúng nó bao nhiêu lần mới ra cớ sự như bây giờ.

            Rồi bác như muốn trấn an tôi:

            - Bác có nói chăng là lập lại tràn giang đại hải những bài học ở phường khóm, ở tổ dân phố, chung quanh "chủ trương chánh sách ưu việt của đảng và nhà nước" thôi. Nó không sao thấu hiểu được nỗi lòng trắc ẩn của bác. Mà thật vậy cháu à! Ông già bà cả mình chẳng thường hay nói: "Dò sông dò biển dễ dò, mấy ai lấy thước mà đo lòng người" bao giờ đâu. Và cũng như bác đây, trong bối cảnh nhập nha nhập nhầy bây giờ, làm sao bác biết được lòng nó. Cho nên bác để ý thấy nó có vẻ không bằng lòng, còn bực mình là khác. Chắc nó cũng đã hiểu và thừa biết rằng bác nói chuyện với nó y như con két trong lồng cây lồng sắt, không thua gì nó đã từng gắn bó với đảng, đã từng nằm trong lòng chế độ. Nó muốn quanh co tìm hiểu và muốn biết những chuyện khác cơ.

            Bác lại cười tủm tỉm, ngồi ngay lưng trên ghế hớt tóc, thư thái duổi thẳng cẳng ra phía trước. Lâu      lâu, bác xích cái ghế của bác đến sát bên cái ghế của tôi đang ngồi, chừng như bác muốn chỉ để cho mỗi mình tôi được độc quyền  nghe câu chuyện của bác kể mà thôi:

            - Có hôm nó khe khẽ hỏi bác, miệng nở nụ cười kín đáo bí hiểm. Nó hỏi bác biết có cô em gái nào ở quanh đây "chịu chơi" không? Vì nó muốn... Nói tới đây, nó ngập ngừng bỏ lững. Chắc nó đoán bác đã đứng tuổi và từng trải, đã làm cái nghề hớt tóc này khá lâu lắm. Và nó cũng nghĩ thêm rằng đa số các tiệm hớt tóc đều là nơi lắm chuyện nhiều điều do hằng ngày tiếp xúc với đủ mọi người mọi giới trong xóm. Việc gì xảy ra lại không qua lổ tai rất thính của các anh thợ hớt tóc? Hồi xưa, vào thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa quyết liệt chống cộng sản miền Bắc xăm lăng, biết bao cán bộ cộng sản nằm vùng ở giữa trung tâm thành phố Sài Gòn mình được bố trí núp dưới lốt thợ hớt tóc để lấy tin tức địch tình. Thằng này tỏ ra rất rành rọt do kinh nghiệm mấy mươi năm nằm trong hàng ngũ đảng.

            Bác khịt mũi cười khinh:

            - Nhưng nó lầm và lầm to về cái nghề bất đắc dĩ này của bác. Trong một thoáng suy nghĩ ngắn ngủi, bác chợt nhớ ngay đến chủ trương "hoa nở về đêm" của cộng sản nhằm phá hoại gia can, làm tan nát đổ vỡ gia đình của những sĩ quan và công chức cao cấp Miền Nam đang bị chúng lường gạt tập trung học tập cải tạo nơi vùng rừng núi hoang vu xa xôi, trùng trùng điệp điệp ở miền Bắc, không biết ngày về. Bác bèn vả        lả với nó như rất quan tâm đến những lời nó hỏi. Dù vậy, bác giả đò hỏi lại nó cốt ý để nó không nghi kỵ gì bác cả.

            Bác Hai Nhím bụm miệng cười kín đáo che mấy cái răng sún phía trước. Cái cử chỉ này rất quen thuộc đối với bác. Vì bác thường thố lộ nhiều lần với tôi là bác thuộc vào hàng đệ tử ruột của thuyết tự nhiên, trời sanh thế nào cứ vui vẻ thảnh thơi mà xài, đến lúc răng rụng thì cứ để vậy, không cần phải tốn kém trồng răng vàng giả.

            Bác kể tiếp:

            - Theo tôi hiểu, cán bộ đây muốn tham quan... một vài nơi... làm ăn kín đáo về đêm!...

            Nó như mở cờ trong bụng, mặt mày phừng lên hớn hở:

            - Đấy! Đấy! Thế đấy! Em út trong Nam này chắc đẹp và mướt lắm?

            Tai tôi vẫn nghe giọng nói trầm trầm đều đặn của bác:

            - Bác ra vẻ ngập ngừng ấp úm rồi lặng thinh một đỗi tỏ ra có một cái gì kỳ cục không ổn trong lòng. Bác cố ý muốn cho nó tin mình chớ thật ra bác rất chặt lòng chặt dạ lắm cháu ơi. Thật khó cho nó lay chuyển được, dù nó có tài ba mưu thần chước quỷ đến đâu.

            Bác đưa tay vuốt mấy sợi tóc bạc lẻ loi lạc đường rẽ đang phơ phất liên hồi trước mặt rồi dụi mắt, rờ rờ cái càm xương xương nhọn lểu hướng thẳng về phía trước:

            - Liếc nhanh vào kiếng, bác thấy nó nhìn mình tròng trọc, nôn nóng chờ đón những câu trả lời mở đường mở lối của bác. Bác biết vậy nhưng không vội phát biểu. Bác tiếp tục lấy con dao cạo bén ngót, liếc qua liếc lại ở lồng bàn tay nhiều lần rồi bảo nó ngã ngữa lên ghế, mắt nhìn lên trần nhà để bác cạo râu cạo mặt nó. Sự thật lúc này, bác đang hình dung bao nhiêu gương mặt đáng thương của những nạn nhân bất hạnh vì hoàn cảnh kinh tế nghiệt ngã khó khăn, đành chấp nhận nhắm mắt xuôi tay làm liều, không kể hậu quả về sau ra sao. Lúc ấy, bác không muốn nhìn vào bản mặt sàm sỡ ghê tởm của nó. Nhưng bác sực nhớ đến câu hỏi của nó lúc nảy và chắc giờ phút đó, nó đang chờ sự trả lời của bác. Bác càng làm ra vẻ ngạc nhiên nói chỏi lại cho thỏa thích một chút riêng tư thầm kín:

            - Ý chết! Tôi đâu dám cán bộ!

            - Tại sao lạ vậy? Ai làm gì mà bác không dám? Đất nước đã thống nhứt rồi. Miền Nam vẫn là một phần ruột thịt của cả nước. Mọi người đều tự do, bình quyền, bình đẳng. Người dân giờ đây phải tham gia mạnh dạng đứng lên làm chủ đất nước và làm chủ định mệnh của mình! Không còn cái cảnh bốc lột hà hiếp như dưới thời thằng Thiệu thằng Kỳ đâu mà bác lo sợ.

            - Biết vậy rồi cán bộ. Nhưng thực tình tôi chẳng dám đâu. Mới tối tuần qua, học tập ở phường khóm, "đồng chí" Tám Rồi bí thư phường ủy có long trọng triển khai một số tiêu chuẩn về "đạo đức cách         mạng" kia mà. Học tập vừa dứt bài chót đêm qua, tôi còn nhớ rõ mồn một nên tôi không dám nhúng tay giúp cán bộ được. Không khéo câu chuyện này đổ bể tùm lum, tôi sẽ bị đưa đi học tập cải tạo, gia đình tan nát hết.

            Tên cán bộ vội cướp lời bác ngay:

            - Bác dễ tin quá! Sao bác hời hợt nhẹ dạ đến thế?! Bác chỉ nghe rồi tin bằng lời hay sao? "Đạo đức cách mạng" là gì? Các cán bộ giải phóng ở Miền Nam trước đây chỉ lo đánh giặc chớ thực ra họ chẳng biết gì cả. Họ lý tưởng lắm. Thật tội nghiệp. Họ triển khai bài bản học tập từ cấp trên đưa xuống chứ trong thực tế chẳng phải như vậy đâu.

            Tên cán bộ cười ưng ý:

            - Tôi thương bác nên nói thực cho bác nghe. Mà bác nghe để biết rồi giữ kín nhé. Hở ra là chết đấy! Làm gì có cái "đạo đức cách mạng" mà họ bô bô lên lớp bác đó. Bác yên chí đi. Bác cứ an tâm đừng ngần ngại chi cả. Tôi sẽ giúp bác và đền ơn bác nếu bác hứa giúp tôi. Mà tôi sẽ đền ơn xứng đáng so với số tiền công bác hớt tóc cả ngày cả tuần nữa cơ. Bác suy nghĩ lại đi.

            - Cán bộ nói như vậy nhưng tôi vẫn lo, vẫn sợ. Phường ủy còn nhấn mạnh đề cao nhiều lần trong suốt khóa học về "đạo đức cách mạng của Bác Hồ vĩ đại" và có kể nhiều câu chuyện về Bác Hồ làm gương để chúng tôi noi theo. Như Bác Hồ suốt một đời mấy mươi năm bôn ba cứu nước vẫn sống độc thân, không hề bị vướng bận gia đình con cái chi phối, níu kéo phiền phức. Bác để tâm trọn vẹn vào công cuộc đấu tranh dân tộc, giải phóng đất nước, thống nhứt Nam Bắc một nhà.

            Tên cán bộ vụt nhổm đít tới, "ồ" lên một tiếng rồi tiếp tục cười:

            - Bác tin như thế à? Thì ra ở Miền Nam này non dại thơ ngây quá đổi!

            Tiếp theo, anh ta nói rất nhỏ nhẹ nhưng khá rõ ràng như để lấy lòng tin của bác sau khi để mắt nhìn quanh quẩn trước sau:

            - Bác biết không? Con người ta ở đời mà không lập gia đình là một chuyện không được tự nhiên. Bác Hồ của chúng ta cũng là con người thường tình, cũng thịt cũng xương, cũng ham muốn, cũng sân si nhỏ nhoi như chúng ta vậy. Bác đâu phải là thần thánh gì. Bác cũng phải có nhu cầu này nọ nhưng đảng ta không công bố ra đó thôi. Lý do Bác là một thần tượng, một chỗ tựa để đảng bám vào đó tạo sự thống nhứt nội bộ. Thật ra, những nữ cán bộ hậu cần được tuyển đến phục dịch Bác phần lớn đều mang quân hàm thiếu tá, thượng tá hay mang danh hiệu nữ anh hùng nầy nọ... đều là vợ của Bác hết, vợ tháng vợ năm, vợ từng giai đoạn đó...

            Bác Hai Nhím giả vờ trợn mắt ra vẻ ngạc nhiên không tin lời hắn:

            - Ý chết! Cán bộ nói thật đấy chớ? Lần đầu tiên tôi mới nghe những chuyện bên trong phòng the của Bác. Nhưng đây là lời của cán bộ chứ không phải của tôi nhé. Nhở sao này lọt qua tai người khác là           chết cả đám đấy! Chết không kịp từ giã vợ con và gia đình đó cán bộ.

            - Thôi bác ơi, bác bỏ cái "đạo đức cách mạng" bác vừa học đó đi. Bác mà tin và ôm ấp nó trong lòng, sau này bác sẽ ân hận và sẽ tiếc mình đã phun phí một phần hạnh phúc quý báu còn lại của đời bác. Thôi bỏ đi bác. Bác tin nơi tôi đi. Bác hứa giới thiệu cho tôi nhé...

            Tên cán bộ nghiêm nghị. Bác những tưởng anh ta phật ý sẽ có chuyện lôi thôi. Nhưng không. Anh ta nhìn bác qua tấm kiếng trước mặt:

            - Tôi nói thêm để bác không còn thắc mắc nữa. Ngay như Tổng bí thư của mình, đồng chí Lê Duẫn cũng có bà này bà nọ như ai. Trong gia đình của "anh Ba" cũng xào xáo, tiếng nặng tiếng nhẹ không thua gì những gia đình cán bộ cấp thấp hay của quần chúng nhân dân. Đảng ta vì danh dự và sự sống còn nên cố gắng giàn xếp êm thắm nhiều trận đánh ghen rùm trời rùm đất làm ầm cả phố. Đảng âm thầm nghiên cứu chia xẻ sòng phẳng quyền lợi của các bà. Mà chẳng riêng gì đồng chí Tổng Bí thư của mình mà đa số các cán bộ cao cấp trong Bộ Chính trị hay Trung ương Đảng hoặc trong chánh phủ đều như vậy cả bác à. Mình khéo thì ổn, "trong ấm ngoài êm". Chớ thực tình, tài gì bác!

            Anh ta đằn hắn:

            - Bác giới thiệu, ngoài tôi và bác ra đâu có ai vào đây mà biết để tố cáo làm rùm lên để bác sợ. Mà dù có chăng nữa, tôi có đủ quyền hành và đủ tư cách  để dập tắt ngay trong trứng nước. Bác an tâm. Chẳng lẽ tôi cho bác biết chức vụ hiện nay của tôi trong Ban Cải tạo Công thương nghiệp Thành phố! Bác tin ở tôi chưa? Đây này, bác xem coi giấy gì đây?

            Tôi liếc đọc:

            - Thẻ đảng viên kết nạp từ năm 1946.

            Bác Hai Nhím chấm phết câu chuyện với lời nhận định chắc cú không sao tôi quên được:

            - Tôi làm sao tin được ở giọng lưỡi trở tráo, sớm đầu tối đánh của chúng. Con cá một lần sẫy lưỡi câu thấy cái gì đáng nghi ngờ cũng tránh xa. Con người phỏng nước sôi sợ nước lạnh là vậy. Mình đã mắc lừa Cộng sản nhiều lần thì làm sao tin chúng nó được nữa? Nhưng thú thật với cháu, suy cho cùng, lần này bác tin ở thằng cán bộ Cải tạo Công thương nghiệp đó. Không phải nói thực tình gì đối với bác mà chính vì nó muốn được việc riêng của nó nên vạch áo phơi lưng cho mình xem thẹo chơi khơi khơi thôi, khỏi phải trả tiền.

            Rồi bác ngậm ngùi kết luận:

            - Rõ ràng thật nhờm tởm giọng lưỡi bọn chúng. Nhưng lại cũng thấy thêm thương bà con Miền Nam mình nhẹ dạ quá đỗi!

            Tôi với bác Hai Nhím làm ăn chung với nhau trong tổ hợp cũng khá lâu. Trưa trưa, tổ hợp đóng cửa. Chúng tôi ngồi trên ghế hớt tóc ngã lưng lim dim ít phút chờ giờ mở cửa lại. Nói lim dim thì cũng có nhưng ít khi lắm. Thực ra, có trưa nào lim dim được với bác Hai Nhím đâu?

            Bác có nhiều chuyện nói lắm. Bác thường hay thuật chuyện này chuyện nọ, suy ngẫm những mẫu tình đời xưa và đời nay rất thâm trầm ý nhị. Bác khơi động quá khứ xa xôi, khi nhắc tới vẫn ngăn ngắt tiếc nuối trong lòng. Bác làm như bác không còn bao nhiêu ngày trước mặt cùng sống với tôi nên có hôm, bác kể đến đôi ba chuyện chấp nối cùng một lúc nhưng chung qui nội dung không ngoài ý hướng trong sáng thăng hoa tình nghĩa và đề cao phong cách hành xử ở đời.

            Vì có lẽ bác sợ không còn kịp thời gian để kể hết với tôi những chuyện chất chứa trong lòng bác? Bác đã đứng tuổi và giàu kinh nghiệm nên hầu hết sau mỗi câu chuyện bao giờ bác cũng dông dài thêm thắc ý kiến và nhận xét của mình, những nhận xét phẩm bình mà bác thường nửa đùa nửa thiệt cho là đúng theo các tiêu chuẩn mẫu mực đạo đức và tình nghĩa bình dân chân quê mộc mạc.

            Tôi vốn dĩ học hành cà ạch cà đụi đứt khoản nhiều lần tức không đến nơi đến chốn do hoàn cảnh gia đình đã đành, lại sống trong giai đoạn đất nước bị chiến tranh nồi da xáo thịt dai dẳng, huynh đệ tương tàn triền miên. Cả mấy thập niên xuyên suốt.

            Tôi học ở nhà trường qua các cấp tiểu học, trung học và ở chốn văn chương chữ nghĩa nơi sách vỡ giáo khoa thì ít nhưng làm ăn nhoi lên khấm khá sau này chẳng qua là nhờ học ở trường đời nhiều hơn. Học ở những thành công toại nguyện trong hãnh diện sung sướng cũng như học ở những lần thất bại chua chát,       đôi lúc tưởng chừng đã ngã quỵ không cất đầu lên được.

            Sau ngày "cách mạng đại thành công", tôi học rất nhiều điều nhiều việc ở thực tế lắm cay đắng phũ phàng, làm kim chỉ nam xử sự ở cái thiên đàng nghi kỵ tranh giành, chen lấn ganh đua, ở cái địa ngục trần gian xã hội chủ nghĩa, đen tối bần cùng. Phần lớn những điều học hỏi của tôi đều nhờ ở kinh nghiệm của bác Hai Nhím cả.

            Lần hồi, tôi mới khám phá ra con người bác. Bác Hai Nhím không phải là thợ hớt tóc chuyên nghiệp như tôi hằng tưởng trước đây khi tôi nhờ bác đứng mũi chịu sào cho tổ hợp hớt tóc Thanh Phú của anh em chúng tôi.

            Bác có tâm sự với tôi về gốc gác của bác khiến tôi bàng hoàng ngỡ ngàng không ít. Nhiều khi len lén nhìn trộm bác, tôi không sao dấu nổi sự nghèn nghẹn trong lòng. Bác rất khổ tâm. Nhiều lúc bác rất trầm ngâm, nhớ ray rứt đến ứa nước mắt.

            Bác nhớ ơi là nhớ.

Bác nhớ những năm tháng đăng đẳng, suốt cả cuộc đời mấy mươi năm qua của bác, khiến tôi ái ngại không dám nhìn thẳng gương mặt đớn đau nhăn nheo của bác, mỗi khi bác nhíu mày tập trung lục lạo tìm kiếm trong vũng lầy trí nhớ mình.

            Bác Hai Nhím là một nghệ sĩ trình diễn, một nghệ nhân có tuổi nghề cao của ngành hát bội Miền Nam vừa chuyển sang nghề hớt tóc dạo để sinh sống. Đây là chuyện chẳng đặng đừng đối với bác sau ngày        Miền Nam hoàn toàn bị Cộng sản miền Bắc cưỡng bức. Nói khác đi, bác chỉ hành nghề hớt tóc mới đây thôi. Tôi nghĩ chắc trước anh em chúng tôi chẳng được bao lâu ngày.

            Bác có lần thố lộ với tôi, trước đây bác là kép hát bội. Bác chuyên thủ diễn những vai kép võ, vai sở trường ưng ý nhứt của bác. Trong giới gọi là cái vai một thời đã làm nên tên tuổi một người. Bác theo các gánh xuôi ngược trên những chiếc ghe chài bềnh bồng rày đây mai đó, phần lớn hát bán giàn ở đình thần, ở miễu bà, nơi nhà lồng chợ quê chợ làng hay cả nơi chái hiên Nhà Việc nằm thụt hỏm sâu hút trong những vùng cùng cốc khỉ ho cò gáy.

            Gánh hát của bác thuộc những gánh nghèo chí tử, quanh năm lang bạt sống cầm hơi ở những vùng xa xôi ngăn cách, ruộng vườn mênh mông bát ngát, sông nước bạt ngàn. Chẳng bao giờ bác dám gồng mình lần mò lộ diện kéo về những thị trấn, quận lỵ, dân cư tương đối đông đúc, đừng nói chi đến tỉnh, đến thành.

            Do bác biết người biết ta. Bác tự xét mình không đủ khả năng và tiêu chuẩn tối thiểu để tranh thủ cảm tình của khách mộ điệu sành sõi nơi phồn hoa thị tứ.

            Họ vốn đòi hỏi kỹ thuật trình diễn cao, tuồng tích hay, trang trí bối cảnh đẹp. Bác không thể phụ lòng họ để họ phải ngày càng chán chường thất vọng rồi xa rời bộ môn hát bội mà có tội với ông Tổ ngành nghề. Bác rất đắn đo thận trọng, suy tính cân nhắc mặc dù cái hồn nghệ sĩ nơi bác vẫn đậm đà sáng trưng và một tấm lòng yêu mến đam mê nghệ thuật luôn luôn mở rộng.

            Tuy là kép võ, một trong số kép chánh trong gánh, bác không sao so sánh với những diễn viên thượng thặng từng thủ diễn vai trò này ở các đại ban nơi thủ đô như cô Năm Đồ, bầu Thắng, nghệ sĩ Thành Tôn... tiếng tâm lừng lẫy vút cao một thời, đến nay vẫn chiếm trọn vẹn cảm tình trong lòng người ngưỡng mộ. Tuy vậy, bác cũng đã cố gắng không ngừng nghỉ để xốc nổi một tập thể đam mê hát bội nghèo nàn xơ xác nhưng hằng đêm sống vui vẻ hạnh phúc dưới ánh sáng đèn "măn song" sáng hừng hực nóng bức.

            Chẳng qua nhờ tính tình dễ cảm cởi mở và lòng thương yêu khắng khít thật sự của bác, lúc nào và trong hoàn cảnh nào cũng hòa cùng một nhịp tim với tất cả các thành viên lớn nhỏ trong đoàn. Mặc dầu có những đêm mưa gió lũ lụt bất ngờ, gánh ế giàn tưởng chừng như mọi người phải húp cháo trắng đỡ lòng nhưng bác cười hớn hở:

            - Cháu tưởng như vậy mà lầm chết đi! Bà con mình nơi thôn quê tốt bụng và hiếu khách lắm. Họ háo ăn và có tình có nghĩa, thương yêu giúp đỡ kẻ bất hạnh. Thiếu gì người giàu có trong làng, ngay cả các viên chức Hội Tề cũng ra tay nghĩa hiệp. Kẻ chở gạo lại cho cả một hai bao chỉ xanh. Người mang biếu rau quả. Có những trường hợp làm bác động lòng không cầm được nước mắt khi thấy những người đàn bà chơn         quê khó nghèo thập thò ngoài cửa rạp, mang tặng ăn lấy thảo, một con cá cấm câu tươi rói hay một con lốc nhảy hầm mập ú... mà họ nhịn miệng để làm quà biếu xén những người nghệ sĩ nghèo họ mến mộ trong lúc khó khăn.

            Tôi nhìn thấy đôi mắt bác vẫn cứ long lanh đỏ hoe. Rồi bác buồn buồn kể tiếp:

            - Dù ế giàn như vậy mà vui biết mấy! Mọi người đều nương tựa đùm bọc, quấn quít bên nhau, hứa hẹn sẽ cố gắng những đêm sau thi thố hết tài nghệ mình, biểu diễn xuất thần phục vụ nghệ thuật và đồng bào hẻo lánh, vốn không có những điều kiện giải  trí tinh thần. Đây cũng gọi là ơn đền nghĩa trả cho phải đạo giang hồ.

            Rồi bác đâm chiêu:

            - Nhớ lại những lúc ấy, bác vừa lo ngoại giao khắp nơi, lo chạy nuôi ăn cả một đoàn mệt cầm canh. Tuy nhiên, bác bảo ít khi có thất nghiệp lắm. Nhưng dù có thất nghiệp đi nữa, cả đoàn quây quần tập tuồng mới, bảo trì đề co phong cảnh, vá vếu áo mão cân đai. Chớ nào có ăn không ngồi rồi. Bác nào có rảnh tay bao giờ đâu.

            Bác lâng lâng sung sướng:

            - Nội cái việc lợi dụng những lúc nghỉ ngơi bất đắc dĩ này, bác gọt một loạt hết mấy cái đầu của những ông hoàng, công tử, những quân hầu tả hữu, nhân viên dựng đề co, kéo màn cùng mấy đứa lục lăn lục lửa đêm đêm chạy hiệu không ăn lương làm rậm đám trên sàn gỗ... bấy nhiêu cũng đủ ngất ngư. Nhờ          vậy, tay nghề của bác ngày càng khá. Thật tình, bác chẳng có ăn học gì đâu. Cứ nhắm mắt làm càng, đè đầu sởn tóc riết rồi cũng quen tay, trở nên thành thạo lúc nào không hay. "Cái khó nó ló cái khôn". Ông già bà cả mình nói thật đúng. Mà cả đoàn mạt rệp từ đường này nếu kéo đến tiệm hớt tóc thì kể như rụm nụ, sạt nghiệp luôn.

            Bác buồn buồn đưa đôi mắt nhìn qua cửa kiếng hướng về phía con đường nhựa huyết mạch chạy ngang trước hợp tác xã, đăm đắm về xa xăm... Tôi lặng thinh để tôn trọng tâm sự của bác lúc ấy.

Giọng bác lại thổn thức nghẹn ngào:

            - Bác nhớ đoàn, nhớ gánh quá đi. Bác nhớ mấy em, mấy cháu vừa mới nhổ giò nhổ cẳng, nheo nhóc đói rách nhưng một mực gắn bó với gánh ngày nào. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng nó càng nheo nhóc khổ sở hơn gấp bội. Giờ này, chúng đã tản lạc trôi giạt tứ tán khắp bốn phương trời. Biết tìm nơi đâu? Hết rồi! Nhiều lúc bác tự hỏi, bác còn có dịp may mắn duy nhứt nào để gặp lại chúng nó sau này không?

            Bác lại thở ra nặng nề:

            - Buồn thật là buồn cháu ơi! Gánh hát rã tức tưởi lắm vì mình không đủ tiêu chuẩn và tư cách để tiếp tục hành nghề, một cái nghề bác đam mê đeo đuổi từ lúc mới ngấp nghé tuổi thanh xuân, trốn mẹ trốn cha, bỏ nhà bỏ cửa, bỏ anh chị em cật ruột, bỏ quê hương xứ sở... không một chút ngần ngại. Ngồi tưởng tượng và nhớ chúng nó bơ vơ như chim lạc đàn lúc hoàng hôn bóng xế, bác mến tay mến cẳng chúng nó nên thấy rầu quá

            Bác càng nghẹn ngào hơn trong căm tức:

            - Nhà nước ra lệnh cấm trình diễn, làm ăn theo lối cũ. Sau này, bác mới biết thêm một sự thật khó có thể tin được ở Miền Nam tự do của mình là ở chế độ Xã hội Chủ nghĩa, làm văn hóa nghệ thuật, dù là nghệ thuật trình diễn hát bội cổ truyền như trường hợp của bác cũng phải đặt dưới sự lãnh đạo duy nhứt của đảng. Tất cả các diễn viên, soạn giả, thầy tuồng, nhạc sĩ tân cổ nhạc, quản lý v.v... phải xuất thân từ các trường đào tạo của đảng, của Liên Xô hay của các xứ cộng sản trong khối Đông Âu về mới được cấp thẻ hành nghề. Người dân Sài Gòn mình dí dởm nói là phải có "ba tăng" hành nghề. Họ hoạt động theo đường hướng chủ trương của đảng. Bao nhiêu tuồng tích của gánh bác trước đây, có những tuồng xưa rất hay, bác đều buộc lòng vứt đi, đốt bỏ cả. Giờ đây, nhắc tới, bác thấy tiếc hùi hụi. Sau này, nếu có cơ may lật lại cộng sản, phục hoạt ngành nghề này không phải dễ.

            Mắt bác đỏ hoe như rưng rưng:

            - Cháu biết con người nghệ sĩ dù nghèo và dù không tên tuổi nhưng họ vẫn một mực sống với cái hồn thanh cao hướng thượng của nghề. Họ sống tự do thoải mái như cuộc đời phóng túng gạo chợ nước sông của họ. Nói chí tình với cháu, bác có quyết định đau lòng là cho rã gánh sớm, chớ nếu có đeo đuổi hoi hóp hành nghề dưới sự lãnh đạo của đảng, chắc chắn bác không chấp nhận được. Không khéo lại còn mang họa thêm. Vì bản tánh của bác quá ngay thẳng thật thà, không chịu chiều lòn nịnh bợ và qui phục một sự chèn ép, bức bách nào cả. Và nhứt là khi bác phải trình diễn những vỡ tuồng có nội dung đi ngược lại cảm quan và lương tâm của bác, của quảng đại khán giả có tình có nghĩa, có thủy có chung.

            Giọng bác nhỏ nhẹ cảm động:

            - Nhớ hôm chia tay giã từ nhau để sau đó mọi người về quê tìm phương kế sinh sống, bác khổ tâm quá chừng. Cái đám bún thiêu trơ xương sườn xương ức, ốm o cà nhong teo nhách ấy làm gì mà sống được đây? Chúng nó suốt một đời chỉ biết có mỗi một việc đem lời ca tiếng hát cống hiến làm đẹp cuộc đời, làm vui thiên hạ mà thôi. Thật tội nghiệp quá! Riêng phần bác, may mà bác biết hớt tóc nên lây lất bữa đói bữa no cũng không đến đổi nào. Nhiều đêm, nằm gát tay lên trán nghĩ vẩn vơ, hình ảnh của chúng nó chờn vờn trước mắt làm cho bác càng thêm xốn xang, không sao yên giấc được.

            Bác lắt đầu chầm chậm nhiều lần như ngao ngán chán chường:

            - Cách đây mấy tháng, bác có nghe tin cô Hai Trăm, đào thương trong gánh giờ đây ở quê nhà vùng Gò Đen Bến Lức đi cấy thuê cấy mướn. Ông chồng cô, hồi gánh hát đang thời kỳ hưng thịnh chuyên soát vé và kiểm soát an ninh, nay đi làm công làm mướn bữa đực bữa cái, ngày ngày tất bật nhưng vẫn đói dài dài. Còn nói gì mấy đứa lâu la đêm đêm thập thò lấp ló ở cánh gà để ấp ủ giấc mơ sau này làm vương làm tướng, làm phò mã võng lộng nghênh ngang, kẻ hầu người hạ, không biết lưu lạc nơi nào và tương lai ra sao? Hay chúng đã bị rúng ép đi nghĩa vụ ở Cam Bốt và đã bỏ thây nơi một xó nào đó nơi xứ người? Dù vậy, bác vẫn cầu nguyện cho chúng nó may mắn tìm được một đường dây vượt biên miễn phí, dù có nguy hiểm bao nhiêu nhưng còn hơn chết lần chết mòn trong đói khát đớn đau.

            Ngừng một lát bác tiếp:

            - Ban ngày đi làm, ban đêm bác khó ngủ lắm cháu Ba ơi. Thú thiệt với cháu, hễ chớp mắt lim dim thì hình như bên tai bác văng vẳng tiếng trống chiến hùng hồn tùm tum tùm tum thúc hối, tiếng trống cơm não nuột buồn thúi ruột thúi gan, rồi tiếng trống lịnh giục giả thúc bách, rồi nào thanh la đờn kìm, đờn cò... đồng thanh dấy lên rộn rả lòng người. Bác lại nhớ những điệu nói lối, nào lối xuân lối ai... nhưng sao bác lại cứ nhớ mãi điệu lối chiến phấn khích làm như bác đang dậm chân, thúc ngựa, huơi đao chỉ thẳng về phía trước để trừ gian diệt bạo, cứu nguy sơn hà xã tắc. Riết rồi bác rất quen với cái tánh khó ngủ ấy của bác. Một mình cứ thao láo giữa đêm vắng. Nhưng đối với bác, đó là thời điểm tốt nhứt để trầm tư ôn cố, nhớ bạn bè đồng hội đồng thuyền, nhớ đồng nghiệp, nhớ khán giả nơi thôn quê ngủ gà ngủ gật trước lúc vảng hát, nhớ ruộng đồng sông nước ngày xưa.

            Bác trầm ngâm hoen tròng làm cho tôi càng thêm xúc động:

            - Bác nói cháu thương, nhiều đêm nước mắt bác cứ chảy hoài. Bác nhớ những tiếng trống chầu, chầu phạt thì ít nhưng tiếng trống chầu ra mắt khai khẩu và chầu thưởng thì nhiều vì mình đã thực sự nhập vai nên mới được khen thưởng. Một kiếp đam mê mà cháu. Bỏ không được. Quên không được. Nó bắt bác cứ phải nhớ. Ngày nhớ. Đêm vẫn nhớ. Thức nhớ đã đành. Ngủ vẫn chập chờn. Bác nhớ ngay cả những lúc đang hớt tóc cho người ta nữa. Giờ bác mới thấy và thấm thía mình đã thực sự mất tự do, mất lẽ sống, mất tất cả rồi.

            Tôi thông cảm và thương Bác Hai Nhím vô cùng. Mỗi trưa bác kể bao nhiều chuyện vui buồn éo le trắc trở về cuộc đời lang bạt kỳ hồ, gạo chợ nước sông trước đây của bác khiến tôi càng bùi ngùi se thắt về cái quá khứ của chính mình, dù trong những hoàn cảnh chẳng giống nhau nhưng rốt ráo lại gặp nhau ở cái tổ hợp hớt tóc này.

            Có hôm bác ốm bệnh, nằm co ro thúc thủ ở nhà. Tôi thấy nhớ bác. Tôi thấy thiếu hẳn một chỗ dựa quen thuộc hằng ngày. Tôi thấy trong lòng mình thiếu một chút gì đó bàng bạc khó nói thành lời để sưởi ấm tâm hồn đang bị thương tích trầm trọng.

Nhưng rồi những lời phẫn nộ hờn căm của bác lại đến bên tai tôi như có bác vẫn đang hiện diện trước mặt mình vậy:

            - Cháu Ba có biết không? Cái nghề hớt tóc của mình bây giờ chỉ phục vụ cho đám cán bộ đảng viên từng gieo rắc bao đau thương tang tóc cho bà con phường phố mình. Tiếp chúng nó, bác đau lòng lắm. Bác cố gắng gượng nuốt hờn căm mà hớt một cách máy móc, miễn cưỡng đó cháu.

            Tôi nhận thấy khi nói tới đây, bác rơi nước mắt, những giọt nước mắt đớn đau của bất lực bó tay trước một việc đã rồi. Bác khóc thật. Bác khóc vì nuối tiếc và để vơi nỗi lòng.

            Có một bữa trưa, bác tâm tình như phơi gan phơi ruột với tôi:

            - Cháu tưởng bác có vui sướng gì khi bày đặt ra những động tác bẻ cổ bên này bên nọ nghe rơm rớp, rồi vặn ót vỗ trán gây mê chúng nó? Trong lòng bác lúc ấy nổi lên một nỗi oán giận hờn căm vô tả. Bác tưởng tượng như mình đang đứng trên sân khấu, đang oai dũng giữa tiếng trống chiến dồn dập và tiếng phèn la inh ỏi, bẻ cổ nó hay đưa cây thanh đao ra chặt đứt tiện đầu nó để tế cờ khởi nghĩa, rồi bêu thủ cấp ngoài thành trước khi xuất quân chinh Bắc bình Nam đem lại an bình cho xứ sở.

            Đến đây, tôi thấy bác rất hãnh diện, tự hào về tính khí khái bất phục tùng và lòng kiên trung chung thủy của một người nghệ sĩ chân chính, đã hóa thân qua những nhân vật bác đã thủ diễn một thời. Bác thực sự đã trút được đôi phần ẩn ức, ray rứt dồn nén trong sâu kín của lòng mình.

            Bác thở dài đau khổ:

            - Tiếc rằng mình không làm được việc đó nên cứ ấm ức ray rứt mãi. Lòng cứ bị dày vò nên đêm đêm khó ngủ, bắt phải suy nghĩ hoài nhưng chẳng bao giờ giải tỏa được niềm riêng. May mà từ ngày gặp cháu ở tổ hợp này, bác được an ủi phần nào vì ít ra cũng còn có người hiểu được bác trong hoàn cảnh trái ngang đầy nghi kỵ và dè dặt này. Nhưng có biết mình còn chung sống như vầy được lâu dài không? Đám này thâm độc và nhẫn tâm lắm cháu à! Hay là mình sẽ có ngày phải chia tay trong vội vàng tức tưởi. Cuộc đời chẳng có gì tồn tại lâu bền bao giờ đâu?! Nó đã như vậy rồi! Có đó mất đó! Vui sum hợp rồi buồn chia ly chẳng mấy hồi.

            Vẫn với giọng trầm buồn, bác nói tiếp:

            - Mấy thằng cán bộ, khách hớt tóc của tổ hợp mình, chúng nó rất thích được bác hớt, dù có phải ngồi chờ đợi lâu lắt mất thì giờ. Cháu có biết vì sao không? Ở mấy cháu còn trẻ đâu có chịu khó như bác. Cháu thấy mỗi lần bác nặn nót rút tóc chúng nó, chúng nó thích lắm phải không? Chúng thích cái cảm giác đê mê sản khoái của giới tư sản trong Nam mình vì ngoài Bắc suốt mấy mươi năm sống dưới chế độ bác đảng làm gì chúng có hưởng được. Toàn là các ông chủ của đất nước anh hùng cả mà! Mọi lạc thú của giai từng bên trên đều bị kết án, mặc dù trong thâm tâm, mỗi đứa đều mở cờ ao ước. Trong lúc tranh tối tranh sáng này, chúng nó muốn thụ hưởng hết những cái "thói hư tật xấu" của Miền Nam. Nhưng chúng nó đâu có biết. Mỗi lần bác chụm hai bàn tay lại để vỗ lốp bốp lốp bốp... liên tục trên trán trên đầu chúng nó, bác đang đau lòng biết bao nhiêu. Bác đang căm hận. Thật tình mà nói, bác đang dần đầu chúng nó đó cháu à. Bác tức quá mà! Tức chẳng biết phải làm sao? Thôi thì đè đầu chúng nó mà dần tới dần lui, dần xuôi dần ngược cho đã cơn giận hờn, căm uất trong lòng.

            Gương mặt bác Hai Nhím lúc đó trông khẳng quyết. Quả là con người dứt khoát trong tư tưởng và hành động.

            Nhưng hai tuần nay, bỗng dưng bác vắng mặt không đến tổ hợp nữa. Tôi nóng hơ trong lòng. Bác có ốm đau chăng? Thân hình bác ốm o gầy còm, hằng ngày thiếu ăn nên dễ nhuốm bệnh lắm. Tôi áng chừng như vậy. Hay bác buồn tình bỏ về quê sản xuất tránh những cảnh trái tai gai mắt ở thành phố, đang hứng chịu những đòn thù của kẻ chiến thắng thô bạo vô hồn?

            Nhưng tôi lại nghĩ thêm, dù sao bác cũng không đến đổi tệ như vậy, chẳng báo trước với tôi một lời. Chiều hôm đó, tôi về sớm, không về thẳng nhà mà tạt qua con hẻm nhỏ vừa đủ cho chiếc xe hơi du lịch ra vào xích xao. Vô ý, xe sẽ cạ vào vách tường trầy trụa móp méo.

            Tôi phăng mò hỏi thăm lối xóm chẳng dễ dàng gì. Thời buổi nghi kỵ nhiểu nhương này, cái gì cũng khó cả. Cũng may, tình cờ tôi gặp được người tốt bụng. Trường hợp này rất hiếm hoi. Tôi áng chừng dường như người này cũng mới đến tạm trú ở đây.

Anh nhanh nhẹn đáp:

            - Ông thợ hớt tóc già nào đâu kìa? Sao tôi chẳng biết! Khu này không được mấy người! À, mà tôi       chỉ biết có một ông già độc thân ở góc nhà xe kia kìa. Người ta ở đây gọi ổng với cái tên ngồ ngộ là Việt Câu Tiển. Cái tên nghe giống trong những truyện chương hồi tràng giang đại hải của Tàu quá trời! Người ta cũng nói với tôi ổng hay kể chuyện đào kép hát xướng cho bà con nghe chơi đỡ buồn. Đâu anh thử thả đến đó hỏi xem coi có phăng ra được gì không. Vì tôi nghĩ ông ấy là thổ công, chắc ổng biết nhiều chuyện, nhiều người lắm.

            Thì ra hôm đó tôi mới phát giác nơi bác tạm trú từ sau tháng tư đen. Tôi quá đổi mừng. Lòng tôi khấp khởi hy vọng thế nào cũng sẽ gặp bác, dù trong hoàn cảnh oái oăm ngang trái nào.

            Nơi bác ở là một nhà xe mà chủ nhà đã hấp tấp bán đổ bán tháo rẻ mạt chiếc xe còn mới toanh cho một tên môi giới. Tên này mua lót đường một cán bộ Hà Nội phụ trách tổ chức vượt biên bán chánh thức thuộc địa bàn Đồng Nai, Vũng Tàu gì đó. Chủ xe bán vội vàng để chạy kiểm kê tài sản đợt II và nhứt là để xóa đi cái vỏ "tư sản ác ôn" hay "thương gia lộng hành" của mình.

            Nay chủ nhà cho bác tạm ở để trong nhà có tiếng có tăm, hôm sớm đỡ quạnh hiu. Trong cảnh khổ, con người dường như tìm cách xích lại gần nhau, tập tành thương yêu nhường nhịn và chia xẻ để khỏi phải bơ vơ, cô đơn cô độc.

            Bác là người trọng tuổi mà đối với người già, bọn cán bộ khu phố có phần lơi lỏng việc dòm ngó, để ý tới. Vả lại, bác cũng thuộc lớp người cùng khổ, "giai cấp nghèo thành thị" nói theo ngôn từ mới của chánh quyền kia mà.

            Sự nghiệp, tài sản của bác vỏn vẹn chỉ có một cái bàn nhỏ hếu thờ Ông Tổ Hát Bội, vài cái ghế đẩu để dựa sát vách tường và một chiếc chiếu cuốn tròn ban ngày dùng gói ghém những vật dụng cần thiết. Về đêm, bác dùng cái hộp đồ nghề làm gối lót đầu và chiếc mền mỏng te.

            Tôi hỏi thăm những người chung quanh mới biết bác sống rất thanh bần và khắc khổ. Ăn uống cũng dễ dãi. Đêm đêm, bác trải chiếc chiếu cũ bề ngang khoảng 8 tất hay một thước là cùng dưới bàn thờ Tổ, rồi nằm ngay lưng thẳng cẳng trên sàn đất trong tư thế khó nghèo khổ hạnh đó để suy nghĩ thêm về cuộc đời, vỗ về giấc ngủ.

Dù bác có tánh khó ngủ nhưng đêm nào bác cũng ráng dỗ giấc. Vì bác cho rằng nằm xuống ngủ ngay được và ngủ rất ngon là hạnh phúc nhứt trên cõi đời lắm chuyện này. Đối với bác, giấc ngủ là liều thuốc tinh thần rất quý để giúp quên hiện tại, quên hẳn những buồn lo xáo trộn ngoài xã hội.

            Chủ nhà cho biết bác về quê thăm bà con được cả tuần nay nhưng chưa thấy trở lại. Có lẽ kẹt đường xa hay xe cộ gì đó.

            Nghe vậy, tôi rất an tâm, thanh thản ra về. Tôi nghĩ bụng rằng bác sẽ còn có ngày tiếp tục đóng góp công sức và khả năng mình để giúp duy trì dài lâu tổ hợp của chúng tôi. Nhứt là đối với tôi còn có một chút riêng tư. Mỗi lần nhìn thấy bác dần đầu mấy tên cán bộ răng đen mã tấu hoặc bẻ đầu bẻ cổ chúng nó nghe rơm rớp, tôi thương bác nhiều.

Tôi thương bác nhiều vì bác sẽ phải thất vọng không bẻ lọi đầu lọi cổ chúng nó được để ra lệnh cho quân hầu tả hữu lấy thủ cấp tế cờ rồi bêu ngoài thành trước khi giục trống xuất quân chinh Bắc bình Nam cứu nguy sơn hà xã tắc. Nghĩ đến đó, tôi có cảm tưởng như bác đang hồi nhớ để sống lại với những vai trò của mình từng thủ diễn tròn trịa trước đây mà chắc bác cũng đang mơ ước ấp ủ trong âm thầm.

            Rồi một hôm...

            Vào lúc rựng sáng, bác lại lù đù đến tổ hợp. Bác đến sớm hơn mọi ngày. Trái với thói quen của bác từ mấy năm nay. Chưa kịp tay bắt mặt mừng hỏi han thăm lom sức khoẻ, bác te te đến bên tôi thì thầm trong tai:

            - Mới về. Vượt biên hụt...

            Rồi bác nói:

            - Cũng may nhờ ông Tổ Hát Bội thương tình che chở cho nên mới thoát nạn, không bị công an biên phòng truy bắt.

            Trưa hôm ấy, bác mới kể tiếp:

            - Tôi già rồi. Sống bao nhiêu năm nữa. Lại nghèo xơ xác. Sống dưới chế độ này thà chết còn sướng hơn. Tinh thần lúc nào cũng bị rúng ép khống chế. Mà chết vì đói, vì khát còn gì đau đớn cho bằng. Thể xác bị dày vò gò thúc. Nhơn có thằng cháu bà con cũng chẳng xa mấy đề nghị cho tôi tháp tùng vượt biên theo nó không phải tốn một đồng xu cắc bạc. Nó chỉ ra một điều kiện duy nhứt là tôi phải phụ nó trông nom dẫn dắt mấy đứa con còn nhỏ dại của nó. Thôi, mình cũng đành nhắm mắt đưa chân dù chẳng biết tương lai ra sao cả. Gắp qua, tôi đành có lỗi không báo với chú.

            Giọng bác phảng phất nhiều u ẩn:

            - Không dè mình bị bọn cò mồi lường gạt. Ghe ra khỏi bến vài cây số bỗng nghe tiếng súng nổ ầm lên điếng người. Tài công vội vàng cho ghe đâm mũi thẳng vào bờ. Mọi người tranh giành chen lấn nhau đổ lên mé sông thoát thân. Một cảnh hỗn độn chưa từng thấy. Mạnh ai nấy chạy tán loạn như ong vỡ tổ trong khi bọn công an biên phòng và đám an ninh ba mươi kêu la inh ỏi, bao vây rượt đuổi, chận bắt không biết bao nhiêu người. Nhờ tỉnh trí, tôi hộ tống con vợ thằng cháu tôi và mấy đứa con vượt khỏi vòng vây an toàn như lúc Quan Vân Trường phò nhị tẩu hay Triệu Tử Long giải nguy ấu chúa vậy. Ngặc một nỗi là thằng cháu bất hạnh của tôi loay hoay vụng về thế nào lại bị chúng bắt. Hiện nó bị giam ở khu chấp pháp tỉnh Tiền Giang, chắc chắn không thoát khỏi những cảnh cực hình ở trại cải tạo đâu. Nhưng bác cam đoan với cháu, một khi ra khỏi nhà tù cộng sản, nhứt định nó sẽ tìm đường vượt thoát. Vợ chồng nó đã say vượt biên rồi, cũng giống như người nghiện á phiện vậy. Mà nếu bác có tháp tùng bất thình lình thì cháu đừng có ngạc nhiên lắm.

            Mấy tháng sau, tôi lại bàng hoàng thấy bác vắng mặt như lần trước. Trong tôi nửa buồn nửa vui.                      Buồn vì thiếu vắng bác. Buồn vì tôi không còn người tâm sự giữa bối cảnh nghi kỵ e dè.

Vui vì đinh ninh rằng bác đã chọn lựa đúng con đường sinh tử, con đường duy nhứt lúc này để được sống đúng với lý tưởng tự do của mình.

            Rồi một buổi chiều trời khô nắng ráo, khi vừa đặt chân đến ngưỡng cửa nhà, tôi được tiện nội trao cho một điện tín đánh đi từ Djakarta thủ đô Nam Dương quần đảo. Điện tín vỏn vẹn có một câu duy nhứt với bốn chữ ngắn ngủi:

            - Đến nơi an toàn - Ký tên: Hai Nhím.

            Tôi quá đổi mừng.

            Còn nỗi vui nào bằng?

            Tôi mừng bác đã đến bến bờ tự do. Rồi tôi thầm cám ơn bác. Vì nhờ có bức điện tín bất thình lình và đúng lúc này đã giúp cho tôi vững niềm tin, kiên nhẫn tiếp tục suy nghĩ tìm kiếm con đường ra biển để có được ngày hôm nay.

            Bác Hai Nhím!

            Bây giờ bác ở đâu?

            Bây giờ bác lưu lạc chốn nào trên vùng trời tự do thênh thang, mênh mông vô tận này.

            Dù bác có gởi thân tạm cư đâu đó ở một nơi nào, ở Mỹ châu, Âu châu hay Úc châu vạn dặm xa xôi... tôi biết bác sống quá đầy đủ nơi xứ người nhờ tính cần cù và tháo vác chịu cực chịu khổ cố hữu của bác. Bác chấp nhận gian lao để vương lên. Nhưng trong thâm tâm, tôi chắc bác chẳng hạnh phúc bao nhiêu. Trái lại là khác.

            Có phải vậy không bác Hai Nhím?

            Cái sân khấu hát bội đơn sơ chơn quê ở những chùa chiền, đình miếu, ở nhà lồng chợ làng chợ quận hay ở chái hiên Nhà Việc ngày nào đã vĩnh viễn mất hút trong sâu thẳm của quá khứ rồi. Cộng sản độc tài độc trị, độc quyền lãnh đạo văn hóa tư tưởng, đã cấm ngăn không cho bác thực hiện tròn đầy nỗi đam mê sôi sụt trong con người bác ngay từ lúc thiếu thời. Chúng đã bức bách không cho bác hành nghề dưới ánh đèn màu để mang lời ca tiếng hát và nghệ thuật diễn xuất để trang điểm làm đẹp cuộc đời và làm vui người khác như bác hằng nói và tôi xin lập lại nơi đây gọi là ôn cố nhớ bác.

            Tôi lại thương bác với những vai kép võ đã từng tung hoành dọc ngang trừ gian diệt bạo, những vai tuồng bất hủ đó chắc chắn sẽ đeo đuổi bác để đay nghiến, dằn co, thôi thúc suốt cuộc đời còn lại trong kiếp sống lưu vong của bác.

            Nhưng giờ đây, oái oăm thay, nơi đất tạm dung, bác không sao có đất dụng võ. Bác không còn thấy những khán giả sành điệu mến mộ bác, những con người bình dị, mộc mạc chơn chất khắp vùng đồng ruộng mênh mông sông nước bạt ngàn ngày trước, đã từng một thời đam mê say đắm một ngành nghệ thuật dân gian đặc thù lâu đời nhứt vùng đất phương Nam.

            Cuộc sống quả thực có nhiều cam go cay đắng bất ngờ, không sao lường trước được. Nhiều nhà văn, nhà thơ ở khắp nơi trên thế giới văn vẻ cho rằng đời là một bi kịch nhưng tiếc thay là một thứ bi kịch cứ tuần tự tiếp diễn không bao giờ dứt.

            Bác Hai Nhím đang vui vẻ hạnh phúc đêm đêm dưới ánh đèn màu thoang thoảng vút bay tiếng đàn giọng hát, bỗng nhiên trong sớm chốc bị bức bách giã từ sàn gỗ sân khấu, chia tay bạn bè đồng nghiệp để rồi thấm thía, ngậm ngùi bỏ lại sau lưng mình kẻ mất người còn một đời dang dở.

            Tôi đã sống một thời với người nghệ sĩ thực sự vì đam mê, thực sự vì nghệ thuật để gần cuối cuộc đời thấy mọi ước mơ đều vút bay phũ phàng vào hư ảo, để thấy mọi thành tựu chợt tan biến trong chớp mắt mong manh. Nay tuổi quá cao, luốn cuốn nơi đất lạ quê người, bác không còn một chút hy vọng gì cả. Nhứt là cái hy vọng một ngày nào đó được trở lại dưới ánh đèn sân khấu sặc sở sắc màu. Mà ở đời, một khi trong lòng người hy vọng đã tắt ngủm thì quả như bác thường nói với tôi, họ không còn lẽ sống nào có ý nghĩa nữa cả.

            Nghĩ đến đây tôi thương bác Hai Nhím biết ngần nào!

            Thì ra cái đau của người nghệ sĩ chân chính là ở chỗ đó.


Võ Phước Hiếu

                                                                  -**-

                                               Họa Sĩ Văn Đen

                                                            (1919 - 1988)

             Tôi quen thân với anh Văn Đen đã lâu rồi, từ hồi mới cầm cọ vẽ sơn dầu. Chúng tôi thường triển lãm chung với nhau. Có điều dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, bọn tôi triển lãm tranh tập thể, có tranh của Văn Đen. Nếu chúng tôi mời được sự bảo trợ và cắt băng khai mạc của những vị trong Chánh Phủ thì phải để Phòng An ninh Chính trị xuống rà mìn trước cái đã.

            Tôi có hỏi vì sao vậy? Thì họ nói xưa kia anh Văn Đen là bộ đội Việt Minh. Tiểu đoàn Dương Văn Đen đã từng đánh Tây khiếp vía. Ở Cần Thơ, Châu Đốc và Đồng Tháp nói đến bộ đội anh Năm Đen, ma nào lại không biết.

            Tôi lại hỏi mấy anh họa sĩ cùng một lứa tuổi với anh Đen:

            - Vậy sao anh Năm không được tập kết ra Bắc?

            Anh Phạm Đại Binh nói:

            - Tập kết cái khỉ mốc gì. Anh Năm là dân Tây, gốc điền chủ. Cộng sản không thủ tiêu anh ta là may mắn rồi. Chú mầy không thấy Phạm Đại Binh này, trước kia cũng là tiểu đoàn trưởng bộ đội đánh Tây, bây giờ làm chủ quán phở tại ngã tư đường Chi Lăng, Phú Nhuận đây sao?

            Đến năm 1949-1950, trong chiến khu, Cộng sản đã bắt đầu đấu tranh giai cấp. Thành phần không phải bần nông vô sản đều bị loại ra khỏi hàng ngũ. Bảy Viễn, Ba Cụt, Trịnh Minh Thế còn phải bỏ về thành.

            Ngày tôi đi cải tạo về, anh Đen còn kể chuyện về anh Đại Binh:

            - Tội nghiệp họa sĩ Phạm Đại Binh. Anh có thằng con ba mươi tuổi vượt biên chết trên biển. Mấy thằng bạn viết thơ về cho bố nó nói là có ăn thịt thằng nhỏ hai cái tay và hai cái đùi. Chú mầy đừng có nhắc tới làm Phạm Đại Binh nó buồn đó nghe.

            Năm trở về thành, Văn Đen sợ Tây bắt bớ nên tìm cách trốn qua Pháp, vào học trường Đại học Mỹ Thuật Paris. Anh làm học trò ruột của họa sĩ Edmond Heuze. Ông ta là giáo sư chính thức của trường và cũng là danh họa nổi tiếng ở Paris. Trong lần đầu tiên triển lãm tại Pháp năm 1952 ở Galerie Continental, Edmond Heuze tán thưởng bằng một bài giới thiệu trước công chúng:

            "Họa sĩ Văn Đen là một người tuổi trẻ rất có tài. Trong nghệ thuật của Văn Đen có cái gì huyền ảo, quyến rủ qua những màu sắc đậm đà, sống động, đầy tình cảm...".

            Văn Đen rất đam mê nghệ thuật. Anh làm việc liên tục và khám phá không ngừng.

            1953. Văn Đen trở về Sài Gòn bị Tây bắt giam ở khám Catinat. Cuộc chiến tranh giải thực dân Pháp cũng gần muốn kết thúc. Người Pháp ở Việt Nam lo chuyển tiền về nước.

Tên cò Bazin ở Catinat mở ra một xưởng sơn mài ở phố Đa Kao giao cho Văn Đen trông nom về phần mỹ thuật. Bọn sinh viên chúng tôi có về vẽ giúp cho xưởng phần trang trí.

            Đến khi tên Bazin về nước, giao lại cho Văn Đen xưởng sơn mài. Anh ta bàn với anh em nên bán phéng đi để lấy tiền xài, chớ bọn mình là nghệ sĩ có hơi đâu lại đi làm thủ công mỹ nghệ để xuất khẩu chuyển tiền làm gì. Lúc này, anh về bộ Giáo Dục làm giáo sư thể dục thể thao cho trường Cao Thắng và trường Hồ Ngọc Cẩn ở Gia Định.

            Có người lại hỏi Văn Đen là họa sĩ sao lại phụ trách thể dục thể thao? Sau mới biết anh ta ở Pháp chỉ có ba năm thôi. Vẽ được thành tranh rồi là anh ta bỏ về nước, chứ đâu có đợi lấy bằng tốt nghiệp trường Đại học Mỹ Thuật Ba Lê. Xem lại Văn Đen chỉ có mỗi văn bằng của trường Thanh Niên Thể Thao hồi thời         Đại tá Ducouroi mở trường đại học này ở Phan Thiết trên đỉnh núi, gọi là trường ECPIC.

            Sau khi người Pháp thất bại trong Thế Chiến thứ II, thống chế Pétain đầu hàng quân Đức. Pháp có xu hướng phát triển phong trào thể dục thể thao để trấn an tuổi trẻ nổi dậy. Ở Việt Nam, họ dựng lên một từng lớp thanh niên để phục vụ cho thực dân Pháp với khẩu hiệu: "Jeunesse Franco-Annam! Servir Toujours".

            Chính văn bằng Thể Dục Thể Thao đưa Văn Đen lên nắm Phong trào Thanh Niên Tiền Phong và cũng lực lượng Thanh Niên này đưa anh ta lên nắm tiểu đoàn Dương Văn Đen để đánh Pháp. Nhưng Văn Đen không phải giai cấp của con người Cộng sản.

            Thanh niên ở trường Cao Thắng rất mê Văn Đen kéo vĩ cầm. Ngày xưa, khi sống lang thang ở phố Montmartre, anh ta đi kéo đàn trong mấy ban nhạc ở hộp đêm để kiếm tiền đi học. Văn Đen còn đi học thêm một ít nhạc cụ bên Nhạc Viện Ba Lê.

            Ngoài cái tài kéo vĩ cầm, anh ta còn xử dụng kéo lưỡi cưa âm nhạc. Tiếng nhạc từ lưỡi cưa như ở cõi âm vọng về. Nhạc cụ này trong mấy ban nhạc Jazz của người da đen được họ dùng để kể lể thở than. Mệ Vĩnh Lộc nói tiếng đàn tranh của mệ hòa với cây cưa của Văn Đen đang đêm người gái Huế nghe được, họ sẽ thao thức đến mất ngủ.

            Vợ chồng anh Văn Đen có mảnh vườn khá rộng ở đường Bà Hạt, gần ngả tư Nguyễn Tri Phương. Phía ngoài mặt đường, anh có dựng một quán cơm lao động. Anh Đen đi dạy học, chị thì phụ trách buôn bán. Anh ta thường vẽ cảnh quán cơm có phu xích lô, xe ba bánh, đứa đứng đứa ngồi ăn uống vội vã bên mấy chú ăn xin và mấy ông già mù.

            Chiều tối, quán cơm biến thành quán cháo, quán rượu. Anh vẽ mấy tay bợm nhậu ngồi bên ghế thấp, tên nào tên nấy mềm hơn sợi bún, đứng lên chỉ có nước té ngã lăn quay xuống thềm, khiến cho người xem cười vỡ bụng.

Anh ta còn nói trong đám này có cả Văn Đen và Hiếu Đệ nữa đó. Tôi cũng mê mấy tranh uống rượu của anh nhưng loay hoay khi trở lại thì bị khách thưởng ngoạn bê đi mất tiêu.

            Tên của họa sĩ Văn Đen rất quen thuộc với đại chúng ở Sài Gòn sau cuộc Triển Lãm Quốc Tế Mỹ Thuật ở vườn Tao Đàn năm 1960. Anh được Huy chương Vàng trong cuộc triển lãm Mùa Xuân do Văn Hóa Vụ của thời Đệ Nhất Cộng Hòa tổ chức năm 1961. Cũng bắt đầu từ năm đó, anh là thành viên trong Ban Giám Khảo suốt mười năm liền.

            Ngoài ra, anh còn phụ trách Trưởng phòng Mỹ Thuật thuộc Nha Mỹ Thuật Học Vụ của bộ Quốc Gia Giáo Dục. Năm tôi được giải ngũ trở về dân sự, anh có đề nghị bàn giao chức Trưởng phòng Mỹ Thuật lại cho tôi để anh xin về làm giáo sư trường Mỹ Thuật. Nhưng tôi lại trốn tránh, anh phải giao cho họa sĩ Huỳnh Văn Phụng.

            Trưởng phòng Mỹ Thuật mà vẽ bậy, vẽ dở thì bị người ta chửi. Nhất là Hiếu Đệ vẽ tranh vui cười, vẽ con người thành con chó còn bị người ta xúm chửi dữ nữa. Thà đi chơi còn hơn. Tội nghiệp nhứt là anh họa sĩ Huỳnh Văn Phụng, kẹt cứng bởi cái ghế Trưởng phòng Mỹ Thuật của Bộ.

            Anh phụ trách đối nội, đối ngoại các Đại Hội Mỹ Thuật Lưỡng Niên Thế Giới ở Ba Lê, Sao Paulô, Asian, Nhật Bản và Chương trình Giáo Dục Mỹ Thuật các trường Mỹ Thuật cũng đủ nghẹt thở. Anh không còn thì giờ để vẽ tranh.

            Chị vợ là Thúy Liễu, học trò của anh ta ở Trung học Mỹ Tho, có năm mặt con, phải thay chồng vẽ đầy nhóc cả đường Tự Do và bày khắp các kiosques ở đường Nguyễn Huệ. Sư Đoàn I Không Vận Hoa Kỳ đổi đơn vị hay kéo về Mỹ gì đó, họ đem mấy chiếc xe dodge chạy vòng quanh đường Tự Do và đường Nguyễn Huệ hốt hết đống tranh vẽ cảnh Con Trâu Kéo Cày, cảnh Nhà Lá Cây Mít, Hàng Dừa, Hàng Cau để đem về nước.

            Do vậy, chị Thúy Liễu vẽ đến khuya cũng không kịp. Càng vẽ càng làm giàu to, đến đỗi chị phải gọi cả đám sinh viên trường Mỹ Thuật về thức khuya dậy sớm để vẽ. Trong khi đó, anh chồng là họa sĩ Huỳnh Văn Phụng chẳng mó tay vào việc vẽ được.

Thật là oái oăm.

            Đám lính Mỹ cũng chẳng cần đến Mỹ Thuật, có chút quà kỷ niệm từ Việt Nam mang về là được rồi. Bà Tùng Quang, họa sĩ đi học bên Nhật về nghề làm búp bê, khuôn mặt ép bằng khung lụa, thế mà chẳng ăn khách bằng con búp bê của ba Tàu Chợ Lớn. Những búp bê này trông như những hình nộm người                    ta đốt cho người chết. Thế mà sản xuất không kịp bán.

            Chị Thúy Liễu giàu to, sắm sang nhà cửa, cho con đi học trường Tây, còn mua giấy tờ cho chồng khỏi bị bắt lính. Năm 1968, chị ta đi coi hát ở rạp Kim Chung bị Việt cộng pháo kích chết thật là oan uổng. Chị mần ăn lớn, nợ nần dăng dỏi khiến cho anh Phụng phải bỏ cái chức Trưởng phòng Mỹ Thuật để trở về nhà vẽ nhăng vẽ cuội để nuôi con mới nổi.

            Tôi là thành phần biệt phái về Trường Vẽ sau rốt nên bị ép ra ngoài lề. Cũng như anh Văn Đen là người không đủ bằng cấp nên tụi tôi phải đi dạy Trường Mỹ Thuật ở Huế. Cứ mỗi lục cá nguyệt phải ra Huế vài tháng.

            Tình hình của vùng hỏa tuyến mỗi lúc một căng thẳng. Năm 1972, Mùa Hè Đỏ Lửa, Huế và Quảng Trị phải chạy loạn. Xe tăng Cộng sản đã tràn qua vĩ tuyến. Thành phố Quảng Trị bình địa.

            Sau đó thì Hội Nghị Ba Lê kết thúc, hai bên vẫn giành dân lấn đất. Người dân ngơ ngác không nơi nương tựa phải di chuyển về Đà Nẵng. Từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi trên đèo Hải Vân. Bộ Giáo Dục lại cắt cử chúng tôi ra Huế để thiết lập cuộc thi tốt nghiệp cho Trường Cao Đảng Mỹ Thuật, không thể bỏ cuộc được.

            Anh Văn Đen đọc sự vụ lệnh xong ngồi bật cười:

            - Chú Hiếu Đệ đừng có lo. Thật ra nhà nước chỉ cử đám mình đi rong chơi và uống rượu mà thôi.       Có việc gì đâu mà làm. Còn chết chóc thì chẳng có gì sợ. Tụi mình đứa nào cũng từng trải qua một thời cầm súng rồi mà. Quảng Trị tan nát. Dân chúng ở Huế đã tản cư cả rồi. Sinh viên còn đâu nữa mà tổ chức cuộc thi tốt nghiệp cho các ngành đại học. Nhà nước cắt cử thì ta cứ đi. Việc đâu còn có đó.

            Họa sĩ Nguyễn Vạn Lộc lại chêm vào:

            - Mấy huynh dại lắm! Chỗ người ta đánh nhau, ai dại gì ra đó lãnh đạn. Nói thật nghe, chỉ có đứa nào khùng mới đưa lưng ra nhận công tác này.

            Tôi biết Lộc. Anh chàng Tây con này là Đoàn viên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Pháp (Jeune Communiste Français). Anh ta hoạt động cho phong trào phản chiến, có thể do nhận lệnh của Hà Nội về Trường Mỹ Thuật để điều khiển phong trào thanh niên. Lộc là con trai cả của bác sĩ Nguyễn Vạn Kim, Giám đốc Bệnh viện Chờ Rẫy. Ông cụ là bạn của Dược sĩ Trần Kim Quang, có hiệu thuốc Tây Kim Quang trước mặt ga xe lửa chợ Bến Thành. Song song với bên kia là tiệm thuốc Tây Nguyễn Văn Cao.

            Năm 1971, cụ Mai Thọ Truyền, Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa dẫn đoàn văn nghệ đi diễn ở Ba Lê. Lộc xin cụ Mai về dạy Trường Mỹ Thuật Sài Gòn. Hắn dựa hơi ông cụ là bạn của bác sĩ Nguyễn Vạn Kim.

            Đám học trò của Lộc có đứa báo cáo anh ta đã từng nhiều lần theo mấy sinh viên thân cộng lén lút đi họp với bọn Thành ủy ở Củ Chi. Bộ Giáo Dục có điểm yếu là thường coi trọng những chứng chỉ tốt           nghiệp ở nước ngoài nên chẳng đụng chạm gì đến Lộc.

            Anh ta phụ trách ban Sơn Dầu. Tôi thấy đề tài Lộc đề nghị cho sinh viên thi tốt nghiệp: "Sài Gòn hôm nay và ngày mai". Như vậy là ló đuôi Cộng sản chứ còn gì nữa. Nhất là giai đoạn này, Mỹ rút quân. Thành phố hỗn loạn, tham nhũng, buôn lậu, đĩ diếm, xì ke ma túy lan tràn.

Cộng sản chủ trương đánh thức phong trào phản chiến trong sinh viên học sinh để trói tay Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Tội nghiệp nhất là những người lính ở vùng hỏa tuyến trong giai đoạn giành dân lấn đất, họ phải giữ gìn từng lũy tre, từng bờ ao, từng ngôi nhà.

            Chúng tôi ra đến Huế. Lúc này thành phố vắng hoe. Dân chúng đều tản cư vô Đà Nẵng. Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật nằm trong Đại Nội, nơi cửa Nhà Đồ. Phía sau nhà trường chỉ còn lại gia đình anh gác dan và gia đình của họa sĩ Đinh Cường mà thôi. Họ có xây một cái hầm to tướng, bảo là để tránh hỏa tiển pháo kích.

            Chúng tôi căng ghế bố ngủ ngay trên văn phòng nhà trường. Anh Văn Đen vừa bật ngọn đèn lên. Có bầy chó hoang kéo đến trước cổng trường, vừa kêu vừa hú.

            Anh bật cười nói:

            - Chú Hiếu Đệ thấy chưa? Dân chúng tản cư cả rồi, đến đỗi chó nó thấy mình trở về, nó cũng kinh ngạc kia mà. Thế mà còn thi với cử cái cóc khô gì. Đem rượu ra uống đi là vừa.

            Đến nửa khuya, anh Đen ngồi bật dậy đóng mấy cánh cửa sổ và lay tôi thức dậy:

            - Chú Hiếu Đệ ơi! Anh thấy lũ ma đói nó đến cào cửa xin ăn.

            Tôi càu nhàu:

            - Làm gì có chuyện này. Chẳng qua là anh Năm nằm mơ chăng?

            Tôi bàn với anh Năm Đen là phải tổ chức một bữa nhậu ra mắt phái đoàn của Bộ Giáo Dục ở Sài Gòn ra với những ai còn lại ở Huế để bọn tôi tính chuyện ăn nhậu rong chơi dài dài. Vấn đề mời mọc đám giang hồ ở địa phương được giao cho họa sĩ Đinh Cường đảm trách.

            Tôi nhớ hôm đó có Nguyễn Văn Dũng, con tướng Nguyễn Văn Chuân, Quận trưởng Phú Vang, kỹ sư Hồ Đăng Lễ, phụ trách cầu đường ở tỉnh, Trịnh Công Sơn, Đại úy Hoàng Cơ Trường, bác sĩ Quân Y viện Quảng Trị, Đại úy Nguyễn Minh Nghiệp, dược sĩ phụ tá cho bác sĩ Trường, họa sĩ Phạm Đăng Trí, họa sĩ Phan Xuân Sanh, Hồ Hoàng Đài, họa sĩ Tôn Thất Văn trong Ban Giáo sư Trường Mỹ Thuật. Anh em thảo kế hoạch đi chơi khắp nơi, từ chiến trường Quảng Trị đến Đà Nẵng để sau này không bao giờ mình được đi nữa!

            Thật quả đúng như vậy.

            Chúng tôi đi Phong Điền, Chợ Trắng, Cầu Thanh Toàn và những khu định cư mới thiết lập dọc theo đèo Hải Vân, Làng Truồi, Cầu Hai v.v... Chiều lại là chương trình ngủ đò. Đò không còn nữa thì ngủ nhà, rủ mấy cụ già về hò mái nhì, mái đẩy, hát bài Tương Tư Khúc, kiểu mấy nàng kỹ nữ trong thơ Xuân Diệu.

            Tôi còn nhớ cụ Thứ hát:

                        Duyên trăm năm chẳng đặng

                        Tình một thuở còn đây...

                        ...

                        Sống mà không yêu không thương

                        Khác nào như làm cây cỏ bên đường...

            Anh em còn rủ được những tay đờn rất xịn, bậc thầy bên trường Âm Nhạc Huế. Ngày hôm sau, bác sĩ Hoàng Cơ Trường còn bày cái màn đi coi vũ sexy trên chiến trường Quảng Trị.

            Nhiều đứa đùa cười lăn ra bảo chuyện này làm gì có, họa chăng mấy ông bạn này nói phét. Nhưng khổ một điều là vũ sexy có thật.

Thế mới vui. Với điều kiện khán giả, bạn nào đi xem phải đem theo một chai rượu mới được. Vũ sexy lúc này được biểu diễn thường trực, xin chớ bỏ qua rất uổng.

            Thật ra đầu đuôi câu chuyện chỉ có thế này. Thành phố Quảng Trị không còn bức tường nào cao quá một mét. Muốn ra đến Hải Lăng hay bờ sông Ái Tử phải cuốc bộ, lội trên những đống gạch vụn. Cứ mỗi buổi sáng, lối chín mười giờ, có một chiếc C.130 đáp xuống phi trường dã chiến Hải Lăng, mang một số tù binh Việt Cộng ở Côn Đảo, Phú Quốc ra để làm thủ tục trao trả tù binh.

            Sau khi được chuẩn bị xong, đám này được dẫn độ ra bờ sông Ái Tử. Ven sông có một cái nhà bát giác cấm cờ Ủy Hội Quốc Tế HCR. Bên kia sông là doanh trại của Cộng sản miền Bắc, cờ quạt biểu ngữ tưng bừng, dàn loa phóng thanh hát inh ỏi. Bên này sông là phía Việt Nam Cộng Hòa, cờ quạt tưng bừng chẳng kém, dàn loa phóng thanh trổi khúc Cờ Bay Cờ Bay và Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, cũng hoan hô đả đảo vang trời.

            Đúng 12 giờ, tức là giờ hành lễ trao đổi tù binh, còi hụ inh ỏi, nhạc trổi tưng bừng. Đám tù binh Cộng sản được xếp hàng tư ngay ngắn để nghe đọc danh sách điểm danh. Lần sau cùng, những tù nhân nào tình nguyện ở lại phía Việt Nam Cộng Hòa phải bước nhanh ra khỏi hàng ngũ để toán Quân Cảnh đưa lên bờ. Nghe đâu trước đây cũng có những anh tù vì chậm lụt bị đồng đảng đâm chết tại chỗ bằng que đũa.

            Điểm danh xong, họ bước lên những chiếc xà lang bằng nhựa để đưa qua sông. Đến giữa sông, có toán bộ đội và y tá ra nghênh đón. Họ hoan nghênh các chiến sĩ anh dũng được trở về.

            Theo tiêu chuẩn của Hiệp Ước Tù Binh Quốc Tế, bọn Việt cộng bị nhốt ở Côn Đảo, Phú Quốc có chính sách đối xử cao hơn, đau yếu được chữa trị. Áo quần được đàng hoàng hơn. Bộ đồ nâu họ đang mặc bằng vải tốt còn mới toanh.

            Vì tự ái trước đám tù Quốc Gia bị nhốt ở Bắc Việt, đang bệnh hoạn rách rưới, dở sống dở chết, khi đã hô khẩu hiệu: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa muôn năm để về với Cộng sản, họ cởi bộ đồ đang mặc vất bỏ        xuống sông - vất luôn cả cặp nạng nhôm của người bị đau chân.

            Đến mấy nữ tù nhân, sau khi họ vất bỏ bộ đồ tù nhân màu nâu thì lòi ra món đồ lót lại còn mắc giá hơn nữa, nhất là loại quần lót màu đỏ màu hồng. Có nàng cũng vì ý thức hệ nhạy bén quá khiến họ mạnh tay lột bỏ tất cả, xảy ra một màn hấp dẫn khiến trên bờ cười ầm lên.

Như thế là vũ sexy chớ còn gì nữa?

            Ở nơi tuyến lửa Hải Lăng Quảng Trị, những anh lính Thủy quân Lục chiến của ông tướng Bùi Thế Lân râu tóc coi dữ tợn như người rừng. Họ chỉ sửa soạn tươm tất trở lại khi nào được về thăm vợ con thôi.

            Con đường dẫn tới Quảng Trị, họ kêu là "Xa lộ Kinh hoàng" vì Việt cộng thường chơi cái trò chận đánh bất tử. Còn ở bìa rừng, nơi đền thánh La Vang là vùng tự do pháo kích và đánh bom mỗi khi họ phát hiện có bóng người qua lại. Hai bên đường và dưới bờ sông, xương người và đầu lâu còn nằm ngổn ngang chớ có ai dọn dẹp gì đâu.

            Nghĩ thân phận con người ở Quảng Trị sao mà bi đát đến thế? Tại sao Thượng Đế lại đày đọa dân tộc Việt Nam đến cùng cực như vậy?

            Có thể bắt đầu từ mùa hè này, Trường Mỹ Thuật và Viện Đại Học Huế cũng khởi sự dẹp tiệm. Đám thanh niên Huế còn lại bu chung quanh Thượng tọa Đôn Hậu để thành lập Trung tâm Liễu Quáng phát triển văn hóa văn nghệ tưng bừng làm lại bộ mặt của thành phố Huế, thành phố Phật giáo.

            Suốt nửa tháng trời, tôi với Văn Đen chỉ rong chơi. Chớ chúng tôi có tổ chức cuộc thi tốt nghiệp cho ai đâu.

            Cháy nhà ra mặt chuột. Đến ngày 30 tháng tư, tự nhiên mọi người trong trường lại thấy giáo sư Nguyễn Vạn Lộc bố trí thanh niên đứng lên treo cờ và tiếp thu nhà trường. Hắn mang bang sa đỏ, ngồi giữa phòng Giám đốc để chỉ huy mọi việc.

            Nhưng vài hôm sau, có mấy anh chàng họa sĩ mặc quân phục Giải phóng Miền Nam, là cựu học sinh của trường nhưng lại ở chiến khu mới về như Cổ Tấn Long, Huỳnh Phương Đông, Lê Minh Chánh, Lê Điền phụ trách văn phòng và các lớp. Còn Giám đốc trường, người được cử từ ngoài Bắc vào là Phó Tiến sĩ Lê Phước Sanh, nghe đâu mới đi học ở Liên Sô về.  

Ngành mỹ thuật được nâng lên hàng tiếng nói của đảng. Đám sĩ quan biệt phái như tôi thì phải lãnh giấy giới thiệu đi trình diện học tập cải tạo. Văn Đen được họ cho ở lại để tiếp tục dạy học ở phân khoa sơn dầu.

            Năm tôi từ trại cải tạo trở về, thành phố Sài Gòn như một con bịnh chưa bình phục vì đã trải qua nhiều đợt cải tạo tư sản, cải tạo công thương nghiệp và đổi tiền. Phố xá tiêu điều, vắng vẻ. Người dân còn ăn độn và lo lắng sợ sệt.

            Tôi mang thân phận một người thất nghiệp, đã thế lại còn bị cái án mất quyền công dân và bị quản lý tại địa phương. Ngày ngày, có tên công an khu vực đến hỏi tội. Nếu cứ nằm nhà là phải giáp mặt nó mãi.         Tôi theo lũ bạn vào Chợ Lớn thuê chiếc xe xích lô đạp rong chơi suốt ngày, có thể còn tự do hơn. Người ta kêu là "làm dân biểu", dân chúng bảo đạp đi đâu là mình chạy đến đó. Còn lúc không có khách thì được nằm chỏng cẳng ở giữa phố ngủ.

            Góc phố tôi thường mang những kỷ niệm như Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn... bây giờ giá nếu được nằm ngủ ở đó thì thật sướng vô cùng. Có bữa, tôi nằm ngủ trước Phòng Thương Mại Đô Thành, góc đường Tự Do và Mạc Thị Bưởi. Trong ấy nhà nước đang khai mạc một cuộc triển lãm hàng sơn mài, có mặt mấy phái đoàn của phía xã hội chủ nghĩa và Trung Đông. Những sản phẩm sơn mài mà Cộng sản đã tịch thu ở các cửa hàng thủ công mỹ nghệ trong những đợt đánh tư sản, bây giờ được trưng ra cho khách nước ngoài.

            Tôi đợi đến lúc vắng khách mới chạy vô xem thì gặp Ba Nên. Anh ta là Trần Văn Nên, trước kia có học các lớp Mỹ Thuật do tôi dạy ở Hội Việt Mỹ. Anh làm ở Sở Canh Nông, Phòng Nghiên Cứu về Sơn Mài, phụ tá cho ông kỹ sư Nhựt Bổn Watanabé. Hồi đó, anh có hỏi Watanabé làm thế nào để anh nghiên cứu nghệ thuật sơn mài đến một mức độ cao hơn thì ông kỹ sư Nhật Bổn lại dẫn anh vào học lớp Mỹ Thuật Tạo Hình của Hiếu Đệ. Vì thế, anh ta đi theo tôi rất nhiều năm.

            Bây giờ, Ba Nên làm chuyên viên sơn mài của Sở Ngoại Thương kiêm Giám đốc Sở Nghiên cứu Hàng mẫu. Anh ta là con bò sữa của Mười Phi, Giám đốc Sở Ngoại Thương mà tôi không biết. Anh là người đứng ra tổ chức buổi triển lãm này.

            Mặc dầu thấy tôi rách rưới, Ba Nên vẫn kêu tôi bằng ông thầy. Tôi có hỏi Ba Nên cái nguồn sơn ta bây giờ như thế nào? Sơn Nam Vang, sơn Lâm Đồng và sơn Phú Thọ? Tôi có nói đã trải qua mười năm rồi, tôi trở lại làm sơn mài mà mọi thứ đều mới hết và nhất là tôi và một số anh em đã tìm thấy sơn mài chỉ là sự sinh hoạt của một loại vi khuẩn. Thứ vi khuẩn đó bây giờ mình tạm gọi là vi khuẩn lacquaze. Nó có thể chui vào máu, vào không khí tạo thành dị ứng, khó chữa trị.

            Các cụ phó sơn nhà ta thường cúng vái như một thứ thần linh. Có người còn nói "Sơn bắt coi mặt người ta". Nếu mình trị được vi khuẩn hay nuôi dưỡng được vi khuẩn, mình sẽ biến con thú rừng thành con thú nuôi, thì lợi ích của nó sẽ lớn lao vô cùng. Và nghệ thuật sơn mài sẽ huy hoàng, cộng với kỹ thuật sơn son thếp vàng của tiền nhân trong nghệ thuật cung đình thì sơn mài của mình còn tiến xa lắm.

            Không ngờ lúc hai thầy trò đứng nói chuyện, Mười Phi và Sáu Dân đứng kế bên đó nghe (Sáu Dân là bí danh của Võ Văn Kiệt). Do đó, tuần sau Ba Nên lại mời tôi đến gặp bọn lãnh đạo Sở Ngoại Thương Thành phố. Họ bàn tính với tôi về kế hoạch lót ổ cho gà mái đẻ. Có nghĩa là họ trang bị xưởng để bọn tôi sản xuất và họ mua sản phẩm để trừ nợ.

            Tôi phải kiếm cho họ vài chục người họa sĩ như tôi. Sau cùng tôi chỉ rủ được bốn năm người là nhiều            nhất vì anh em họa sĩ bây giờ không tin nhau nữa. Hơn nữa, ngành sơn mài cũng rất xa lạ đối với anh em hội họa. Anh Văn Đen, họa sĩ Nguyễn Siêu, Nghiêu Đề, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm... chúng tôi kết thành một nhóm ký hợp đồng với Sở Ngoại Thương là Bảy Thân và Ngô Văn Hòa.

            Ở đây, người ta không nói chuyện đến tác phẩm nghệ thuật. Họ chỉ gọi là sản phẩm thôi nên tranh được tính bằng mét vuông. Mỗi mét vuông lúc đó được trả một lạng vàng. Họ quy ra tiền Hồ là hai chục ngàn đồng.

Chúng tôi chỉ vẽ dông dài hoa xuân và thiếu nữ như nhạc tiền chiến là lấy ăn. Không ít thì nhiều, mỗi tháng anh em chúng tôi cũng phải giao hàng để trừ số nợ do nhà nước cung cấp vật tư và dựng xưởng cho mình. Còn bao nhiêu thì kéo nhau đi nhậu nhẹt.

            Anh Văn Đen lúc ban đầu có hơi ngại. Anh ta nói:

            - Tôi xưa nay chuyên về sơn dầu. Bây giờ chú Hiếu Đệ rủ tôi mài như vậy, chú phải xuống giúp anh đó nghe. Chuyện sơn son phết vàng, anh chẳng bao giờ làm.

            Cũng vì vậy nên chiều nào tôi cũng ngồi uống rượu với anh Năm nơi mấy quán cốc trước trường Minh Hiển ở ngả tư Nguyễn Tri Phương, chung bàn với mấy ông già xe ba bánh, xích lô và tài xế xe đò ở xóm Vườn Lài, đến quen thân như bà con ruột thịt cũng không bằng. May sao đến năm 1983, Hiếu - con trai của anh Năm đi học tập cải tạo được thả về.

            Nghe đâu trước đây Hiếu làm Đại úy coi tù Việt cộng ở đảo Phú Quốc nên bị cải tạo gần chục năm. Đến khi về thì bị vợ bỏ đi lấy chồng khác nên nó phải ở với cha. Tôi huấn luyện cho Hiếu làm thợ sơn để giúp anh Năm những khâu hom, bó, lót, mài, đánh sơn then, sơn phủ, cẩn, chạm và đánh bóng nên anh làm tranh rất khoẻ.

            Chúng tôi bàn tính với nhau. Đất nước Việt Nam còn lâu mới bước lên Kỹ Nghệ Hóa được. Nó còn phải sống bằng nông nghiệp và ngành thủ công nghiệp cả vài chục năm nữa cũng chưa cất cánh nổi. Anh Năm đắc ý, lên Bộ Giáo Dục vất cái đơn xin nghỉ dạy học nhằm lúc nhà nước phát động phong trào  khuyến khích công nhân viên chức tự nguyện làm đơn xin giảm biên chế để cứu đảng. Vì chánh phủ hết tiền trả lương cho cán bộ.

            Nghĩ cũng vui cười! Làm việc cho nhà trường cả hai chục năm, đến khi xin nghỉ lại được hoan nghinh tinh thần tự nguyện rút khỏi biên chế.

Rõ thật khôi hài!

            Cả đám chỉ mình tôi giao hàng mạnh nhất, có tháng hằng chục mét vuông. Những bức tranh nào được khách hàng nước ngoài đắc ý, được Ngoại Thương đặt hàng nhân lên đến năm ba chục bức. Sản phẩm nhân cũng được y giá như tranh sáng tác. Khi xưởng thiếu tranh, tôi đưa khách lại Ngoại Thương để mua một số tác phẩm có chữ ký Hiếu Đệ thì họ bắt khách hàng nhân giá thành lên gấp năm lần. Trong khi đó, hợp đồng ký năm 1982 giá sản phẩm trả cho mỗi mét vuông là hai mươi ngàn đồng vẫn giữ nguyên như cũ.

            Đã trải qua đến bảy năm sau, giá trị đồng tiền ngân hàng bị tuột xuống mỗi năm tối thiểu mất 30%.          Anh em họa sĩ phản đối ra mặt. Hơn nữa, số nợ về vật tư, anh em đã trả dứt từ năm 1983. Sau cùng, đến năm 1985, đôi bên dứt điểm, đường ai nấy đi, không còn buôn bán làm ăn với nhau nữa. Lúc này, khách mua tranh cũng biết anh em nghệ sĩ chúng tôi đã có xưởng vẽ riêng đàng hoàng nên chúng tôi không sợ đói.

            Ngày xưa, nhà văn Vũ Trọng Phụng thường nói ở đời chẳng có ai ghét nhau bằng bọn cùng nghề. Ở xóm Khâm Thiên, đám đĩ già còn đánh lộn với nhau hằng ngày đừng nói chi đến đĩ trẻ. Đám họa sĩ đảng viên ở Hội Mỹ Thuật kiện tôi, bảo rằng nhà nước bất công, Hiếu Đệ chưa có quyền công dân sao lại mỗi tháng được nhà nước phát cho đến năm ba lượng vàng.

            Đám Mười Phi trả lời là chúng tôi buôn bán làm ăn chớ không phải phục vụ đảng, không có vinh dự được làm nghệ thuật đích thực như anh em hội viên Nghệ Thuật Tạo Hình của đảng và nhà nước. Những năm đó, tôi vẫn vẽ Nhà lá cây mít, Thiếu nữ và hoa xuân... thế mà tranh tôi vẫn bán ì xèo, làm Năm Chánh, Phòng Học Vụ của trường Đại học Mỹ Thuật đến xưởng vẽ của tôi hỏi thăm.

            Chánh mang theo ba bức tranh nói là mua rẻ được ở chợ trời để đem về lấy bố. Giá ba bức chỉ có      trăm bạc, quá rẻ. Tôi buột miệng vỗ đùi khen tấm tắc.

            Tôi bảo rằng:

            - Ba bức này đẹp quá. Mày đừng có vẽ đè lên mà uổng. Về bố cục, màu sắc và tạo dáng thế này là hay vô cùng.

            Tôi chỉ cho nó coi từng phần. Cuối cùng, tôi nói:

            - Người nghệ sĩ ngồi trước giá vẽ phải thật tình với chính mình, tức là dân tộc và nghệ thuật. Chúng ta không được làm dáng, không dược a dua chạy theo bè phái, kể cả thị hiếu của đám đông. Chẳng cần đi tìm ở đâu xa vời. Nghệ thuật chân chính đang nằm trong trái tim của mình đây.

            Sau hết tôi nói thêm:

            - Tớ sẽ mua lại ba bức này, mỗi bức ba trăm dồng, chú mầy chịu hông?

            Năm Chánh cười lăn ra:

            - Tao phục tài mầy quá. Ba bức tranh này chính do tao vẽ. Tao muốn mầy bình phẩm và cho ý kiến. Thì ra mầy đã cho tao bài học rất hay.

            Năm Chánh tức họa sĩ Lê Minh Chánh làm bạn với tôi từ hồi đánh đáo ở sân trường tiểu học. Nó tập kết ra Bắc và học Mỹ Thuật Liên Sô về. Thế mà bây giờ nó cũng chẳng biết làm hội họa là phải như thế nào.

            Nó làm phụ tá cho Lê Phước Sanh, Quản lý chương trình học vụ của trường Mỹ Thuật. Chánh mới lấy cô vợ gốc tư sản có bằng Fashion Design ở Pháp.                                                                

Đám cưới xong, cha mẹ vợ được bảo lãnh đi Mỹ. Vợ chồng Chánh được hưởng cái villa to tướng trên Đà Lạt. Vợ nó làm ra tiền hơn nó rất nhiều vì vào buổi kinh tế thị trường, phụ nữ có xu hướng đua nhau ăn diện.

            Mùa hè năm 1986, tôi gặp Nguyễn Vạn Lộc ở phòng trưng bày tranh của Building Rex. Tôi vừa bán được rất nhiều tranh và được phòng kế toán đưa cho một số tiền khá lớn, tôi kéo Lộc xuống nhà hàng Majestic nhậu một bữa linh đình theo kiểu Tây thuộc địa. Nhậu say rồi, Lộc móc bốp ra khoe hình vợ đầm của nó và mấy đứa con lai đã đổ bác sĩ, có đứa thì lấy chồng giàu.

            Tôi hỏi:

            - Sao mầy không về Pháp sống với vợ con, ngu gì lại ở Việt Nam bị đày đọa khổ như con chó!

            Nó cự nự:

            - Muốn đội quần sao mà đòi về? Hồi đó, tao đứng ra thành lâp Hội Trí Thức Yêu Nước. Tao đã đứng trên diễn đàn đốt phéng nó cái giấy thông hành và căn cước quốc tịch Pháp. Hết cả rồi! Có thế mới hô hào mọi người quyết tâm xây dựng Xã hội Chủ nghĩa chứ.

            Tôi hỏi nó về vụ "Thổ huyết chất xám", vụ anh em trí thức vượt biên mà Lộc bị lôi ra tòa kêu án bảy năm. Việc đó như thế nào?

            Nó khóc:

            - Tụi mình chỉ còn một lối thoát duy nhứt là ra đi, nhưng việc tổ chức ra đi lại do chính bàn tay của        bọn họ. Do đó nên kẹt hết cả đám! Cũng đành vậy thôi!

            Bẵng đi một thời gian, một hôm tôi đi ngang qua Hội Mỹ Thuật ở đường Nguyễn Thị Minh Khai thấy có cái đám ma. Tôi vội ghé vào xem thì thấy họ đề hàng chữ to tướng "Họa sĩ Nguyễn Vạn Lộc (1930-1986)". Tôi hỏi thăm nó qua họa sĩ Quách Phong và anh Diệp Minh Châu. Nghe nói Lộc cùng năm bảy anh em đi vẽ tranh trên cao nguyên Lang Biang. Anh ta tắm suối và bị tai biến mạch máu não.

            Tôi thấy người con gái mặc áo tang khoảng hai mươi tuổi là em gái của Đoàn Thi, Giám đốc Phòng Quản lý Mỹ Thuật, một thứ công an của nghệ thuật. Hai anh em nó đều là học trò của Lộc ở Trường Vẽ. Có điều tài sản của bác sĩ Nguyễn Vạn Kim để lại cho Lộc rất lớn, gồm nhiều dãy phố buôn bán chung quanh chợ Bến Thành và trước mặt lầu Chú Quả (Hui Bon Hoa) ở đường Phó Đức Chính. Tất cả đã lọt vào tay bọn này.

            Năm xưa, Pol Pot và Iêng Sary có kêu gọi những nhà trí thức Cam-pu-chia thành công ở nước ngoài về xây dựng đất nước. Nghe đâu họ về có hơn bảy trăm người, nhưng tất cả đều bị giết trong một hầm tập thể. Iêng Sary nói là để trừ hậu họa, sau này không còn ai trả thù hắn được.

            Cuộc đời Văn Đen cũng u buồn như màu sắc tác giả vẽ lên tranh. Vợ anh mất giữa năm 1965 để lại cho anh căn nhà trống trải với hai đứa con và một mảnh vườn. Cuộc đời nghệ sĩ gà trống nuôi con thật       thảm thương. Niềm an ủi to lớn của Văn Đen là vẽ tranh và bạn bè. Bạn cả bốn vùng chiến thuật, từ anh lính đến em bé mồ côi, đến ông già mù gãy đờn độc huyền rất gần gủi trong tranh Văn Đen.

            Cũng như họa sĩ Van Gogh đã có lần viết thư cho Theo:

            - Tôi muốn vẽ em bé bán quẹt bên đường, mặc dù nét mặt của em nghèo khổ tối tăm nhưng đôi mắt của em có cái gì huyền bí như hình ảnh của Chúa trong ngôi thánh đường.

            Từ ngày vợ anh mất, quán cơm lao động không còn nữa. Phố xá khu vực Nguyễn Tri Phương cũng đã thay đổi, nhất là sau cuộc tấn kích năm Mậu Thân. Mảnh vườn của anh Văn Đen đổi thành một dãy phố lầu.

            Anh cho biết là mấy người Hoa ở Chợ Lớn đề nghị với anh để họ xây thành một dãy phố lầu và để cho anh được chọn hai căn phố ở bìa đường. Nếu chỉ vẽ tranh thì làm cóc gì có nhà lầu to tướng như vậy. Hơn nữa, sau này mình để lại cho con cái vẫn còn hơn mảnh vườn với vài chục cây mít. Dù sao, cuộc sống ở Nguyễn Tri Phương cũng đã bị đô thị hóa rồi, mình cũng không nên luyến tiếc mảnh vườn xưa làm gì nữa tuy nó đã mang nhiều kỷ niệm.

            Năm 1983, tôi có dẫn mấy bạn Việt ở Canada ghé xưởng vẽ mua tranh của anh Văn Đen. Hình như đêm qua, anh ta đi uống rượu về trễ nên sáng dậy không nổi. Chúng tôi đánh thức anh dậy thấy giọng nói của anh có vẻ khàn khàn.

            Văn Đen bảo là hình như anh uống rượu nhiều quá nên khan cả tiếng, làm như có con nhện đang bò trong cổ. Trong đám bạn, có vài người làm bác sĩ. Họ góp ý, đó là những dấu hiệu có triệu chứng ung thư thanh quản. Họ đề nghị anh đi khám nghiệm và giải phẩu. Có thể mình chận đứng kịp thời, còn chắc ăn được 70%.

            Đến lúc lũ bạn ra về, anh bảo bọn họ nói sai. Họ khéo "bói ra ma quét nhà ra rác". Mình mạnh khoẻ vật trâu cũng ngã thế này mà ung thư cóc khô gì. Mấy đứa học trò của anh và đám bạn bè như họa sĩ Nguyễn Văn Bảy, Huỳnh Văn Phụng dạy ở Đại học Mỹ Thuật nói với tôi họ nghi ngờ Văn Đen bị ung thư thanh quản chắc chắn, nhưng anh ta vẫn uống rượu và đi vẽ tranh tỉnh bơ.

            Anh nói với tôi:

            -  Cuộc đời như là bức tranh. Tất cả những bức tranh trong lịch sử mỹ thuật đều vẽ như dở dang, chẳng có bức nào hoàn chỉnh hết. Bức tranh nào hoàn chỉnh không còn chỗ nào để sửa chữa hoặc phê phán là những bức tranh dở, vẽ cứng ngắc. Cuộc đời cũng vậy, dù sao nó cũng bị dở dang như một nhạc khúc, như một bức tranh thôi.

            Có hôm, tôi với Văn Đen rủ nhau đi vẽ cảnh ở Lăng Ông. Lăng Lê Văn Duyệt ở kế Trường Vẽ chừng vài bước nhưng chúng tôi ít khi vào đó vì từ ngày Việt cộng trưng dụng là tụ điểm Văn Hóa Quận Bình Thạnh và Cung Thiếu Nhi, không cho đồng bào đốt hương cúng kiếng, cảnh Lăng Ông trở nên vắng vẻ      hoang phế. Tôi thấy nó càng hoang phế, nó càng huyền ảo và đẹp.

            Tôi nói với anh Văn Đen:

            - Tụi mình cứ vẽ bằng tinh thần "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo" thì tự nhiên nó đẹp lên thôi. Vẽ tức là phịa và cũng là vẽ vời đó mà. Cảnh một đàng còn vẽ một nẻo, vẽ lúc cảnh Lăng Ông còn hưng thời, cờ quạt tưng bừng, khói hương nghi ngút, người đi dâng hương rất vui vẻ.

            Chúng tôi ngồi vẽ gần góc đường Lê Văn Duyệt nhìn vô chánh điện. Phía sau chánh điện được biến thành rạp chiếu bóng thường trực để tăng gia kinh tế cho địa phương. Bữa đó, họ chiếu phim chưởng "Thần Điêu Đại Hiệp" phân ra nhiều tập. Phim bộ được nhập cảng lậu từ Hồng Kông nên khán giả có vẻ đông đảo.

            Dàn loa phóng thanh ra ngoài để làm trật tự. Tôi nghe họ nói:

            - Alô! Yêu cầu khán giả mua vé xuất 9 giờ coi phim xong xin hãy ra về để nhường chỗ ngồi cho khán giả mua vé xem chiếu bóng xuất 11 giờ. Nếu quý vị không tự động tự giác thì toán công an chúng tôi sẽ làm nhiệm vụ soát vé.

            Tôi nói với Văn Đen:

            -  Khán giả cũng tệ thật. Xem hát xong thì ra về chứ ngồi làm gì để cho người ta đuổi. Yếu quá! Cho dầu có xem phim lại lần nữa cũng chẳng mấy hấp dẫn bằng lúc đầu, vì mình đã thuộc cả rồi thì còn sướng ích gì. Tụi mình sống chiến đấu, chà lết đã đời rồi thì có ngủm củ tỏi cũng chẳng sao, để cho con cháu nó tiếp nối. Bịnh hoạn chỉ là cái cớ để cho mình ra đi thôi, anh đừng lo.

            Tôi nói tiếp:

            - Trong thiền học, có chuyện ông sư cõng nàng thiếu nữ qua cái ao sen. Cõng qua rồi, ông để lại bờ ao chứ có cõng cả đời đâu mà sanh chuyện. Có chết mình cũng sướng thôi, mình không còn mang theo khổ đau qua bên kia thế giới nữa. Nợ đời cũng được rũ sạch! Có phải vui không?

            Anh Đen cười, nụ cười có vẻ còn nhăn nhó như con hổ trong nhãn chai rượu bia BGI mà bọn này thường uống mỗi buổi chiều. Mấy lúc sau này, anh thường ghé nhà tôi. Có hôm, tôi đi vắng. Anh ngồi kể chuyên với tiện nội tôi:

            -  Thiếm Hiếu Đệ này, tụi trẻ nó bảo tôi có đến nhà ông thầy Hiếu Đệ thì phải ngó chừng chiếc xe đò mang số 40B5035 không còn đậu ở trước nhà thì thầy hãy vào. Vì vợ thẩy dữ lắm, chằn ăn trăn quấn lận. Bà không cho gặp ổng đâu. Vậy mà sao tôi thấy thiếm rất hiền lành, đâu có như tụi nó nói. Khổ nỗi, mấy đứa học trò nói bậy hết.

            Vợ tôi hỏi:

            - Anh Năm nghe ai nói vậy? 

            Thì anh trả lời:

            - Thằng Nguyễn Văn Y và Mạc Chánh Hòa.

            Vợ tôi kể chuyện:

            - Anh Năm nghĩ coi, bữa nào cũng vậy, 4 giờ sáng là em lái xe ra Xa cảng Miền Tây lấy tài lấy bến        và cho khách lên xe, cơm hàng cháo chợ đến năm sáu giờ chiều mới về tới nhà, thấy họ xoay trần ra uống rượu, nghĩ thấy có tức chưa? Bảo em không đuổi họ ra làm sao được? Ai lại nỡ bất công như vậy. Trong giờ hành chánh phải để cho ông Đệ ổng làm việc nuôi vợ nuôi con chứ. Anh Năm đi dạy học đã đành. Hơn nữa, trong giờ làm việc, anh đâu được quyền uống rượu. Còn ông xã của em, ổng đi cải tạo mút mùa còn dạy với ai được đây mà lũ học trò cũ còn bu theo ổng làm gì. Nói thật với anh Năm, du đãng trong bến xe Lục Tỉnh em  còn đuổi chạy hết. Mấy đứa học trò của ông Đệ đâu nhằm nhò gì. Chúng nó có lỗi, do đó chúng nó sợ em. Còn anh là đàn anh trong nhà, anh không nên nghe lời tụi nó. Anh phải coi tụi em là em của anh mới phải.

            Anh Văn Đen vỗ vai tôi:

            - Chú Hiếu Đệ ơi! Anh Năm mừng cho hạnh phúc của chú. Chú phải có cô vợ như vậy mới được. Anh thấy chú được sống rất nhiều ngày cưới. Ngày chú được về từ trại cải tạo. Ngày chú được về từ rừng U Minh bởi sắc luật chỉ định cư trú và ngày chú ra tù vì tội vượt biên trái phép. Anh Năm mừng cho chú thiếm.

            Buổi sáng mùa đông năm 1985, họa sĩ Nguyễn Văn Bảy đạp xe đến tôi cho biết là đã đưa Văn Đen đi cứu cấp ở Viện Ung Thư Gia Định. Chỗ cancer nơi thanh quản bị vỡ ra làm nghẹt thở. Bác sĩ phải đặt ống cho thở và để chờ giải phẩu. Nhờ Bảy quen lớn với số anh em bác sĩ ở bệnh viện nên họ cố sức kéo anh       ra khỏi bàn tay tử thần.

Tôi đến Viện Ung Thư thăm anh. Lần đầu tiên, tôi đến trại cứu cấp được thấy như mình đang đứng trước cửa địa ngục.

            Sau vài tháng nằm trị ở bịnh viện, anh được ra về. Tôi có ghé lại nhà thăm, thấy anh đã bắt đầu cầm cọ vẽ tranh trở lại. Đầu cổ quấn đầy băng. Lúc này anh không còn nói được nữa, chỉ lấy giấy viết bút đàm.

            Anh viết:

            - Nhất là trong những giờ phút này, anh em nghệ sĩ không được bỏ tôi. Riêng Hiếu Đệ phải nhậu với anh mỗi buổi chiều. Anh không còn uống rượu được nữa thì chú uống anh coi. Chú không có tiền uống rượu thì anh trả, miễn sao thấy anh em đông đủ và say xỉn nữa là anh đủ vui rồi.

            Mỗi lần xuống thăm anh Văn Đen và rủ đi uống rượu, anh nháy mắt ra hiệu cho bọn tôi kéo nhau đến quán trước. Chừng mười lăm phút sau, anh ta mới xỏ dép lẹp bẹp tới.

            Có bữa ngồi chờ anh khá lâu, họa sĩ Nguyễn Lâm hỏi tôi:

            - Anh biết Hoàng Phúc Kế hông, anh Đệ?

            - Biết chứ! Hồi anh học trường sĩ quan Thủ Đức, đại úy Kế là sĩ quan tác xạ. Anh ta dạy tụi này ở sân bắn.

            - Hắn là đệ tử của anh Đen, đi vẽ chơi mỗi buổi sáng chúa nhựt đấy. Nghe đâu hồi xưa hắn có đi Pháp học nghề làm đàn, cũng như anh Mỹ Tín ở đường Nguyễn Huệ. Đại úy Kế cũng có trưng bày             tranh đôi lần ở Hội Việt Mỹ. Nhưng hắn ta là họa sĩ ngày chúa nhựt (painter du dimanche) tài tử chơi thôi chứ vẽ chẳng ra gì.

            Nguyễn Lâm cho biết thêm:

            -  Vậy là anh chỉ biết đại úy Kế hồi xưa thôi. Sau này, anh ta đi cải tạo về cũng vẫn tiếp tục rủ nhau đi vẽ cảnh ở xóm Bà Hôm với anh Đen. Anh Kế sinh sống bằng nghề cũ, nghề làm đàn violon. Anh Mỹ Tín dẹp tiệm rồi thì Hoàng Phúc Kế một mình một chợ. Việt kiều các nơi về đặt hàng lu bù nhờ anh làm rẻ và đẹp hơn các nơi. Hôm anh Kế được bảo lãnh đi Huê Kỳ, anh ta có bàn tính với anh Văn Đen là anh ấy có cây đàn cổ của Ý, cây đàn của Toscanini từ hồi 1705. Nhạc sĩ Toscanini nổi tiếng nhờ cây đàn nầy, gỗ xưa và mỏng, có âm thanh rất kỳ diệu. Hoàng Phúc Kế bảo là Phòng Quản Lý Nghệ Thuật của nhà nuớc cũng từng nghe tiếng cây đàn này nên họ nhứt định không cho đem ra khỏi Việt Nam. Đại úy Kế bàn đổi hai mươi bức tranh của Văn Đen và trao cây đàn cổ để anh chơi. Anh Văn Đen nghe nói mừng vô cùng vì anh ta đàn rất hay và mê cây đàn của Toscanini, cũng như hiệp sĩ xưa họ mê kiếm báu. Nhưng cuối cùng thì gặp đồ dởm. Chỉ có hai mươi bức tranh của Văn Đen là đồ thật. Còn cây đàn, anh Đen có đem đến Viện Khảo Cổ và Trường Đại Học Tổng Hợp nhờ họ nghiên cứu và rọi C Carbone hay tia sáng DNA gì đó. Họ cho hay là cây đàn này được làm từ trại cải tạo cũng như cây trăm, cây lược anh làm tặng cho chị Đệ vậy thôi. Ở trại tù, họ làm cây đàn này, chạm trổ rất kỹ coi như không cần thời gian. Con người từ ở trại cải tạo về, có người bị vong thân phóng thể, hư hỏng một cách không thể nào đoán trước được. Tôi hỏi anh chớ Hoàng Phúc Kế từ trại cải tạo về làm gì sưu tập đến hai mươi tác phẩm của Văn Đen. Môn đệ hay nghĩa đệ thời nay chơi ông thầy là chuyện thường. Nói cho anh Đệ nghe thôi, anh đừng có cự nự anh Đen làm ảnh buồn. Tụi nó nói cũng tại cái vụ tên Kế này mà anh Năm buồn, anh ngã đau luôn đấy. Trước kia, anh Đen có nâng đỡ Nguyễn Phát Minh cho nó đổ đầu ở Trường Mỹ Thuật, gả con gái cưng cho nó, tổ chức trưng bày tranh cho Nguyễn Phát Minh. Sau này, cô con gái không còn làm ở sở Mỹ nữa nên bị chồng ly dị, đem bầy cháu ngoại về cho anh Đen nuôi. Cuộc đời là như vậy đó. Anh Đen đi tìm sự thật trên nghệ thuật nhưng toàn bị sự đểu nó vây chặt lấy mình.

            Mới đây, ngày 31 tháng 5 năm 1998, nhà biên khảo Hoàng Phúc Kế với tư cách nghĩa đệ của cố họa sĩ Văn Đen có trình bày tác phẩm và thân thế sự nghiệp của tác giả tại Phòng Sinh Hoạt Hội VAALA (Vietnamese American Arts and Letters Assocation, Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ của nhóm người Việt Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Phạm Phú Minh...) ở 11022 Acacia Parkway, Garden Grove, California. Đây là những tác phẩm có giá trị chính ông sưu tầm và ấn loát.

            Quái lạ lúc này Văn Đen vẽ hăng say, khởi sắc hơn. Hiếu, con anh ra sức lót bố căng khung để anh          lên tranh đến không kịp. Hơn nữa, màu sắc trên tranh lại tươi thắm lạ lùng.  Hay là ngọn đèn sắp tắt, nó cháy bùng lên rất đẹp chăng?

            Hôm đó, chị Đỗ Mai Lan ở Texas về Việt Nam thăm nhà, tôi có đề nghị chị Lan nên giữ của Văn Đen một số tác phẩm. Tôi đến nhà anh chọn cho chị ba mươi bức sơn dầu rất đẹp. Chị rất ưng ý. Tôi còn nói sau này anh Văn Đen chết rồi, mấy bức tranh đó sẽ là quốc bão. Chị muốn mua một bức cũng khó khăn.

            Hơn nữa Sở Quan Thuế và Phòng Quản Lý Mỹ Thuật sẽ không bao giờ ký giấy cho chị mang ra khỏi Việt Nam. Chị mà không giữ số tranh ngay bây giờ thì vài năm sau, Sở Văn Hóa sẽ đến đây đánh số là kho tàng nghệ thuật của quốc gia thì không ai còn được nói chuyện mua tranh của Văn Đen nữa.

            Nhờ thế, chị Lan đã mang được một số tác phẩm của anh Văn Đen đi Mỹ. Mà cũng là một dịp rất may mắn, anh có được một số tiền khá lớn trong những ngày cuối đời.

            Mấy buổi chiều đến thăm anh, anh nháy mắt làm ám hiệu bảo tôi ra ngồi quán trước, nơi góc bàn quen thuộc. Khoảng chưng 15 phút sau, anh mới mặc áo bước ra.

            Anh viết bút đàm bảo rằng:

            - Mình đau gần chết, con cháu chúng nó thương quá, xúm lại lo cho mình. Trong khi đó? mình lại còn uống rượu nữa, bảo chúng nó không buồn sao được?

            Thật ra thì anh cũng không còn uống rượu được nữa nhưng anh vẫn nhớ cái không gian của quán nhậu (nostalgie de l'ambiance), nhớ bạn bè hơn cả vợ con. Cũng trong dịp tết năm đó, nhà anh cũng sắm sửa đầy đủ hoa xuân và câu đối đỏ. Anh còn ngâm đầy hai hũ rượu thuốc để chờ anh em đến say sưa đón giao thừa và chúc nhau mừng năm mới.

            Năm đó cũng là năm sau cùng của anh. Anh Văn Đen mất ngày 20 tháng 12 năm 1988. Tôi có đến dự đám tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi nhìn lên bức chân dung sau cùng mà tôi thích nhất, vẽ anh đang cầm bảng pha sơn và bút cọ, nét mặt tươi cười, đầu cổ đang quấn đầy băng trắng.

            Bức tranh như muốn nói với người xem:

            "Chừng nào chết chẳng cần biết. Bây giờ, tớ cứ vẽ cho đã tay rồi hãy tính".

            Chỉ có nghệ thuật mới sống hơn con người và vĩnh hằng hơn con người.

            Tác phẩm nghệ thuật muôn đời như dòng sông rì rào, như ngàn sao lấp lánh.


                                                                                                                        Hiếu Đệ


                                                                  -**-


                                          Con Sao Chiếu Mạng

            Tiếng súng nổ ngày càng gần nơi xóm tôi ở, thuộc vùng ngoại ô thủ đô Sài Gòn, về hướng miền sông nước bạt ngàn Hậu Giang. Chiều ngày 29 tháng Tư 1975 đau thương tức tưởi đã thấy thập thò lấp ló đó đây vài tên cán bộ của Mặt trận Giải phóng Miền Nam với dép râu, nón tai bèo, khăn rằn mốc thếch quàng ở cổ...

            Với vẻ mặt hốc hác ngớ ngẩn, tóc tai bù xù, trông mệt nhoài nhưng tay vẫn cứ lo le khẩu A.K trong tư thế chiến đấu, chúng vừa bách bộ vừa chạy lúp xúp từng tốp nhỏ năm ba đứa đổ về trung tâm thị            trấn Phú Lâm, quận Sáu. Trông chúng như đang hấp tấp dò la tìm đường tiến về phía thành phố Sài Gòn thì phải.

            Lúc bấy giờ, trên khắp các con đường lớn nhỏ, kể cả những ngõ hẻm ngoằn ngoèo uốn éo bất tận trong các xóm nghèo nàn xác xơ, những con hẻm ngày xưa khách lạ một khi bất hạnh lạc bước vào đây chẳng thế nào định hướng được đâu là đường ra lối vào, người người tất tả ngược xuôi, xuôi ngược. Một cảnh hoảng hốt hỗn loạn, tới lui như mắc cửi chưa từng thấy với đủ loại xe cộ và phương tiện di chuyển cá nhân xô bồ.

            Họ kêu réo ồn ào, ới gọi nhau không thôi. Kẻ đi tới. Người thối lui. Họ không biết phải đi về đâu? Rõ là không khí hãi hùng hồn phi phách tán của cảnh chạy giặc!

            Nhà tôi ở thuộc mặt tiền, trổ cửa ngõ ra đường Phú Định. Con đường này có lúc đổi tên là Phan Văn Trị, một nhà yêu nước tên tuổi lẫy lừng qua những bài Đường thi cổ vũ tinh thần chống Pháp xâm lăng dưới triều đình vua Tự Đức. 

Cuộc đất nhà tôi nằm sát bên cái cống tháo nước, trước đây do Tây thực dân xây bằng xi măng cốt sắt chắc chắn. Thuở nhỏ, đây là nơi hẹn hò tụ năm tụ bảy rong chơi khét nắng của lũ chúng tôi, thuở lục lăn lục lửa, phá đình phá xóm vào những ngày nghỉ học.

            Do vậy, người dân quanh vùng gọi địa phận này là Xóm Cống. Nó rất dễ nhận diện nhờ cái cống khá to bằng xi măng cốt sắt ấy, sững sững gây sự chú ý của những người có dịp đi ngang qua.

Xóm có một quá trình hình thành không lâu lắm. Người ta ước đoán ngót nghét năm ba thập niên để sau này trở nên đông đúc sầm uất. Nhứt là từ sau thế chiến thứ hai chấm dứt với sự xâm lăng của đoàn quân viễn chinh Pháp lâm le tái chiếm Việt Nam.

            Phía sau nhà tôi có mấy dãy nhà lá, nhà tôn hắt hiu thầm lặng. Những dãy nhà này cũng lâu đời lắm, cất xan xác, níu kéo nương tựa nhau qua những tấm vách chung ranh kết bằng tre đan hay sóng lá dừa nước thưa rểu.

Người nhà bên này nếu cắc cớ hay tò mò có thể nhìn thông suốt tận nhà bên kia rất dễ dàng. Có nhà cất chồm hẳn lên khít vách bức tường ranh của gia đình tôi.

            Hôm nay, bỗng dưng mọi người trong xóm xôn xao ứng lên nói cười náo nhiệt. Chỉ nghe tiếng ồn ào rùm trời rùm đất không dứt của họ đủ hiểu họ đang sung sướng phấn khởi lắm.

            Chốc chốc, họ la ó ầm lên:

            - Quân Giải phóng sắp về tới nơi rồi bà con ơi. Mau ra mà coi. Thiên hạ đông vô số kể, đầy đường đầy sá.

            - Sài Gòn sắp đổi chủ. Lính tráng, cảnh sát chẳng còn ai giữ an ninh trật tự cả.

            - Độc Lập, Tự Do rồi cô bác ơi. Mình sẽ hết nghèo khổ!

            - Mình sẽ được chia của của người giàu...

            - Sung sướng tới nơi...

            - Suốt cả đời mới trông thấy ngày này...

            Họ rủ nhau, thúc hối ùa ra đường theo dõi tình hình do tánh hiếu kỳ cố hữu của họ mà nhân thể cũng để chào đón, trông tận mặt những người chủ mới. Họ tập trung từng nhóm lóng nga lóng ngóng hai bên lề đường, tha hồ mạnh ai nấy nói. Tha hồ bàn ngang tán dọc, thêm thắt tình tiết, tranh nhau phô trương sự hiểu biết rộng rãi của mình.

            Có lắm người trọng tuổi tỏ ra biết nhiều chuyện xưa quá đổi xưa. Họ cố gắng moi móc tận trong trí nhớ năm ba cái tên trong xóm như thằng Hai Nghé, thằng Sáu Tửng, thằng Bảy Xinh... con Ba Lụa, con Tư Xiếu, con Tám Mắm... họ đã quên lửng từ hai ba mươi năm qua, nay bỗng nhiên họ muốn tìm gặp lại trong số những người "đi kháng chiến" hay "làm cách mạng" sống sót trở về. Dĩ nhiên thân nhân và nhóm bạn bè nối khố của những tên này càng nôn ruột phập phồng hơn ai hết. 

            Thằng Hai Ngọng ong óng với giọng ngọng nghệu bẩm sinh, nức cục từng tiếng một. Nó dõng dạt khoe lớn tiếng với mọi người, nó vừa chở về trên chiếc xe xích lô đạp bóng nhoáng của nó hai bao gạo chỉ xanh nặng ì ì.

            Nó rất hãnh diện về kỳ công ấy của nó vì cũng phải chen lấn khổ nhọc lắm nó mới lôi được mang về đến tận nhà. Nó không ngớt huynh hoang kể lại thành tích hiếm hoi này trong đời vì từ lúc cha sanh mẹ đẻ đến giờ phút sung sướng tột cùng này, có bao giờ nó trông được thấy đến hai bao chỉ xanh gạo trong nhà nó đâu.

            Người ta xúm xít bu chung quanh nó. Họ không ngớt hỏi han nó đủ mọi chuyện chấp nối, không đầu đuôi. Có lúc có quá nhiều người tranh nhau gạn hỏi nó tới tắp nên chẳng ai nghe được gì cả. Thêm đám con nít chộn rộn nói cười không dứt. Bên ngoài hẻm chỉ nghe tiếng nó trội hẳn lên như một người hùng vừa đạt thành tích lẫy lừng được bà con ngưỡng mộ, hoan hô tán thưởng.

            Thì ra nó vừa cùng với đám thanh niên và thanh nữ bụi đời sống lang thang ở khu thương mại Chợ Lớn Mới chen lấn xông vào các kho, các chành lúa gạo để hôi của. Nó quát tháo, vò đầu bức tóc tiếc hùi hụi do không thể lấy nhiều hơn được, mặc dù lúc ấy nó muốn lấy bao nhiêu bao cứ tha hồ mà lấy tự do thoải mái.

            Chủ tiệm, chủ kho, kể cả các nhân viên người Chàm, người Ấn canh gát gìn giữ an ninh các chành các dựa đều đã rời nhiệm sở, trốn lánh hoặc bỏ chạy từ lâu. Không một ai đứng ra ngăn cản bọn chúng nó cả. Mà cản ngăn sao được trước một nhóm người đông như kiến đang khao khát và đầy quyết tâm.

Vả lại, chiếc xe xích lô đạp của nó có trọng tải giới hạn. Nó chở nặng quá mức nên còng lưng cong xương sống đẩy muốn hụt hơi.

            Miệng nó vẫn cứ oang oang cổ võ, thúc hối khan cả cổ họng. Nó lýnh quýnh ậm ự, đôn đốc bà con già trẻ lớn nhỏ trong hẻm hãy chuẩn bị sẵn sàng để nhanh chân theo nó đi chôm chĩa hôi của, lấy đồ đạt vô chủ.

            Ôi thôi đủ thứ vật dụng. Đủ loại đủ cỡ.

Cả thức ăn thức uống hằng hà sa số, vung vẩy bừa bãi. Cứ tha hồ khuân vác. Chỉ sợ sức mình không kham nổi mà thôi.

            Nó đoan quyết như vậy và lập đi lập lại mãi không biết bao nhiêu lần. Dương như nó muốn cho mọi người chung quanh tin nơi lời nói thành thật chắc cú của nó:

            - Các kho hàng, cửa tiệm kinh dinh lộng lẫy, ngày nào cửa nẻo và song sắt vòng trong vòng ngoài mấy lớp với những ổ khóa nhập cảng tổ bố chánh hiệu Pháp Quốc hay Hoa Kỳ, bây giờ hầu hết đều mở tung toát hoát. Các ông chủ bà chủ người Tàu hay người Việt đều hoảng sợ nên đã trốn chui đâu mất hết cả rồi. Phú lích chẳng còn một bóng. Mau lên. Tôi chuẩn bị đi đây.

            Cảnh rầm rộ, kêu réo nhộn nhịp. Người ta chạy tới chạy lui thình thịch không dứt. Từng chập phát ra đâu đó một vài tiếng súng lẻ tẻ nhưng chẳng làm cho một ai chú ý đến cả.

            Chạng vạng tối, đèn đường vừa mới phựt lên vàng nhạt yếu ớt, lại có tiếng rổn rảng, nức cục nặng nề ngắt khoản của thằng Hai Ngọng. Mỗi lần có mặt nó ở cái hẻm nhỏ vốn quanh năm thầm lặng đến độ lạnh lùng trước đây, nay chỉ không quá hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà đã bừng hẳn lên để có tiếng có tâm của nó.

            Nó vừa chở về hẻm thêm mấy thùng cạt tông to tướng đủ thứ vật dụng lỉnh kỉnh gồm vải sồ, đường       sữa, radio, tivi, cả cái quạt máy cồng kềnh lớn đại, loại quạt treo ở trần nhà. Mấy cánh quạt to tướng dài sọc được nó ghịch trên mui xe xích lô, che chắn tầm nhìn nên nó chỉ còn nước đẩy xe chớ không có cách nào khác hơn được.

            Mệt mỏi, mồ hôi dầm dề ướt đẫm hai vạt áo trước sau đã sẫm màu và vá vếu nhiều nơi, nó gần như đuối sức do cố gắng liên tục suốt buổi chiều hôm đó. Dù vậy, nó vẫn nhanh tay khệ nệ khiên các chiến lợi phẩm bỗng dưng tự trên thinh không rơi xuống mà có đó vào nhà, rồi quày quả tiếp tục đi thêm một chuyến đêm nữa.

            Tiếng nó lại reo lớn lên nơi đầu ngõ trong sự vui mừng tột đỉnh khi thấy thằng em út của nó, thằng Cu Chút Chít, da dẻ đen đúa, mình trần như nhộng, đang khổ nhọc tập trung lăn một lượt hai cái bánh xe hơi. Một nạn nhân khốn khó nào đó, trong lúc hoảng hốt tháo chạy cứu thân, đã không ngần ngại bỏ chiếc xe mua sắm bằng mồ hôi và nước mắt của mình bên lề đường.

            Chẳng mấy chốc, chiếc xe đáng giá mấy chục cây vàng vào thời buổi tranh tối tranh sáng khó khăn nhập nhầy ấy bị đám đông, lớn có nhỏ có, tranh giành nhau xẻ thịt nhanh chóng gọn hơ. Chiếc xe chỉ còn sót lại vỏn vẹn có cái sườn, nước sơn vẫn láng coón mướt mượt.

            Hai Ngọng thêm hừng chí khi chợt thấy thằng Ba Búa, cùng dãy nhà với nó đang kéo lê kéo lết một cái tủ lạnh kiểu Mỹ to tướng trắng tinh màu bông bưởi mà chắc chắn nó chỉ nhìn thấy và sờ mó lần đầu tiên trong đời. Ba Búa khoe với nó vừa chôm được ở nhà một công chức cao cấp đã bế cửa bỏ chạy trước đó vài tiếng đồng hồ.

Cái tủ lạnh quá nặng. Nó phải giải quyết trậm trầy trậm trật trong đơn độc một mình cả buổi trời.

            Ở giờ phút khẩn trương hoảng loạn này, mạnh ai nấy lo phần riêng tư cá nhân mình. Chẳng ai để công hoặc dư dả thời giờ tiếp tay ai được.

Ba Búa gồng đôi tay gân guốt lực điền đẩy nhít tới chỉ được non non một thước tây là phải nghỉ một đổi. Cứ như vậy, nó đã trì chí lôi trên cả ngàn thước đường. Giờ thì thằng Ba Búa rất hả dạ.

            Rồi con Tư Lém, em gái út của thằng Hai Ngọng lại kéo về xóm, cũng trong khó khăn nặng nhọc không kém, hai tấm nệm Mỹ dầy cui được nó cột ghịch vào nhau. Nó cứ nhít tới... nhít tới từng tất đường...

            Cả xóm phấn khởi trong niềm vui nhận được của cải quý giá và cần thiết từ trên trời cao rơi xuống bất thình lình. Nhiều người còn thốt ra nhẹ nhõm khi nghĩ rằng suốt cuộc đời lam lủ khó nghèo, chưa một lần họ dám ước mơ tới.

            Những ngày kế tiếp, chiếc xe xích lô đạp làm chưn làm cẳng của thằng Hai Ngọng vẫn giúp nó có những chuyến tới lui đi về đầy nhóc phẩm vật. Thứ nào đối với nó cũng có giá trị, những thứ cả một đời cha mẹ nó chưa hề mó tay đụng đến bao giờ.

Nó sung sướng, toại nguyện biết bao.

            Hồi trước nó ăn nói nhỏ nhẹ ngoan hiền, khép nép rúm mình giữa chỗ đông người, đi đứng lom khom chậm rãi bao nhiêu thì giờ đây nó mạnh dạng, ong óng to tiếng, dáng vẻ không đến đổi nghinh ngang coi trời bằng vung, nhưng xem ra như một mình một chợ, chẳng thấy có ai chung quanh nó cả. Và cái giọng cà lăm lập cập, ậm ự đứt khoản của nó càng rền hơn nữa.

            Hai Ngọng nhìn tới nhìn lui ngắm nghía, tỏ ra bằng lòng thỏa chí khi trong ngôi nhà lá sàn đất hãy còn lởm chởm, phênh vách chằng khíu vá vếu khắp nơi, nay có bàn có tủ, có giường, có nệm, có quạt máy, radio, có cả tủ lạnh, truyền hình... dù nó chỉ để làm cảnh cho sang nhà sang cửa. Chớ thực tình, với những dụng cụ, máy móc và tiện nghi tân tiến ấy, nó làm gì biết sử dụng bao giờ.

            Lúc hứng chí, nó cười ngắc nga ngắc ngoải rồi thốt lên những lời bốc đồng xuất phát từ cảm nghĩ bộc trực và thực tế trước mắt nó:

            - Cám ơn "cách mạng". Cám ơn Mặt trận Giải phóng Miền Nam.

            Nó còn nói chắt nịt:

            - Không có "cách mạng" làm gì tôi có được đầy đủ những thứ này.

            Thỉnh thoảng, nó kêu gọi mời mọc mấy bà con chung quanh vào nhà nó để nó khoe những thứ không mua mà có, không ước mà đến, không mơ mà được. Nó nói nó vừa trúng số độc đắc Kiến thiết Quốc gia không bằng. Dù bao nhiêu ngày qua rồi mà nó vẫn chưa hoàn hồn, tỉnh táo. Đầu óc nó đang lửng lửng ở đâu đâu.

            Nơi cái Xóm Cống nghèo nàn quanh năm u buồn trầm lắng này, nhứt là nơi con hẻm không tên, không biết bắt đầu từ đâu và chấm dứt nơi nào với nhà cửa không số, giờ đây gia đình nào kể như cũng có được chút ít này nọ, vừa đủ để trang trí cửa nhà và cũng vừa để tiêu dùng thoải mái. Họ xài thả cửa thả ga là khác. Vì là của làm ra không vốn, không tốn một nhểu mồ hôi tạo dựng nên mấy ai biết xót xa đau lòng bao giờ.

            Trong cảnh tình đó, chỉ riêng thằng Hai Ngọng là may mắn và trội hơn ai hết. Nó phất lên nhờ vào phương tiện di chuyển và chuyên chở là chiếc xe xích lô đạp nó mướn chạy đưa khách từ lúc ngấp nghé vào đời.

            Giờ đây, chẳng những nhà nó có quá đầy đủ tiện nghi như vậy nhưng hơn thế nữa, nó còn làm chủ chiếc xe mướn ấy. Chủ hãng xe đã bỏ đi biệt tâm biệt tích hay đã ra khơi khi "cách mạng" ồ ạt đến cưỡng chiếm thành phố bằng A.K và mã tấu. Chiếc xe xích lô đạp này có từ đời cha nó đến đời nó, hai thế hệ đạp xe mướn tiếp nối nhau.

            Cả hai từng cong lưng đạp ngày hai buổi, đạp cả ban đêm đón đưa khách. Và họ ôm ấp ước mơ thầm kín một ngày nào đó sẽ được diễm phúc làm chủ vĩnh viễn chiếc xe. Nhưng ước ao đó vẫn xa lạ mãi với hai cha con nó từ suốt mấy thập niên ròng đến nay mới thực hiện được.

            Bây giờ, cứ mỗi chiều chiều, người ta thấy chiếc xe xích lô nằm gọn trong sân nhà nó. Và nó nghĩ từ giờ phút hân hoan hạnh phúc khó tả nên lời này, nó đã làm chủ và thực sự làm chủ chiếc xe, chớ không còn chờn vờn trong ao ước mông lung mơ hồ như thuở trước nữa.

            Nó hãnh diện đã thực hiện được giấc mơ duy nhứt mà ngày xưa cha nó đã từng âu yếm ấp ủ để cuối cùng mang theo xuống tuyền đài trong nỗi thất vọng não nề. Tội nghiệp, trong niềm vui ấy, nó không quên thắp lên một nén hương trên bàn thờ như để báo cho hương hồn cha nó biết, giấc mơ xưa của cha nó đã là sự thật.

            Thằng Hai Ngọng con của anh chị Tám Thơm, một gia đình kỳ cựu khó nghèo ở Xóm Cống. Chị Tám là người gốc gác ở đây trong khi anh Tám mới đến sau ngày đám cưới.

Gia đình đông con cũng như bao nhiêu gia đình nghèo khó khác. Trời sanh voi sanh cỏ, có bỏ ai bao giờ. Con cái vợ chồng anh sinh ra sơn sởn. Chúng cứ sòng sõng lớn lên như thổi nhờ vào hai bữa cơm chánh hằng ngày với cháo rau mắm muối làm gốc.

            Chẳng có một đứa nào từng phơi bụng phơi lưng, đưa ngực đưa tay chân cho bác sĩ khám bao giờ. Bất quá chúng chỉ uống cao đơn huờn tán, thuốc tiêu... mua cà giựt cà giựt ở mấy tiệm thuốc Bắc nằm rải rác chung quanh nhà lồng chợ Phú Lâm mà thôi. Cùng lắm là "Sưu độc bá ứng hoàn" của Nhà thuốc Ông Tiên, nằm trên đường đi chợ hằng ngày của chị Tám. 

Dù vậy cũng ít khi lắm. Tốn tiền. Hơn nữa, chị Tám trổ tài cạo gió, bắt gió, đánh lưng hay nấu một nồi xông lớn với đủ thứ lá cây chung quanh nhà là quá đủ rồi. 

            Anh Tám làm nghề đạp xích lô mướn nhưng có lẽ vì làm việc quá lao nhọc nên vướn phải bệnh lao phổi ngặc nghèo. Một chứng bệnh của lớp người nghèo khổ túng quẩn, làm việc nặng nhọc, ăn uống thiếu thốn, lâu ngày chày tháng mất dinh dưỡng, suy yếu.

Nhứt là khi đã biết bịnh, anh lại lơ là chểnh mản trong việc chữa trị. Hôm nào đau, anh uống thuốc cũng qua loa. Lúc nào thấy khoẻ, anh đạp xe thí mạng cùi.

            Anh sanh thằng Hai đầu lòng trong nỗi khấp khởi vui mừng, dòng tộc đã có người nối dõi. Ở Việt Nam, mọi người đều có chung một quan niệm ấy. Nhưng khổ nỗi, nó có tật ngọng nghệu bẩm sinh. Hai vợ chồng quả không được may mắn.

Hồi nhỏ, nó chậm lớn chậm nói. Ba bốn tuổi chưa phát được hai âm chánh trong đời nó là hai tiếng ba má, mẹ cha. Anh chị Tám rất buồn rầu âu lo nhưng đành cam tâm khoanh tay bất lực, phó mặc cho định mệnh.

            Nhưng khi phát hiện nó ngọng nghệu, cả hai không dấu được sự nhẹ nhõm, thơi thới trong lòng vì dù sao, nó không phải là thằng căm, suốt đời ú a ú ơ làm dấu chỉ chỏ. Nhà nghèo lại có tật nên nó chẳng ăn học gì, chỉ vừa biết đọc biết viết qua loa. Dù có tật và ăn học trật vuột như thế nhưng nó tỏ ra tháo vát ngay từ ngày còn nhỏ hếu.

            Thường ngày, nó lăn lóc đầu thôn cuối xóm bắt cua bắt cá giúp gia đình có thêm chút ít để cải thiện những bữa cơm hẩm hiu. Ai mướn làm gì nó cũng làm. Ai mượn chi nó cũng chẳng bao giờ từ chối. Đôi lúc nó còn tự nguyện nữa.

            Dĩ nhiên nó thường được bà con nhờ vã và sau đó họ nhét vào túi áo nó chút ít tiền còm mua kẹo bánh hoặc giúp nó góp nhóp tích tiểu thành đa đem về phụ cha mẹ. Mẹ nó cũng làm những việc chẳng nhẹ nhàng gì. Chị Tám Thơm làm nghề gánh nước mướn, một nghề tuy không vốn, nhưng cần đầu tư sức lực và thời giờ.

            Gia đình thằng Hai Ngọng quả thật là một gia đình nghèo nhứt xóm. Và cái xóm này cũng là cái xóm rách mồng tơi.

Người ta gọi là Xóm Cống vì có cái cống thoát nước từ vùng Tam Giác Mũi Tàu đổ ra sông Ông Buông, cách trung tâm Phú Lâm khoảng mười trụ đèn đường. Trụ đèn cuối cùng nằm ở đầu xóm, cạnh bên cống nước.

            Đêm đêm, nhìn từ trụ đèn leo lét vàng vọt này hướng ra phía đồng ruộng mênh mông bát ngát, cảnh vật tối om om. Chỉ rải rác đó đây từ những thum nhà lá chơi vơi, đèn đuốc mập mờ hoi hóp ma trơi. Cảnh thổ quả vắng vẻ đìu hiu như những vùng quê xa xôi ngăn cách.

            Hồi trước, nói đến Xóm Cống, người dân ở chung quanh chợ Phú Lâm đều lắt đầu ngao ngán do những ổ trộm cấp bám trụ vào đây làm sào huyệt. Đến thời kỳ dằn co đấu tranh ý thức hệ, Miền Nam         cương quyết chống Cộng sản Miền Bắc xâm lăng, bọn đặc khu ủy Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và sau này là thành ủy Sài Gòn cùng quận ủy Quận Sáu thường đưa những đội cảm tử đặc công về ngang đây đánh phá, gây rối Đô thành.

            Xóm Cống càng bất ổn hơn. Bất ổn vì nó là trạm dừng chân của đám cán bộ Cộng sản. Và cây cột đèn cuối cùng thường xuyên bị chúng đập bể bóng đèn để dễ bề di chuyển ban đêm.

            Xóm bỗng dưng trở thành cửa ngõ đưa chúng vào thủ đô sau khi xuất phát từ chiến khu Đức Hòa, Đức Huệ hay Củ Chi về qua ngã Bà Hôm, Bình Trị hoặc từ hướng Phú Định, Cây Cui đổ lên. Rồi những gia đình ở nông thôn bất ổn tuần tự kéo về đây cất nhà tạm trú loạn cào cào châu chấu, chằng chịt không sao kiểm soát nổi. Nhà chức trách địa phương hay các cơ quan an ninh quận, thành lâu lâu cũng có phối hợp hành quân kiểm tra căn cước, nhưng đôi lúc đành bó tay, nhứt là về đêm.

            Lúc ấy, Xóm Cống hãy còn nhiều nơi hoang vu, đầy những đầm vũng, ao tù. Chiều chiều, lúc vừa chạng vạng tối đỏ đèn, rái cá, chồn cáo... tha hồ chạy giỡn nhảy múa ở những lùm buội hay ven theo những dãy dừa nước từng đoạn giao ngọn nhau dầy mịt và môn sậy rậm rạp.

            Nhân lúc đất đai khan hiếm do người lánh nạn thời cuộc đổ về đây ngày càng đông và cũng do nghèo đói túng quẩn, anh Tám Thơm thừa cơ hội thuận tiện hiếm có đó bán dần dần đất đai ngày xưa anh đã           từng một thời gia công cắt ca cắt cũm lấp đầm lấp vũng mà có.

Dù lúc ấy anh rất đau lòng.

            Sau đó, anh lại cật lực trong nhẫn nại kiên trì, lấy tháng năm làm chuẩn, tiếp tục cứ lấn dần ra con lạch nước đã cạn, nằm sát bên hông nhà. Nhưng khốn thay, vừa mới thành khoảnh, anh lại bán đi để chạy gạo nuôi con và chữa trị tùy hứng căn bịnh trầm kha của mình.

            Cuối cùng, trước khi nhắm mắt xuôi tay trở về với cát bụi, bao nhiêu lần, anh tỏ ra rất toại nguyện vì vừa cất xong một thum lá, kiểu nhà sàn của người dân thiểu số miền Thượng du cho đám con nheo nhóc có nơi yên tâm tạm trú nắng mưa. Nó choáng một phần mé rạch và bắt liếm lên dãy đất liền một đôi thước tây là cùng. Dù thế, gia đình anh sinh sống quây quần đùm bọc, tuy nghèo túng nhưng trông cũng hạnh phúc ấm cúng lắm.

            Thằng Hai Ngọng sinh trưởng và lớn lên trên cuộc đất thấm đẫm mồ hôi của cha mẹ nó, thể hiện một quá trình hiện hữu và sinh tồn không mấy sáng lạng của dòng tộc. Tương lai cuộc đời nó dường như đã định sẵn như vậy rồi. Hang cùng ngõ hẻm nào nó cũng am tường, biết rất cặn kẽ rạch ròi do thời thơ ấu lang bạt không định hướng.

            Đến khi nó chưa kịp đến tuổi trưởng thành, anh Tám Thơm cũng đã mệt mỏi đuối sức nên khuyến khích nó đạp xích lô kèm với ảnh. Trông nó tội nghiệp làm sao khi thấy con người nhỏ thó, ốm yếu như tre miễu của nó, cứ mỗi sáng sáng cà thọt cà thọt đẩy chiếc xe xích lô ra lộ cái để nhảy thót lên đạp trật vuột khó khăn.

            Ban đầu, nó đạp xe một đôi giờ trong ngày. Về sau kéo dài một buổi. Thét rồi nó cũng quen dần, làm chủ chiếc xe chẳng mấy chốc. Anh Tám Thơm quá đổi an tâm khi nhìn ngắm đứa con bất hạnh ngọng nghệu của mình giờ đây đã thực sự trưởng thành trước tuổi và sẽ là trụ cột vững chắc trong gia đình để một mai thay thế anh.

            Về sau, anh giao hẳn cho nó chiếc xe để nó chánh thức hành nghề đạp xích lô mướn, tiếp nối cái nghề kham khổ lao nhọc và cũng để tiếp nối cuộc đời bươn chải bấp bênh của anh nữa. Quả đúng theo lời ông già bà cả Miền Nam thường hay nói với nhau, nghề cha truyền con nối là vậy.

Đó cũng nhằm đúng lúc bịnh tình anh Tám Thơm có mòi trầm trọng hơn. Tiền của lại eo hẹp, thuốc thang bữa có bữa không, anh không còn đủ sức để đạp xe phon phon vun vút như ngày xưa.

            Giờ đây, thằng Hai Ngọng đương nhiên trở thành một nhân vật quan trọng nhứt trong gia đình. Mà không quan trọng sao được? Nó phải tiếp tay mẹ nó chẳng những nuôi bao nhiêu miệng ăn, còn lo việc chữa trị cho cha nó nữa.

            Sáng sớm tung bửng, người ta thấy nó đẩy chiếc xe đạp mà nó đánh bóng câm niềng, tay lái... bóng nhoáng sáng trưng, tà tà chạy đi đón khách vô tư lự và yêu đời. Đến chiều chập choạng tối, người ta thấy nó đạp xe về hẻm, bóp chuông tính tinh tính tinh liên hồi. Miệng nó không ngớt hò hét ậm ự với mấy đứa trẻ nít ngay từ lúc mới vào đầu hẻm.

            Vắng nó thì thôi. Hễ có nó là có tiếng tâm.

Cả xóm thường chọc quê nó nên cũng vui.

            Căn nhà nó ở hiện nay xem như căn nhà hương hỏa do cha mẹ nó tạo dựng, nằm sát mé lạch. Con lạch nước làm nên một thời oanh liệt của xóm, ngày càng co mình thu lại nhỏ hếu.

Ghe xuồng ba lá hay tam bản lỡ không còn lưu thông thông thống được nữa, đừng nói chi là ghe thương hồ lớn đại, trước đây từng làm vui nhộn rộn rịp mặt cống nước này. Thuở ấy, có những ghe thương hồ đến từ Cái Bè, Cái Mơn, Vĩnh Long, Cái Tàu Hạ... nhứt là vào dịp Tết đông đảo tấp nập lắm.

            Nay trong khí thế "cách mạng thành công", "đổi đời", bỗng dưng căn nhà tum húm ọp ẹp với một mái lá thấp lè tè đó được nó trang trí tùy hứng nhưng đối với nó cũng đẹp mắt đáo để. Dù nó không có chút gì ý thức về mỹ thuật và kiến thức thẩm mỹ cả.

Đụng thứ gì nó sắp xếp để đầy khắp nơi do con mắt nó đã quen với những vật dụng thô sơ rẻ tiền dùng hằng ngày. Mà thực tình cũng do căn nhà nhỏ hếu hẹp té của nó nữa.

            Nó luốn cuốn đỏ mặt tía tai, đứng ngồi không yên, loay hoay nghĩ mãi không biết phải giải quyết ra sao cho hợp tình hợp cảnh khi đứng trước những tiện nghi thời đại, thực sự nó vừa mới có chớ không phải có trong mơ. Cho dù nó có muốn làm sang, làm đẹp nhưng nó cũng không thể trong đầu hôm sớm mai thay đổi nếp sống và phong cách bình dân chân quê nhanh chóng được.

            Lúc này, nó vẫn tiếp tục đạp xe xích lô kiếm cơm hằng bữa. Dù sao những chiến lợi phẩm trời cho không thể giúp nó nuôi gia đình dài lâu được. Nhưng ngặc một nỗi là hành khách rất hiếm hoi. Cái nghề nó trân quý khắng khít ế dài dài...

            Người người, không ai bảo ai nhưng lại ngần ngại khi phải ngồi trên xe để nó còng lưng đạp phía sau. Vì người ta ái nái khó chịu về cái hình thức "người bốc lột người" giữa thời buổi "cách mạng đại thành công, bình quyền bình đẳng, nhân dân đứng lên làm chủ tập thể đất nước".

            Hơn nữa, lúc ban sơ, khi Cộng sản mới cưỡng chiếm Miền Nam, mấy tay cán bộ đảng viên địa phương và đám cách mạng ba mươi đón gió trở cờ nhan nhản ở tổ dân phố, trong khí thế hồ hởi phấn khởi đã nhiều lần sanh hoạt với nó. Chúng tuyên truyền việc hành nghề xích lô đạp làm hạ phẩm giá con người, làm tổn thương ý nghĩa đấu tranh của đảng và nhà nước mới là giải thoát dân nghèo và giai cấp cùng khổ thoát khỏi sự đàn áp bốc lột của các tầng lớp bên trên. Nhà nước trong lúc rối ren chưa có biện pháp chánh thức dứt khoát nhưng nếu nó tiếp tục hành nghề như vậy là đi ngược với chủ trương đường hướng lãnh đạo của "cách mạng".

            Hai Ngọng buồn hiu. Mặt mày nó bí xị.

Nó bắt đầu ít nói. Giọng ngọng nghệu ậm ừ của nó cũng nhỏ dần nơi con hẻm đã phảng phất vẻ u trầm tang khó.

            Trong đầu óc nó lờn vờn biết bao nhiêu câu hỏi tới tấp mà nó không sao giải đáp ổn thỏa được. Nó phải sinh sống bằng cách nào đây? Nếu một may chiếc xe đạp gạo tiền của nó không được chánh quyền cấp phát giấy phép cho lăn bánh!

Và tương lai gia đình nó sẽ đi về đâu? Nhứt là mấy đứa con ngây thơ khờ dại của nó! Nó không thể nhìn chúng đói khát thét gào!

            Thực sự, lúc này nó có tiếp thu được gì ở những buổi tối lên lớp của đám cán bộ cách mạng phường khóm mà có lúc nó từng dõng dạc nói lên hai chữ "cám ơn" rất mực chân thành. "Bốc lột", "làm chủ", "giải phóng giai cấp nghèo".... nó đâu có màn về những mỹ từ đó.

Nó đâu để ý chi về những lời giải thích dong dài lạ hoắc lạ huơ trong sinh hoạt tổ. Những cụm từ lý thuyết chán ngấy ấy càng làm cho nó thêm sắt se trong lòng.

            Bởi một lý do rất dễ hiểu.

            Nó rất thực tế.

            "Bốc lột" nhưng trước đây hằng ngày, không sót ngày nào, nó đều có tiền mua đầy đủ gạo mắm, rau cải... nuôi gia đình đông người. Còn bây giờ, nó có thêm một gánh nặng nuôi nhiều miệng ăn vì đã có gia đình và có hai mặt con trong khi anh chị Tám Thơm bất ngờ qua đời, kẻ trước người sau không đầy nửa năm. Sự việc này xảy ra chỉ ít lâu sau ngày Cộng sản hoàn toàn cưỡng chiếm Miền Nam.

            "Làm chủ"? Ôi hai chữ "làm chủ" càng làm cho nó thêm đau đớn xót xa. "Làm chủ" mà nay nó đói       nhăn răng, vợ con ốm o gầy mòn, ngày ngày bữa đực bữa cái lưng lửng bụng thì thà nó bị "bốc lột" còn sướng hơn.

            Nó bắt đầu càu nhàu cau có. Nhưng nó được ưu điểm là thuộc giai cấp nghèo thành thị, thứ nghèo chí tử, nghèo rớt mồng tơi nên dù nó có phát biểu quá lời, đám cán bộ cũng nhẹ tay với nó. Ít ra cũng công khai trước mặt bàng quan thiên hạ. Trong lúc tranh tối tranh sáng, tình hình chưa sáng sủa hẳn, chúng nó làm ra vẻ sợ đụng vào chánh sách trong lý thuyết của đảng.

            Chẳng bao lâu sau, Hai Ngọng thất vọng não nề. Chiếc xe xích lô đạp làm phương tiện sinh sống của gia đình nó từ thời cha nó là anh Tám Thơm, đã được chánh quyền địa phương ra lệnh bắt buộc nó phải tức khắc đem nộp ngay cho nhà nước, chờ chỉ thị mới để xử lý.

            Nguyên do là cơ sở cho thuê xích lô đạp hiệu Đồng Tâm rất có tiếng ở đường Phú Định đã bị nhà nước kiểm kê trong thời kỳ quân quản. Nay do kiểm tra sổ sách một phần, phần khác do đám cán bộ ba mươi điềm chỉ, lời ra tiếng vào phanh phui theo thói đời thường tình, "trâu cột ghét trâu ăn" nên mới lòi ra chiếc xe xích lô đạp của nó. Chiếc xe này thuộc quyền sở hữu duy nhứt của cơ sở đang được Ban Cải tạo Công thương nghiệp Thành phố quản lý tức thuộc tài sản của nhà nước.

            Thằng Hai Ngọng bỗng dưng vỡ mộng. Nó những tưởng nhờ "cách mạng" nó sẽ làm chủ vĩnh viễn         chiếc xe xích lô đạp mà nó tưng tiu bảo trì với tất cả con tim và tấm lòng gắn bó khắng khít.

            Phản ứng của nó rất tự nhiên. Và ai trong hoàn cảnh nó chắc cũng vậy thôi. Không làm sao khác được.

Nó chửi thề ổm tỏi trong nhà, nhưng người ngoài nhiều lúc nghe mồn một. Thỉnh thoảng, nó ậm ự hai tiếng to lớn như để trút bớt những nỗi bực bội chất chứa trong lòng:

            - U... ụ ... ụ.... mẹ...!

            Kể từ dạo đó, con hẻm nhỏ ngoằn nghoèo đưa dẫn vào tận nhà nó thiếu vắng bóng dáng chiếc xe xích lô đạp cha truyền con nối, mướn tháng mướn năm liên tục không biết từ bao nhiêu năm dài mà cha con thằng Hai Ngọng xem như tài sản riêng của mình. Chiếc xe được săn sóc hằng ngày bóng nhoáng mỗi khi cha con nó không đi xe, nghỉ dưỡng sức ở nhà. Bây giờ, chiều chiều, con hẻm vắng tiếng chuông tính tinh tính tinh... quen thuộc và tiếng mấy đứa con nó vui mừng cắm đầu cắm cổ chạy ra tuốt ngoài đầu hẻm đón ba chúng nó về.

            Chiếc xe tốt đẹp, láng mướt sáng trưng của nó giờ đây tạm thời thuộc quyền điều hành của một tổ hợp vừa mới hình thành trong cấp bách để đáp ứng chủ trương "làm ăn tập thể sản xuất lớn". Vì nó được xem là công cụ sản xuất làm ra của cải. Mà đã là công cụ làm ra của cải thì nhứt thiết phải thuộc về quyền sở hữu của nhân dân và nhà nước.

            Nhà nước làm chủ nhân ông độc nhứt và nắm quyền quản lý phân phối lợi nhuận. Hai Ngọng vô         hình trung trở thành một tổ viên đơn thuần không hơn không kém những tổ viên tập tểnh vào nghề. Nó được ban điều hành phân công mỗi ngày xử dụng chiếc xe một buổi và buổi còn lại giành cho người khác khai thác.

            Hồi xưa, nó săn sóc lau chùi chiếc xe mỗi lần chờ rước khách hay những lúc nghỉ ở nhà, vô dầu mỡ nên xe chạy ngọt xớt. Chỉ sau một thời gian ngắn làm chủ và làm ăn tập thể theo sự chỉ đạo của đảng, nó rất đau lòng mỗi khi nhìn thấy chiếc xe thân yêu đẹp mắt ngày xưa trở thành bẩn thỉu, mui xe vành bánh đóng bụi đất bụi cát dầy cui, nệm xe lên nước đen ngòm rít chịt.

            Nó bực tức khó chịu. Nhưng khốn nỗi, nó chẳng biết phải làm sao? Các thành viên trong tổ hợp đều là chủ nhân ông cả mà! 

            Chẳng lẽ nó cứ nai lưng trần, phí công phí sức lau chùi sạch sẽ, săn sóc mãi trong khi thời giờ làm ra của cải để sinh sống đối với nó quý hiếm vô cùng. Hơn thế nữa, chẳng một ai trong tổ hợp có chút ít ý thức trách nhiệm hầu tiếp tay bảo quán chiếc xe cùng với nó.

            Nó chỉ biết than thở. Nó chỉ biết phân trần cùng bà con và bạn bè lối xóm.

Nó phân bua: "cha chung chết, không ai khóc" là vậy. Chiếc xe do nhiều người làm chủ, tình trạng xuống dốc của nó chẳng có gì là lạ.

            Có chăng là thằng Hai Ngọng lấy làm lạ cho sự "làm chủ tập thể" vô trách nhiệm ấy. Nó thêm chán        chường ngao ngán khi hồi nhớ một số kỷ niệm tốt đẹp về chiếc xe thừa kế của cha nó từ hơn mấy thập niên nay. Lúc ấy, chiếc xe luôn luôn được tu bổ săn sóc đúng mức. Và lúc ấy, nó hãnh diện như có được một chiếc xe mới cáu cạnh.

            Đã ế khách hàng, thêm chạy một buổi trong ngày, phần thu nhập của nó sa sút thảm thương. Nó không đủ tiền để mua thức ăn thức uống và vật dụng tiêu dùng tối thiểu vì gạo muối, thịt cá, đường sữa, rau khoai.... theo tiêu chuẩn phân phối nhu yếu phẩm hằng tháng theo hộ gia đình không đủ để nó dùng suốt trong ba mươi ngày dài mà bụng dạ cơ thể con người không thể nhịn được. Nó bắt đầu tháo bán lần lần những "chiến lợi phẩm" từ thinh không trên trời rớt xuống khi nó đi hôi của ở những ngày nhập nhầy đen tối trước 30 tháng Tư.

            Nhưng cái đau đớn nhứt của nó lúc bây giờ là mỗi buổi trong ngày, nó phải xử dụng tận lực sức khoẻ của nó để cố tạo ra tiền của nuôi vợ nuôi con. Chiếc xe xem như lăn bánh trọn vẹn đủ bốn tiếng đồng hồ liên tiếp thuộc thời khoảng tổ hợp giành cho nó. Nó không còn giờ giấc nghỉ ngơi lấy sức dù mươi phút một khắc đồng hồ.

            Nó tiếc nuối cái thuở vàng son ngày nào nó thường hay đậu xe ở gốc cây râm ran bóng mát nơi các công viên, nằm nghe chim chóc líu lo những nhạc bản chẳng thành lời để cuối cùng ngủ ngon lành, sải giò sải cẳng bất cần đời.

Ôi! Cái thuở hạnh phúc êm đềm ấy bây giờ còn đâu!

            Bây giờ về đến nhà mệt lã, nó đâu có thời giờ rổi rảnh thảnh thơi như ngày xưa để thỉnh thoảng chở vợ con chạy tà tà rong chơi hứng gió hay dạo quanh các khu phố thương mại náo nhiệt ở Chợ Lớn Mới, Chợ Lớn Cũ nữa. Một chút hạnh phúc, nhàn rỗi thư thái tối thiểu của một gia đình ấm cúng nay đã tan biến mất hẳn rồi!

            Bữa nay, nó mang ra chợ trời bán cái máy truyền hình mà từ ngày nó mang về nhà chỉ để chưng làm cảnh. Ngày mai, nó bán cái radio hiệu National mấy băng tầng cho một tên cán bộ Miền Bắc đang săn lùng tìm kiếm như một báu vật chưa từng thấy xuyên suốt mấy mươi năm đăng đẳng ở thiên đường Miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

            Rồi chẳng bao lâu, nó tháo cái quạt treo ở trần nhà ràng rịt chở trên chiếc xe xích lô đạp trực chỉ hướng chợ trời chợ chạy. Rồi bao nhiêu vật dụng khác nữa... Vì quá túng thiếu, nó không thể làm khác hơn được.

            Dù vậy, trông nó chẳng có gì luyến tiếc cả. Vì từ dạo được dịp thực sự làm chủ những vật dụng ấy, nó có cơ hội nào đâu để xử dụng, dù một lần cho thỏa tánh hiếu kỳ.

            Ngày xưa, vào thời "Mỹ Ngụy ác ôn", "gây nợ máu với nhân dân", nhà nó ở trong con hẻm nhỏ nhưng bà Sáu Dậu ở căn nhà mặt tiền đường Phú Định có cho nó kéo điện xài. Đêm đêm, căn nhà ọp ẹp của nó cũng có điện chiếu sáng trưng. Nhờ vậy, cha con chồng vợ nó quây quần ấm cún ở những bữa cơm muộn      màng trong ngày để trông rõ mặt mày nhau, càng thêm thương yêu, khắng khít trong kiếp đời quá ư nghèo khó.

            Bà Sáu Dậu đã di tản vào những ngày chót lúc Sài Gòn lên cơn sốt ác tính, đang hấp hối. Mừng cho bã đã mau chân mau cẳng. Mừng cho bã kịp thời, đúng lúc.

            Hú hồn!

            Hú vía!

            Nếu không, chắc chắn thế nào bà ấy sẽ không bao giờ được yên thân với đám răng đen mã tấu Miền Bắc, bản tánh tham lam, khát khao của tiền. Trái lại bầm dập là khác.

            Nhưng giờ đây, đối với thằng Hai Ngọng là một điều bất hạnh. Căn nhà kinh dinh đồ sộ của bà Sáu Dậu ở mặt tiền đường ngon lành đó đã bị kiểm kê đóng chốt. Rồi họ niêm phong trước sau kín mít. Cửa nẻo khóa chặt nhiều vòng, hắt hiu buồn tẽ như tòa nhà ma. Bà con chung quanh đồn đãi căn nhà thênh thang ấy sẽ được biến thành một nơi sinh hoạt của phường khóm.

            Nào ngờ!

Chữ ngờ tai hại và đáng sợ này luôn luôn xảy ra dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì chỉ mấy tháng ngắn ngủi tiếp theo sau đó, một tên cán bộ lạ hoắc lạ huơ đến chiếm ở. Nghiểm nhiên nhiên như một chủ nhân ông không bằng!

            Nó kiểm soát từng nơi từng chỗ. Rồi đương nhiên cắt đường dây điện mà bà Sáu cho thằng Hai Ngọng câu, chỉ lấy chi phí tượng trưng hằng tháng như để giúp đỡ gia đình nó. Việc này đã có từ ngày cha mẹ nó còn sinh tiền, ngày ngày còng lưng đưa rước khách và xệ bả vai gánh nước cho thiên hạ trong xóm xài.

            Nay hằng đêm, nó sống trong cảnh tối om với ngọn đèn dầu bong bóng lờ mờ leo lét như ma trơi. Có lẽ vì vậy mà bà con thấy nó chẳng bận bịu gì khi bắt buộc phải buông tay mấy thứ dụng cụ điện không thể xử dụng được. 

            Mỗi lần nó lưu đồ đạt đi bán, nó ậm ự từng tiếng một rồi cười ngất:

            - Của... của... của Tàu đem đổ âm... âm... ty cũng phải.

            Nghèo đói quá mức, thiếu thốn tận cùng, nó bán nốt ngôi nhà nó đang ở do chính bàn tay kham khổ của nó dựng lên thành khoảnh khi nó tiếp nối cuộc đời lận đận của cha mẹ nó. Nhờ có chiếc xe xích lô đạp gạo tiền nên trước đây, cứ chiều chiều trước khi về nhà nghỉ ngơi, nó chở một chuyến đất hay đá bể, sỏi, gạch bể lấp nên. Nó tha cắt ca cắt cũm như vậy từ suốt cả một thập niên. Đằng đẵng như vậy mới có ngày này.

            Thằng Hai Ngọng chẳng phải là trường hợp điển hình duy nhứt ở cái xóm nghèo mạt rệp từ đường đó. Đa số nhà cửa lớn nhỏ lút nhút ở đây đều thay đổi chủ cả. Những người ở mặt tiền đường chịu đựng không nổi hoàn cảnh đổi đời nghiệt ngã, trái ngang đành phải gạt nước mắt bán ngôi nhà mình cho kẻ lạ không biết từ đâu đến.

            Có những ngôi nhà cổ, vườn tược mông mênh, từng chứng kiến cả đôi ba thế hệ tiếp nối nhau quây quần sinh sống. Nay chủ nhà phủi tay cái rột trong nuối tiếc để mua lại một nơi trú ngụ sơ sài trong con hẻm này với ước mơ mong manh cầm cự được đến đâu hay đến đó.

            Còn đám chủ cũ trong con hẻm thì sao?

Một khi đã buộc lòng, ngậm ngùi buông tay bán đứt căn nhà lụp xụp tồi tàng nơi họ lánh cư và an phận từ vài mươi năm nay, họ dọn đi một nơi nào đó xa gần không ai biết, biệt tâm biệt tích. Không còn ai nhắc tới nữa!

            Họ hồi hương?

Hay đi kinh tế mới?

Hoặc tạm nương náu lánh thân ở một xó xỉnh đèo heo bùn lầy nước đọng ở thành phố đang thực sự trở mình trực chỉ địa ngục trần gian, đúng theo qui luật của sức mạnh đồng tiền. Không của tiền dư dả để chịu đựng những mất mát của cuộc đổi đời tai hại thì phải thối về "hốc bà tó" để ở vậy!

            Riêng thằng Hai Ngọng còn được chút ít may mắn hơn. Sát bên hông căn nhà của nó vừa mới bán còn có một lạch nước. Con lạch không rộng, không sâu. Dòng nước bẩn thỉu sẫm đen quanh năm chảy lờ đờ chầm chậm, uốn éo ngoằn ngoèo mang chở đủ loại rác rưới ô tạp.

Nó cất lên một sàn cây tạp nhạp nhỏ hếu rồi dựng một mái lá lụp xụp tạm bợ đủ để che nắng che mưa. Nói che nắng còn hợp lý. Chớ che mưa thì tội cho nó biết dường nào.

            Mái nhà nó dột tứ phía. Thói thường người đời hay nói, đã nghèo lại mắc cái eo là vậy. Có hôm, gia         đình nó xúm xích ngồi ăn cơm rồi cơn mưa trái mùa đến bất chợt làm cho cha con vợ chồng nó phải tự động hối hả di chuyển, dời đến chỗ này chỗ nọ nhiều lần mà không tránh khỏi nước mưa nhểu từng giọt từng giọt lạnh lùng trong nồi canh lểnh lảng của gia đình nó.    

            Thế mà mấy đứa con nó vẫn chùm nhum bám theo, vui vẻ cười thả ga. Trông chúng nó vui vẻ ưng ý như thường.

Đứa thì và cơm tỉnh queo như bên ngoài chẳng có mưa gió gì cả. Đứa ngỗi lạnh lùng, chậm rãi gấp rau luộc chấm nước cá kèo kho, mặc kệ những xáo trộn bề bộn bất chợt vừa xảy đến trong bữa ăn. Chúng nó quả thật hồn nhiên vô tư, bất cần. Chúng chẳng thấy có gì lạ cả vì lâu nay đã quen với lối sống "du canh du mục" như vậy.

            Nhưng tội nghiệp vợ chồng thằng Hai. Nó thì có thừa can đảm do vốn là thằng lục lăn lục lửa ngày xưa nên dễ dàng che dấu nỗi khổ niềm đau của nó tận thăm thẳm bên trong. Còn con vợ nó, bản tánh đàn bà yếu đuối, có quá nhiều tình cảm nên đôi mắt cứ đỏ hoe hoài.        

            Nhà quá chật hẹp, tồi túng, đi ra đi vô chạm phải mặt nhau cho nên ít khi thấy nó ở nhà. Nó để giành cái khoảng trống không dưỡng khí hạn chế ấy cho những người thân của nó, cho vợ con nó. Riết rồi, nó sống ngoài đường phố nhiều hơn vì ở nhà thấy buồn chân buồn cẳng. Cuộc đời nó giống như đa số lúc bấy giờ, chen nhau đổ xô ra đường phố tìm sống nhưng đối với nó lại có một lý do riêng.

            Bà con xa gần nhận thấy nó sộp hẳn người đi thấy rõ, dào dào rã rượi. Nó buồn hết biết được. Con người hệt hạc hề hà, luôn mồm ậm ự làm vui chòm xóm đã chết hẳn trong nó rồi!

            Ấy vậy, đám cán bộ phường khóm cứ tới lui sinh hoạt với nó luôn. Mỗi lần như vậy, nó lặng thinh không nói. Nó phản đối thụ động. Thái độ của những người bị áp bức.

Nhưng sắc mặt nó đã nói lên sự bất đồng ý của nó rồi. Nó xụ mặt buồn hiu xu xị trong khi khoé mắt nó vươn vươn bao nỗi lo lắng đang dấy lên trong lòng.

            Đôi lúc sự trao đổi nhàm chán làm cho nó cau có, bực mình run lên. Nó giận cành hông. Mặt mày nó bỗng dưng trở nên xanh lè tái mét như tàu lá chuối non, cắt dám không ra một chút máu. Vợ nó biết ý, cứ theo đứng cạnh bên, lén lút thúc cùi chỏ vào hông sợ nó có phản ứng bốc đồng, nói ẩu mang họa. "Tránh voi chẳng xấu mặt" mà!

            Bọn cán bộ ăn nói như vẹt. Chúng bảo nhà cửa và nếp sống của nó không phù hợp và không xứng đáng với những tiêu chuẩn của con người mới xã hội chủ nghĩa, chủ nhân ông của đất nước độc lập tự do, thống nhứt phú cường. Giờ thì chúng đã hoàn toàn kiểm soát được thành phố, đã thành công áp đặt chế độ vô sản chuyên chính sắt máu trên toàn cõi lãnh thổ từ Nam chí Bắc.

            Chúng tranh thủ nó bằng những lời lẽ đầu môi chót lưỡi ngọt lịm đường phèn. Nhưng thực sự chúng úp úp mở mở để lộ dụng ý rúng ép hăm he nó chấp thuận đi sản xuất ở những vùng kinh tế mới. Nơi này bọn chúng mô tả như một thiên đàng ở thế gian, nơi ai ai cũng có cơ hội làm giàu, phất lên như gió chẳng mấy hồi.

            Tuy thất học, tầm suy nghĩ chậm lụt và có giới hạn nhưng bản chất mộc mạc chất phát trong hoàn cảnh trầm thống tuyệt vọng đó giúp thằng Hai Ngọng tỉnh trí và sáng suốt lạ lùng. Quả thật lạ lùng vô cùng, đến đỗi con vợ nó cũng ngạc nhiên.

            Hơn nữa, nó không phải là hạng người ham mê bạc tiền quá đáng. Nó không có những ảo tưởng mơ hồ xa vời. Nó thuộc hạng người rất mực thực tế với đôi chân rắn rỏi đứng vững vàng trên mặt đất. Thực sự trong thâm tâm, lúc bấy giờ, nó chỉ cầu mong có dôi bữa cơm ấm lòng ấm dạ hằng ngày với một túp lều ấm cúng là nó thấy đời nó lên hương, hạnh phúc hơn lúc nào hết.

            Nó cương quyết không chấp nhận xa rời cái Xóm Cống nghèo nàn đã từng trông thấy nó sinh ra đời và lớn lên quanh quẩn những đầm vũng lầy lội mà nó từng bập bũm suốt một thời thơ ấu dại khờ. Cuốn rún của nó còn ở đây.

Dòng tộc của nó ở đây. Nó không sao an tâm rời bỏ cho đành.

            Nó cương quyết sẽ chết ở đây cũng như cha mẹ nó ngày trước vậy. Nó không thể rời cuộc đất nó đã đổ mồ hôi góp nhóp làm thành khoảnh dù bây giờ nó đã bán tất cả để nuôi thân, nuôi gia đình.

            Nhưng dù có bán đi, mỗi ngày thằng Hai Ngọng vẫn nhìn thấy nó, nhìn thấy bàng bạt đó đây         những "đường xưa lối cũ" của "những ngày xưa thân ái", những hình ảnh thân thương trân quý, những gương mặt khắc khổ đầy nghị lực ngày nào của cha mẹ nó, khung cảnh nheo nhóc khó nghèo nhưng đầm ấm thuận hòa của anh chị em nó khi tất cả đều chung lưng đâu cật cố gắng ngoi lên bằng mồ hôi sức lực của riêng mình.

Cho dù định mệnh oái oăm và khắc khe không cho nó đạt thành ước vọng, cái ước vọng duy nhứt gìn giữ để lưu lại cho các con nó. Nó không thể rời căn nhà xiêu vẹo trống toát và dột từng nơi từng chỗ, rung rinh rùng mình theo từng cơn giông to bão lớn.

            Nhìn quanh quất, nó chính là người cố cựu còn sót lại ở con hẻm này, nơi gốc rễ cội nguồn mà nó thường thố lộ cùng những người lối xóm. Tất cả hình như là những người chủ mới đến định cư. Nó hãnh diện sẽ được chết trên con lạch bùn đọng, rác rưởi thối om, vào mùa nắng nước ao tù lềnh lềnh đen ngòm với muổi mồng vo ve không đêm nào nó ngủ yên giấc được.

            Vì một lý do tình cảm. Nó muốn được như cha mẹ nó đã xuôi tay ấm cúng cũng trên vạt đất hiền hòa nghèo khổ này.

            Đôi lúc, đám cán bộ giở giọng hống hách quá đà, đe dọa rúng ép nó. Nó đang ở vào tận đường cùng, con đường chết trước sau không thể tránh được. Nó tự ví như "người cùi không biết sợ lở". Nó quyết định làm liều. Nó không nhân nhượng.

Nó chẳng còn sợ chi cả. Nó chẳng ngán một ai.

            Nó đương đầu ăn miếng trả miếng dứt khoát với đám cán bộ vô tâm vô hồn này. Nó khẳng định sẽ không bao giờ và chẳng bao giờ chấp nhận dời nhà đi đâu cả. Chết thì chết, nó vẫn chết ở đây. Ai mà không một lần chết bao giờ.

            Nó còn cho biết, nếu phường khóm áp chế bức bách quá, nó sẽ tẩm xăng tất cả gia đình rồi nó chích cho một diêm quẹt là xong một kiếp người. Nó thách thức mấy tên cán bộ phụ trách kinh tế mới cứ xem ở Xóm Cống này có ai còn ham mê thích sống nữa không?

Như vậy, toàn thể gia đình nó lớn nhỏ sẽ cháy tan thành tro bụi cùng với cái sàn lá thân yêu của nó cho vừa lòng đảng và nhà nước. Thế là nó được tạm thời để yên lây lất trong cảnh khó nghèo nghiệt ngã chưa từng thấy trong đời.

            Hôm nào, hiếm hoi lắm, có được chút ít tiền còm do trúng mối rước du khách ngoại quốc Đại Hàn, Nhựt Bổn, Đài Loan, Chiêu Nam... qua dọ dẫm thị trường, thương tình "buộc boa", nó mượn hơi men ru ngủ, vỗ về và xoa dịu cuộc đời rách bươn tơi tả, vô phương cứu chữa. Những lúc đó, người ta nghe nó lại ậm ự mãi hai chữ quá quen tai:

            - U... ụ... ụ... mẹ!

            Rồi im lặng. Một sự im lặng đến độ lạnh lùng kỳ lạ. Nhưng cũng rất dễ hiểu. Nhưng cũng rất dễ được cảm thông

            Người ta không nghe nó nói tiếp thêm nữa. Có lẽ nó muốn dồn nén những uất nghẹn và bất bình vào trong sâu thẳm lòng nó chăng? Hay nó tưởng tiếc hồi nhớ khoảng thời gian "huy hoàng" trước đây, khi nó tiếp tục nối bước theo cái nghề đạp xe xích lô kham khổ của cha nó?

            Nó đâm ra tiếc hùi hụi, tắc lưỡi thở vắng than dài. Thuở đó, dù thực sự có kham khổ nhưng không đến đổi trầm thống xác xơ như ngày hôm nay. Nhứt là về mặt tinh thần và tình cảm, bao giờ nó cũng hưởng được trọn vẹn những giây phút bình thản, những ngày tháng yên ổn.

            Ngày ấy, mỗi khi trời rựng sáng, anh Tám Thơm, cha nó tà tà kiếm vài cuốc xe bỏ túi làm vốn sơ khởi. Rồi anh quày quả đạp xe trở về nhà đưa tiền và chở má nó đi chợ Phú Lâm, cách nhà ước chừng vài trăm thước.

            Xong xuôi đâu đó, cha nó thong dong vào quán nước chị Năm Hứng hay anh Hai Quẩy, ăn một tô hủ tiếu thịt bò kho hay một tô mì khô mì nước hương vị rặc Tàu lưu vong năm bảy đời, uống một ly xây chừng bỏ bụng mới chịu tiếp tục đi rước khách. Đến quá trưa, cha nó mới về nhà ăn cơm quây quần với đám anh chị em nó trong không khí gia đình nghèo túng nhưng thực sự ấm cún.

            Ngủ xong một giấc trưa ngắn ngủi, anh Tám Thơm lại tà tà đẩy xe ra khỏi ngõ hẻm, cà rịch cà tang đi kiếm khách đợt chiều. Tiền thu buổi này đến khoảng chạng vạng là đủ trả tiền mướn xe trong ngày. Cứ theo thông lệ từ nhiều năm nay, trước khi về nhà, cha nó ghé cơ sở Đồng Tâm đóng tiền mướn xe đúng với giao kèo thuê mướn. Ngày nào cũng như ngày nấy. Không hề nghe cha nó bị chủ cơ sở Đồng Tâm trách móc lôi thôi.

            Nhiều buổi chiều, anh Tám Thơm nhớ đến vợ con nheo nhóc, thường ngày ăn uống thiếu thốn, thèm thuồng nên ghé vào quán chú chệt già gầy ốm tong teo, giọng khàn khàn, có gian hàng di động ở chéo chéo ngả tư Cây Gỏ. Anh mua một gói xá xíu hay thịt heo quay hoặc gà luộc Xiêu Xiêu, hoặc lòng heo, thịt đầu heo phá lấu... rồi treo lủng lẳng tòn ten ở hông xe làm cho buổi cơm chiều hôm ấy thêm thịnh soạn và đậm đà.

            Thằng Hai Ngọng hồi nhớ nó thường hay chạy ra lóng ngóng ở đầu con hẻm đón cha nó về. Đôi ba ngày, nó nhận được một vài món quà lặt vặt, tuy không đáng giá bao nhiêu nhưng vẫn là niềm hạnh phúc vút cao của nó lúc ấy.

            Trước ngày Miền Nam bị Cộng sản xâm lăng Miền Bắc cưỡng chiếm, thằng Hai Ngọng tiếp tục cuộc đời đưa rước khách của cha nó, cũng với chiếc xe xích lô đạp đã nuôi nó từ nhỏ đến tuổi trưởng thành. Cuộc sống của nó vẫn không hơn kiếp đời bất hạnh của cha nó bao nhiêu nhưng chẳng kém chút nào. Nó tỏ ra rất bằng lòng và sung sướng giữa thời buổi chiến tranh nhiểu nhương dai dẳn, sinh tử mất còn không biết lúc nào.

            Mỗi chiều nó về nhà, mấy đứa con nó cũng ra đầu ngõ, lóng ngóng trông trước trông sau như nó ngày xưa. Chúng cũng có thói quen như nó hồi nhỏ từng đưa mắt tìm bóng dáng chiếc xe xích lô đạp quen                  thuộc và hình ảnh thân quen nhứt đời, rồi la ó ầm vang lên:

            - Ba về! Ba về!

            Dĩ nhiên, chúng nó rất hân hoan mừng gặp lại ba nó sau mấy giờ vắng mặt. Chúng nó cũng toại nguyện khi được thằng Hai Ngọng chở trên xe để cười ngắc nga ngắc ngoải hãnh diện với đám trẻ nhỏ trang lứa trong xóm.

            Cuộc đời thằng Hai Ngọng cứ tiếp tục như thế, ngày tiếp nối ngày để thỉnh thoảng cuối tuần, những khi trúng mối, nó tạt qua khu bình dân Minh Phụng, Cây Gỏ nốc một vài lon bia hộp Mỹ, nhâm nhi giò heo nấu vã cầy nóng hổi thơm phức, cục nào cục nấy to bằng cườm tay người lớn.

Nó rất thích cảnh chen chúc  thân tình bình dị khi ngồi chùm nhum trên mấy cái ghế cây đủ cỡ, thấp lè tè bên lề đường. Nó rất thích cùng với vài bạn bè đồng nghiệp tâm đắc, tha hồ đấu chuyện trời trăng mây gió, vô thưởng vô phạt, những mẫu chuyện chẳng hề làm phiền hà hoặc mếch lòng một ai cả.

            Lúc về đến nhà, nó chao đảo ngả nghiêng, đã đời quá rồi. Nó vội vàng đẩy ngay chiếc ghế bố ra sân trước nhà, nằm sải tay sải chân hứng mát. Rồi nó kéo vạt áo lá lên, phơi cái bụng thon thon gân guốt đầy thẹo. Đây là hậu quả của những trò chơi bạt mạng lúc nhỏ nó hay tụ năm tụ ba, không ngớt phá chùa phá miễu..

            Ấy thế, nó không đánh mất thói quen cười hề hà cởi mở, khoe cái bụng thẹo của nó với bạn bè lối       xóm. Đám nầy, chiều chiều cũng đã gật gù vì hơi men bia hộp của Mỹ.

            Nó vỗ bụng bành bạch bành bạch:

            - Ấy... ấy (lấy) bụng ở... ở... đời mà!

            Không biết nó có hiểu chút ít gì về triết lý cái bụng của tiền nhân hay không? Việc này chỉ có mỗi mình nó trả lời đích xác mà thôi.

Dù sao, bà con vẫn khen nó vì thường nghe nó nhắc nhớ đến cái bụng trong sinh hoạt hằng ngày. Đại thể như: thằng này hay thằng kia "tốt bụng" giúp đỡ nó, "suy bụng ta ra bụng người", "bụng làm dạ chịu" v.v...

            Có người thắc mắc, tiếp tục hỏi, nó trả lời gọn hơ. Cha mẹ nó hay nói với nó như vậy. Nó nghe hoài quen tai và hiểu như vậy nên tiếp tục nói theo chớ có gì lạ mà theo hỏi mãi.

            Nhiều khi nằm phơi bụng sung sướng thoải mái, nó bùi ngùi tưởng nhớ đến anh chị Tám Thơm, cha mẹ nó lúc sanh tiền kham khổ lút đầu, cực nhọc trần thân khoai củ nhưng chẳng hề được hưởng một phút thực sự thảnh thơi nhàn nhã, chẳng hề được biết một giây thực sự hạnh phúc trọn vẹn. Nó nhớ quá nhiều, nhiều thật là nhiều những kỷ niệm về cha mẹ nó với những món nợ trời cao biển rộng, những món nợ tình thương láng lai mà dù có trả trọn đời mãn kiếp, nó vẫn chưa trả xong.

            Nhớ đến đây và chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ dằn dặt thân xác nó rồi. Nó nhìn đâm chiêu lên thinh không hồi hướng cha mẹ mà nó tin tưởng hãy còn lãng vãng đâu đó, quanh quẩn bên nó. Nó thấy dáng vóc         của cha mẹ đang hiện về để phù hộ gia đình con cái nó. Rồi nó thầm nghĩ phải chi lúc này, ở giờ phút hạnh phúc tột cùng này của nó, anh chị Tám Thơm còn sống, dù đã quá xa cái tuổi cổ lai hi đi nữa, nó đoan quyết với mọi người:

            - Ui... ui... (Tui) chắc chắn thấy cảnh này, hai... hai... ông bà sẽ vui sướng lắm. Hai... hai... ông bà không khỏi cảm động, khóc... óc... thật tình cho mà... mà coi.

            Bà con thân quen kế cạnh nhìn cảnh thảnh thơi thư thái của nó mà thèm thuồng. Dù nghèo khổ thiếu trước hụt sau nhưng nó vẫn có những phút giây bản thân hạnh phúc thoải mái, gia đình ấm áp thuận hòa. Người ta khen nó biết sống vì theo họ, có những người sự nghiệp kinh dinh, tiền của dư dả như núi như non chưa chắc đã có những lúc hạnh phúc tuyệt vời, không mảy may vướng bận như nó.

Vì những người này chỉ mải mê chuyên lo tính toán bạc tiến bạc cả đầu. Cho nên ở đời biết sống mới khó mà đời thiếu sự thoải mái thanh thản, thiếu sự tự nhiên thì hẳn không còn ý nghĩa để lôi cuốn hấp dẫn nữa.

            Nó nằm tréo cẳng, nhịp nhịp bàn chân chai sần cười ngất. Nó trả lời gọn hơ một cách bộc trực chân quê nhưng không kém phần đùa vui hóm hỉnh. Nó nằm ở đây cốt để nhìn thẳng lên không trung đếm thời gian, chờ đợi đêm về đầy sao trời hầu xem cho rõ con sao chiếu mạng của nó nằm ở đâu?

            Nó có biết Ất Giáp gì về những con sao Mai, sao Hôm, về Thiên hà Thiên tào hay Bắc đẩu Đại        Hùng Tinh... giữa muôn vạn tinh tú trên trời, ngoài câu ca dao nó học lóm đâu đó mà thỉnh thoảng nó ngâm nga nhịp nhàng to tiếng:

                        Sao vua chín cái nằm kề...

            Chỉ vỏn vẹn có mỗi một câu duy nhứt ngắn ngủi đó rồi nó cụt hứng luôn. Nó chưa tìm thấy con sao chiếu mạng của nó nằm ở nơi nào trên bầu trời bao la vô tận. Đối với nó, vũ trụ thật huyền bí dù nó có cố công tìm hiểu nhưng chẳng bao giờ nó đạt được ý nguyện mình.

            Nhưng có một điều là nó luôn luôn tỏ vẻ bằng lòng lắm. Vì theo sự hiểu biết nong cạn và sự tin tưởng tuyệt đối của nó là trên thiên hà, nhìn kỹ con sao nào, dù lớn dù nhỏ, vẫn long lanh lấp lánh sáng trưng. Cho dù có những con sao lờ mờ, đúng với bài học thuộc lòng nó học rất khổ công ngày xưa, đã từng bị thầy cô hét la quở phạt:

                        Đêm qua ra đứng bờ ao

            Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ...

            Dù những vì sao xa diệu vợi ngút ngàn ấy có mờ nhạt đậm lợt thế nào, nó vẫn trông thấy rõ ràng dưới con mắt thường tình trần tục của nó. Nó khẳng định như thế.

            Có lẽ do đó, nó càng tin tưởng để gởi gấm niềm tin vào con sao chiếu mạng đâu đó của nó. Và một ngày quang đảng tốt trời, nó hy vọng nhứt định sẽ phất lên để đền bù những ngày tháng hẩm hiu khổ ải như ông già bà cả thuộc thế hệ cha mẹ, ông bà nó thường hay nói: "chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời". Hay văn vẻ hơn: "bỉ cực thới lai". Để rồi nó ngủ quên trong giấc mơ đằm thắm êm đềm ấy lúc nào không hay.

            Giờ đây, nơi căn nhà sàn chật chội hẹp té, rung rinh xập xình những khi mấy dứa con nhỏ của nó chạy giỡn, nó nhớ lại những ngày đã qua khi đối diện với thực tế phũ phàng đang ụp vào gia đình nó. Ít học, thiển cận nhưng không hiểu sao lúc này nó sáng dạ lắm.

Nó biết so sánh những mảnh đời đã từng đi qua nhanh chóng trong cuộc sống của nó. Lâu lâu lại nghe nó to tiếng:

            - U... ụ.... ụ.... mẹ!

            Nó nói với con vợ nó:

            - Giải phóng "phỏng d...". U... ụ... ụ... mẹ! Đồ nói dóc, xạo hết chỗ nói (xã hội chủ nghĩa). Miệng nói là đấu tranh bênh vực quyền lợi của giai cấp nghèo nhưng dân nghèo ngất ngư tận bùn đen, dở chết dở sống, còn giai cấp lãnh đạo trước đây nghèo sặt máu, kéo về thành phố với quần xà lỏn khăn rằn, ngày càng giàu nức trứng.

            Con vợ nó cản ngăn không cho nó phát ngôn bừa bãi, có ngày thấu tai phường khóm mà nguy khốn. Cộng sản chẳng có nương tay. Công an khu vực có mạn lưới tai mắt cùng khắp, kiểm soát gắt gao, theo dõi từng đường đi nước bước, từng cử chỉ hành động và lời nói của mọi người.

            Dồn nén những bất bình và bất công dày vò không thôi nơi nội tâm, nó tìm một lối thoát vượt khỏi niềm đau ray rứt triền miên. Bao nhiêu thôi thúc dằn xé nội tâm đó từng chập làm cho nó cứ liên tưởng những giây phút êm đềm thoải mái dưới chế độ Mỹ Ngụy "người bốc lột người", khi chiều chiều nó nằm sải chân sải cẳng trên cái ghế bố để trước sân nhà cũ của nó.

            Trong giờ phút trầm thống, bế tắt đen tối này, nó tắt lưỡi luyến tiếc khi nhìn thấy cái ghế bố ngày xưa vẫn còn y nguyên đó, dù được chầm khíu thêm bằng mấy tấm bao bố chỉ xanh nó hôi gạo ngày trước. Cái ghế bố cũ đầy ấp kỷ niệm ấy bây giờ không giúp nó nằm thoải mái ở trước sân nhà để thẳng nhìn lên không trung đếm sao trời, giúp nó tìm xem cho rõ con sao chiếu mạng của nó lúc này ra sao? Vì cái nhà sàn của nó chỉ vừa đủ để làm nơi tạm ngủ ban đêm cho cả gia đình nó.

            Con vợ nó từ dưới bếp te te đến gần bên nó, hóm hỉnh chọc quê:

            - Thôi đi cha nội ơi! Đừng có mơ mộng viễn vong để mà lại thất vọng, hoài công. Con sao chiếu mạng của cha đành rành đây rồi mà cha không thấy! Tìm đâu cho xa thêm mỏi mắt, mệt thân mệt xác, khổ trí lao tâm.

            Con vợ nó kết thúc gọn hơ:

            - Đó là con sao "chàn hảng" mà cha không thấy đó thôi.

            Trời bên ngoài tối om om như thường ngày vì thiếu ánh đèn điện năm xưa.

Ngọn đèn dầu leo lét lung linh lờ mờ trong nhà nó càng tăng thêm vẻ đen tối, hắt hiu u buồn.

            Thằng Hai Ngọng nóng mặt, cố ráng gân cổ cãi lại con vợ nó:

            - Mầy ăn nói tầm bậy tầm bạ! Bà con nghe họ cười thúi đầu cho mà coi. Mầy không có phong cách và lối sống gương mẫu trong sạch của một chủ nhân ông "đất nước thống nhứt phú cường". Mầy không xứng đáng với tiêu chuẩn "đạo đức cách mạng". Tao thay mặt Đảng và Nhà nước cảnh cáo mầy đây. Liệu hồn đó nghe cưng!

            Thằng Hai Ngọng bây giờ nói năn khá lưu loát nhờ được học tập chính trị thường xuyên ở tổ dân phố mỗi cuối tuần. Nó bắt đầu bập bẹ những ngôn từ cách mạng, những cụm từ rổng tuếch rập khuôn mà nó thừa dịp cố tình lập đi lập lại với một giọng chế riểu pha trò.

            Nằm gát tay lên trán trên sàn cây, nó nhìn xuyên suốt mái lá ở những nơi nó chầm khíu lung tung, nó thấy lấp lánh một hai vì sao lạc vẫn sáng trưng. Nó vụt nhớ đến con sao chiếu mạng của nó. Nó vội vàng đánh tiếng gọi ngay con vợ nó đến xem cho mản nhản.

            Con vợ nó đánh yêu một cái phệt:

            - É! Con sao chiếu mạng của cha mà sáng được như vậy cho tôi cùi hủi luôn. Thời buổi đói rách tuyệt vọng này mà cha còn sống đâu đâu ở trên trời. Nếu được như cha nói, đời sống gia đình mình đâu đến đổi như vầy?! Cha có lầm không đây? Thôi cho con xin đi cha nội ơi!

            Con vợ nó còn tiếp lời chắc cú:

            - Cha đừng có mơ. Đừng có viễn vong. Thôi ngủ sớm đi cha nội. Ngày mai còn lo đạp cử xích lô sáng đi kiếm tiền nuôi vợ con. Đó mới là thực tế. Đó mới là thượng sách. Lo chết đói trước đi rồi hãy bỏ thì giờ đếm sao, đếm cái gì đó cũng được. Đừng có lo xa. Chỉ lo cho ngày mai có ăn lưng lửng bụng, nhứt là mấy đứa nhỏ không thét gào kêu đói lên đói xuống là vui rồi cha ơi!

            Thằng Hai dõng dạt:

            - Mầy lầm to rồi.

            Nó thuyết phục con vợ:

            - Mầy đến đây xem! Bộ mầy không tin tao sao? Con sao chiếu mạng của tao, tao thấy rất rõ ràng tường tận. Tao đâu có viễn vong. Tao đâu có mơ mộng xa vời như mầy tưởng đâu. Nó hiển hiện trước mắt tao đây.

            Rồi nó nhứt quyết:

            - Nó đâu phải là con sao sáng trưng mầy vừa mới thấy đó!

            Vợ nó chẳng lúc nào chịu thua, ráng gân cổ cãi lại:

            - Vậy chớ con sao nào đây ông chồng yêu quý sắp hết xí quách của tôi?

            - Mầy xem kỹ kia kìa. Mầy thấy không?

            Nó đưa ngón tay trỏ chỉ thẳng lên trần nhà chiếu lệ:

            - Đó... đó... Nó là con sao... vàng... vàng... khe... è... è... mà mầy không thấy. Đồ ngu! Mặt bư! Đến giờ phút này mà mầy còn chưa mở mắt!!!

            Thằng Hai Ngọng vói tay tắt đèn.

Tiêm đèn còn ưng ửng một hồi lâu rồi tắt ngủm.

            Cái nhà sàn nghe răn rắt khi nó trở mình trên chiếc ghế bố để trở nên tối om đen ngòm như cuộc đời và tương lai trước mặt của nó, của con vợ nó, và của hai đứa con nó ở tuổi ngây thơ dại khờ đang ngáy nhịp nhàng vô tư.


                                                                                                               Võ Phước Hiếu



                                                                   -**-

                                             Người Ăn Mày...

                                       Trong Trại Học Tập Sĩ Quan

            Trong trại cải tạo Bù Gia Lập, nơi đày đọa sĩ quan cấp úy Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, có một người ăn mày cụt một giò!

            Anh ta tên Lê Văn Núi.

            Nhưng tại sao anh Núi, một người ăn xin đầu đường xó chợ, lại lọt chi vào trại tù mà Việt cộng giả nhân giả nghĩa gọi là nơi học tập cải tạo của bọn sĩ quan cấp úy chúng tôi?

            Số là anh Núi, trong một buổi chiều nọ, đói quá mới lẻn vào điểm tập hợp trình diện của sĩ quan, được lệnh kêu gọi đi học tập cải tạo ở trường Lê Văn Duyệt, để vét phần cơm thừa rồi kẹt luôn số phận chim lồng cá chậu!...

Và về sau, anh chết oan uổng ở ven rừng, bên ngoài trại Bù Gia Mập, sau mấy năm mang án... có nợ máu với nhân dân!

            Lê Văn Núi, trước kia thường lê lết tấm thân một giò ăn xin khắp các chợ lớn, nhỏ ở Sài Gòn. Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Việt cộng về thành khai diễn một cuộc đổi đời cuồng bạo và băng hoại, thiên hạ đang lo âu xuôi ngược nên anh Núi không xin ăn tạm sống qua ngày như trước.

            Một hôm, anh thất thểu qua ngang trường Lê Văn Duyệt, trông thấy tụ điểm có đông người ăn cơm. Những chàng trai trẻ, mặt mày sáng láng và dễ mến, ngồi xúm xít thành nhiều nhóm chật cả sân. Cơm họ ăn dư, bỏ thừa thải.

            Anh hỏi ra mới biết là những sĩ quan chế độ trước, tuân theo lệnh gọi khoan hồng, tụ đến đây và mang theo một tháng tiền ăn đường. Việt cộng lấy tiền, gọi nhà thầu đem cơm nước đến cung cấp. Ôi! Vô số thức an dư thừa!

            Những tên Việt cộng nón cối dép râu, trẻ tuổi mặt bấm ra sữa, xem chừng cũng dễ dãi.

Xe nhà thầu đến, các bồi bàn khuân xuống những thùng sắt to chứa đầy những thức ăn, từ lâu rồi anh không được nếm. Kinh nghiệm ăn xin cho anh biết chỉ những lúc người ta vui cười ăn uống, tâm tánh cởi mở là ăn xin thuận tiện.

            Trong chế độ xã hội chủ nghĩa mấy ngày qua, anh biết không còn xin ăn ai được. Nhơn dịp này, anh       lẻn vào vơ ít cơm canh cho vợ anh yếu đuối, bịnh hoạn nằm nơi vỉa hè và đứa con gái mười tuổi cũng bị tàn tật như anh...

            Anh đến gần cổng, thừa lúc tên lính canh ngó lơ, đến bên xe, vờ phụ bưng xách với bồi bàn. Bồi bàn nhà hàng thầu cơm đang khiêng nặng, được anh phụ, tưởng anh là người trong trường. Cán bộ Việt cộng lầm tưởng anh là người của nhà thầu.

Thế là anh vào lọt bên trong. Đang đứng xớ rớ thì những sĩ quan trẻ ngỡ đồng bọn, kéo tay anh bảo:

            - Cứ ăn no! Biết rồi đây còn cơm ăn!

            Anh khoái quá, ngồi chung với họ, ních một hơi cành bụng. Anh còn lén bỏ vào giỏ xách một bọc cơm với thức ăn, rồi toan trốn ra ngoài.

Anh sắp ra đến cổng trường, mừng run đến chảy nước mắt. Thật là một vố bở, cả nhà khỏi đói mấy ngày!

            Tiếng kẻng gọi xếp hàng vang lên.

Một tên cán bộ quát bảo:        

            - Anh kia, đứng nại!... Cái xách gì thế này? Cơm à!... Ăn tham thế! Cách mạng cho ăn cơm, nại nấy cơm đi giấu nà ăn cắp của cải nhà nước. Hiểu không? Để đây! Đến sắp hàng với chúng nó...

            Anh Núi sợ quá:

            - Thưa ông, tôi không phải...

            - Không phải cái gì?... Bướng à?... Đi, đi... Chúng mầy toàn nà có nợ máu với nhân dân... À, không chịu đi hử? Nạy nục xin ra về à...

            Tên nọ lôi anh vào văn phòng.

Anh Núi vang nài, khóc lóc mãi với tên thủ trưởng, viện dẫn lý do vì sao anh vào xin ăn trong tụ điểm.

Tên này nghe xong, cười lạt:

            - Đừng giả vờ! Giả ăn xin để vào dọ thám. Muốn chống phá cách mạng, giải thoát bọn tù phải không?... Ngày mai, chúng tôi sẽ sưu tra lý lịch, cứu xét hồ sơ xong sẽ quyết định. Hôm nay trễ giờ, không cứu xét!

            Anh Núi bị đẩy vào phòng ngủ chúng tôi. Anh hối hận vì đã tính sai.

            Anh ngồi bó gối, trông mong trời mau sáng. Mong sao mấy tên cán bộ đủ thông minh nhận thấy sự nghịch lý, biết anh không thể nào là sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa để thả anh trở về với vợ và con.

            Anh khóc lóc kể cho chúng tôi nghe sự việc và hỏi:

            - Các ông ơi, các ông làm chứng giùm. Tôi không như các ông. Để họ biết tôi bị hàm oan mà thả tôi ra!

            Chúng tôi ái ngại, buồn lây cho anh. Việt cộng chúng nó bắt dễ, tha khó. Thà oan mười hơn để sót một!

Anh Núi lọt vào đây, rồi e anh cùng chung chịu số phận với chúng tôi. Ai cũng muốn giúp anh thoát tay Việt cộng.

Nhưng xem mòi khó khăn lắm.

            Đêm đó, vào khoảng hai giờ khuya, chúng tôi bị giựt dậy, lùa ra sân, sắp hàng trèo lên những chiếc xe cam nhông có vải bố phủ bít bùng. Bọn cán bộ ghí súng vào lưng, quát tháo nhanh lên...

            Anh Núi hoảng kinh:

            - Trời ơi! Đi đâu thế này?... Làm sao tôi bỏ vợ con tôi bên vỉa hè, đói rách, bệnh hoạn, khốn khổ... Tôi đâu phải...

            Bọn cán bộ đẩy anh nhào lên xe:

            - Muốn kêu ca gì, đến trại sẽ hay... Nhanh lên!... Nhanh lên!...

            Những tấm vải bạt bỏ xuống sau vòm xe như tấm khăn sô phủ lịm những căm hờn, uất hận của đoàn người. Chúng tôi bắt đầu thấy mình bị lừa gạt.

 Đoàn xe lăn bánh rời bỏ thành phố hoa lệ thân thương chìm đắm triền miên trong cơn ác mộng hải hùng không dứt...

            Đoàn xe chạy mãi... chạy mãi... qua đêm, cả ngày để đưa chúng tôi đến số phận đầu tiên bi đát: trại Bù Gia Mập. Trại tù này thuộc về Phước Bình, tỉnh Sông Bé, cận biên giới Việt Miên, khi xưa được gọi là Bà Rá nước độc địa...

            Những ngày đầu, Lê Văn Núi cứ kêu oan mãi. Gặp cán bộ nào cũng kể lể, cũng phân trần. Anh trông mong ở chúng một chút đỉnh thông minh để hiểu rõ hoàn cảnh ngang trái của anh.

            Nhưng bọn cán bộ, quản giáo ở trại là bọn nguyên tắc, giáo điều xuẩn ngốc. Chúng chỉ biết tiếp nhận số người để quản trị, đày đọa, oan ưng nào cần biết!

            Chúng tôi tin anh Núi chỉ là người ăn mày... lỡ sa chân vào cạm bẫy của chúng! Thế nào mà bọn quân quản Sài Gòn lại để cho một kẻ ăn xin như anh lọt vào tụ điểm tập trung của sĩ quan ngụy? Lý luận biện chứng không cho phép chúng tin lời khai của anh Núi.

            Chúng vỗ bàn quát tháo, ném trả tờ khai lý lịch của anh:

            - Phải khai sự thật. Đừng ngoan cố. Không qua mặt cách mạng nổi đâu... Khai nhiều vào đi. Thiếu giấy, trại cấp thêm cho... Cứ khai hết sự thật!

            - Bẩm cán bộ, đây là sự thật!...

            - Ngoan cố! Sự thật thế nào như thế này?... Ngày nào đi ăn xin ở chợ Bến Thành, chợ Cầu Muối, Xóm Chiếu, Thị Nghè v.v... Xin được mấy đồng, mấy cắc!... Rõ là láo!... CIA bảo anh giả vờ ăn xin khắp nơi để rình bắt công tác thành của chúng tôi phải không?... Khai việc đó đi... Trung ương Tình báo ngụy tổ chức như thế nào?... Ở các chợ, gày vào mấy tên?... Phải khai cho đúng sự thật!

            Chúng quần anh Núi hơn nửa tháng trời. Anh nói gì, chúng chẳng nghe.

Chúng liệt anh là thành phần ác ôn, ngoan cố. Anh phải cung khai theo ý chúng. Không được nhận là ăn mày. Không phỉ báng quân quản Sài Gòn làm việc tắc trách. Chúng là anh hùng. Chúng là đỉnh cao trí tuệ nhất, có bao giờ lại sai lầm?

            Anh Núi ốm sút người và già đi trông thấy.

Anh than thở với chúng tôi:

            - Cứ bị tra cung như thế này, chắc chết mất đi thôi!... Các anh thương tình, giúp đỡ cho em... Dạy em khai thế nào cho vừa lòng cúng nó... Đừng bảo làm CIA, mà làm gì cũng được... Chúng nó còn tra hỏi có        chặt đầu, ăn gan ai? Đốt bao nhiêu nhà cửa dân. Chúng lấy việc làm của chúng hồi Tết Mậu Thân 68 mà gán cho các anh cũng ác như chúng!...

            Anh Núi ỉ ôi nan nĩ mãi.

Chúng tôi mới hỏi về anh...

Mới biết anh ở Bà Điểm, quận Hóc Môn. Trước Mậu Thân 68, anh là lương dân trong làng, có chút ít ruộng đất tạm sống qua ngày. Đến Tết Mậu Thân, Việt cộng vi phạm lệnh hưu chiến, phát động Tổng tấn công, Tổng khởi nghĩa của chúng khiến dân chúng chết mười lăm ngàn người, bảy trăm ngàn gia đình mất nhà cửa và số nạn nhân chiến cuộc đến hai triệu người...

            Anh Núi bị một quả pháo lọt vào nhà làm cho anh cụt một chân, đứa con gái nhỏ gãy một tay... Sau khi được chữa lành tật, gia đình anh Núi nhập làng Cái bang ở Sài Gòn, màn trời chiếu đất, sanh sống bằng ngữa tay xin bố thí...

            Nhưng bọn cán bộ, quản giáo không chấp nhận sự thật ấy.

Sự thật của chúng muốn gán cho anh Núi phải là... ngụy, có nợ máu với nhân dân!

            Chúng tôi bịa cho anh nên khai là nhân dân tự vệ, canh gát ở xã. Anh bị pháo kích thành ra thương tật...

            Cuối cùng, bọn chấp cung phải nhận lời khai ngoài sự thật của anh:

            - Có thế chứ! Phải có nợ máu với nhân dân mới được vào trại, hưởng sự khoan hồng của chánh phủ... Cố gắng học tập cải tạo tốt mà chóng trở về với vợ con!...

            Đấy là câu nói đầu lưỡi của bọn quản giáo, cán bộ. Chúng đôn đốc phải học tập tốt.

Chúng tôi đặt câu hỏi:

            - Thế nào là tốt? Khi đã học tập tốt thì chừng nào được ra tù?

            Bọn chúng chỉ trả lời mập mờ, lại vặn ngược chúng tôi:

            - Liệu các anh đã tốt chưa? Các anh đã có chút ít tiến bộ, song còn xa lắm với tiêu chuẩn. Phải nổ lực thêm. Phải cố gắng thêm. Đừng vi phạm nội qui trong trại.

            Nội qui của trại thì cấm đủ thứ. Làm gì cũng phạm cấm, cũng bị bắt bẻ.

Chúng cứ bảo thế là học tập chưa tốt!...

Chúng tôi biết đã mắc mưu bọn giả dối, cáo già. Chúng lừa gạt mọi người. Chúng lừa gạt cả thế giới. Chúng nói láo luôn với bọn chúng! Ngay bọn quản giáo, cán bộ cũng chả tin nhau...

            Chúng hay tuyên bố, hay báo cáo những điều sai trái sự thật. Toàn những văn kiện có nhiều nghĩa, hiểu thế nào cũng đuợc.

Chúng long trọng ban bố lệnh khoan hồng, kêu gọi các sĩ quan, công chức tập trung học tập cải tạo chỉ mang theo một tháng tiền cơm khiến ai cũng nghĩ, dầu có lâu cũng vài ba tháng sẽ vui vẻ ra về... Nào ai ngờ bao năm, tháng kéo dài vô tận giữa chốn núi rừng hoang vu, độc địa mà bao nhiêu người phải ngã gục, phải chết tức tưởi thảm thiết, oán hận ngút trời!...

            Trại Bù gia Mập ở tận Biên giới Việt Miên, là vùng lam sơn chướng khí nặng nề. Đường đi khó               khăn, hiểm nghèo.

Chung quanh, núi rừng âm u, khí trời khó ở, ngày bực bội, đêm lạnh rét run, không thích hạp với đoàn người chúng tôi. Chúng tôi ăn uống thiếu thốn mà thường xuyên làm việc cực lực, khổ sai...

            Tít ngút ngàn nơi có người ở, thường là đồng bào Thượng, với rẫy bắp rẫy khoai. Dân ở vùng ấy đã bị Việt cộng nhồi sọ từ lâu... nhìn chúng tôi bằng nửa mắt khinh thị, thù ghét!

            Hằng ngày, trong hừng đông sương mù, tiếng kẻng trong trại đổ beng beng... Anh em trại viên kêu gọi ơi ới:

            - Dậy!... Dậy đi học tập!

            Học tập bằng cây cuốc, dao, rựa.

            Học phát hoang làm rẫy.

            Học đốn cây, đẵn gỗ.

            Học chặt lồ ồ, phá các cụm dây mây gai dầy mịt.

            Những tháng đầu, mỗi khi đi học tập trở về trại, đa số các trại viên bị sướt mặt, thủng tay, toạt chân v.v...

Anh em trại viên bảo đùa nhau:

            - Học tập tốt là ngày nào không dính máu là còn chưa tốt!

            Tôi được liệt vào loại người cầm bút, sức khoẻ kém, chân yếu tay mềm mà vẫn phải chỉ tiêu hai mươi cây lồ ồ mỗi ngày. Thì có khác gì các anh em trại viên khác! Đốn lồ ồ trong rừng xa, vát về trại, nạp vào kho.

Tôi rầu rĩ quá, biết sức không kham.

            May có mấy bạn khuyên bảo:

            - Có khiếu nại cũng vô ích... Anh chớ lo. Có anh em tôi tiếp cho. Anh cứ đốn được bao nhiêu thì đốn. Phần thiếu lại để chúng tôi bao.

            - Nhưng các anh vát số hai mươi lồ ồ về trại cũng ngất ngư rồi...

            - Phải kiên cường chịu đựng. Đừng để bọn chúng khinh thường chúng mình... Vả lại, khi nào kẹt lắm, thằng trung úy Thiệu, coi kho, cũng ghi đủ số cho mình.

            Anh Núi vì cụt chân, không đi lao động xa, chỉ lúc thúc ở trại công tác vệ sinh và dọn dẹp sạch sẽ quanh trại. Anh trông thấy chúng tôi "lao động vinh quang" đến mệt bở hơi tai, mặt mày hóc hác, chép miệng bảo:

            - Bọn chúng bất nhơn, ác đức mà cứ nói nhân nghĩa. Tâm địa sâu độc, giết người không cần dao! Khoan hồng gì chúng. Học tập cải tạo gì như tù khổ sai. Chúng dạy gì được các anh? Chúng là học trò, xách dép cho các anh mà còn chưa đáng!

            - Bây giờ nói gì nữa, anh Núi. Thời buổi giòi bọ làm người, ma quỷ thoát địa ngục lên quấy phá trần gian mà!

            - Rồi ác giả áo báo, mấy anh à. Tôi tin Trời, Phật, Ông Bà sẽ trừng trị lũ ác... cho chúng mình đở khổ.

            Nhưng điều mong ước của anh Núi không đến với anh.

Chúng tôi dần dần được quen với phong thổ độc địa. Nhờ vào ý chí quyết sống, chúng tôi khuyến khích, nâng đở tinh thần cho nhau. Xem đấy là một         cuộc chiến đấu gian khổ, kinh hoàng với kẻ thù mà chúng tôi quyết vượt qua.

            Khí trời ở đây, vào mùa mưa hay nắng, ngày như đêm, âm nhiễm sự độc địa, sự giết hại khác nhau. Ghê sợ nhứt là vào mùa viêm nhiệt. Nhứt là mùa viêm nhiệt của năm dịch tả rùn rợn, kinh hồn đã giết chết hơn bảy ngàn trại viên.

            Trại giam mười hai ngàn trại viên với điều kiện tối thiểu về vệ sinh. Trại viên làm lụn quá sức con người, phần ăn, nước uống quá hạn chế lại không tinh khiết, sức dinh dưỡng trong người quá kém sút. Vì thế, khi bịnh phát, dễ bị lan truyền thành bịnh truyền nhiễm.

            Ban đầu, vài trại viên bị đi tả, trại không có thuốc trị. Thành ra dịch tả mặc sức hoành hành. Lỗi ở tụi cán bộ.

Chúng bắt đội gia tăng làm vườn dùng phân bắc bón rau cải, cho mau có kết quả nặng cân, tươi tốt. Chúng lấy rau cải ấy bán vào trại, lấy tiền bỏ túi.

            Trại viên bị dịch tả chết, chúng viện cớ này, cớ nọ khỏa lấp việc tham ô của chúng. Trong số trại viên có nhiều bác sĩ quân y ngoài đời trước kia nhưng chúng không dùng đến.

Chúng không biết lập hàng rào y tế. Không biết cách ly người bịnh. Chúng là "đỉnh cao trí tuệ" không lẽ phải hỏi ý, phải học hỏi ở những kẻ đã thua trận!

            Ban đầu, mỗi ngày vài chục trại viên bỏ mạng. Sau lên đến số trăm. Một số trại viên sợ dịch, bỏ trại trốn. Thà trở về nhà, có chết thì chết trong vòng tay thân yêu của gia đình còn hơn phải nằm cô đơn hoang lạnh giữa nơi rừng núi ác ôn!...

Họ bị lính tuần bắn chết rồi lôi xác về trại, bỏ ở sân để cảnh cáo chúng tôi.

            Dịch tả tăng thêm.

Cả trại hôi hám, nực mùi tử khí. Bọn quản giáo, cán bộ dồn trại viên lại từng khu, sợ tù xổng. Vì sự dốt nát ấy, số người chết ngày càng gia tăng...

Nhà vệ sinh cách xa doanh trại đến hơn ba trăm thước. Nhiều trại viên lả người, đi không nổi, đành đấp chiếu ngủ gần nhà cầu, đến khi chết, chết cạnh đống phân...

            Có tin cho biết ở Sài Gòn hay có dịch tả liền đánh điện hỏi có phải dời trại về nơi khác. Tên thủ trưởng ngu dốt đã cày cục phe đảng mới được chức cai quản trại này. Nếu dời trại tức là hắn không giữ quyền hành nữa.

            Hắn báo cáo là việc dời trại rất khó khăn và tốn kém. Hắn đang cố gắng khắc phục bịnh tả và đã có kết quả khả quan...

Thật ra, phòng y tế của trại không có thuốc chữa trị. Bọn cán bộ y tế đều khoanh tay bất lực. Anh em trại viên tự động tìm phương kế cứu sống nhau.

            Có anh lấy cả thuốc trị sốt rét chloroquine để giành, đem ra uống liều. May sao phước chủ may thầy, uống tiều uống quảng như thế mà hết bịnh.

Nhưng phần nhiều dùng cỏ hôi, cỏ mực đâm với muối mà uống. Những anh em nào còn lê lết tấm thân gầy còm mà còn đi được, cố đi tìm cỏ hôi, cỏ mực về cứu bạn.

            Có một anh dược sĩ quân y, để giành thủ thân được mười mấy viên thuốc trị kiết lỵ. Anh trông thấy anh em ngã chết nhiều quá, không đành lòng, mới lấy hết số thuốc trao ra cho bạn.

            Anh em hỏi:

            - Anh không chừa lại vài viên để phòng thân nếu chẳng may...?

            - Thấy bạn chết, không cứu sao đành. Lương tâm tôi không yên. Hơn nữa, tôi là một người thầy thuốc... Tôi cố giữ không bị truyền nhiễm. Mà nếu rủi bị thì sẽ tính sau, sẽ uống cỏ mực, cỏ hôi như mọi người...

            Hỡi ôi!

Đến khi anh ấy bịnh, không thuốc chữa. Anh nằm liệt giường. Gương mặt xanh xao, ốm thỏn của anh phảng phất nụ cười buồn. Anh không thở than, ân hận gì về hành động vì bạn quên mình trước kia.

            Tôi ái ngại, thương xót cho anh:

            - Anh ráng uống nước cỏ mực thử xem!

            Anh vội đáp:

            - Vô ích. Bây giờ tôi chỉ nằm đây chờ chết. Thú vị ở chỗ mình thanh thản nghe và xem cái chết từ từ đến với mình... Chắc không trông thấy tử thần cầm lưỡi hái...

            Giờ hấp hối, anh rất bình thản. Bình thản như người du hành một chuyến xa.

Thái độ chung của những người chấp nhận nghịch cảnh, chấp nhận sự hy sinh trong chiến đấu chống lại bọn bạo tàn Cộng sản.

            Anh không than van, không khuất phục trước quân thù. Khi biết mình không thoát chết được, anh cố thắng những cơn đau đớn, quằn quại. Anh không tỏ vẽ yếu đuối, thấp hèn trước mặt bọn cán bộ và quản giáo.

            Vào những giây phút cuối cùng của anh, anh bảo tôi lấy trong bọc ra thư từ và hình ảnh của vợ, con anh. Vợ anh, một thiếu phụ trẻ đẹp, đài các với đôi mắt buồn trông chờ về phương trời xa. Con anh, một trai, một gái, kháu khỉnh dễ thương, ép mình dưới vòng tay ôm ấp của mẹ.

            Trong một lá thư, người thiếu phụ như thỏ thẻ tâm sự với chồng qua dòng chữ nghiêng nghiêng, mềm mại:

            - Mình ơi! Em biết mình có tánh hay thương người. Nhưng số thuốc mình đem theo, mình phải giữ lại để phòng thân. Mình cố gắng giữ mình để có ngày trở về với vợ yếu, con thơ đang cần mình là cột trụ gia đình...

            Anh xem ảnh vợ con xong, anh ra ý gọi tôi đến cạnh bên:

            - Anh... cầu nguyện... cho tôi... Làm phép lành cho tôi...

            - Tôi... tôi như anh... có quyền phép gì như các Cha, các Thầy...

            - Cứ cầu Chúa Trời hay Phật Tổ.

            Anh là người Thiên Chúa giáo.

Tôi có nghiên cứu về thần học. Tôi nắm lấy hai tay anh, xin sáng danh Ba Ngôi rồi đưa tay lên trán anh làm dấu Thánh Giá. Anh nở nụ cười hài lòng, buông tay, đi rất êm. Mặt anh như tươi hồng lại, ánh ra một vẻ thánh thiện.

            (Các bạn cựu tù nhân chánh trị của Cộng sản có mặt ở trại Bù Gia Mập trong thời điểm ấy, có ai nhớ tên họ anh dược sĩ này, xin vui lòng thông báo cho tôi biết. Xin cám ơn).

            Mấy anh bạn nằm chờ chết kế bên trông thấy tôi làm như thế, gật đầu tán thành. Ý của anh em cũng muốn được như thế, để hồn đi cho xuôi.

Tôi thể theo ý muốn cuối cùng của họ, lần lược làm theologic cho từng người. Cho anh em vui vẻ nhắm mắt, khi xong một kiếp người!...

            Khi đến bên anh nào, tôi trịnh trọng vuốt đầu, sửa áo lại chỉnh tề, hỏi xem anh ấy ở đạo nào? Nếu là người đạo Thiên Chúa, tôi sáng danh Ba Ngôi. Nếu là người theo đạo Phật tôi niệm Hồng danh Phật A Di Đà.

            Tôi nhận thấy con người cần phải có Đức Tin. Tin vào sự thiêng liêng, tin theo một đạo giáo. Không mê tín, dị đoan. Tin vào Cõi Phúc, nơi mà ta dọn mình đi đến.

            Do Đức Tin ấy, nhiều người ra đi lần cuối rất lành, bỏ lại phần thân thể tanh hôi! Phải chăng như thế mà cái chết của con người khác với cái chết của thú vật?

Dù người đạo nào cũng cầu nguyện cho được chết lành. Tôi chứng kiến, trong thời điểm phát sanh bịnh dịch tả ấy, rất nhiều cái chất lành. Giây phút phút hấp hối của người chết, họ trông thấy gì?

            Thiên Đàng hay Địa Ngục?...

            Niết Bàn hay A Tỳ Ngục?...

            Ai cũng xuôi hai tay trắng mà đi.

Giàu sang, danh vọng, không ai đem theo được. Thế sao lắm người mê muội trong vòng tranh đua danh lợi, gây thù oán, giết hại nhau, làm nên những điều trái lương tâm, đạo lý!

            Số tử vong vì dịch tả trong trại lên đến số ngàn. Tôi được cắt phần lao động nhẹ. Xung vào đội chung sự. Đội này chuyên về tẩn liệm, gói ghém và chôn người.

            Ngoài đời, tôi có bao giờ biết và làm công việc vừa thương tâm, vừa ghê sợ ấy. Nên ban đầu, tôi rất lọng cọng vì thiếu kinh nghiệm. Không biết khiêng người chết phải để đầu đi trước hay chân đi trước? Khi xuống huyệt thì đầu để về hướng nào, chân ở hướng nào?

            Nhưng trong đội chung sự, không ai sợ hôi hám, sợ dơ bẩn khi phải lo hậu sự cho người bạn đồng cảnh ngộ. Chúng tôi lau chùi cho anh em rất kỹ.

Khi đào lỗ chôn, chúng tôi bảo nhau:

            - Ráng thêm chút nữa. Cho huyệt sâu hơn, anh em nằm ấm!

            Chúng tôi quan niệm cuộc chiến đấu chưa chấm dứt. Hàng ngũ chưa hẳn hoàn toàn tan rã. Đây mới là giai đoạn cam go, cùng khổ nhứt mà người chiến sĩ quốc gia phải chịu đựng.

            Hàng ngàn... hàng ngàn anh em đồng đội đã ra đi, đã nằm xuống đây là đã hy sinh vì mình, cho            mình!... Cái chết của họ là động lực thúc đẩy những người còn lại chớ quên cái nhục ngày 30 tháng Tư năm 1975 để nung chí quật khởi, quật cường mà phục hận. Công ơn của những người nằm xuống phải ghi khắc vào sổ vàng.

            Tổ quốc không bỏ họ.

            Đồng bào không bỏ họ.

            Lịch sử không bỏ họ.

            Ở trại, anh Núi, người ăn mày một chân, hết lòng chăm nom, phục vụ cho anh em. Khi dịch tả phát sanh, anh càng tất bật lo việc vệ sinh, thăm bịnh từng giường, đổ thuốc cho anh em uống. Anh dìu anh em đi cầu, thức canh người hấp hối. Anh không ngại tanh hôi, khổ nhọc.

            Anh thường than thở:

            - Phải chi tôi được chết thế mạng cho mấy anh... Mấy anh còn trẻ quá, còn làm được nhiều sự ích lợi sau nầy...

            - Anh chăm lo tận tụy như thế, chúng tôi cũng phục anh.

            - Tôi nhờ sống bên các anh mà hiểu biết nhiều... Tôi nghĩ rằng giá các anh không đi lính, không làm tròn bổn phận người trai thời chiến thì với học thức và tài giỏi của các anh, làm gì không an nhàn sung sướng, vợ con vui vầy, chớ có đâu nằm hiu quạnh nơi rừng thiêng nước độc, vợ con không hay biết! Thương các anh bao nhiêu, tôi oán hận bọn Cộng sản nhẫn tâm chôn vùi bao nhiêu người tài của đất nước... Mà cũng tại mấy ông lớn bỏ chạy...

            Tôi mến thương anh thật tình:

            - Người ta ở đời, dầu có giàu sang phú quý đến đâu, mà kém đạo đức, mất nhơn phẩm thì cũng chả ra gì cả. Anh không cùng hàng ngũ với chúng tôi, nhưng anh làm những việc cao, đẹp hơn bọn người anh vừa nói...

            Ít lâu, bỗng có một việc xảy ra không hay cho anh Núi và cho cả anh em chúng tôi. Đó là cái chết của một trại viên cùng phòng.

Anh nầy bị đi tả liên miên... Anh em trong phòng xúm lại chạy chữa cho anh. Có anh mót được mấy viên chloroqine trị sốt rét bảo:

            - Phước chủ may thầy, cứ uống liều xem...

            Thuốc uống vào ban sáng, đến chiều anh nọ vẫn ôm bụng lăn lộn, rên rĩ. Ai trông thấy cũng đau lòng, xót dạ.

            Anh Núi đâm cỏ mực, cỏ hôi trao cho anh ấy uống:

            - Còn nước, còn tát!... Anh ráng thêm bát thuốc...

            - Uống trên, ra dưới... Uống nữa làm gì?

            - Anh đau oằn oại như vầy, không uống thuốc chịu sao thấu... Ráng thêm bát thuốc, họa may cầm lại được...

            Anh Núi đổ thuốc vào miệng anh ấy. Đến khuya, anh nọ mê sảng, tay bắt chim chim. Qua cơn hấp hối, anh kêu:

            - Núi ơi, mầy giết anh... Uống quá nhiều thuốc!...

            Khi ấy, có tên cán bộ đúng bên. Tên này vội báo cáo lên trưởng trại.

Trưởng trại gọi chúng tôi lên hỏi. Chúng tôi trình bày tự sự, bảo vì muốn cứu sống anh nọ nên anh Núi mới đổ thuốc cho...

            Tên trưởng trại họp cán bộ lại. Số trại viên chết vì dịch tả đã hơn bảy nghìn. Lỗi ở trưởng trại cứ muốn duy trì trại ở lại, vì quyền lợi của hắn. Hắn đã cam đoan trước đó với cấp lớn là có thể khắc phục dịch tả. Nay khắc phục không xong, dịch tả lại lan tràn...

            Lỗi ở ai?

À thì ra lỗi ở tên ăn mày Lê Văn Núi nầy đã đổ thuốc giết hại trại viên!

            Tên trưởng trại bảo với bọn tay sai:

            - Chúng ta suýt mắc mưu của bọn CIA. Bọn CIA bí mật gởi người của chúng vào trại để phá vỡ quốc sách khoan hồng của chánh phủ đối với ngụy quân ngụy quyền. Tên Lê Văn Núi có phải là tên ăn mày như hắn bảo đâu. Hắn là bọn CIA phản động, chống phá cách mạng. Hắn giả vờ què chân để lẻn vào trại ta với mục đích ám hại cán bộ và đầu độc trại viên. Hắn gây nên bịnh dịch tả, làm cho nhà nước tốn hao thuốc men chữa trị mà tinh thần trại viên cũng hoang mang lo sợ. Họ mất lòng tin vào lịnh khoan hồng của chính phủ chỉ muốn ngụy quân ngụy quyền học tập tốt rồi trở về với gia đình. Chính tên Lê Văn Núi đã gây nên bịnh dịch tả giết hại mất bảy nghìn trại viên. Hắn toan giết cả trại, cả đến các cấp lãnh đạo, nhưng nhờ ơn Bác và đảng, nhờ chủ nghĩa bách chiến bách thắng Mác Lê-nin soi sáng, chúng ta kịp thời phát giác âm mưu thâm độc của tên CIA Lê Văn Núi. Có phải thế không, hở các đồng chí?

            Bọn cán bộ giơ tay, hò reo:

            - Đúng!... Lũ CIA lợi hại và thâm độc. Nhưng sao qua mắt nổi chúng ta!

            - Thế phải xử lý tên Lê Văn Núi thế nào? Có nên gửi nó về Sài Gòn kêu án?

            - Tử hình!

            - Tử hình tại chỗ, gởi đi đâu cho mất công!

            Thế là bản án Lê Văn Núi là người của CIA được tuyên bố. Lê Văn Núi bị trói thúc ké dẫn ra cổng trại.

Anh không than van hay biện hô. Dáng đi khấp khểnh của anh có vẻ hiên ngang của kẻ không sợ chết.

            Chúng tôi lẳng lặng cúi đầu, ngầm ngùi tiễn đưa anh...

            Sau vụ án Lê Văn Núi được ít lâu, trại viên chúng tôi cũng được chuyển về Long Thành, Mộc Hóa v.v... Số trại viên khi lên trại Bù Gia Mập là mười hai ngàn người, nhưng khi về chỉ còn không hơn bốn ngàn!...


                                                                                                                        Hiếu Đệ


                                                          -**-


                                  Tôi Vẽ Tranh Vui Cười

            Ngày còn ngồi ở trường Trung học, nhà ở Chợ Lớn, tôi thường đạp xe chạy đường Gia Long, phía sau chợ Bến Thanh, đi ngang qua tòa soạn báo Tiếng Chuông. Trước tòa báo là nhà in, nơi đó có mấy quán cốc. Anh em ký giả thường ngồi tán gẫu với nhau ở quán đó. Đám anh em này rất trẻ, phần đông mới vào nghề.

            Ngày đó, tôi hay viết truyện ngắn gửi nhà báo chạy ở trang trong. Buổi sáng, tòa soạn có vẻ bận rộn hơn vì họ lo phần tin tức chạy trang ngoài.

Lúc này, báo tiêu thụ rất mạnh vì thời buổi chiến tranh. Các báo ăn thua nhau phần tin 8 cột chạy ở trang ngoài, nhất là phần tin chiến sự rồi mới đến phần tin tức Đô Thành.

            Buổi chiều, đám anh em trang trong mới tụ hợp với nhau nói chuyện dông dài văn chương thi phú và bàn với nhau những kinh nghiệm cầm bút. Trong số này có các anh Lê Tràng Kiều, Tam Ích, Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh...

            Riêng tôi, tôi rất quen biết Vũ Anh Khanh vì nó là đứa bạn đánh đáo với tôi ở sân trường tiểu học. Sau mấy năm loạn lạc, tới khi gặp lại ở Sài Gòn, anh ta đang phụ trách trang trong của nhựt báo Tiếng Chuông và lại là nhà văn nữa. Anh cùng với một nhóm anh em nhà văn như Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà... trông coi nhà xuất bản Tân Việt Nam của ông Nguyễn Văn Chà, Giám đốc Cơ sở Phát hành Báo chí Nam Cường nằm ở đường Kitchener, phía sau ga xe lửa Sài Gòn.

            Thật ra hồi đi học, anh tên là Võ Văn Khánh. Gia đình anh có một hãng sản xuất nước mắm ở Mũi Né, Phan Thiết.

             Khánh bảo tôi:

             - Hồi đi học, thầy giáo Trạch hay lấy mấy bài luận văn của anh làm bài mẫu, đọc cho cả lớp cùng nghe. Anh có tài viết lách đấy. Anh có thể viết nhiều quyển truyện để tôi bán giùm. Cứ viết đầy cuốn tập vở một trăm trang sẽ được trả cho năm trăm đồng.

            Nhà sách đã mua và in cho tôi năm quyển loại thiếu nhi kháng chiến chống Pháp trong Tủ sách Thần Đồng của Nhà xuất bản Tân Việt Nam. Tôi thường viết nắn nót tập bản thảo và vẽ bông hoa. Đôi khi, tôi lại vẽ cả phong cảnh nữa nên lũ bạn gọi tôi là họa sĩ.

            Có lần tôi sáp vô tán gẫu với anh em ký giả nơi tòa soạn báo Tiếng Chuông. Tôi gặp anh Chủ nhiệm Đinh Văn Khai.

Anh hỏi:

            - Họa sĩ đâu? Nhờ Hiếu Đệ vẽ cho anh cái tranh vui cười ba cột ở trang nhất mỗi ngày để anh làm cái thai đề 36 con.

            Tôi chẳng biết cái thai đề để dùng vào công việc gì thì anh giải thích:

            - Hiện nay, Đại Thế Giới ở Chợ Lớn và Kim Chung ở Cầu Ông Lãnh là hai trung tâm cờ bạc và xổ đề. Bạn hàng các chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Bến Thành và Bà Chiễu trở thành những con bạc đam mê vụ       đánh đề. Họ cứ nhặt mấy tranh cartoon vui cười của báo Mỹ, báo Pháp... lật xuôi lật ngược, tìm ra con vật trong 36 con đề để đánh. Có khi đêm nằm mơ, sáng dậy ra chợ, họ ngồi bàn với bạn bè. Người bàn ra tán vào về nội dung của giấc mơ. Người dân đam mê cờ bạc. Tại sao mình không bày ra cắt thai đề để họ bàn như những lá xâm ở Chùa Ông Quan Thánh của người Tàu? Hiếu Đệ vẽ mỗi ngày một cái thai đề lớn cỡ ba cột báo trên trang nhất để cho độc giả bàn đề đã đời. Như vậy, ấn bản của báo mình sẽ lên vù vù...

            Anh Tú tài Khai còn nói:

            - Hiếu Đệ làm được cái chuyện này, anh hứa trả cho mỗi ngày năm chục đồng, bằng lương một ký giả.

            Năm mươi đồng lúc đó cũng khá lớn.

Tô phở đặc biệt ở đường Gia Long chỉ có hai đồng rưỡi. Tôi cũng được ưu đãi lắm. Nhưng  tôi không biết làm sao mà vẽ.

            Anh Nguyễn Kiên Giang, anh Nguyễn Văn Hiếu, anh Từ Thành xáp lại góp ý.

            Các anh nói:

            - Chú mầy cứ đọc ba cái tin xe cán chó, tin tòa án, thấy cái nào tức cười thì cứ vẽ thôi. Thí dụ: Thông cáo của Sở Cảnh Sát Đô Thành công bố về phạt xe không đèn thì chú mầy vẽ thầy cảnh sát chận cô nữ sinh biên phạt. Cô ta chỉ vô bộ ngực nói: "Bộ thầy đui không thấy bộ ngực của em đang nẩy lửa sao mà còn bảo là chạy xe không đèn?

            Thông cáo của Nhà thương Từ Dũ về hiện đại hóa ngành y tế, vừa mua sắm được ba cái bàn sanh để phục vụ cho các sản phụ. Tôi vẽ hàng trăm bà bầu đánh nhau u đầu xức trán giành nhau để được leo lên bàn sanh.

            Một bà nọ vì ghen tương, cắt phéng cái của nợ của ông chồng. Báo hại giới đàn ông nghe được, họ ngủ nằm sấp hết trơn.

            Về vụ Việt Cộng đêm đêm pháo kích vô Sài Gòn, nhất là các vùng ven đô, tôi vẽ cô vợ nằm bên anh chồng hỏi:

            - Tối nay, anh có pháo kích nữa không?

            Anh em còn chỉ cho tôi mỗi ngày đọc thêm bản tin AFP, bản tin Việt Tấn Xã và bộ sưu tập các báo. Công việc thoáng nhìn thì thấy khó nhưng bắt tay vào rồi thì thấy dễ ợt như chuyện đùa. Mình thấy cười trước rồi vẽ ra sau, do đó con người của mình đỡ thấy buồn.

            Có nhiều bạn hay hỏi:

            - Anh lấy ý ở đâu để vẽ tranh vui cười?

            Chuyện này về sau nó trở thành thói quen. Buổi sáng cứ ngồi vào bàn, giấy bút có sẵn, ý tưởng về chuyện vui cười sẽ đến với mình ngay.

            Chiến tranh càng lên cao, báo chí càng phát triển nhanh. Người dân khắp nơi trở nên bất ổn, mỗi lúc lại đổ dồn về thành phố.

            Ngày mới đến phố Sài Gòn, tôi có làm anh em với đám bụi đời đánh giày trên hè phố. Muốn có thùng dụng cụ để đi đánh giày phải chịu nhiều điều kiện. Trường hợp mình làm ăn khá thì phải nuôi lại những đứa chân ướt chân ráo mới vào đời.

Do đó, tôi có thói quen giúp đỡ anh em. Nhứt là các anh em làm văn làm báo ở miền Trung miền Bắc bị Phan Văn Giáo đuổi cổ vào Sài Gòn mang thân phận "Hành Phương Nam" kiểu nhà thơ Nguyễn Bính.

            Lúc này tôi thi lọt vào trường vẻ Gia Định, học đến năm thứ hai rồi vẫn bị mấy ông giáo sư họp hội đồng kỷ luật phàn nàn.

Các ông cắt mấy tranh vui cười hằng ngày trên báo đưa ra nói:

            - Cho Hiếu Đệ học đến hôm nay là phí hết một chỗ ngồi trong trường vẻ. Nó học năm thứ hai năm             thứ ba rồi mà vẽ con người như con chó, vẽ con người cái chân cong vòng chẳng bao giờ vẽ cái bàn chân. Cơ bản hội họa từ đời Phục Hưng Tây phương đến giờ là vẽ người. Cân đối về con người là khuôn vàng thước ngọc. Như vậy là nó bôi bá căn bản của hội họa rồi còn gì.

            Nhà trường mời mấy ông già đứng đơn xin cho tôi thi vào trường lên cảnh cáo. Mấy ông cụ này là bạn của cha tôi hồi ông còn học ở Sài Gòn.

            Mấy ông thầy tôi không nghĩ rằng trong ngành mỹ thuật lại có vụ vẽ biếm họa và tranh vui cười. Trong lịch sử nghệ thuật lại có cả Walt Disney và phim hoạt hình.

Không lẽ chỉ có mỹ thuật thuần túy thôi sao?

            Hôm nọ, ngồi uống cà phê ở đường Đề Thám nơi nhà sách Nam Cường, anh em trong nhà xuất bản Tân Việt Nam, các anh Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà có giao cho tôi trang trí quyển Người Yêu Nước của Thẩm Thệ Hà, mô phỏng theo tiểu thuyết Bà Mẹ của Maxime Gorky. Bổn phận tôi vẽ bìa và minh họa trang trong.

            Tôi vẽ cả tuần vẫn không xong, bèn chạy lại thọ giáo anh Hưng Hội. Họa sĩ vẽ minh họa sách báo ở thời này rất hiếm.

Ngoài Bắc nổi tiếng có anh Mạnh Quỳnh. Trong Nam chỉ có anh Hưng Hội.

            Gia đình anh Hưng Hội ở xóm chợ Cầu Ông Lãnh, trên lầu hiệu nước mắm Mậu Hương, nơi anh Trần Lê Nguyễn ở sau này.

Tôi chạy đến nhờ anh Hưng Hội chỉ dạy.

            Anh hỏi:

            - Nhà xuất bản đưa cho chú mầy bao nhiêu tiền?

            Tôi tình thật nói:

            - Họ trả cho tôi 500, nay đưa trước cho tôi về làm việc là 300.

            Anh Hưng Hội bảo đưa hết cho anh rồi anh ấy kêu xích lô đi đến đường Gia Long, nơi mấy tiệm hút gần hiệu sơn mài anh Trương Văn Thanh.

Tôi tiếc của, phóng xe đạp theo.

            Tôi thấy anh kéo xong mấy cặp, hãm cối nước trà rồi nằm lim dim...

            Tôi đánh thức anh dậy hỏi:

            - Hồi sớm anh hứa bày cho tôi vẽ bìa sách. Như vậy mình sẽ vẽ thế nào đây anh?

            Anh ta cười hề hề vỗ đầu tôi nói:

            - Đâu phải như trong trường dạy cái gì chú mày cũng vẽ hết coi đâu được. Vẽ bìa sách là mỹ thuật đồ họa hay thiết ấn đó (Art Graphic), vẽ để mà in. Cho nên người ta phải vẽ bằng cây dao hay kéo mới được. Chữ nghĩa, phong nền... tất cả người ta đều có bán sẵn. Mình chỉ dán lên thôi (layout). Mai sau kỹ thuật in ấn dẫm chết mỹ thuật thuần túy. Người ta chỉ vẽ một bức tranh rồi in ra cả trăm bức bán giá rẻ rề như cái bàn cái ghế là tụi mình chỉ có đói thôi. Chú mày chạy xuống chợ cũ mua giấy nền màu, mua chữ décalque, lên hình ảnh vẽ đơn sơ để còn cắt dán lên. Thế là xong.

            Anh còn nói thêm:

            - Này anh nói cho mà biết, nét vẽ của chú mày sau này có tương lai hơn cả đời anh bây giờ. Chú mày rán lên nghe không.

            Anh Hưng Hội chỉ nói sơ qua như vậy làm tôi nhớ đến bây giờ. Hỏi ra thì anh Hưng Hội hồi đó chỉ học trường vẽ đến năm thứ ba.

Dưới thời cô Lê Thị Lựu, ảnh phản đối cô giáo độc tài, khó tính, bóp chẹt học trò. Anh kêu cả lớp đứng lên làm reo bỏ học, bị mật thám Pháp bắt đánh cho một trận rồi đuổi học cả lớp luôn.

Cô Lê Thị Lựu bỏ về Pháp không dạy nữa. Anh Duy Liêm, anh Hồ Tấn Thuận học sau một năm nên tránh được tai họa này.

            Người Việt chúng ta thường không thích châm biếm, không thích vui cười. Bị châm chọc, người ta hay nổi giận. Bạn bè tôi thường bị mang họa vì ba cái tranh vui cười của tôi.

            Anh Hồng Sơn, làm việc ở Phòng Kiểm Duyệt của Sở Thông Tin trên đường Phan Đình Phùng. Anh có ra tờ báo Sinh Hoạt. Trang bìa đăng cái tranh của Hiếu Đệ vẽ nông dân Việt Nam thấy cái thùng đồ Mỹ viện trợ có in hình hai bàn tay bắt lại với nhau, mừng vô cùng mới nói lúc này nước mình giàu to. Thì ra khi chiếc máy bay Mỹ thả thùng đồ xuống đè phải nông dân xệp ruột. Thùng bị vỡ ra toàn là súng ống và bom đạn.

            Thôi thì đành chết một cửa tứ.

            Bức tranh này làm anh Hồng Sơn bị mất sở. Tờ Sinh Hoạt bị đóng cửa. Anh Hồng Sơn bị đổi đi làm Trưởng phòng Thông Tin tỉnh Cà Mau.

            Nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh về miền Tây làm Giám Đốc Đài Phát Thanh và xuất bản tờ báo Miền Tây. Trong lần bầu cử Quốc Hội, có ông bác sĩ nọ ở địa phương ra ứng cử dân biểu.

            Tờ báo có đăng cái tranh của Hiếu Đệ vẽ bà nọ bế đứa con đi khám bịnh, cái đít đứa bé đang chảy re. Còn ông bác sĩ thì đưa cái toa đòi năm chục, không có thì ông không chịu chữa bịnh.

Báo hại anh An Khê bị ra tòa mất chân Giám Đốc Đài Phát Thanh, tờ báo Miền Tây bị đóng cửa, còn anh bị án treo sáu tháng.

            Có lần tôi giữ trang đặc biệt về bầu cử Quốc Hội, đơn vị Sài Gòn Chợ Lớn sau khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại và tổ chức bầu cử thành lập quốc hội. Tôi vẽ ứng cử viên toàn là mấy chàng mặt dày mày dạn, cọ xuống đường nhựa xẹt lửa.

            Thầy thuốc Quách Tân Xuân chuyên moi bịnh trỉ của mấy bà già nhà quê. Nhà đầu cơ gạo thóc Phạm Văn Út đang ngồi trên bao gạo bóp cổ dân nghèo.

            Họ cho công an đi hỏi tội, làm tôi cả tháng không dám xuống tòa soạn nhà báo. Tôi cũng chẳng chui ra khỏi ký túc xá của nhà trường.

            Sau nhất là mới đây năm 1996, bức tranh tên Việt cộng nói chuyện với con vịt. Vịt đây là tượng trưng cho ngành báo chí.

Tên cán bộ dạy đời lũ vịt rằng: Làm báo ở Việt Nam thì phải có đảng tính. Làm báo ở Mỹ, ở nước tự do thì phải có đĩ tính, phải biết vẫy mực vào mặt cộng đồng để xin quảng cáo.

Như thế mới làm ăn khá được.

            Báo hại, chuyện thinh không lại xảy ra rắc rối một thời gian. Một số mấy bà chủ báo đòi giải thợ vẽ ra tòa. Thật ra, bức tranh tôi vẽ từ lâu. Người ta lên báo trong lúc họ gay cấn với nhau chớ tôi không hề đụng chạm đến một cá nhân nào.

Hơn nữa, tôi cũng chẳng biết mặt mũi mấy bà chủ báo này là ai cả. Thật oan ơi ông Địa!

            Người ta nói: "Viết là phải lách". Như vậy thì vẽ cũng phải đòi hỏi một thái độ như viết. Không khéo sẽ bị đụng chạm tơi bời.

            Trong thời buổi loạn ly, anh Đinh Văn Khai bảo vẽ mấy cái thai đề cũng chỉ là cách tránh né để mình chơi trò cút bắt với Bộ Thông Tin. Tức là mình không có làm chính trị chính em gì trong này cả.

            Có hôm, tôi đưa nhà văn Ngọc Sơn Trần Văn Tròn đến giới thiệu với anh Khai để bán tác phẩm đầu tay của anh ta là quyển Hồng Và Cúc. Anh Khai bảo là để cho anh đọc.

Chừng mười ngày sẽ trả lời. Thì ra sau khi Ngọc Sơn quay lưng ra về, anh Khai lại đưa bản thảo này cho chị Tư xếp giấy đọc và cho biết ý kiến.

            Tôi hỏi anh:

            - Làm như vậy liệu Ngọc Sơn biết được, nó có buồn chăng?

            Anh Khai bật cười nói:

            - Thật ra thì ba cái tiểu thuyết trang trong chỉ để cho giới bình dân đọc. Do đó, tác phẩm có tiêu thụ         được hay không đều do ở đám này, chớ đám trí thức bọn mình hơi sức đâu mà đọc và phê phán mấy tác phẩm ba xu. Muốn biết thị hiếu của mấy bà phụ nữ bạn hàng ở chợ Cầu Ông Lãnh thích nhà văn nào thì mình phải hỏi ngay ở họ là chắc ăn nhất. Như vậy, nhà văn phải biết mình đang viết cho ai đọc để mình phục vụ cho họ. Họ là những người mua báo mà mình chỉ có làm báo thôi.

            Có hôm anh Khai đứng giữa tòa soạn báo tin mừng:

            - Tờ báo Tiếng Chuông đang phát hành hai mươi ngàn số phải nâng lên hai trăm ngàn.

            Anh em mừng quá, tưởng đâu là do công lao và tài nghệ của mình.

Thì ra anh Khai lại nói:

            - Hiện nay, chánh phủ đang thiếu ngoại tệ. Họ phải xin viện trợ của Mỹ. Số tiền nhập cảng giấy báo để làm bao bì cho các chợ bị cắt xén. Khổ nỗi, bạn hàng ở các chợ có thói quen không chịu gói hàng bằng giấy trắng nên mình phải in thêm số phát hành để đáp ứng nhu cầu cho các chợ. Nói toạt ra có nghĩa là để cân ve chai.

            Anh Khai còn nói thêm:

            - Một năm mình được làm báo Xuân một lần, không phải thuần túy để các văn nhân ký giả trổ tài đâu. Việc đó chỉ có một phần thôi. Thật ra để mình đăng bài của mấy ông Đốc Phủ Sứ, của mấy ông Dân Biểu và mấy ông Bá Hộ để họ phát biểu vung vít quảng cáo cho tên tuổi của mình. Đăng bài của họ thì được trả một món tiền rất hậu, còn chạy bài của các nhà văn thì nhà báo phải trả khoản nhuận bút rộng rãi hơn báo thường. Trong khi ấy, các ông tai to mặt lớn ở địa phương còn mua hằng trăm số báo Xuân có đăng bài của mình để phát tặng cho các cơ quan đoàn thể và họ hàng. Nhờ đó mà báo Xuân được tiêu thụ rất lớn. Mình phải in sao cho thật đẹp để mấy ông lớn còn dùng làm quà cuối năm của họ.

            Làm báo cũng vui nhưng không được yên ổn.

Chánh phủ Ngô Đình Diệm lên cầm quyền phủ định hiệp định Genève. Đại diện phái đoàn Cộng sản bị đuổi cổ về Hà Nội. Dẹp bỏ vụ Hiệp thương hai miền và tổng tuyển cử trên toàn quốc. Các lực lượng võ trang Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên bị đánh dẹp. Nhiều thành phần đảng phái bị truy quét. Một số đông anh em ký giả làm báo bị vồ vô ấp vì bị nghi ngờ phát động bản cương lĩnh của Mặt trận Giải phóng Miền Nam.

            Tôi cũng bị nằm ở sở Công an đường Ngô Quyền Chợ Lớn hai tuần lễ. May nhờ có vụ Tỉnh trưởng Nguyễn Trân ở Mỹ Tho đối chất với 21 ký giả nên tất cả được trả tự do.

Nhưng sau đó, một số bỏ đi vào chiến khu.

            Tôi về thấy nhà cửa bê bối. Công an còn ngồi tán dóc ở trong nhà để chờ bạn bè đến thăm hỏi tôi thì bắt. Vợ tôi mới sanh cháu nhỏ bế về, lo lắng sợ sệt.

Hoàn cảnh rất khổ sở.

            Thật ra tôi đã tốt nghiệp trường Mỹ Thuật và Sư Phạm cũng đã được cả năm rồi. Bộ Quốc Gia Giáo Dục làm sự vụ lệnh bổ nhiệm tôi đi Cần Thơ dạy học để thay thế cho họa sĩ Nguyễn Đình Cường. Anh ta về làm Giám đốc trường Kỹ Thuật Bình Dương.

            Nhưng lúc ấy tôi không chịu đi nhận việc. Bây giờ kẹt quá phải đành thôi.

Bạn bè tha hồ chửi rủa:

            - Hiếu Đệ là con người nghệ sĩ. Nó phải ở Sài Gòn bán máu bán mực và đấu tranh như tụi mình. Nó đi dạy dưới collège Phan Thanh Giản là tên đào ngũ. Phải đi kéo nó về hỏi tội.

            Cũng nhờ nghề làm báo và vẽ tranh vui cười nổi tiếng chọc cười thiên hạ, khi vào lính tôi được đưa về phòng Chiến Tranh Chánh Trị ngồi với anh Nguyễn Đạt Thịnh, Thanh Nam, Mặc Thu trông coi tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa và tờ Chỉ Đạo. Trôi dạt khắp nơi rồi cũng về lại Sài Gòn thôi.

            Có lần nghỉ hè về quê. Tôi nhờ Đặng Văn Nhâm vẽ thay cho mình một lúc. Đến khi trở về bị anh chủ bút than phiền:

            - Đặng Nhâm nó làm anh bị độc giả cự nự quá. Nó vẽ con cá mập tham nhũng ở Cai Lậy có vảy. Thuở nay ở trên đời này làm gì có loại cá mập lại có vảy bao giờ?

            Chế độ giáo dục ở Việt Nam lúc đó thiếu trường nên họ lập ra những cuộc thi rất khắc khe ở cấp trung học đệ nhất cấp và đệ nhị cấp. Đặng Nhâm vẽ học trò lội qua sông bị cá sấu táp.

Lũ cá sấu lại có đuôi như đuôi của nàng Tiên Cá. Không lẽ lũ cá sấu của Nhâm tụi nó bị lại cái hết sao?

            Anh Nguyễn Kiên Giang cười quá cỡ.

Tôi bào chữa:

            - Có lẽ Nhâm cố vẽ như thế mới tức cười. Anh cười như vậy là Đặng Nhâm thành công rồi. Thế là Nhâm nó thắng.

            Anh Nguyễn Kiên Giang phản đối:

            - Không lẽ tụi mầy vẽ tranh khôi hài chọc người ta cười, nhưng thiên hạ không cười, tụi mầy xúm nhau thọc cù lét người ta sao?

            Trong phim Ánh Đèn Sân Khấu của hề Charlot diễn tả anh hề Calvêrô lúc về già hết thời diễn dở. Người ta không cười, anh ta giận quá đâm diễn tục. Khán giả bất mãn, đánh cho một trận què giò.

            Những ngày đi cải tạo, tôi bị đổi trại đến năm lần. Tôi vác chiếu đi đến đâu cũng đều bị bọn Việt cộng xỉ vả:

            - Cả miền Bắc đều lên án, biết mầy là tên Hiếu Đệ. Mầy đã từng vẽ chục thằng Việt cộng ốm nhách còn tệ hơn con khỉ, cả chục thằng đeo không rụng cọng đu đủ. Mầy khi dễ tụi tao vừa thôi nhé! Nay đảng ta phải bắt mầy trả nợ máu, đi cải tạo mút mùa lệ thỉ cho chết luôn.

            Tôi muốn tức cười vỡ bụng nhưng vẫn cố làm thinh.

Ở đời, nếu mình coi tất cả chỉ là một trận cười thì đúng nó là một trận cười. Nếu mình cứ coi nó là khổ đau thì coi chừng có bữa sự khổ đau đè mình chết. Đức Phật cũng có nói vạn pháp đều do Tâm, Tâm dẫn đầu, Tâm tạo tác nên tất cả. Nếu Tâm ô nhiễm, khổ ải sẽ theo ta như bánh xe lăn theo bước chân con vật. (Kinh Pháp Cú).

            Được trả về thành phố, phòng chính trị cũng kêu lên bảo là tôi không được làm báo và vẽ tranh vui cười nữa đó nghe. Từ đây phải làm ăn lương thiện để xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Thế mà tôi vẫn vẽ đầy nhóc trên các báo nước ngoài.

            Dân Do Thái đã lập quốc từ lâu rồi. Thế mà sau Thế Chiến thứ II, năm nào họ cũng nhắc nhở rùm beng về tội ác của Đức quốc xã.

Mặc dầu bây giờ nước Đức cũng đã đổi khác rồi, đã vào khối Âu Châu nhưng tội ác diệt chũng tiêu diệt hằng triệu người Do Thái vẫn còn trong lịch sử nhân loại. Họ nhắc nhở dài dài để cho con cháu đời sau ghi nhớ.

            Huống chi Cộng sản Việt Nam vẫn còn đó. Mỗi ngày, họ lại càng độc tài và tàn ác hơn xưa. Trong nội bộ của đảng, người ta cũng đã lên tiếng chống lại bọn lãnh đạo độc tài tham nhũng, từ những người lão thành trong đảng như các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Trần Khuê, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, nhà văn Dương Thu Hương, đến những người trẻ tuổi như luật sư Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, bác sĩ Phạm Hồng Sơn. Cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền của nhân dân trong nước ngày một lớn mạnh hơn bao giờ hết.

            Nhiều anh em cho biết họ đã sưu tập một số lớn tranh vui cười của Hiếu Đệ. Nhiều bạn đã "can" vào ordinateur để lưu trữ.

Dù sao những tranh này cũng thuộc vào loại tài liệu lịch sữ của thảm trạng đất nước. Những sự kiện này nếu để mất mát đi thì phí uổng lắm.

            Học giả lão thành Võ Thu Tịnh có đề nghị anh em sắp xếp in thành sách, chia ra từng sự việc, từng đề tài. Xem ra việc làm cũng rất công phu và tỷ mỷ. Anh Tịnh sẽ tình nguyện tiếp tay viết bài giới thiệu cho độc giả cười bể bụng chơi. Nhưng bước đầu phải cho hết vào ordinateur trước đã.

            Buổi đầu, vẽ tranh vui cười tôi chỉ là chú bé nhà quê lên thành phố đi học như chú Ba Ếch mới lên Sài Gòn hay nhân vật Lý Toét Xã Xệ ở báo Phong Hóa, Ngày Nay, chứ chẳng phải đứng trên lập trường giai cấp cóc khô gì. Nhưng con nít ở thời này rất thích chủ nghĩa Mác Xít. Đám bạn bè tôi ở trường Taberd và Chasseloup phần lớn cũng ngã theo kháng chiến chống thực dân Pháp.

            Cuộc biểu tình năm 1952 phản đối tàu Mỹ đến Sài Gòn, học sinh xuống đường đốt chợ đốt xe. Sau đám tang học sinh Trần Văn Ơn bị bắn chết trước dinh Gia Long, các trường học bãi khóa, một số học sinh rủ nhau vào chiến khu. Tôi làm trẻ chăn trâu ở chiến khu bị cha tôi đuổi về Sài Gòn đi học, kẻo vào đó không khéo còn bị đòn. Vũ Anh Khanh sau khi xuất bản quyển Nửa Bồ Xương Khô cũng bỏ đi vào chiến khu từ lúc này.

            Ngồi vẽ minh họ cho báo Đời Mới của cụ Trần Văn Ân, tôi thấy các anh từ chiến khu ở miền Trung miền Bắc về làm việc cho tờ báo như Hoàng Trọng Miên, Nguyễn Đức Quỳnh, Hồ Hán Sơn, họa sĩ Duy Liêm v.v... Họ cũng là người Mác Xít hết. Nhất là anh Nguyễn Đức Quỳnh trong nhóm Hàn Thuyên mà           Tương Tửu là người đầu tiên dịch quyển Tư Bản Luận của Các Mác.

            Tôi mới hay rằng bắt đầu từ năm 1950, trong kháng chiến, Cộng sản bắt đầu thanh lọc hàng ngũ. Những người không cùng giai cấp với họ sợ bị thanh trừng đều bỏ về thành.

Đọc hai cuốn tiểu thuyết Thu Hương và Chị Tập của anh Hồ Hữu Tường mới thấy rõ lý do hai nhân vật này bỏ về thành.

            Bạn bè trong kháng chiến thấy tranh vui cười của tôi phê phán chánh phủ Sài Gòn, họ nghĩ tôi cũng cùng lập trường với họ. Nhưng sự thật họ đều lầm cả.

            Năm 1975, tôi gặp lại mấy đứa bạn ở sân trường tiểu học. Bọn này tập kết ra Bắc trở về. Có đứa sưu tập được mấy tranh này.

            Trong số ấy có Mười Út, con của Hương Kiểm Phải nói:

            - Nhớ Hiếu Đệ quá, tôi góp nhặt mấy tranh này dán vô tập để cười chơi.

            Tôi hỏi:

            - Làm sao chú mầy có được?

            Anh đáp:

            - Báo chí miền Nam được họ mua từ Nam Vang và Hồng Kông. Thứ nhất là mấy cái tranh như mấy bà bầu ở nhà bảo sanh Từ Dũ thì được báo Nhân Dân đăng lại. Họ bảo là miền Nam khổ quá, chỉ mới sắm được có ba cái bàn sanh thôi!

            Thậm chí nó còn cho tôi xem cuốn Hội Nghị Ba Lê Diễn Nghĩa do tôi vẽ để vui cười về những điều            khoản mà Cộng sản có thể vi phạm dễ như chơi.

Ví dụ như vầy:

            Sau khi ký xong, quân số hai bên phải được cắt giảm. Chữ "demobilization" phía bên ta bảo là giải ngũ. Trả quân trang, quân cụ đi về nhà. Có ông sĩ quan không trả được tiền điện, tiền nhà tự tử trước mặt vợ con.

Phía bên kia bảo là phục viên. Họ mang súng về cướp ruộng của dân. Chỉ có dân chết thôi còn đảng sống nhăng.

            Mười Út kể chuyện nhà văn Vũ Anh Khanh. Sau khi xuất bản quyển Nửa Bồ Xương Khô có đăng nguyên văn bản Cương lĩnh của Đảng Lao Động Việt Nam rồi anh bỏ trốn ra chiến khu chống lại chánh phủ Sài Gòn. Anh ta được tập kết ra Bắc.

Một thời gian, Khánh thấy rõ sự kỳ thị giữa Nam Bắc quá lộ liễu, nhất là chánh sách đối đãi con em miền Nam. Khánh cùng một đám bạn lội qua sông Bến Hải trở về. Qua đến nửa sông bị bộ đội biên phòng bắn chết. Mộ của Khánh được chôn ở bờ sông, không được lập bia viết tên họ.

            Trong cuộc chiến vừa qua, những người có lòng với dân tộc, những người yêu nước đều không có chỗ đứng.

Albert Camus trong tiểu thuyết L'Homme Révolté, con người vùng lên để làm tương lai mình bằng bạo lực nhưng sau cùng, họ cũng dở sống dở chết bởi chánh quyền bạo lực của họ.

            Thì ra đúng con người cũng chỉ là một sinh vật phi lý. Trong năm 1957, quyển La Chute báo trước sự sụp đổ của Cộng sản. Staline không có chỗ đứng.

Coi lại ngày còn trẻ Albert Camus cũng có chân trong đảng Cộng sản Pháp. Lúc đó, chủ nghĩa hiện sinh đã thành hình đâu.

            Có lúc tôi vẽ tranh vui cười cho báo Tự Do của anh Phạm Việt Tuyền. Tôi gặp nhà văn Mặc Thu, Mặc Đỗ, Hiếu Chân, mấy anh trong nhóm nạn nhân Cộng sản.

            Anh Mặc Thu nói:

             - Xưa nay anh rất thích nét vẽ của anh Phạm Tăng. Anh Phạm Tăng tố Cộng rất thâm thúy vì anh ta có sống ở chiến khu về. Nhưng đến 1958, anh Phạm Tăng đi Pháp thì có Hiếu Đệ vẽ thế cho mục tranh vui cười. Hiếu Đệ cũng rất là hôm nay vì nó ở trong cuộc chiến có khốc liệt hơn.

            Có nhà báo Mỹ hỏi tôi:

            - Anh vẽ thế nào về người Mỹ đến giúp Việt Nam Cộng Hòa.

            Tôi có cho họ xem bức tranh vẽ thùng Viện trợ Mỹ từ trên trời rớt xuống vỡ ra toàn bom đạn và đè mấy người nông dân xẹp ruột.

            Họ hỏi:

            - Anh vẽ thế nào về người lính Việt Nam Cộng Hòa.

            Tôi cũng cho họ xem bức tranh mô phỏng theo chuyện ngụ ngôn của La Fontaine. Con gấu ngồi đuổi ruồi cho anh nài. Anh nài là người lính Việt Nam Cộng Hòa. Con ruồi tượng trưng cho bọn Việt cộng. Con gấu dội khối đá vào mặt anh nài để đuổi ruồi khiến cho anh ta bị vỡ dầu chết tốt. Thật ra con gấu vẫn thương anh nài. Nhưng nó thương bằng thứ tình thương không hiểu biết.

            Bọn phong kiến Bắc phương đô hộ Việt Nam gần nghìn năm. Thực dân Pháp chiếm cứ nước ta gần một trăm năm.

Trong lịch sử, chưa lần nào nhân dân Việt Nam lại bỏ nước ra đi hằng triệu người như bây giờ. Trong khi đó, Cộng sản Việt Nam cứ nói câu lảng nhách là độc lập, tự do và hạnh phúc. Họ còn lải nhải câu khẩu hiệu của Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".

            Như vậy, nếu đã thực sự độc lập và tự do rồi thì tại sao hằng triệu người lại ùn ùn tìm đường bỏ nước ra đi? Họ không ngại hiểm nguy lấy cái chết để đi tìm sự sống. Chế độ nô lệ của bọn Cộng sản hôm nay chứng tỏ họ dã man tàn bạo hơn cả Tàu một ngàn lần.

            Người ta còn hỏi tôi:

            - Bây giờ anh vẽ tụi Cộng sản Việt Nam như thế nào?

            Tôi trở lại vẽ thường trực trên các báo Việt ngữ ở nước ngoài, nhất là tờ Ngày Nay của anh Nguyễn Ngọc Linh và tờ Việt Nam ở Vancouver. Tranh vui cười của tôi dẫy đầy trên làn sóng internet.

            Thằng Mười Út, bạn tôi ở sân trường tiểu học, bây giờ 73 tuổi rồi. Ngồi bên nhà, nó kêu con cháu "print" lại mấy cái tranh vui cười của Hiếu Đệ dán vào cuốn tập vỡ, lâu lâu giở xem cười chơi đã đời.

            Tôi vẽ bọn Cộng sản lải nhải câu: "Chúng ta phải đấu tranh giai cấp và giữ vững tinh thần giai           cấp". Công nhân và nông dân là những người đang đánh đu cọng đu đủ không rụng... Trong khi đó, bọn Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười... đem bạc triệu gởi ra nước ngoài.

            Tôi có đi một vòng hỏi thăm mấy anh bạn nhà giàu đã từng đem tài sản về Việt Nam làm ăn. Trong mười năm đổi mới, họ nói chẳng có người nào đem về được một đồng xu ten nào.

Vốn của họ nay biến thành đồng tiền của Võ Văn Kiệt và Đỗ Mười. Tiền cũng được đem về Mỹ vậy nhưng nằm trong trương mục của bọn Cộng sản hết rồi.

            Người ta hỏi tôi:

            - Anh lấy ý ở đâu mà vẽ tranh vui cười hoài vậy?

            Shakespeare nói: "Cuộc đời là vỡ bi hài kịch", như vậy sinh hoạt hằng ngày là những nụ cười.

            Trại cải tạo là địa ngục, một nơi khốn đốn nhất. Với bọn Cộng sản, họ quan trọng nhất là mấy giờ lên lớp và học tập chánh trị.

Thế mà lũ bạn cứ bu lại chỗ tôi ngồi để được vui cười.

            Họ nói chẳng thấy Hiếu Đệ khóc bao giờ. Có đứa lên tiếng rằng có người thi sĩ nào đó nói: "Nụ cười là tiếng khóc khô không lệ".

            Mới hôm nào, tôi đến Chicago, gặp anh chàng Bùi Phú. Hắn mới qua Mỹ theo diện H.O. Bữa đó, cộng đồng người Việt đang hội Tết Nguyên Đán. Ngồi nơi bàn tiệc, Phú kể chuyện Hiếu Đệ ở trong trại cải tạo cho mọi người nghe.

            Anh ta nói:

            -  Buổi chiều hôm đó, anh em đi lao động về kéo nhau xuống suối tắm. Có anh nọ được vợ cho một cục sà bông Dove thơm phức. Anh ta ra điều kiện chỉ cho mỗi đứa chà sà bông lên đầu một phát thôi. Trong lúc anh Đệ với tay tìm cục sà bông thì mắt nó bị cay xè. Nó nhìn không rõ, bèn chụp lấy tay anh Hiếu Đệ chửi thề:

            - Con C... nè! Tao thấy chú mầy đã chà lên đầu đến phát thứ hai rồi...

            Bùi Phú nói:

            - Tôi thấy anh Đệ bị oan. Tôi tưởng đâu anh ta sẽ giận. Nhè đâu anh Đệ vẫn cười khà khà nói khôi hài:

            - Tao cám ơn mầy hết sức đã nhắc tao về tên tuổi cái con C... nầy. Thật ra ba bốn năm nay tao cũng có tắm rửa kỳ cọ  săn sóc cho nó. Nhưng tao vẫn quên nó mất. Tao chẳng biết tên tuổi nó là cái gì. Hay có lẽ nó là đồ vô tích sự. Đến nay, tao được mầy kêu tên nó một cách rất là quan trọng. May quá! Không thì tao bỏ quên nó mất rồi!

            Cả bọn ở dưới suối cùng phá lên cười.

            Có thằng nói ở trại cải tạo khổ như thế mà cũng còn vui, anh em còn tụm năm tụm ba nói chuyện tiếu lâm và tán gẫu.

Về đến nhà có đứa nhìn thấy vợ mình đi lấy chồng khác, con cái đi ở đợ. Có đứa giận đời, xách can đi mua hai lít xăng đem về trùm mền tự thiêu chết tốt. Như vậy, tự do không phải là tờ giấy ra trại hay lệnh thả tù mà chính là ở trong lòng mình, ở trong lòng của đám anh em bạn hữu.

            Mùa xuân năm rồi, anh Đinh Văn Khai còn sống. Cứ mỗi sáng chúa nhật là anh phone qua tôi thật sớm.

            Một hôm, anh gọi tôi:

            - Hiếu Đệ ơi! Thức dậy. Già rồi sao còn ngủ nhiều vậy? Dậy! Thức dậy nói chuyện chơi! Vừa rồi ở bên Montréal, anh bị mấy trận "tempêtes de neige" thật lớn. Anh muốn nói bão tuyết bằng tiếng Pháp. Tháng rồi anh phải đi cứu cấp.

            Tôi hỏi:

            - Anh Hai đau gì vậy?

            Anh vừa cười vừa nói:

            - 86 tuổi rồi mà em! Thôi bây giờ mình nói chuyện Clinton tính đánh bom Sadam Hussein. Ông Tổng thống này phải đương đầu trước hai mặt giáp công, giữa Monica và Irak. Bên Việt Nam, tướng Trần Độ kiến nghị với đám lãnh đạo đòi dân chủ tự do. Ông ta còn bảo là giữa ấm no hạnh phúc và Xã hội Chủ nghĩa, ông chọn ấm no hạnh phúc cho toàn dân. Còn có Xã hội Chủ nghĩa hay không, chuyện đó không cần thiết.

            Anh Khai nói thêm:

            - Anh muốn xem mấy cái tranh vui cười của em trong giai đoạn mới.

            Bẵng đi một lúc, tôi chưa kịp gởi báo mới cho anh thì đã thấy nhà văn Phạm Thăng đăng mục chia buồn trên báo là anh Đinh Văn Khai, trước kia là Chủ nhiệm báo Tiếng Chuông ở Sài Gòn đã qua đời hôm tháng Tư năm 1998.

            Anh Khai là người  đầu tiên kêu tôi vẽ mấy cái tranh khôi hài trên các báo hằng ngày năm 1952 và cũng là một trong số những bậc đàn anh đã đưa tôi vào làng báo Sài Gòn.

            Bây giờ tôi đã nghĩ hưu nhưng vẫn chống gậy đi đây đi đó.

Nhưng tôi cũng mang cái tật hay ngồi buổi sáng vẽ những bức tranh vui cười.

Ngồi cười một mình buổi sáng với bình trà là một thói quen rất thú vị của tôi.


                                                                                                                         Hiếu Đệ



                                                             -**-





                             Mấy suy nghĩ về

                           Niềm Đau Bạc Tóc

                                        &

                          Bên Đục Bên Trong

                                  của Hiếu ĐệVõ Phước Hiếu


                                                                  Bài của Đặng Phùng Quân


            Trong một bài viết "Văn Chương và Lưu Đày" in lại trong quyển sách "Tẩu Khúc" xuất bản năm 2004, tôi đã viết:

            "Những kinh nghiệm sinh động, kinh hoàng về sự khủng bố con người, về ý nghĩa tự do và đời sống về bạo động và lịch sử, về những trại tập trung vĩ đại và kỹ thuật làm nhơ bẩn con người. Những tiếng nói ấy cất lên từ văn chương lưu vong, từ những người chứng thoát ra ngoài một thế giới đóng kín" (sđd, trang 78).

            Thế giới đóng kín ấy là thế giới của chuyên chính toàn diện phát xít và chuyên chính toàn diện cộng sản.

            Những tiếng nói ấy cất lên từ nơi một nhà họa sĩ danh tiếng và một vị giám đốc xuất bản uy tín, những người phục vụ văn hóa nhưng chưa bao giờ nghĩ đến cần phải Viết. Thời thế bắt buộc họ phải viết, theo tôi nghĩ, viết để trút gánh nặng ngàn cân của những Chứng Nhân Lịch Sử trước những biến đổi của xã hội "làm cho tôi (VPH) đau đớn nghẹn ngào bằng sự ấm ức bất bình về cơn lốc lịch sử vừa mới phũ phàng thổi tạt lên quê hương tôi" (Võ Phước Hiếu, Bên Đục Bên Trong, trang 116).

            "Cuộc đời chỉ là cuộc tranh sống với nhau thôi. Nhà nước dành đất của dân. Chẳng có vô sản cóc khô gì hết! Chỉ có giai cấp thống trị dành sự sống của giai cấp bị trị" (Hiếu Đệ, Niềm Đau Bạc Tóc, trang 19).

            "Bên Đục Bên Trong" và "Niềm Đau Bạc Tóc" là những tập truyện của hai tác giả Võ Phước Hiếu và Hiếu Đệ in chung do Hương Cau xuất bản lần lượt vào những năm 2004 và 2005. Sự đồng bộ của hai tác phẩm là văn chương bình dị trong lối tự sự hồn nhiên của những người kể chuyện, những câu chuyện không chút hư cấu, mà là cảnh đời diễn ra trong một xã hội nhiễu nhương dưới ách thống trị của một chế độ "độc tài đảng trị" "chủ trương chính sách ngu dân, dùng biện pháp siết hầu siết họng, thắt buộc bao tử người dân trong cảnh triền miên đói khổ cơ cực để dễ dàng kềm kẹp khống chế, phỉnh lừa dối gạt" (Bên Đục Bên Trong, trang 161).

            Với Võ Phước Hiếu, những kỷ niệm gắn bó nơi quê hương Voi Lá - Long Phú của quận Bến Lức thân yêu là cả một quá khứ chập chờn huyền ảo, lại hiện lên hình ảnh một tên Bảy Cò, bạn cũ ngày xưa giờ đây là đại biểu của đám "cán bộ nồng cốt trụ cột của đảng" "kết cấu ăn chia nhau từ trên xuống dưới" bóc lột nhân dân đến tận xương tủy trong truyện ngắn "Cơn Lốc Xoáy Tim", đến những Tư Ca trong truyện ngắn "Bức Chân Dung" ngày ngày say sưa trong men rượu để quên những cay đắng của một kiếp người sa lầy trong sợ hãi vì đã theo Đảng, ở truyện ngắn "Bác Thầy Hù" là hình ảnh một người nghệ sĩ vì đất nước đổi thay phải từ bỏ sàn gỗ sân khấu để trở thành một người hớt tóc dạo, sống cũng không được yên thân "tinh thần lúc nào cũng bị rúng ép khống chế", đến thằng Hai Ngọng trong truyện "Con Sao Chiếu Mạng" kỳ cựu nghèo khó, có chiếc xe xích lô đạp làm phương tiện sinh sống cũng bị "cách mạng" bắt đem nộp xe cho nhà nước, cái nhà nước "miệng nói đấu tranh bênh vực quyền lợi của giai cấp nghèo nhưng dân nghèo ngất ngư tận bùn đen, dở chết dở sống, còn giai cấp lãnh đạo trước đây nghèo sặc máu, kéo về thành phố với quần xà lỏn khăn rằn, ngày càng giàu nứt trứng".                                                                    

            Với Hiếu Đệ, những kỷ niệm phần lớn là về những người họa sĩ, từ Trần Quang Hiếu, Văn Đen đến Nguyễn Thanh Thu bị đọa đày trong một đất nước con người phải lo "tranh sống", cai trị bởi "bọn lãnh tụ làm cho nước nghèo dân khổ", đến những cảnh đời như "Người Ăn Mày Trong Trại Học Tập Cải Tạo" chết tức tưởi vì sự ngu xuẩn của đám cán bộ quản giáo, hay như trong "Hai Mối Tình Của Người Tù Biệt Giam" ở hoàn cảnh cực kỳ khổ sở vì bị nhốt trong Connex mà vẫn thơ thới vì kiên trì bất khuất trong cuộc chiến "ai thắng ai? Cộng sản cải tạo tôi hay tôi cải tạo lại chúng...".

            Người đọc hai tập truyện "Bên Đục Bên Trong" và "Niềm Đau Bạc Tóc" có thể dễ dãi đi đến một nhận xét những truyện ngắn này "chống Cộng". Từ "chống Cộng" ở đây hiểu theo nghĩa xấu (péjoratif) là không hùa theo thời thượng với đám "văn nghệ" mang cái mặc cảm huyễn tưởng "giao lưu văn hóa" như tôi đã chỉ ra trong một bài viết vào năm 1989 là muốn "đồng hành với thế lực chính trị, chờ đợi sự cởi mở của chính sách văn hóa, văn nghệ" để luồn lọt sao cho sách được in trong nước "dưới sự kiểm duyệt của nhà nước Cộng sản" và bọn lãnh đạo "văn hóa tư tưởng".

            Sự khác biệt ấy ở chỗ nào?

            Một đằng, cái minh trí sáng suốt của những người cầm bút trên mặt trận chống lại chính sách văn hóa văn nghệ chỉ đạo, ngu dốt, hủ lậu và cuồng tín xuất phát từ một chủ nghĩa đã cáo chung. Một đằng là cái xuẩn động của những người cầm bút khởi sự là đào thoát ra bên ngoài, đi tìm tự do nay chỉ vì một huyễn tưởng viển vông về một chỗ đứng mà hàng phục trong tinh thần vô sỉ.

            Dưới mắt tôi, hai tác phẩm nói trên đáng trân trọng về mặt minh trí sáng suốt cần thiết đó.

                                                                                    Những ngày ở Lille, tháng Chín 2005.

                                                                                                 Đặng Phùng Quân

                                                                         

No comments: