Tuesday, October 20, 2015

PHẠM BÁ HOA * HỒI KÝ TÙ II


KÝ SỰ TRONG TÙ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA - KỲ 4





12345678

CHƯƠNG 6B TRẠI TẬP TRUNG YÊN BÁI TIẾP


Trồng rau và phân bón.






Từ đầu năm 1977, trại có đủ rau ăn. Rau mùa Đông là bắp cải, trái su-le. Sang Xuân, theo lệnh chúng nó, mấy Tổ trồng rau bắt đầu trồng rau muống. Tổ chúng tôi vẫn là Tổ cơ động nên trước mắt không liên quan đến trồng rau. Phân bón duy nhất là nước tiểu và phân người. Đi tiêu thì họ nói là “đi ỉa”, nhưng cái món hàng bị đẩy ra ngoài thì không nói “cứt người” mà gọi là “phân bắc”. Không biết chữ “phân bắc” có phải là phân của người xã hội chủ nghĩa miền Bắc, hay có ý nghĩa nào khác?





Trong mỗi Tổ trồng rau -phần lớn các anh nhiều tuổi hoặc có bệnh khó trị- cử các toán khiêng nước tiểu từ hộc chứa gần các dãy nhà chúng tôi ở mà họ gọi là “lán”, và khiêng phân bắc đem chứa tại khu trồng rau. Tên quản giáo giao số lượng mỗi sáng ba khiêng và mỗi chiều hai khiêng. Nước tiểu thì có hai hộc chứa còn phân bắc chỉ có một cái cầu, cho nên giữa các Tổ trồng rau phải chia “quyền sở hữu” để xúc và khiêng. Mỗi hai anh có một hoặc hai cái thúng trét bằng nhựa đường để đừng rò rỉ, cái xẻng cán dài để xúc phân bắc và cái đòn để khiêng. Tôi chứng kiến cái cảnh thật là ngậm ngùi cho cái long đong nghiệt ngã của anh em chúng tôi! Nhưng không thể tránh cái ngậm ngùi đó được, vì khiêng không đủ số lượng chúng giao là đâu có yên với chúng nó.


Cái cầu tiêu hai chỗ ngồi dựng sơ sài bên sườn đồi. Chỗ ngồi đi tiêu có chiều cao khoảng 2 thước kể từ mặt đất để người đứng dưới dễ xúc “phân bắc xã hội chủ nghĩa ưu việt”, cho nên khi trong tư thế ngồi mà có những ngọn gió lùa mát ơi là mát. Tôi không nhớ từ đâu ra cái câu “nhất Quận Công nhì ỉa đồng”. Làm Quận Công sướng ở điểm nào không biết, chớ “ỉa đồng” được hưởng gió mát phải biết. Nhưng cái cầu tiêu này bốn bên có vách che cao chừng 6 tấc đủ che cái mông người tù, nên chúng tôi xếp hạng khi ngồi lên cầu này làm cái việc sản xuất phân bón xã hội chủ nghĩa ưu việt là “Quận Công hạng ba”. Khi hai anh Quận Công hạng ba ngồi bên trên -tôi là một- trong khi bốn anh đến đứng bên dưới xa cột cầu tiêu chừng 2 thước. Hai anh trưởng toán cầm cái xẻng cán dài chống trên nền đất, và giành quyền sở hữu: (trong bản ghi nhớ của tôi có ghi họ tên, nhưng tôi nghĩ là không nên viết vào đây)


“Hôm nay là Tổ tôi, sao anh đến?”


“Thì anh cứ lấy thúng đó đi, thúng sau cho tôi vì Tổ tôi cần lắm.”


“Đâu được. Tổ tôi cũng cần như Tổ anh. Tới phiên Tổ nào thì Tổ đó lấy chớ chơi gì kỳ vậy.”


“Cho một thúng chớ có gì đâu mà anh la om sòm.”


Rồi anh có quyền sở hữu hôm nay cũng đành “tặng” anh bạn Tổ kia một thúng “phân bón ưu việt” để giữ tình bạn tù với nhau trong ấm ngoài êm.


Thế rồi phân bắc do hai anh “Quận Công hạng ba” vừa sản xuất rơi “lạch bạch” xuống nền đất, lập tức cái xẻng thò vào xúc rẹt rẹt cho vào thúng. Xong, dựng xẻng đứng chờ. Hai anh “Quận Công hạng ba” làm xong công việc sản xuất, rời khỏi “nhà máy”. Hai toán khiêng vẫn đứng chờ những “quận công” khác vì chưa đầy thúng.


Tôi nghĩ quí độc giả đọc vài dòng chữ ngắn ngủi trên đây có thể phì cười vì thấy những chữ “hơi khó nghe” mà tôi sử dụng, nhưng khi viết đến những dòng chữ này tôi phải dừng lại và lặng yên trong giây lát … vì không nén được những giọt nước mắt xót xa thương cảm, thương cảm chính mình và thương cảm bạn mình! Hơn 30 năm qua, hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn trong tôi!


Đến chuyện mất phân chuồng. Phân của trâu với bò gọi là “phân chuồng”. Trong Tổ chăn nuôi có hai anh giữ trâu, cũng là giữ phân trong chuồng để bón lúa. Buổi trưa lùa trâu về thì hởi ơi, cứt đái của trâu bị “kẻ trộm” vét láng te. Hai anh tức quá, đến các Tổ trồng rau rình. Nhận dạng được “số hàng đã mất”, càu nhàu một lúc rồi huề nhau chớ chẳng lẽ làm gì trước cái sự thể ấy.


Đến lượt tôi đi kiếm phân bò, nói huỵch tẹt là “cứt bò”. Tổ chúng tôi chuyển sang trồng bí rợ mà cộng sản gọi là bí đỏ. Tên quản giáo giao chỉ tiêu -lại chỉ tiêu- mỗi đầu người phải trồng 5 hốc bí trong một ngày ở một bên triền đồi gần trại. Phân bón là phân chuồng và “phân xanh”. Phân xanh, là loại cây tạp, đúng hơn gọi là bụi cây. Thịt mềm, cao khoảng 5 tấc đến 1 thước. Loại này thường mọc ở những khu rừng chồi. Nhổ đem về chặt từng đoạn 5 phân bỏ xuống hốc bí mà cộng sản gọi là “bón lót”. Xong, bỏ vào mỗi hốc 3 hột bí. Nói là 5 hốc bí nhưng vì triền đồi toàn đá nên vất vả lắm mới đào được. Gọi là làm phân xanh thì dễ thôi, nhưng lấy phân chuồng cũng lắm nhiêu khê. Nếu ăn cắp trong chuồng của hợp tác xã, nhỡ bị họ bắt thì bị phạt là cái chắc. Vì họ bênh họ chớ đâu bênh mình. Có Trại 8 gần Trại Cốc chúng tôi, chỉ khoảng vài cây số là cùng. Chuồng trâu ở đó được xem là lớn nhất trong vùng này, nhưng lại gần chòi canh nên không dám đến đó. Chúng tôi chia nhau, cứ hai người một cái khiêng đến các chuồng trâu bò, ngồi chờ khi nó được thả lên núi kiếm ăn thì quảy cái khiêng đi theo. Cứ nhìn vào cái đuôi của nó, khi nhổng lên là y như rằng nó “ị”. Cứ dùng xẻng mà xúc cho vào thúng, rồi đi tiếp. Sang ngày thứ nhì thì hai chúng tôi có chút kinh nghiệm, khi trâu với bò lên dốc chúng “ị” nhiều hơn là lúc xuống dốc hay đứng gặm cỏ.


Có lúc chúng tôi luân phiên, một đứa ngồi chờ một đứa đi tìm bầy trâu bò. Gặp thì ơi ới gọi nhau cùng đi. Tôi mới ngồi một lúc, có hai cô gái đi trên đường. Đến ngang tôi, một trong hai cô dừng lại:


“Phải anh mua cải bắp ngoài Sông Hồng tháng trước không?”


Tôi ngờ ngợ một lúc mới nhận ra:


“Đúng. Tôi đây cô. Cô đi đâu trong này?”


“Tôi đi mua heo con về nuôi. Các anh có khỏe không? Sao không thấy các anh ra ngoài ấy mua rau quả nữa?”


“Cám ơn cô. Anh em chúng tôi cũng khỏe. Vài tuần nay chúng tôi có đủ rau ăn nên trại không dắt đi mua.”


“Sao anh ngồi đây một mình?”


“Tôi có người bạn vừa vào rừng. Một lát anh ấy trở ra.”


“Tôi đi nhé! Các anh giữ sức khỏe để về với gia đình. Chào anh.”


“Chào cô”.


Đó là cô gái con của bà Trưởng Công An quận Trấn Yên mà tháng trước chúng tôi đến mua bắp cải của cô ta, cô ta cho chúng tôi rất nhiều lá cải còn xanh để làm dưa. Có thể đánh giá là cô ta không thù hận chúng tôi dù là con của Công An. Thế mới biết, dù chế độ có bịt mắt bịt tai bịt miệng mọi người như thế nào đi nữa, đến khi mọi người nhìn ra sự thật, con người vẫn là con người. Chẳng khác đem cây trúc kéo cong thật cong, khi buông ra, thẳng đứng vẫn là thẳng đứng.


Khi viết lại đoạn trên đây, tôi không có ý nói đến con người mà từ con người dẫn đến sự kiện. Sự kiện một chế độ chính trị kéo trì bước tiến tự nhiên dẫn đến tình trạng một xã hội chậm tiến và lỗi thời. Đang vào những thập niên cuối của thế kỷ 20, một thế kỷ bùng nổ của thời đại điện toán nhanh chóng và chính xác, thời đại của truyền thông rộng khắp toàn cầu, thời đại của những con người sáng tạo thực tế, thời đại của hợp tác phát triển toàn cầu, thế nhưng Bộ Chính Trị cộng sản Việt Nam đã và đang tiếp tục đẩy dân tộc vào hoàn cảnh sống tồi tệ như vậy mà luôn miệng hô hào “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội!” Không thể nào hiểu được những con người cộng sản ấy!


Gặp Lê Nghĩa Nhơn.


Tổ chúng tôi lại leo núi lấy củi, nhưng không phải củi “bồ đề” mà là những cây khô trên các đỉnh núi hoang. Từ xa đứng nhìn, trông thấy cây khô thì vạch bụi rậm hay chen giữa rừng cây mà tới. Những cây khô trên những núi này thường là rất lớn, đường kính dưới gốc cở 3 tấc (0.3m) trở lên. Chiều cao có cây đến chục thước. Chặt bằng dao rất mệt, chặt ra từng khúc cũng bằng dao càng mệt hơn, mà khiêng về càng mệt hơn nữa. Dốc núi nhìn từ xa tưởng như thẳng đứng, đến gần tìm dốc thoai thoải một chút mà leo. Khi có được khúc cây khô là củi, phải khiêng đến “bãi phóng”. Chẳng biết ai đã làm bãi phóng, nó có đường rãnh vừa rộng vừa sâu, nếu có cái cây đường kính cả thước phóng xuống cũng được nữa. Ở những đỉnh núi trước đây chúng tôi đốn cây làm cột hoặc cây chổm làm nhà, chúng tôi cho nó lăn xuống chân núi, còn ở đây chúng tôi phóng những khúc cây khô làm củi từ trên đỉnh chạy theo đường rãnh xuống đến sát chân núi. Khi chạy nghe ầm ầm vang động cả khu rừng nghe dễ sợ lắm, vì chẳng may nó văng ra ngoài rãnh là nó va vô gốc cây rồi văng qua văng lại làm những anh đứng phía dưới phải tìm thân cây lớn ẩn núp. Đến chân núi, chúng tôi lăn nó ra bãi trống mới có thế để lên vai khiêng về trại. Mỗi khi dừng chân đỡ mệt, chúng tôi phải tìm thế dựng nghiêng nó vào thân cây, để khi tiếp tục thì hạ dần xuống vai anh Thành rồi dần dần nâng lên vai tôi. Nếu quẳng nó trên mặt đất, đến khi lên vai trở lại rất khó và nguy hiểm nữa, vì có thể bị nó đè lên người là gảy xương hoặc chết như chơi!


Hết cây khô trên các đỉnh núi, tên quản giáo và tên võ trang “khẩn trương” dắt chúng tôi đi hết con đường đỉnh đó, rồi hắn chỉ:


“Các anh sang bên kia mà tìm”.


Câu nói ngắn ngủn nghe nhẹ nhàng như vậy mà chúng tôi phải xuống thung lũng sâu mới trèo lên đỉnh núi bên kia được. Đến nơi, mồ hôi ướt đẫm cả áo quần mặt mũi! Ngồi nghỉ một lát, vạch bụi rậm từng bước đến cây khô. Ở đây rất nhiều cây khô mà lại nhỏ nữa, nên có được một bó 25 kí lô không mệt lắm. Đang vác bó củi xuống thung lũng sâu để sang núi bên kia rối leo lên đỉnh nghỉ mệt và ăn trưa, sau đó ra đường đá về trại. Chỉ mới xuống lưng chừng triền núi, nghe tiếng của một bạn từ triền núi bên kia:


“Phải anh Hoa đó hông?”


Tôi nhướng mắt nhìn một lúc, nhận ra dáng vấp của Lê Nghĩa Nhơn, người bạn trẻ của tôi:


“Trời ơi! Anh Hai nè Nhơn”.


Lê Nghĩa Nhơn, người yêu của cô em gái xa xôi của vợ chồng tôi: Nha Sĩ Phạm Thị Minh. Nhơn nhanh chân tuột xuống thung lũng rồi trèo lên chỗ tôi ngồi ở lưng chừng triền núi. Tội nghiệp, trẻ mà cũng thở hổn hển! Anh em ôm nhau mà rơi nước mắt! Không ngờ lại gặp nhau giữa rừng già hoang vu trên đất Bắc! Chúng tôi tạt qua một bên có khoảng đất nhỏ bằng phẳng.


“Ngồi đây Nhơn. Em ở trại nào?”


“Em ở trại 8, gần bệnh xá Liên Trại đó anh”.


“Anh biết trại đó. Đi trên núi nhìn thấy máng dẫn nước suối từ triền núi bên kia lận mà. Em có được thư nhà và thư của Minh không?”


“Có anh. Em mới nhận gói quà của Minh cách đây vài tuần. Anh còn ngồi đây bao lâu?”


“Anh ở ngoài rừng này đến chiều mới về. Anh đi thông tầm mà, nếu về sớm nghỉ sớm. Bây giờ anh phải đem bó củi này qua núi bên kia rồi trở lại tiếp anh bạn vác thêm bó củi nữa. Sau đó ăn trưa rồi mới về. Mà chi vậy?”


“Anh để em vác bó này qua bên kia rồi em về trại lấy thức ăn đem lại cho anh.” Nói xong, Nhơn vác bó củi giùm tôi xuống thung lũng …”


Trong lúc tôi và các bạn ngồi ăn khoai mì thì Nhơn trở lại. Có lẽ Nhơn chạy nhiều hơn đi, nên mồ hôi ướt cả áo.


“Anh giữ cái lon guigoze này xài. Bên trong có 2 tán đường của Minh gởi. Còn củ khoai mì là em ăn cắp trên đồi và nấu tối hôm qua.”


“Đào trộm khoai mì của tụi nó cũng là “nghề” của anh mà. Nhơn, ăn với anh một nửa đi”.


Tôi bẻ làm hai, đưa Nhơn một nửa nhưng Nhơn nhất định không nhận:


“Em no rồi anh. Khoai này nhiều bột, anh ăn với đường tán ngon lắm. Em có đem theo nước trà xanh cho anh đây”.


Tôi ăn củ khoai mì một cách chậm rãi để góp thêm phần “trang trải” cái bao tử đang đói, cũng vừa để thấm thía dòng tình cảm của Nhơn với Minh đối với tôi trong tình cảnh tù đày!


Trà xanh mà Nhơn nói là hái trộm đọt trà của chúng nó, cho vào nước sôi có mùi thơm thoang thoảng, dễ chịu. Trong thời gian ở trại nhà ngói chúng nó bắt đi hái trà, ngày nào tôi cũng ăn cắp rồi cột quanh hai ống chân. Tối về trại lén nấu lon guigoze nước trà xanh, tôi với anh Nghĩa nhâm nhi chẳng khác các bạn nhâm nhi rượu đế. Tháng sau đó, tôi được tin đa số các anh ở trại 8 đã bị chuyển lên Liên Trại ở Thác Bà (nơi có nhà máy thủy điện) xây dựng “khu kinh tế mới” cho người dân vùng biển lên lập nghiệp. Trong số chuyển trại có Lê Nghĩa Nhơn. Từ đó về sau tôi không gặp lại Nhơn.


Mãi đến năm 1991, khi vợ chồng tôi sang Houston, Texas, Hoa Kỳ, được biết Lê Nghĩa Nhơn đã ra trại tập trung và vượt biển sang đây. Nhơn với Minh đã thành hôn trên đất Mỹ. Thế nhưng, chẳng bao lâu sau đó bị bắn chết trong lúc lái xe trên đường từ chỗ làm về nhà.


Ngạc nhiên thứ sáu.


Đến vụ mùa, Tổ chúng tôi chuyển sang làm ruộng. Tổ trồng rau cứ trồng rau, Tổ nhà bếp cứ nấu nướng, Tổ lấy củi chỉ biết lấy củi, Tổ thợ mộc tối ngày cứ đục đẽo, nhưng Tổ cơ động chúng tôi phải làm mọi việc không thuộc những Tổ vừa nói.


Vùng ruộng mà chúng tôi phải làm là ruộng bậc thang ở đất triền chớ không bằng phẳng như đồng ruộng miền Nam. Ngăn cách giữa bậc thang này với bậc thang kia là một đường đê nhỏ bao quanh giữ nước cho bậc thang trên. Chân của hai triền đồi giáp nhau tạo thành đường thông thủy. Mỗi người lãnh một cây cuốc với “chỉ tiêu” 50 thước vuông (50m2), đứng hàng ngang mà cuốc cho đất vỡ lên rồi san bằng. Tiếp theo, cứ hai người một cái gàu với hai sợi dây hai bên miệng gàu, cùng nhịp nhàng đưa nước từ đường thông thủy lên bậc trên, hai anh bên trên lại đưa tiếp lên bậc thang trên nữa. Và cứ như vậy mà đưa nước từ dòng suối nhỏ lên đến bậc thang trên cùng.


Khi sẳn sàng để cấy, có nghĩa là đất ở mỗi bậc thang tương đối bằng phẳng, chuyền nước lên đủ rồi, phân chuồng đã bón lót xong, lúc ấy anh Trần Thanh Liêm (Đại Tá Quân Tiếp Vụ) là người phụ trách nhổ mạ. Mạ ở đây khi nhổ để cấy, nó cao chỉ khoảng 10 đến 12 phân thôi (0.12m). Trông cây mạ nhỏ nhắn gầy gò đến thảm hại, thì liệu đến mùa “sinh nở” nó cho được bao nhiêu hột lúa? Khi cấy thì tù chính trị chúng tôi không cấy, mà có toán thợ cấy hơn chục đàn bà con gái từ Hợp Tác Xã Việt Cường vào cấy “vần công đổi công”. Bà nhiều tuổi nhất đứng nhìn những bó mạ bé tí xíu, lắc đầu, sau khi nhổ toẹt bãi nước trầu đỏ choét xuống ruộng, bà vừa cười vừa nói:


“Mấy ông tướng nhổ mạ kiểu này làm sao bọn tôi cấy được.”


Không biết chữ “tướng” mà bà vừa nói, là do quen miệng hay có ý vỗ về an ủi hoặc xách mé gì chúng tôi đây?


Tiếng nhỏ nhẹ của cô gái trẻ:


“Thôi, mình chuẩn bị lại đi, đứng đó mà nói bao giờ mới xong.”


Thế là cô gái vừa nói vừa tháo các bó mạ ra, xếp từng cọng mạ ngay ngắn gốc ngọn. Trong toán thợ cấy có cô trẻ nhất mà mấy cô trong toán gọi là “thợ cấy chuẩn”. Nhiệm vụ của cô gái này là cấy các đường chuẩn ngang dọc, và các thợ cấy khác theo đó mà cấy sẽ thẳng hàng. Cấy chuẩn xong, cô ta sang mảnh ruộng bậc thang kế tiếp vẫn với nhiệm vụ cấy chuẩn. Thợ cấy, để nắm mạ nhỏ nhắn trên lòng bàn tay trái, trong khi ngón cái của tay phải tách từng nhúm mạ vài ba cọng, và ấn gốc mạ xuống ruộng. Vì cọng mạ nhỏ như vậy nên thợ cấy không dùng “cây nọc cấy” như thợ cấy ở đồng ruộng miền Nam.


Một tháng sau, quản giáo với võ trang hướng dẫn chúng tôi “làm cỏ sục bùn”. Nghe chúng tôi bàn tán cái công việc lạ tai quá, có vẻ như tên võ trang tưởng chúng tôi nói xiên nói xỏ gì đó nên hắn giải thích với giọng khó ưa:


“Này, đừng có lý luận lôi thôi. Làm cỏ sục bùn là vừa làm cỏ vừa quậy cho bùn lên bồi dưỡng cho cây lúa. Trong bùn có phân đấy. Khẩn trương lên.”


Mỗi người chúng tôi đứng cách nhau 4 hàng lúa tức khoảng một thước, khom người xuống, mười ngón tay thay cho bàn cào lùa xuống bùn đẩy tới kéo lui giữa hai hàng lúa, ngón tay hơi cong lại cào bùn đất lên còn cỏ thì tróc gốc “lăn quay cu đơ” nổi chềnh ềnh trên mặt nước mà chết tức tưởi.


Trong khi chờ đợi mùa gặt mà họ gọi là “thu hoạch”, Tổ chúng tôi phải vào xã Việt Cường (quận Trấn Yên) trả công cho toán thợ cấy tháng trước, bằng cách đắp đập làm hồ nuôi cá trắm cỏ. Tại sao gọi đắp đập làm hồ? Vùng này núi rừng trùng trùng điệp điệp. Mỗi hai bên triền núi là cái thung lũng, cứ đắp đập chận hai đầu, chỉ cần dành cái cống nhỏ cho dòng nước thượng nguồn vào, và cái đập tràn ở hạ nguồn để thoát bớt, là có cái hồ rồi.


Cứ sáng đi chiều tối về trên đoạn đường dài cộng chung áng chừng trên dưới 12 cây số. Tổ nhà bếp cử một toán theo nấu ăn tại chỗ. Mỗi người mỗi ngày được Hợp tác Xã cấp cho một kí lô khoai mì sống để ăn thêm lúc giữa trưa mà họ gọi là “bồi dưỡng”. Tôi thấy ông cụ mặc chiếc áo dạ của quân đội Pháp ngày trước, mà lúc học ở Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt tôi được lãnh để mặc lúc canh gác ban đêm. Ông ta cư xử với chúng tôi phải nói là lịch sự, luôn luôn gọi chúng tôi bằng ông. Tôi bắt chuyện:


“Xin lỗi cụ. Cái áo dạ này mặc ấm lắm. Ở đây có bán sao cụ?”


“Không ông ơi! Trước kia tôi là Thượng Sĩ trong quân đội Pháp, tôi giữ cho đến bây giờ đấy. Gia đình tôi cùng nhiều gia đình trong quân đội Pháp ở lại sau Hiệp Định 1954, đều bị chỉ định cư trú vùng này từ năm 1955. Tôi ở Thái Bình chứ có phải quê quán nơi đây đâu.”


“Số gia đình chỉ định cư trú ở đây đông không cụ?”


“Vùng xã Việt Cường này hình thành là do các gia đình bị chỉ định cư trú đấy.”


“Trước khi đến đây, họ có bắt cụ đi cải tạo như chúng tôi không?”


“Không. Vì tôi là Hạ Sĩ Quan. Còn Sĩ Quan thì họ bắt đi hết. Có người cũng đến hai ba năm mới về. Mấy ông bao lâu rồi?”


“Gần 2 năm rồi cụ.”


“Họ có nói với mấy ông thời hạn bao lâu không?”


“Khi thông cáo gọi đi học tập cải tạo họ bảo chuẩn bị cho 30 ngày. Sau 12 lần 30 ngày, họ bắt học tập chính sách cải tạo thời hạn 3 năm, nhưng mù mờ lắm cụ ơi!”


“Mấy ông tin họ là chết đấy. Tôi chỉ khuyên mấy ông một điều là phải giữ sức khỏe, chớ để bỏ xác ở cái xó rừng này như chúng tôi. Không ai thương mấy ông đâu, chỉ có mấy ông thương mấy ông thôi. Đừngbao giờ nghe hai chữ nhân đạo họ nói”.


“Cám ơn cụ rất nhiều.”


Trông thấy tên quản giáo lù lù đến, tôi nói to cho hắn nghe:


“Cụ ơi! Cụ nói là các cô ấy lột võ khoai và luộc giùm chúng tôi phải không cụ?”


“Phải. Mỗi ngày chúng nó làm giúp mấy ông vì bếp mấy ông có hai người làm sao kịp. Chúng nó là thợ cấy ra cấy vần công cho mấy ông đó.”


“Kia rồi. Cô gái áo trắng chính là cô thợ cấy chuẩn, phải không cụ? Nhanh tay mà lại thẳng hàng nữa.”


“Nó giỏi nhất của Hợp Tác Xã này đó ông.”


Tên quản giáo -Trung Úy Bật- hướng dẫn việc:


“Các anh vạt triền núi kéo đất ra đắp đập, còn hai bên má đập sẽ có trâu của Hợp Tác Xã ra “đầm”. Ngoài dụng cụ mang theo từ trại, Hợp Tác Xã sẽ cho mượn ván để làm bàn trang kéo đất. Tất cả dụng cụ để lại tại chỗ trước khi về trại. Bây giờ các anh tổ chức công việc mà tiến hành.”


Chúng tôi chia ra: Toán xén đất triền núi, toán dùng bàn trang kéo đất ra mặt đập, toán dùng cuốc san bằng mặt đập. “Bàn trang”, là một tấm ván dầy một chút để dùng được lâu, kích thước ngang 0.4m dài 0.8m. Hai bên hông đóng hai cây đinh lớn để cột dây, và đầu dây cột vào thanh gỗ tròn do hai người kéo từ phía trước, trong khi người thứ ba từ phía sau, cầm thanh gỗ đóng chặt vào tấm ván để dựng đứng bàn trang lên. Thế là một lượng đất bị cái mặt bằng của tấm ván mà họ gọi là bàn trang đẩy đi. Cứ như thế mà ngày này sang ngày khác trong ba tuần liên tiếp, chúng tôi làm xong cái hồ cho Hợp Tác Xã vừa nuôi cá vừa có nguồn nước tưới cho vùng này.


Trong thời gian đắp đập, chúng tôi thêm một lần trông thấy bản chất dã man của mấy tên gọi là cán bộ. Chuyện về con chó của tên quản giáo. Một hôm trong lúc giải lao giữa buổi, anh Nguyễn Văn Kim (Đại Tá Tổng Nha Tài Chánh& Thanh Tra Quân Phí) trông thấy tên quản giáo bắt con chó của hắn đem làm thịt. Anh nói:


“Con chó hắn dắt theo hằng ngày, gọi một tiếng là con chó đến nằm ngay dưới chân. Thế mà chúng nó trói con chó lại rồi đem cắt cổ một cách thản nhiên. Sao chúng nó tàn nhẫn thế! Trông bất nhẫn quá!” Ngưng một lúc anh tiếp:


“Tôi là dân Bắc Kỳ, tôi cảm thấy dân miền Bắc bây giờ không như dân miền Bắc ngày trước nữa. Ngay cả cái đạo đức gia đình theo cái điều mà thằng Xê coi tụi mình ở Long Giao đã nói, cũng thay đổi hoàn hoàn”.


Không hiểu do đâu mà tên quản giáo -Trung Úy Khảm- nghe được câu nói của anh Kim, thế là trước khi về trại, nó mắng chúng tôi một trận như tát nước:


“Chuyện cán bộ ăn thịt chó là chuyện bình thường, nhưng anh nào trong số các anh dùng chuyện đó để xuyên tạc cách mạng. Các anh có giỏi thì buớc ra khỏi hàng mà nhận đi. Các anh đừng tưởng là chúng tôi không biết ý đồ của các anh. Các anh đang làm cái việc lấy nạng chống trời đấy à! Nào, ai nói nhận đi?”


Anh em chúng tôi im phăng phắc, muốn cười nhưng không dám cười. Muốn cười, vì nó dùng cái chữ “lấy nạng chống trời”, vì lúc ở trại tập trung Long Giao tên giảng bài chính trị gọi là giáo viên, hắn ngông nghênh cái mặt mà huênh hoang nào là; chủ nghĩa Mác Lê là vô địch, ba dòng thác cách mạng là bách chiến bách thắng, Việt Nam ta trong 10 năm tới sẽ vươn lên ngang bằng nước Pháp, ..v..v… Muốn cười, vì chính họ mới là đám người lấy nạng chống trời đó. (Bây giờ là năm 2008, không biết cái tên “giáo viên chính trị” đó còn can đảm để nói theo cái kiểu ấy nữa hay không?)


Đến chuyện học trò xã hội chủ nghĩa. Nơi chúng tôi xẻ núi đắp đập là con đường làng. Ngày nào đám học trò tiểu học cũng đi ngang đây, chúng nó thấy mặc đồ “quân đội nhân dân” thì mấy đứa con trai vừa chạy vừa la:


“Chú bộ đội lội chuồng heo. Chú bộ đội lội chuồng heo.”


Tên quản giáo đỏ mặt, và hét: “Ai dạy chúng mầy thế?”


Tụi nó vừa chạy vừa trả lời tỉnh bơ: “Cô giáo dạy đó. Làm gì không?” Và chúng nó biến vào khu vườn mất dạng.


“Đồ mất dạy.”


Rồi hắn xoay qua hỏi ông cụ: “Tụi này con ai vậy?”


Ông cụ cũng tỉnh bơ:


“Cả xóm này đều thế, có biết là con ai đâu. Trẻ con nó hỏng hết anh ơi!”


Một hôm khác, tụi nhỏ còn bạo hơn nhiều. Chúng nó cũng vừa chạy vừa hát:


“Như có bác Hồ trong chuồng heo hợp tác.”


Tụi nhỏ chạy nhanh lắm, với lại có rượt nó thì nó quanh co vào vườn một hồi là không thấy đâu nữa. Tên quản giáo tức lắm nhưng làm gì được lũ trẻ, trong khi chúng tôi ngạc nhiên là thằng võ trang không có phản ứng gì cả, hắn ngồi như không có chuyện gì xảy ra hết. Chẳng biết là hắn đồng tình với tụi nhỏ, hay vì không rượt theo kịp nên ngồi một chỗ cho khỏe?


Đến chuyện cúng giỗ. Trong miền Nam từ ngày xửa ngày xưa đến nay, cúng giỗ là một trong những tập quán gia đình, tập quán xã hội. Nhưng trên đất bắc xã hội chủ nghĩa mà cúng giỗ quả là sự kiện lạ. Khi mang dụng cụ vào gởi trong nhà ông cụ, chúng tôi quá đổi ngạc nhiên vì thấy nhà bên cạnh bày thức ăn cúng bàn ông thiên kê trên chiếc bàn nhỏ ngoài sân. Trong nhà thì mâm cỗ nhang khói um tùm. Tôi ghé tai ông cụ:


“Cụ ơi! Họ không cấm cúng giỗ hả?”


“Cấm chứ. Công An bắt gặp là lập biên bản, rồi kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, phiền lắm ông ơi!”


“Vậy mà bà con còn giữ được phong tục tập quán dân tộc. Hay lắm.”


Ngần ngừ một lúc, ông cụ hỏi tôi:


“Chúng nó đưa mấy ông ra đây bằng gì?”


“Anh em chúng tôi đây thì đi bằng phi cơ, nhưng hầu hết trong số hằng trăm ngàn anh em sĩ quan và viên chức chúng tôi thì họ chở bằng tàu ra đến Vinh hoặc Hải Phòng, từ đó họ nhốt trong những toa xe lửa chở hàng hóa với súc vật chuyển đến các trại.”


“Tôi có nghe dân vùng xã Việt Hồng thuật lại những gian nan của các anh bị nhốt trong đó, khốn khổ lắm! Rồi đây thời gian càng dài, nỗi khổ của mấy ông còn nặng hơn nữa chứ không phải thế này đâu.”


“Cám ơn cụ cho chúng tôi thêm kinh nghiệm từ bản thân của cụ.”


Ngạc nhiên thứ bảy.


Ông cụ nói đến xã Việt Hồng (cũng thuộc quận Trấn Yên) sâu bên trong xã Việt Cường, làm tôi nhớ lại những lần đi mua đường mía ở đó mà chúng gọi là mật đường. Mật đường, thật ra nó chỉ là nấu từ mía ra chớ không có gì khác. Trước khi vào đây đắp đập, tên Trại Phó kiêm tiếp liệu mà chúng gọi là hậu cần, dẫn một toán 8 người -có tôi trong số đó- mỗi hai người một khiêng khoảng 15 kí lô. Tất cả tiền chúng tôi gởi mà họ gọi là đăng ký, đều do tên này giữ. Anh nào muốn mua bao nhiêu thì ghi tên, rồi họ chỉ định số người đi mua. Khoảng 8 cây số đường đá, chúng tôi đi ngang Trại 11 và Trại 13, giam giữ các bạn cấp Đại Úy. Do vậy mà chúng tôi mới biết Liên Trại 1 này (trong 6 Liên Trại) có 13 Trại.


Rẽ vào đường làng. Dân làng thưa thớt, nhà này cách nhà kia khá xa, hầu hết đều quanh quẩn theo dòng nước giữa hai triền đồi. Chuyện trả giá mua bán và cân đong do 2 tên võ trang với những người bán đường, tù chính trị chúng tôi không được thông báo gì cả. Khi nó gọi vào nhận là nhận chớ chẳng biết trọng lượng bao nhiêu. Chẳng hạn như hắn cho biết mỗi chậu thau 15 kí lô, nhưng thật sự là giữa những thau để cạnh nhau không có cái nào bằng cái nào cả, nhưng không được thắc mắc với hắn.


Khi mua bán và nhận hàng xong, hai tên võ trang bảo chúng tôi sang bãi đất trống cạnh cửa hàng hợp tác xã mua bán mà ăn trưa. Bên cạnh cửa hàng là trạm xay lúa mà họ gọi là trạm xay xát. Trạm này chỉ có cái máy xay lúa nhỏ xíu, nhỏ đến mức mỗi lần đổ vào đó chỉ một thúng lúa cỡ như cái thúng giê trong miền Nam thôi. Anh Nguyễn Hữu Có đi đâu một lát quay lại:


“Anh Hoa. Chỗ máy xay lúa có con nhỏ tên Thanh nó đang xay lúa.”


“Trời ơi! Lạng quạng coi chừng nó mắng à anh.”


“Hổng có đâu. Ở đây mà có con nhỏ ngồ ngộ mới lạ chớ.”


“Ở đâu mà chẳng có con gái, trong nhiều đứa thì thể nào cũng có đứa ngồ ngộ như anh nói thôi. Mà sao anh biết tên nó?”


“Nghe mấy đứa nhỏ kêu.”


“Đừng hỏi gì nghe anh, tụi con gái xã hội chủ nghĩa nó mắng khiếp lắm. Anh có nhớ lúc ở trại nhà ngói nghe hai bà sồn sồn chửi nhau kinh khủng chớ. Chửi có vần có điệu từ sáng đến trưa, hưu chiến ăn cơm độn bắp xong lại chửi tiếp đến chiều. Dữ thiệt.”


Tiếng thằng võ trang từ nhà bên kia đường:


“Các anh được ăn đường tại chỗ, nhưng không ai được lấy ra mang về trại.”


Tức là 8 anh em chúng tôi được ăn trong số đường mía mua chung đó. Vì cơ thể thiếu chất ngọt nên anh nào cũng ăn. Phần tôi, cho hai muỗng đường vào gà mèn cơm độn bắp, ăn một cách ngon lành. Ăn xong, vào cửa hàng định mua cái khăn nhỏ để lau mặt. Mang danh là “cửa hàng hợp tác xã mua bán” mà hàng hóa lơ thơ tơ liễu buông mành, kệ thì nhiều nhưng hàng thì lác đác. Vào cửa, cô bán hàng đang cho con bú. Lỡ bộ, tôi hỏi luôn:


“Cô làm ơn bán cho tôi cái khăn lau mặt.” Vừa nói tôi vừa chỉ lên kệ.


“Anh ra xem tấm bảng ngoài cửa.” Cô ta buông vạt áo xuống vừa n1oi vừa chỉ ra cửa.


Tôi cứ ngỡ tấm bảng chỉ dẫn cách mua hàng xã hội chủ nghĩa, nhưng không, đó là tấm bảng treo ở tay nắm cửa có 4 chữ: “Nghỉ cho con bú.” Tức cười mà không dám cười vì sợ cô mậu dịch mắng. Không biết cô ta còn có tấm bảng “nghỉ tắm con” hay “nghỉ cho con ỉa” không nữa? Và cười vì sau chữ “nghỉ” không có dấu phết, làm cho câu đó có nghĩa là “không cho con bú nữa”. Thế là tôi có mua được cái khăn đâu. Ra ngoài, tôi gọi anh Có:


“Anh vô coi cửa hàng hợp tác xã ngộ lắm. Tại chỗ tay nắm cửa có tấm bảng treo ở đó thì anh thấy.”


Anh Có chẳng những đến xem tấm bảng mà còn đi tuốt vào trong xem cô bán hàng cho con bú rồi trở ra, cứ như không thấy tấm bảng vậy.


Khắc nghiệt.


Bất luận lúc nào chúng tôi nhận quà đều qua sự kiểm soát của tên quản giáo mà hắn gọi là “kiểm tra”. Trong mỗi lần gởi quà, vợ tôi đều cho tôi hộp bơ thực vật và một gói đường cát, vì trong cơ thể thiếu chất ngọt với chất béo kinh khủng. Tất cả những hộp những lon những gói đóng kín, hắn đều mở tung ra hết, cho dù các hộp đóng kín từ những hãng sản xuất trên thế giới cũng vậy. Chẳng những mở ra, mà hắn dùng chiếc đủa ngoáy tưởng chừng thực phẩm bên trong nát bét ra, để hắn tìm tịch thu những thứ gọi là cấm kỵ. Cái kỳ lạ là với những cái hộp thực phẩm sản xuất từ ngoại quốc hắn cũng nghi ngờ nữa. Một lần hắn ngoáy mãi mà không tìm được những thứ cấm kỵ, nhưng cạnh cái hộp có cây viết Pilot của Pháp sản xuất. Hắn nói:


“Tôi mang về kiểm tra rồi cho biết sau.”


“Hay là cán bộ đưa tôi tháo ra cho cán bộ xem.”


“Không được. Tôi phải gởi đến chuyên viên kiểm tra.”


“Báo cáo cán bộ, cây viết rất đơn giản tôi tháo ra ngay trước mặt cán bộ, chớ có gì đâu mà cán bộ gởi đến chuyên viên.”


Hắn lườm tôi: “Chuyện của tôi, anh không cần biết.”


Đút cây viết vào túi, hắn quay sang xem thư. Xem xong, hắn ném vào người tôi:


“Chồng là chồng, còn gọi là chồng yêu quí là thế nào?”


Đó là dòng chữ mở đầu của vợ tôi thường viết như vậy. Tôi tức quá:


“Tình cảm vợ chồng người miền Nam chúng tôi là như vậy, có vi phạm điều cấm nào của trại đâu mà cán bộ la.”


“Viết dài dòng như thế chúng tôi đâu có thì giờ kiểm tra. Bảo vợ anh lần sau viết ngắn lại.”


“Chỉ một trang giấy mà vợ tôi nói địa phương đã hướng dẫn, đâu có gì sai.”


“Anh không được lý sự. Về chỗ”.


Y như rằng, hễ chúng nó “bí” là chúng nó bảo không được lý sự, tệ hơn thì gọi là ngoan cố. Tôi nói với anh Lễ đang cùng nhau về chỗ nằm:


“Tôi chẳng biết thằng này muốn lấy cây viết, hay nó nghi ngờ cây viết cũng là cây súng trong ngành tình báo chăng?”


“Tụi nó sợ tình báo Hoa Kỳ kinh khủng. Con mắt nó nhìn vào bất cứ món gì do ngoại quốc sản xuất cũng nghi là tình báo hết trơn.”


“Nghĩ mà tức. Tức vì mình thua cái tụi chẳng ra gì, nếu không nói là cái tụi ngu đần hết biết.”


Mấy tuần sau đó, hắn đưa cây viết lại tôi. Hắn nói:


“Tôi phải mang lên Liên Trại, Liên Trại lại đưa đến Bộ Tư Lệnh Đoàn mới xong đấy.”


Chừng như hắn kể ơn với tôi thì phải. Tôi bèn nói hai tiếng “cám ơn” để lấy cây viết cho rồi.


Trong một kỳ gởi thư về gia đình, anh Trần Duy Bách (Đại Tá, Tỉnh Trưởng Lâm Đồng) nói riêng, và tất cả chúng tôi nói chung, bị tên quản giáo của ảnh “chụp cho cái mũ” rất buồn cười. Chuyện là mỗi người chỉ được phép viết thư gởi về gia đình trên một trang giấy mà thôi. Anh Bách cũng như tất cả anh em chúng tôi đều viết đúng như vậy. Vì đi rừng quá nhiều nên anh nào cũng xin gia đình gởi cho đôi giày vải để không bị rách chân. Trên trang viết, anh Bách có ghi số của cở giày, nhưng để cho chắc, anh bèn để cái bàn chân lên mặt sau trang giấy rồi lấy viết kéo sát vòng chân để yên tâm là có đôi giày vừa vặn. Chỉ có như vậy thôi, mà trời ơi, thằng quản giáo nó chửi tối tăm mặt mũi! Không phải chửi riêng anh Bách, mà chửi tuốt luột tù chính trị chúng tôi:


“Tôi nói cho các anh biết, đảng với nhà nước đã rất nhân đạo khi cho các anh viết thư về gia đình. Các anh lại chà đạp lên chính sách khoan hồng nhân đạo đó bằng cách in bàn chân lên bức thư. Hành động này là không thể tha thứ.”


Anh Bách trình bày:


“Báo cáo cán bộ, tôi hoàn toàn không có ý gì khác ngoài cái mục đích giúp gia đình tôi mua đôi giày vừa với đôi chân tôi. Thế thôi.”


Tôi chỉ nghe đến đó rồi đi về vì cảm thấy trong người không khỏe nên không rõ hắn còn mắng mỏ gì nữa. Đến tối tôi nghe các bạn nói lại là anh Bách bị hắn bắt viết kiểm điểm mới được viết thư khác. Kiểm điểm là một hình thức trừng phạt nhẹ. Về sau cứ mỗi lần nhắc đến anh Bách, chỉ cần nói “chà với đạp” là hiểu nhau rồi.


Những người “trồng” được.


Những tháng đầu năm 1977, hơn 300 anh em chúng tôi cấp Đại Tá bị tách ra làm hai, một nửa chuyển vào Trại 3 phía trong Trại Cốc. Tổ chúng tôi vẫn tại chỗ. Trong một lần các bạn trong Trại 3 đi mua nước mắm ngoài chợ Yên Bái. Sau đó, nhân đi lao động gặp nhau, anh Nguyễn Kim Tây (Đại Tá Biệt Động Quân) kể chuyện. Vì trong một lần lao động ngoài trại, thằng quản giáo Tổ của anh Tây tên là Tước mà lúc ở Trại Cốc chúng tôi thường gọi là “Tước mặt đỏ”, vì mặt của hắn lúc nào cũng đỏ như người say rượu. Hắn nói đường xe lửa xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc này rộng 1.4 thước. Vì vậy mà lần này có dịp ra Yên Bái, anh đo thử xem sao. Nếu thật sự đường xe lửa 1.4 thước là tiến bộ lắm. Ra đến nơi, việc đầu tiên là anh Tây dùng bàn tay đo đường rầy xe lửa. Đúng 4 gang tay, hay là trên dưới 8 tấc (0.8m). Anh lại lấy sợi dây từ trong túi ra đo nữa để về trại đo lại trên cây thước. Anh cột hai đầu dây làm dấu bề ngang đo được.


Ngày hôm sau, trong lúc lao động, anh đến trước mặt “Tước mặt đỏ”, anh cười cười với vẻ thắng thế:


“Báo cáo cán bộ. Đường xe lửa ngoài Yên Bái có 8 tấc chớ đâu phải 1.4 thước cán bộ.”


Tước mặt đỏ quát liền:


“Đảng với nhà nước đã nói 1.4 thước là 1.4 thước. Anh dám xuyên tạc đảng với nhà nước phải không?”


Anh chàng Tây chúng tôi bèn nổi gân cổ để biện minh:


“Tôi đo 8 tấc thì tôi nói 8 tấc chớ tôi đâu có nói sai, sao cán bộ nói tôi xuyên tạc.”


“Anh không được lý sự. Về chỗ làm.”


Sau lần đó tôi không rõ là anh Tây còn bị gì nữa không, nhưng qua mẫu chuyện bé tí xíu và sự thật sờ sờ trước mắt mà chúng nó vẫn phải hiểu khác đi, khác đến mức ngu đần không thể tưởng. Họ nhắm mắt, chỉ để tai mà nghe theo đảng với cái nhà nước độc tài, và cái miệng để phát lại những gì tai nghe, mà không cần mắt thấy sự thật. Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, là cái máy nhào nặn ra những thế hệ có bộ óc đầy bụi mờ bao phủ, có hai mắt nhưng mù lòa, một lỗ tai để nghe một chiều, và nửa cái miệng đủ để phát như cái máy cát-xét. Tội ác này bắt nguồn từ ông Hồ với “Mười năm trồng cây trăm năm trồng người”.


Theo tác giả Trần Trung Đạo thì câu nói đó ông Hồ lấy ý từ câu: “nhất niên chi kế mạc như thọ cốc, thập niên chi kế mạc như thọ mộc, bách niên chi kế mạc như thọ nhân”. Nghĩa là kế hoạch cho một năm không gì bằng trồng lúa, kế hoạch cho mười năm không gì bằng trồng cây, kế hoạch cho trăm năm không gì bằng trồng người. Và câu này trong văn học Trung Hoa thời phong kiến xa xưa.


Kết quả là ông Hồ và nhóm đàn em của ông đã trồng lên được những thế hệ như vậy đó! Thế hệ hiện nay và nhiều thế hệ mai sau, không thể nào dung thứ tội ác dã man này do ông Hồ và tất cả những đảng viên lãnh đạo trong bộ chính trị, cơ quan lãnh đạo có quyền uy tuyệt đối, từ khi cái đảng độc tài tàn bạo đó hình thành đến ngày sụp đổ. Sự không thể dung thứ này, áp dụng với những kẻ đó đã chết cũng như đang sống. Và không biết đến bao giờ, vết nhơ tàn bạo này mới được xóa sạch, cho những thế hệ mai sau có cơ hội đối mặt với những con người tử tế trên thế giới năm châu? Tội cho dân tộc Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa biết chừng nào!


Nhân nhắc lại với anh Lễ về chuyện anh Nguyễn Kim Tây “chọc quê” thằng Tước mặt đỏ, nhưng rồi bị hắn “chụp mũ kiểu xã hội chủ nghĩa” một cách quái đản, anh Lễ lại nhớ đến vụ bị mắng khi học chính trị ở trại tập trung Long Giao. Anh nói”


“Anh nhớ trong lúc ở Long Giao mình thảo luận bài gì đó mà thằng Chiến -quản giáo- nó kêu anh Phụng -B trưởng- ra ngoài nó chửi một trận như lá mùa thu rơi rụng tiêu điều không? Sau đó anh Phụng trở vô càu nhàu với tụi mìn”.


“Cán bộ nói mấy anh tào lao, đảng với nhà nước nói như vậy là phải hiểu như vậy, sao các anh bàn tới bàn lui ra ngoài đề chi vậy. Mà anh nhớ bài học đó là gì không?”


“Có. Bài học hôm đó họ đả kích tôn giáo, nhất là đạo Thiên Chúa. Khi giảng bài, anh chàng cán bộ giáo viên từ Bộ Công An ở Hà Nội vào, hắn nói tôn giáo là thứ thuốc phiện ru ngủ con người, cần phải diệt bỏ… Khi về căn trại thảo luận thì anh Trần Trọng Minh (Đại Tá Bộ Binh) phát biểu. Tôi không nhớ nguyên văn, nhưng ý của anh là con kiến cũng có bản năng sinh tồn chớ không phải chỉ là con vật vô tri vô giác. Điều đó trong chương trình học triết, ai trong chúng mình mà chẳng học. Thế nhưng nó hoàn toàn khác với nội dung anh chàng giáo viên giảng trong bài. Nó chửi là vì mình hiểu theo cách của mình, mà không chấp nhận mù quáng ngông cuồng theo cách hiểu của chúng nó. Thế thôi.”


Anh Lễ: “Tụi nó giáo điều kinh khủng, vậy mà cứ tự cho là chủ nghĩa khoa học.”


“Họ chẳng bao giờ nhìn thấy được họ cả. Vẫn cứ như vậy thì dân tộc Việt Nam mình bị họ kéo theo, sẽ đi về đâu giữa một thế giới văn minh phát triển?”


Thả tù


Hạ tuần tháng 05/1977, có một đợt thả. Qua một số hình ảnh họ đem dán ở trại như để “quảng cáo cái chính sách khoan hồng nhân đạo của họ”, chúng tôi mới biết có 91 người thuộc 82 trại do Đoàn 776 cai quản được thả. Trong số đó có Y Sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y. Và anh Nguyễn Cao Thăng (không phải ông Thăng dược sĩ), gốc Phật Giáo Hòa Hảo.


Khi ở trại tập trung trong Nam, lác đác cũng có anh ra về, như: Trung Tá Cầu (Tổng Cục Tiếp Vân), Y sĩ Trung Tá Hoàng (Tổng Y Viện Cộng Hòa), Đại Tá Nguyễn Văn Lộc (Tư Lệnh Sư Đoàn 106 Biệt Động Quân). Tôi không biết rõ nguyên nhân.


Sau đợt tha đó, lác đác cũng có anh được tha, nhưng cách tha của họ chẳng khác một hành động bí mật. Một sáng sớm, nhiều anh vừa tự tập thể dục xong và đang làm những động tác vệ sinh, tên quản giáo bên bộ chỉ huy trại sang khu “lán trại” chúng tôi. Hắn hỏi khi tôi đang đứng bên ngoài cửa: “Anh Sơn đâu?”


“Bác cáo cán bộ, anh Sơn đây.”


Vừa nói tôi vừa chỉ anh Huỳnh Thanh Sơn đang ngồi rửa mặt.


“Anh họ gì?”


“Báo cáo cán bộ, tôi họ Huỳnh.”


“Không. Tôi gọi anh Dương Thanh Sơn.”


Anh Đại Tá Dương Thanh Sơn từ trong nhà nghe, anh bước ra:


“Báo cáo cán bộ, tôi đây.”


Anh Sơn là em ruột của Đại Tướng Dương Văn Minh, sau khi giành được chiếc ghế Tổng Thống từ tay Tổng Thống hợp hiến Trần Văn Hương, Tổng Thống Minh đã đầu hàng cộng sản!


“Anh chuẩn bị tư trang mang ra cổng chờ lệnh chuyển trại”.


“Đi ngay hả cán bộ?”


“Chuẩn bị xong là đi ngay. Khẩn trương lên”.


Khi Tổ chúng tôi xuất trại lên núi đốn cây về làm cầu, trông thấy bọn chúng đang khám xét đồ đạc, và xét cả người anh Sơn nữa. Anh em chúng tôi lên đến đỉnh núi, ngồi lại bàn tán nhau xoay quanh cái việc anh Sơn chuyển trại. Đại ý rằng:


“Rất có thể ảnh được về.”


“Về cái gì mà khám xét dữ vậy.”


“Bọn nó lúc nào cũng hành động theo cái kiểu đánh lừa tụi mình. Đừng có nghe nó nói, cũng đừng thấy nó làm để rồi căn cứ vào đó mà phán đoán không đúng đâu. Ảnh cũng đâu phải là tình báo hay phản gián gì mà chuyển trại đặc biệt vậy. Chỉ có về thôi. Dù sao thì ảnh cũng là em của Tổng Thống đầu hàng cộng sản, không chừng cộng sản thưởng cho ông Minh bằng cách thả em của ổng đó.”


“Có lý. Sau khi mình sập tiệm, cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cũng như nhiều vị Bộ Trưởng trong nội các của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đều vô tù, ông Minh chẳng những không vô tù mà chúng nó còn cho ông cầm lá phiếu đi bầu cái gọi là thống nhất đất nước. Đã hết đâu, lúc bỏ phiếu ổng còn nói lần đầu tiên ổng được bầu cử tự do nữa đó. Dám bọn nó thưởng cho ông Minh lắm à.”


Anh khác thêm vào:


“Mấy anh quên anh Dương Thanh Sơn còn có người anh hay em gì đó, theo bọn cộng sản ra Bắc từ mấy chục năm rồi. Ôi! Cái chiến tranh của mình nó chằng chịt chuyện gia đình đủ cách đủ kiểu, thiệt khó mà lường.”


Cũng như những lần trước, bàn mãi cũng không có gì để kết luật. Chúng tôi tản mác trên đường đỉnh, tìm cây để đốn khiêng về cho Tổ kia làm lại cây cầu từ đường đá vào Trại Cốc bị sập.


Tháng sau, tôi được thư vợ tôi cho biết anh Dương Thanh Sơn đã về nhà. Vợ tôi và mấy chị bạn hay tin, cùng đến nhà anh Sơn để nghe anh ấy kể chuyện về những ông chồng của mình.


Con gái xã hội chủ nghĩa.


Cây cầu này dài khoảng 6 thước, làm toàn cây rừng, xe bốn bánh loại nhỏ qua lại được, nhưng họa hoằn mới có chiếc xe đến đây. Mấy hôm trước, Tổ chúng tôi đẩy 2 xe cải tiến đến Liên Trại 1 lãnh gạo. Chiếc xe có chút xíu mà chở 4 bao loại 50 kí lô. Hai chiếc qua cầu cùng một lúc, chiếc xe cải tiến nhóm tôi vừa đến “mang cá” cầu bên kia, chiếc còn lại mới đến giữa cầu, thì cầu sập. Sáu anh em chúng tôi phóng xuống suối, cũng may lhông anh nào bị va đầu va mặt vào những tảng đá dưới suối. Hôm nay chúng tôi trách nhiệm lên rừng đốn cây đem về chỗ cầu sập, còn làm là một Tổ khác trách nhiệm. Tên quản giáo giao kích thước từngloại cây:


“Gỗ làm trụ cầu và đà cầu phải có đường kính ít nhất là 2 tấc (0,2m), dài phải 5 thước trở lên. Gỗ lót sàn cầu có đường kính 1 tấc (0.1m) và dài 5 thước trở lên.”


Nặng nhất là 5 cây có đường kính 2 tấc trở lên: Hai cây làm trụ, một cây gác lên đầu hai trụ cầu, và hai cây làm đà cầu. Cây tươi nó nặng lắm quí vị quí bạn à! Mà cho dẫu có nặng bao nhiêu cũng phải tìm cho ra, đốn cho xong, còn phải tìm cách khiêng nó về. Trời đất ơi! Từ trên đỉnh núi về đến chỗ cầu sập, ít ra cũng đến 2 cây số trên núi và 3 cây số trên đường chớ có gần gủi gì đâu. Với cây lót sàn cầu, từng cây thì chẳng bao nhiêu nhưng 60 cây cũng nặng nhọc lắm! Hôm ấy không biết do đâu mà tên khẩn trương lịch sự với chúng tôi quá. Hắn bảo:


“Gỗ lót sàn cầu tôi chỉ cho các anh vác.”


Chúng tôi nghe rõ ràng là hắn nói “vác” chớ không phải đốn. Vậy là ở đâu ra. Mặc kệ, chờ hắn chỉ hẳn hay, thắc mắc làm chi cho mệt.


Tìm được, đốn xong, làm sao đây? Năm khúc cây này, chúng tôi cột giây ở đầu cây để hai anh kéo, phía sau dùng cái cây khác làm bẫy để xeo từng nhích một. Phía trước hai anh kéo, phía sau một anh xeo. Vừa kéo vừa xeo, khi mặt trời xế chiều thì 5 khúc gỗ rừng nặng ơi là nặng, cũng đến được “giàn phóng”. Không biết có từ lúc nào, nhưng hằng chục đỉnh núi mà chúng tôi lên xuống, đều có “giàn phóng” để phóng cây xuống chân núi. Thế rồi người và cây yên ổn xuống đến chân núi. Tôi với anh Hồ Văn Thành một cây. Bao giờ cũng để anh Thành lên vai trước, mới đến lượt tôi, mà lên vai sau thất thế hơn, dĩ nhiên là nặng hơn. Cứ đi khoảng 50 thước là dừng lại nghỉ chân, nhưng khúc gỗ vẫn trên vai chớ không dám để xuống, vì để xuống rồi lên vai lại khổ hơn là đứng dựa vào thân cây để nghỉ chân. Cứ như vậy, rồi cũng về đến nơi.


Còn cây lót sàn cầu, tên võ trang dắt chúng tôi đến những đống cây bồ đề để sát bên lề đường, có lẽ chờ xe đến chở. Hắn nói như quát vì ăn cắp mà:


“Các anh khẩn trương. Mỗi anh một cây hoặc hai anh khiêng hai cây rồi chạy. Sau đó, quay trở lại lấy tiếp cho đến khi đủ số.”


Hắn đứng gác cho chúng tôi ăn cắp. Và rồi việc ăn cắp cũng êm xuôi vì chẳng thấy bóng dáng nhân viên Lâm Trường đâu cả, nhưng tất cả 18 anh em chúng tôi đều mệt lả! Áo quần đẫm mồ hôi! Bụng thì đói!


Sau khi cung cấp cây xong, chúng tôi tiếp tay với Tổ kia, và hai ngày sau thì xem như hoàn tất phần căn bản, cầu sử dụng được nhưng cần một ngày nữa để hoàn chỉnh. Xế chiều, hai nữ nhân viên Lâm Trường từ đâu lù lù tới. Một giọng nữ rất đàn ông mà là giọng đàn ông vừa nhậu xong:






“Cây này các anh lấy ở đâu ra?”






“Tôi không rõ. Cô hỏi cán bộ trong nhà kia kìa.”






“Tôi hỏi anh.”






“Thì tôi vừa trả lời cô đó.”






“Anh đùa với chúng tôi hả? Chúng tôi lập biên bản số cây bồ đề này.”






“Mời cô tự nhiên.”






“Anh tên gì?”






“Tôi tên gì cũng chẳng liên quan đến Cô. Cô nên vô trại mà hỏi.”






Con nhỏ trời ơi này cũng đanh đá lắm, cô ta lên giọng:






“Anh đùa với tôi đấy hả?”






“Không. Tôi rất nghiêm chỉnh.”






“Được. Tôi sẽ biết tên anh.”






“Rất hân hạnh. Ở tù mà phụ nữ muốn biết tên cũng hay hay.”






“Anh ăn nói cái kiểu gì thế?”






“Cô nghe rồi mà còn hỏi.”






Nhìn kỷ một chút, bốn bàn tay của hai cô nhân viên này không khác da cây mù u bao nhiêu. U nần nổi đầy phần trên bàn tay. Nghĩ cho cùng, tội nghiệp cho thân phận đàn bà con gái 20 năm xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc! Chẳng thấy đường nét gì của đàn bà con gái hết trơn. Người suông đuột như thân cây bồ đề đến tuổi chờ người ta đốn đem về nhà máy làm giấy, da dẻ sần sùi, dáng đi thô kệch, ăn nói chẳng thanh tao chút nào. Nhưng mà đàn bà con gái của cả cái xã hội xã hội chủ nghĩa này như nhau, chẳng ai hơn ai cũng chẳng ai kém ai, hà tất phải thắc mắc làm chi về cái việc con gái xã hội chủ nghĩa ế chồng hay không ế chồng.


Thế rồi hai cô ấy vào trại thiệt. Hôm sau nghe lại mới biết tên quản giáo với tên võ trang có biệt danh khẩn trương phải xuống nước năn nỉ, có lẽ nhờ vậy mà đâu cũng vào đấy. Thế là êm chuyện. Tôi có ý đùa với cô ta vì tôi có dính dáng gì đến cái chuyện ăn cắp mà sợ.


Tai nạn.


Trở lại chuyện phóng gỗ đã gây tổn thương nặng cho anh Bùi Dzinh (Đại Tá, có thời là Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh). Trong thời gian bộ chỉ huy trại đẩy tù chính trị thi đua với Lâm Trường về đốn cây bồ đề đến tuổi cung cấp cho nhà máy làm giấy. Anh Bùi Dzinh trong bên Lâm Trường. Nhưng không biết có phải vì cái sự kiện đó mà các anh trong Tổ đó làm hăng hơn hay không, có điều chắc chắn là vẫn giữ vững mức cao hơn nhân viên Lâm Trường.


Hôm ấy là ngày 10/12/1976 (Năm 2006, con trai anh Bùi Dzinh từ Paris cho tôi biết ngày chính xác như vậy), cứ như theo qui định trong “Huấn Lệnh Điều Hành Căn Bản” không thành văn, mỗi khi sẳn sàng tại bệ phóng thì dùng tay làm loa và la lớn để các bạn dưới chân núi biết mà tránh:


“Chuẩn bị phóng gỗ. Chuẩn bị phóng gỗ”


Lúc đó anh Nguyễn Văn Hai (Đại Tá Bộ Binh) và anh Bùi Dzinh đang tại điểm cuối của dàn phóng, khi nâng cây bồ đề lên vai cũng là lúc nghe tiếng la hoảng hốt từ trên núi:


“Gỗ xuống. Gỗ xuống!”


Cùng với tiếng hét trên đỉnh núi là tiếng ầm ầm của cây vun vút xuống. Anh Hai vứt đầu cây bồ đề xuống và chạy thoát, trong khi anh Bùi Dzinh đang loay hoay với đầu cây trên vai, thì bị cây bồ đề lao xuống đánh vào màn tang rồi bay ngang đầu anh. Anh Bùi Dzinh té xuống, bất tỉnh! Thằng võ trang hướng dẫn các anh trong Tổ đưa anh Bùi Dzinh đến trạm xá Liên Trại gần đó. Đến chiều tối khi chúng tôi quay về trại, anh Bùi Dzinh vẫn trong tình trạnh hôn mê!


Từ lúc anh Bùi Dzinh bị nạn cho đến khi tiếng kẻng ngủ, anh em trong cả 3 Tổ trong một dãy căn trại hầu như im lặng hoàn toàn. Bởi không một ai nghĩ là anh Bùi Dzinh có thể sống được, nhất là khi đưa anh đến trạm xá thì máu trào ra ngoài vành tai, một triệu chứng báo nguy khi đầu bị chạm mạnh.


Đang đêm, anh Dương Hiếu Nghĩa thức giấc vì nghe tiếng chim cú kêu xa xa! Anh khều tôi dậy, cả hai ngồi nghe tiếng con chim cú kêu sao mà não nuột quá! Anh Nghĩa nói nho nhỏ:


“Chắc Bùi Dzinh đi quá anh! Mấy đêm trước có nghe tiếng chim cú đâu, khi Bùi Dzinh bị nạn thì nó đến đây kêu liên hồi. Đây là điềm không lành!”


“Anh em mình chỉ có cầu nguyện chớ có làm gì được đâu.”


Ba ngày sau, trên đường lên núi đốn cây, hai anh đi trước nhanh chân lén vào trạm xá thăm anh Bùi Dzinh, thấy anh tỉnh lại anh em vui mừng lắm, chuyền nhau thông báo đến các Tổ tin vui này. Sở dĩ chạy vào trạm xá được là vì thằng võ trang đi sau cùng, nên các anh phía trước vào trạm xá mà nó không biết, chớ nó có tốt lành gì mà cho vào thăm anh Bùi Dzinh đâu. Biệt danh khẩn trương là tên võ trang hắc ám mà. Ngay ở trong trại, chúng nó ngăn cấm liên lạc nhau giữa dãy nhà này với dãy nhà, giữa Tổ này với Tổ khác dù ơ chung dãy nhà, và giữa người này với người khác. Tụi nó bắt gặp là đủ thứ rắc rối, huống chi là vào trạm xá thăm anh Bùi Dzinh.


Một chút suy tư.


Hơn hai năm trong 4 trại tập trung, với những kinh nghiệm ghi nhận, tôi gom góp vào quan niệm sống trong tù, như sau:


Thứ nhất. Phải giữ sức khỏe, bằng cách tập thể dục nhẹ nhàng ngay trong chỗ ở. Bên ngoài trại chỗ nào trồng được rau trái làm thực phẩm là trồng để ăn.


Thứ nhì. Phải sẳn sàng đối diện với bọn chúng, càng nói ít càng tránh được những sơ hở.


Và thứ ba. Phải nghe bọn chúng nói và nhìn hành động của chúng bằng con mắt của người tham mưu quân sự, để phân tách và đánh giá chiều sâu vào những chính sách của chúng.


Cũng trong thời gian nói trên, nhiều anh em chúng tôi cùng đồng ý là chỉ có một sĩ quan cộng sản mà chúng tôi không gọi bằng thằng khi nói đến hắn ở ngôi thứ ba, mà gọi là cán bộ. Đó là Thượng Úy Toản. Anh chàng này gốc tập kết từ trong Nam ra Bắc sau Hiệp Định Đình Chiến tháng 7 năm 1954. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh ta trở về Nam làm việc, nhưng không rõ vì sao mà anh ta trở ra Hải Phòng, nơi đây cũng là quê vợ anh ta. Lại bị trù ếm hay sao đó mà anh bị đẩy đến Trại Cốc này. Anh ta phụ trách đắp đập nuôi cá, đập này gần Trại Cốc và do 5 Tổ chúng tôi cùng làm. Trong lúc giải lao, Thượng Úy Toản bảo chúng tôi quây quần lại gần nhau để nghe anh ta nói như một lời khuyên:


“Có một điều tôi khuyên các anh, người ta (ý nói cộng sản) không bao giờ quên quá khứ của các anh đâu. Những gì mà các anh khai thành thật theo lời dụ dỗ của họ, thì họ sẽ sử dụng để kết tội các anh. Vậy các anh liệu mà khai báo sao cho có đường về với vợ con.”


Chúng tôi lần lượt hỏi:


“Theo cán bộ biết, ngoài những bản khai báo của chúng tôi, các cơ quan nhà nước có tài liệu nào khác về chúng tôi không?”


“Không. Tôi đoan chắc với các anh là họ không có tài liệu nào về các anh cả. Tôi hỏi các anh: Có khi nào người ta nói với các anh là người ta biết hết mọi việc làm của các anh ngày trước không?”


“Có cán bộ.”


“Tôi lặp lại với các anh là họ không biết gì về các anh đâu, ngoại trừ một vài anh nào đó có vấn đề với địa phương thì địa phương mới báo cáo về trung ương thôi, nhưng điều này hiếm hoi lắm.”


Trong hai ngày thi đua đầu tiên, mỗi ngày có thêm 100 gram gạo cho mỗi khẩu phần mà họ gọi là bồi dưỡng, anh ta nói:


“Hôm nay không còn thi đua nữa, tức là các anh không có bồi dưỡng. Các anh cứ lao động bình thường thôi. Đường còn dài lắm, đời các anh cũng còn dài lắm, liệu để còn đi tới nơi tới chốn.”


Chuyển trại.


Những ngày cuối tháng 10 năm 1977, tên quản giáo Tổ cơ động chúng tôi -Trung Úy Bật- cái mặt lúc nào cũng nhăn nhó, lững thững vào chỗ nằm của chúng tôi. Hai tay chắp sau mông, đi tới đi lui mấy lần, rồi hắn nhìn lên sườn nhà. Vì trại này không có kho nên tất cả bao bị gói ghém đồ đạc riêng tư đều để trên đó. Hắn chỉ từng cái bao:


“Cái này của ai? Cái kia của ai?”


Tôi trả lời từng câu hỏi. Đến cái bao của anh Nguyễn Quốc Dy (Đại Tá, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị), hắn nói:


“Sao để cái bao của anh Dy cao vậy? Anh nên lấy để sát bên trái. Anh ấy lớn tuổi rồi, để cao vậy mỗi khi cần sẽ khó khăn cho anh ấy.”


Tôi làm theo lệnh của hắn. Dĩ nhiên không phải hắn trở thành người tử tế trong xã hội xã hội chủ nghĩa rồi, nhưng sao hôm nay thằng trời đánh này ra cái điều lo cho sức khỏe anh Dy đến thế. Liệu đằng sau “cái lo lắng” của hắn là điều gì đây. Tôi chuyển tin này sang các Tổ khác, và nhận lại những tin mấy tên quản giáo bên kia cũng y chang như hành động khó hiểu của tên Bật. Vậy là có vấn đề rồi, nhưng vấn đề gì? Sau khi xong bữa ăn chiều với cơm độn bắp, tôi với anh Nghĩa ngồi cạnh nhau thử đoán xem điều gì có vẻ làm biến đổi cái tên quản giáo chưa bao giờ thấy hắn cười này. Tôi chợt nhớ mấy hôm trước, bỗng dưng có một ngày được nghỉ. Nhưng đâu phải nghỉ là ngồi không đâu, họ bắt phải đem tất cả những bao những túi đựng quần áo riêng (thường phục) từ trên gác xuống, viết họ tên và số “hòm thư” vào. Chúng nó còn bảo viết rõ ràng cho dễ đọc nữa. Tôi kề tai anh Nghĩa:


“Anh có dự đoán được điều gì sắp xảy ra không? Chẳng lẽ bọn họ làm mấy chuyện tào lao đó sao.”


“Liệu mình có đủ dữ kiện cho một cuộc chuyển trại chưa?”


“Có thể như vậy lắm. Nhưng trong sinh hoạt hằng ngày thì chưa có dấu hiệu nào liên quan, ngoại trừ hai sự kiện vừa nói.”


“Gì thì chưa rõ, nhưng gần như chắc chắn không bình thường.”


“Mong là không có điều gì ghê gớm xảy ra.”


Chúng tôi chui vào mùng. Tôi phải dùng chữ “chui” mới hình dung được cái cõi không gian bé tí của mỗi người chúng tôi chỉ có 6 tấc (0.6m) bề ngang, hai bên đều có mùng bạn, chỉ có cách vén một mảng mùng ở dưới chân chỗ nằm mà chui vào thôi.


Nửa đêm hôm đó, tôi cảm thấy có người lay chân. Tôi ngồi dậy, vén mùng trông thấy tên quản giáo. Hắn hỏi:


“Anh Dy nằm đâu?”


“Dãy sạp bên kia.”


“Anh gọi anh Dy dậy. Cẩn thận. Đừng làm ồn các anh khác.”


Tôi vừa lay chân vừa gọi nho nhỏ:


“Anh Dy. Anh Dy. Tôi Hoa đây. Cán bộ Bật gọi anh đó.”


“Vậy hả?”


Anh Dy vừa ra khỏi mùng, tên quản giáo ra lệnh:


“Anh chuẩn bị tư trang chuyển trại ngay bây giờ.”


Hắn xoay qua tôi:


“Anh leo lên lấy cái túi tư trang anh Dy xuống, và phụ thu dọn với anh ấy cho nhanh.”


Anh Dương Hiếu Nghĩa cũng bị gọi dậy chuẩn bị chuyển trại. Ngoài ra còn mấy anh nữa cũng đi trong đợt này. Tên Bật ra lệnh tiếp:


“Các anh không được gọi dậy phải nằm yên tại chỗ, không ai được ra khỏi màn (tức mùng). Muốn đi đâu phải báo cáo”.


Tôi đem cái túi áo quần của anh Dy xuống và hỏi hắn:


“Báo cáo cán bộ. Tôi có đi không để tôi chuẩn bị?”


“Không.”


Anh Dy bối rối quá nên cứ xoay qua xoay lại mãi mà không mở được cái mùng.


“Anh để tôi thu dọn tiếp anh.”


Khi tôi nắm lấy hai góc mùng để xếp lại, tôi chạm bàn tay anh Dy:


“Sao tay anh lạnh quá vậy? Nhiều mồ hôi mà run nữa. Anh bệnh phải không?”


“Không sao anh.”


Giọng nói của anh hơi run. Có lẽ đang đêm bất thình lình bị gọi dậy, lại kèm theo cái lệnh chuyển trại nên anh sợ hãi vì anh chưa thật sự tỉnh giấc chăng?


“Cái mền tôi lót nằm đâu rồi anh Hoa?”


“Tôi để vào cái túi lớn rồi.”


Anh moi ra và đưa tôi: “Anh giữ cái này xài đi, tôi có dư.”


Trong lúc hai tên quản giáo ra ngoài sân, tôi đến cạnh anh Nghĩa:


“Chúc anh mạnh khỏe, giữ vững nghị lực. Thể nào chúng mình cũng gặp lại nhau trong hoàn cảnh tốt hơn.”


“Vậy là anh thấy thành phần đi rồi hén: Tình báo. An ninh quân đội. Tỉnh trưởng. Đảng phái. Chiến tranh chính trị. Có thể coi là nặng đó.”


“Không đoán được với bọn này đâu anh. Anh nhớ như hồi ở Tam Hiệp không, bọn nó trịnh trọng đọc tên từng người làm như lọc ra để xử bắn không bằng, để rồi cuối cùng tụi mình cũng ráp lại với nhau thôi. Biết đâu là lần này cũng vậy.”


“Mong là không điều gì tệ hại xảy ra cho chúng mình.”


Thế là các anh rời trại trong đêm tối mịt mù dưới cơn mưa nhẹ. Trong số các anh chuyển trại, có anh Nguyễn Văn Hản (Đại Tá, An Ninh Quân Đội), đang bị đau đến nỗi không thể tự mình đi được, các bạn phải dìu anh ra xe!


Sáng hôm sau, các anh trong Tổ Thợ Mộc thuật lại rằng: Khi tên quản giáo vào gọi từng người dậy thu xếp đồ đạc, đến anh Phan Trọng Thiện bị lay dậy và tên quản giáo ra lệnh:


“Anh chuẩn bị chuyển trại ngay bây giờ.”


Anh Thiện hỏi lại: “Tôi đi nữa hả cán bộ?”


“Anh đi. Nhanh lên, ở đó mà hỏi.”


“Ôi! Đau khổ quá!”


Tính ra có đến khoảng 50 anh chuyển trại trong đêm qua. Bọn quản giáo không hề hé một chút gì về nơi mà các anh ấy đến cả, và mãi sau này đến lúc gặp lại mới biết. Bọn cộng sản nó giữ bí mật kỹ lắm, chừng như biện pháp dành cho những tên nào tiết lộ bí mật mà bị phác giác là nặng lắm thì phải?


Ngưu ốc.


Một tuần trước Tết Nguyên Đán đầu năm 1978, Tổ cơ động chúng tôi được lệnh đi đắp đập -lại đắp đập- cho xã Việt Cường, cách Trại Cốc khoảng 6 cây số. Chúng tôi phải mang theo một ít đồ dùng vì ở lại đó một tuần lễ. Họ dự trù chúng tôi trở về trại vào ngày Ba Mươi Tết! Đang giữa mùa Đông, rất lạnh. Phải mang theo “áo bông”, mũ trùm đầu và vớ len. Những cái áo bông này đến tuổi về hưu đã lâu, nhưng thay vi đem bỏ họ đem phát cho chúng tôi đỡ lạnh! Nói đến vớ, tôi nhớ lại mẫu chuyện ngắn. Khi chúng tôi từ trong Nam ra Bắc đến trại nhà ngói, bọn họ bắt chúng tôi bày ra tất cả đồ đạc để chúng nó xét. Họ bắt từng người chúng tôi phải ghi từng món vào danh sách để họ xét. Tên Trung Úy Khảm, cầm danh sách của tôi, hắn đọc món nào tôi đưa món ấy cho hắn đúng với số lượng đã ghi. Đến đôi vớ, hắn hỏi:


“Vớ là gì?”


“Báo cáo cán bộ. Vớ là vớ chớ tôi biết vớ là gì đâu.”


“Anh đưa tôi xem.”


Khi trông thấy đôi vớ, hắn nói với giọng ngạo mạn của người miền Bắc tự cho là mình dùng chữ đúng:


“Bít tất thì kêu bít tất, tại sao các anh gọi là vớ?”


“Cán bộ chạm tự ái người miền Nam chúng tôi rồi. Nếu như tôi đặt câu hỏi ngược lại, tại sao vớ gọi là bít tất, cán bộ có giận không? Mỗi miền đều có nét đặc thù trong văn hoá, cũng như giọng nói của 3 miềncó giống nhau đâu.”


Hắn dịu giọng: “Trong Nam các anh gọi là vớ à?”


“Đúng. Cũng như cán bộ gọi là bít tất vậy.”


“Thôi. Không tranh luận nữa .Tiếp tục đi.”


Tổ chúng tôi và một Tổ nữa cùng toán nhà bếp, rời Trại Cốc trưa 23 Tết dưới cơn mưa phùn từng chập, trông như những đám bụi bay theo cơn gió nhẹ. Đến nơi thì áo quần chăn chiếu thấm ướt hết trơn. Tên quản giáo đứng canh chúng tôi, trong khi tên võ trang đi tìm người phụ trách của Xã. Thế rồi một người đại diện Xã với bốn cô gái đến. Hắn nói với tên võ trang:


“Đồng chí cho các anh ấy ở đây. Chật một chút, nhưng Xã không có địa điểm nào khác. Trên nóc còn trống, tôi bảo đem tranh đến lợp ngay bây giờ.”


Trời đất! Lúc ấy nét mặt của gần 50 anh em chúng tôi trông như dài ngoằn xuống vì đây là cái chuồng trâu, nóc thì trống, nền đất loang lỗ, làm sao mà nằm! Nhìn thấy được cái cảnh ấy của chúng tôi, một trong bốn cô gái lên tiếng:


“Đây là chuồng trâu nhưng không sử dụng lâu rồi. Chúng em sẽ mang rạ đến lót cho các anh.”


Anh Nguyễn Thế Lưỡng nói:


“Tôi đo rồi, may lắm thì mỗi anh chỉ được 4 tấc (0.4m). Đó là tôi tính nằm sát các cọc tre hai đầu.”


“Ở cái kiểu này làm sao mà kéo đất nỗi!” Một anh khác than thở!


Khoảng nửa giờ sau, một toán sáu cô gái mang tranh với rơm đến. Cũng chính các cô leo lên lợp lại nóc, và lót rơm trên nền. Có kêu ca gì thì cuối cùng cũng phải thu xếp với nhau chỗ nằm để mấy anh nhà bếp còn lo bữa ăn chiều. Sau khi gọi là thu xếp xong mới đứng quan sát. Chuồng trâu cạnh con đường làng và cách rìa làng khá xa, chung quanh là những đám rẫy chen lẫn với rừng. Từ xa, con nít khoảng trên dưới 10 tuổi, từng nhóm đến xem. Chúng nó nói với nhau:


“Ngụy đó mầy.”


Đứa khác cãi lại:


“Không phải. Bố tao nói tù miền Nam. Mấy ông này làm đập cho mình đó.”


“Họ dữ không?”


“Họ có quát mình đâu mà biết.”


Đại để qua lời của các cô gái cùng với vài câu chuyện của trẻ con, nhận định sơ khởi là người dân vùng này chừng như có chút thiện cảm với chúng tôi thì phải?


Cơm xong, tên võ trang dẫn đến bốn thanh niên. Hắn nói:


“Ban đêm, các anh không được ra khỏi khu vực này. Các đồng chí Dân Quân đây có trách nhiệm canh giữ các anh, sẽ làm nhiệm vụ nếu các anh không chấp hành lệnh nghiêm cấm.”


Vừa ra lệnh vừa đe dọa đấy!


Tuy không có muỗi nhưng vẫn phải giăng mùng cho đỡ lạnh, vì chuồng trâu không có vách mà chỉ có mấy cây tre nhỏ ngang dọc chung quanh để rào trâu bò thôi. Quí vị có thể hình dung khi chúng tôi giăng mùng xong thì không ai nhận ra được cái mùng của mình ở chỗ nào nếu như không chui vô mùng sau khi giăng. Vì vậy mà mỗi người phải cột cái gì đó để làm dấu như mảnh giấy trắng chẳng hạn, để khi nửa đêm dậy đi tiểu xong còn nhìn ra được cái mùng của mình mà chui vô. Mỗi khi nằm xuống phải xuôi hai tay dọc theo cơ thể hoặc khoanh hai tay trước ngực, từ từ ngã lưng xuống. Còn ngồi dậy, vẫn tư thế đó, từ từ ngóc đầu lên với thân mình. Giống như tập thể dục ở cái động tác giữ cho bụng thon ngực nở, cũng là giữ cho cái xương sống mềm mại dẻo dai vậy. Có điều là nửa đêm mà ngồi dậy thì vai hai người bạn bên phải bên trái, tự động “giành dân lấn đất” cái cõi không gian bé tí của mình. Không sao. Khi xong cái việc xả nước cho nhẹ bụng trở vào, phải tìm được cái mùng, chui vô. Bắt đầu lách dần hai bạn để có được một chỗ ngồi, xuôi tay hoặc khoanh tay lại, hơi nghiêng về một bên, dùng vai lách hai bạn và từ từ hạ người xuống để “đòi lại” cái cõi không gian bé tí mà nằm. Khi xuống được một bên lúc ấy mới từ từ nằm ngửa trên cái “giường rơm” trong cái chuồng trâu hoang phế!


Chỉ một bên tựa vào triền núi, ba bên còn lại là đất trống, gió lạnh tự do thổi vào cái chuồng trâu tồi tàn chật hẹp, làm cho mấy chục anh em chúng tôi lạnh cả ngoài lẫn trong! Anh Kim vui tính, tạo cái không khí vui vui để phá bớt nỗi buồn giữa cái lạnh của mùa Đông núi rừng Tây Bắc:


“Đúng là chúng mình đang ở trong “ngưu ốc” các anh à! (chuồng trâu, theo Hán Việt là ngưu ốc) Dã man thiệt! Mẹ kiếp! Mình ở trong chuồng trâu chật hẹp hôi thúi thế này, nếu còn gặp lại mấy thằng bạn ở Tây ở Mỹ, nói cho chúng nó nghe. Tôi nghĩ, đếch có thằng nào tin mình đâu. Không chừng chúng nó còn cho là mình bị cộng sản nhốt tù rồi tức mà nói xấu cộng sản nữa đó.”


Tiếng một anh nào đó trong bóng đêm mù mịt lạnh lẽo:


“Thì mình cứ tưởng như đang ở “Niu Dót” (nhại theo âm của chữ New York, Hoa Kỳ) để có giấc ngủ yên lành còn hơn là nói đến mấy anh bên Tây bên Mỹ, hổng chừng họ còn nói chúng mình ngu mới bị tù là khác .”


“Thôi các bạn ơi! Cho có là Niu-Dót hay ngưu ốc đi nữa, chúng mình còn tệ hơn mấy con cá mòi trong hộp. Bạn bè nó có tin hay không tin mặc kệ. Thân mình chưa biết ra sao, ở đó mà nói đến bạn bè bên Tây bên Mỹ”.


“Ông chán đời thế! Sao hồi 30 tháng 4 ông không đi cho rồi, bây giờ nói chuyện vui một chút mà ông cũng trách.”


“Họ có cho đi đâu mà đi. Họ giành chỗ cho gia đình họ chớ đâu đến lượt mình. Thôi, đừng có nhắc nữa, tức lắm.”


“Thì ông nhắc chớ chúng tôi có nhắc đâu.”


“Thôi các anh à! Bạn tù với nhau, cùng nằm trong cái chuồng trâu với nhau, chia sẻ cho nhau không hết, lại còn gắt gỏng nhau cho thêm đau lòng!. Ngủ đi, để mai làm trâu kéo đất đắp đập cho người ta.”


Thưa quí vị quí bạn, thật ra những lời bàn qua tán lại giữa chúng tôi với nhau, không phải là vô nghĩa, mà trong một ý nghĩa nào đó, tùy theo người nghe sẽ nhận ra tâm trạng cùng những ước vọng của mỗi người chúng tôi. Chẳng hạn như chữ Niu-Dót, dù thể hiện cái tâm trạng buồn khi ngủ trong chuồng trâu nhưng vẫn kèm theo tính khôi hài sẳn có. Chữ Niu-Dót chỉ là mượn âm của New York, để nói lên cái ước vọng ra khỏi trại tập trung của cộng sản, chớ không nhất thiết là ước vọng sống tại New York. Nghĩ cho cùng, những câu chuyện đó cũng giúp anh em chúng tôi có những giây phút nhẹ nhàng trong đầu, vì bận nghe chuyện trên trời dưới biển mà quên đi nỗi buồn da diết!


Khẩu phần hằng ngày của chúng tôi được tăng thêm 200 gram gạo do Xã cung cấp, do vậy mà phần ăn sáng cũng nhiều một chút. Nói đến tiêu chuẩn gạo, chẳng những tù chính trị chúng tôi quan tâm đến lượng khẩu phần gạo hằng ngày, mà người dân xã hội chủ nghĩa, thậm chí đến các cấp lãnh đạo của cộng sản từ trong đảng đến bộ máy cầm quyền, cũng đều quan tâm đến. Xin trưng dẫn: “Số lượng gạo mà họ gọi là tiêu chuẩn bán cho mỗi thành phần xã hội, cấp càng cao càng được số lượng nhiều hơn với lý do viện dẫn là cấp lãnh đạo cần được “bồi dưỡng” có sức khỏe để lãnh đạo. Và bao trùm hơn hết là cái chính sách cai trị của cộng sản nắm chắc cái bao tử thông qua tờ hộ khẩu. Bất cứ ai trong gia đình nào đó mà không thi hành lệnh của địa phương thì họ cắt hộ khẩu, tức là không bán gạo theo tiêu chuẩn. Bởi trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tất cả cơ sở mua bán kinh doanh sản xuất đều do đảng với nhà nước làm chủ, cho nên khi nhà nước không bán lương thực thực phẩm thì không còn chỗ nào để mua hết. Vậy là đói rồi, mà đói thì phải bò. Bò đến ông lãnh đạo địa phương làm kiểm điểm và cam kết sửa sai, tức là luôn luôn thi hành mệnh lệnh. Lúc ấy, lãnh đạo cứu xét cấp tiêu chuẩn trở lại.” Hãi hùng chưa quí vị quí bạn?


Cũng xã hội chủ nghĩa có cái chính sách rất ư kỳ lạ. Họ cưỡng bách phụ nữ phải đi làm, bằng cách chỉ cho các con của người mẹ có đi làm mới được hưởng quyền lợi dù hết sức nhỏ nhoi. Nếu trong gia đình chỉ có người chồng đi làm còn vợ ở nhà, thì các con của gia đình này không có chút quyền lợi gì trong cuộc sống cả. Nói rõ hơn là những đứa con đó không có tiêu chuẩn gạo hằng tháng. Trong một xã hội mà người dân chỉ biết có gạo với gạo, còn gì mà nói nữa! Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, từ trước cho đến năm 1977 là như vậy đó! Đến năm 1986, càng tệ hơn nữa. Lúc ấy người dân xã hội chủ nghĩa sắp ngã quỵ, đảng cộng sản sắp sụp đổ, họ mới buộc lòng phải thay đổi nhưng là chỉ thay đổi kinh tế để làm giàu riêng tư chớ không thay đổi chính trị vì họ sợ mất độc quyền lãnh đạo.


Cũng nói thêm rằng, những năm 50 khi nắm quyền cai trị nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ông Hồ khoe cái chính sách mà ông gọi là “giải phóng phụ nữ”, nhưng thực tế người phụ nữ bị cưỡng bách đi làm như nói ở trên. Chưa hết, khi lao động mà cần đến đến sự vận chuyển, thì ngày trước phụ nữ dùng cái đòn gánh trên vai để gánh hai cái thúng hay thùng ở hai đầu đòn gánh. Ông Hồ giải phóng phụ nữ bằng cách dùng ba người phụ nữ đẩy cái xe cải tiến với trọng lượng 150 kí lô. Nghĩa là ông Hồ không cho gánh nữa mà là đẩy xe để chuyên chở trọng ượng nhiều hơn gánh. Nói rõ hơn, người phụ nữ phải làm việc nặng nhọc hơn! Chính sách giải phóng phụ nữ của ông Hồ là như vậy đó!


Nói đến giải phóng phụ nữ, không thể quên sự đóng góp quan trọng của những nhà văn trong “Nhóm Tự Lực Văn Đoàn” thời những năm 30-50, đã hướng dẫn xã hội thời ấy trong cuộc vận động đưa thành phần nữ giới bị xã hội phong kiến cột chặt trong khung cảnh gia đình từ ngày xưa, bước chân vào xã hội với những công việc như nam giới. Và đã thành công ngoạn mục. Nếu phải dùng chữ “giải phóng” thì đó mới thật sự là giải phóng.


Hồ Chí Minh là một người lãnh đạo, say mê trong việc dùng những nhóm chữ rất kêu, rất văn chương thường gọi là “mỹ từ” nhưng thật sự là trống rỗng. Nghĩ cho cùng, cái cách đó lại giúp ông nắm cổ được những cấp dưới ông vì thời đó có mấy người có học đâu. Lác đác cũng có đảng viên có học, nhưng họ nghe lời bác của họ như những kẻ ngông cuồng điên dại. Chẳng những thế, họ cứ theo lời họ Hồ “dạy” rồi truyền khắp dân gian phải nghe theo. Lần hồi họ thần thánh hóa và truyền tụng cho những thế hệ kế tiếp cộng với nền giáo dục một chiều, kết quả là những thế hệ khi ra khỏi hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa, chỉ biết nghe những lời của ông truyền lại cứ như nghe “lời phán của thánh”. Mãi đến nay, chẳng mấy người trong số họ, dám đụng đến ông thánh của họ, mà thật ra “ông thánh” của họ chỉ là một con người ăn cắp văn, một con người ăn cắp tình, một con người gian trá quỷ quyệt trong lãnh đạo. Nói chung, họ Hồ là một người cộng sản mà khi đã là cộng sản thì không còn nhân cách con người bình thường trong xã hội, và khi con người không còn nhân cách thì con người đó còn gì để nói.


Trở lại cái việc đắp đập. Anh em chúng tôi trong hai Tổ này đã hai ba lần đắp đập nên tổ chức công việc nhanh lắm. Sau đó, cứ phá triền núi, kéo đất đổ xuống đường thông thủy ngăn dần dòng nước thượng lưu. Đào một đường bên cạnh đập gọi là đập tràn, để khi mực nước cao quá thì nước theo đường đó đổ xuống hạ lưu. Khi muốn bắt cá cứ cuốc giữa mặt đập mà xả nước. Bắt cá xong, muốn nuôi cá nữa thì đắp phần giữa mặt đập lại là có cái hồ như trước. Họ không làm cống để tháo nước, mà khoa học kỹ thuật của họ trong đắp đập nuôi cá là như vậy.


Nguồn nước dùng cho mọi nhu cầu của “cư dân trong ngưu ốc” bất đắc dĩ này là dòng suối nhỏ, cách chuồng trâu chúng tôi ở khoảng 100 thước. Nước thì có nhưng đục lắm, vì phía trên có chỗ cho trâu bò qua lại hai bên bờ. Đục thì đục, có nước dùng là may rồi. Mỗi chiều sau khi tắm giặt xong, nói nghe ngon lành lắm nhưng thật sự chỉ là qua loa thôi vì trời lạnh mà nước suối càng lạnh hơn. Nhóm “ca nhạc sĩ bất đắc dĩ” chúng tôi tập hát để “trình diễn” trong đêm Giao Thừa: Anh Nguyễn Thành Trí (Đại Tá, Thủy Quân Lục Chiến), anh Nguyễn Quang Chiểu (Đại Tá Bộ Binh), anh Nguyễn Phán (Đại Tá, Quân Đoàn 2), anh Nguyễn Thiều (Đại Tá Bộ Binh), và tôi. Anh Trí sáng tác bài “Đâu Cũng Là Quê Hương”. Tôi nói “bất đắc dĩ”, vì bộ chỉ huy trại bảo tù chính trị chúng tôi tổ chức ca hát mừng Xuân.


Trời lạnh nhưng vẫn phải tập, vì khi về đến trại là đêm Giao Thừa rồi, bây giờ không tập thì không có thì giờ nào khác. Còn nếu không tổ chức ca hát mừng Xuân, không khéo lại bị bọn họ chụp cho cái mũ “chống đối cải tạo” hay “lấy nạng chống trời” là lắm thứ rắc rối. Không ngờ khi tập hát, dân trong làng nhất là đám con nít với những cô gái tuổi choai choai, kéo nhau đến xem đông lắm. Trông cũng hay hay với những “khán giả măng non” này.


Một tuần trôi qua, dưới cái lạnh đậm đà của ngày cuối năm âm lịch, chúng tôi giã từ “ngưu ốc”, nơi mà có muốn hay không muốn, cũng để lại trong chúng tôi những buổi chiều khó quên trong cuộc sống của người tù chính trị trong tay cộng sản. Về đến trại, tắm giặt, cơm xong là chuẩn bị vào chương trình “văn nghệ Giao Thừa”.


Tù trình diễn tù xem. Nhưng cũng có một số quản giáo với võ trang ngồi xem từ đầu đến cuối. Sau phần văn nghệ đầu là màn Táo Quân. Các vai:


Ngọc Hoàng Thượng Đế: Anh Phạm Duy Khang (Đại Tá Bộ Binh).


Nam Tào Bắc Đẩu: Anh Huỳnh Minh Quang (Đại Tá Không Quân) với một anh nữa mà tôi quên tên.


Táo Trại 2: Anh Nguyễn Ngọc Sáu (Đại Tá Pháo Binh).


Trại Cốc là tên gọi lúc tất cả chúng tôi mới chuyến đến, về sau khi tách một nửa sang Trại 3 thì trại chúng tôi gọi là Trại 2.


Màn này bắt đầu với hoạt cảnh Táo Trại 2 đội một bó củi vào thiên đình, áo quần xốc xếch. Táo quỳ xuống xin lỗi Ngọc Hoàng đến trễ, vì phải lên núi lấy củi cho nhà bếp. Ngọc Hoàng cảm động quá nên tha lỗi. Táo Trại 2 móc cái sớ bèo nhèo trong túi ra, rồi bắt đầu đọc. Trong sớ có đoạn than phiền vấn đề lao động vất vả nhưng ăn không đủ no, đau ốm không thuốc uống, ..v..v.. Hai ông Nam Tào Bắc Đẩu mũi lòng, bèn lên tiếng ủng hộ Táo Trại 2 bằng cách cường điệu thêm khi tâu với Ngọc Hoàng. Thế là Ngọc Hoàng Thượng Đế Phạm Duy Khang nổi trận lôi đình, ra lệnh cho Trại 2 phải sửa sai. Tù chính trị chúng tôi vỗ tay thật dài và cười thật to, trong khi cả đám quản giáo với võ trang ngồi êm re. Anh em chúng tôi thì thầm với nhau:


“Chết cha rồi! Trông thằng nào thằng nấy cái mặt cũng hầm hầm kia kìa.”


“Sớ Táo Quân là trò giải trí truyền thống chớ có gì đâu mà sợ.”


“Đó là cách nhìn của mình, còn bọn nó là cộng sản. Chữ của nó có cùng nghĩa với mình đâu, bọn nó dám quần các anh Ngọc Hoàng Thượng Đế với Nam Tào Bắc Đẩu của mình lắm à!”


Và y như rằng, cả bốn anh “Ngọc Hoàng Thượng Đế, Táo Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu” bị chúng gọi sang bộ chỉ huy quát mắng dữ dội. Cuối cùng, các anh phải làm kiểm điểm. Kiểm điểm cũng là một hình thức trừng phạt.


Như thường lệ, sau một ngày lên núi đốn cây, anh em kéo nhau xuống dòng suối bé tí tắm giặt, gặp anh Khang, tôi nửa đùa nửa thiệt:


“Ngọc Hoàng ơi! Vụ đó xong chưa?”


“Thôi đi bố! Tụi tôi bị chúng nó chửi như chó! Ngọc Hoàng cái mẹ gì nữa”.


Sáng Mồng Ba Tết, bọn chúng đẩy tất cả chúng tôi lên những đồi trọc chung quanh trại trồng khoai mì. Cách trồng khoai mì là chúng tôi giăng hàng ngang, mỗi người một cây cuốc, cuốc vỡ đất từ dưới chân đồi dần lên đỉnh. Cứ hai người cuốc đất có một người bưng cái rổ đựng hom khoai mì, quẳng nhẹ cọng hom xuống rồi dùng chân đùa đất lấp lại, và đạp xuống là xong.


Bị thẩm vấn.


Trong khi Tổ trồng khoai mì, tôi bị gọi ra ngoài trại thẩm vấn nữa. Họ đưa tôi ra cái nhà nhỏ gần trạm xá Liên Trại, cách trại khoảng 2 cây số. Nói là trạm xá nghe có vẻ đồ sộ lắm nhưng thật ra cũng là gian nhà tranh bé xíu, chỉ năm cái giường là chật lối đi rồi. Đến sân nhà, tên võ trang bảo tôi đứng chờ, hắn vào trong. Vài phút sau, từ sau cánh cửa, hắn gọi tôi vào. Bên trong có ba tên ngồi quanh cái bàn, trên có bình trà với mấy cái tách. Họ mặc đồng phục quân đội, nhưng không có bất cứ cái gì trên bộ quân phục của họ để có thể biết tên nào lớn hơn tên nào. Tên ngồi giữa, gằn giọng như dằn mặt tôi:


“Anh có phải Phạm Bá Hoa không?”


“Đúng. Tôi là Phạm Bá Hoa. Xin lỗi, tôi phải xưng hô thế nào?”.


“Có gì đâu. Cứ như trước thế thôi.”


Tôi nghĩ: Vậy là tên này có thẩm vấn tôi lúc còn trong Nam, nhưng tôi không nhớ.


“Anh ngồi”. Vừa nói hắn vừa đưa tay chỉ cái ghế còn lại.


“Cám ơn”.


Hắn dịu giọng khi vô đề: “Anh có nhận thư gia đình không?”


“Vâng. Tôi có nhận”.


“Chị với các cháu không có vấn đề gì chứ?”


“Nhân anh hỏi, tôi xin phép trình bày về gia đình tôi một chút. Gia đình tôi vẫn mạnh. Trong thư vừa rồi vợ tôi cho biết, nhà ba má chúng tôi ở Vĩnh Long đã bị tịch thu, và con lớn chúng tôi tại Sài Gòn không được vào đại học, với lý do cả hai trường hợp vì tôi là Đại Tá. Nếu được, xin anh có thể cho tôi biết, đó có phải là chính sách của nhà nước không?”


“Theo lệnh của Hội Đồng Bộ Trưởng, nhà chỉ do nhà nước quản lý, làm gì có chuyện tịch thu. Lệnh đó không một địa phương nào dám làm trái đâu. Còn con anh chắc không đủ điều kiện chớ nhà nước đâu có cấm”.


“Cám ơn anh cho tôi biết luật pháp. Thế nhưng chuyện nhà ba má chúng tôi đang ở bị tịch thu là sự thật, vì ba má tôi đang ở thì địa phương ra lệnh đuổi ra khỏi nhà, đó không phải là tịch thu thì gọi là gì? Đứa con lớn chúng tôi thi vào đại học với số điểm vượt trên điểm tối thiểu rất cao, nhưng về thành phần trong xã hội thì con tôi vào thành phần thứ 12/13. Đó là lý do con tôi không được học đại học. Xin anh có thể cho tôi biết về thành phần như thế nào không?”


“Thôi. Chuyện riêng tư để sang một bên, chúng ta vào mục đích. Anh cho chúng tôi biết, khi chúng tôi tiếp quản thì những tư liệu cơ bản (tài liệu căn bản) của Cục Mãi Dịch có còn nguyên vẹn tại cơ quan không?”


Đứng là cái bọn này khi “bí” là chuyển đề tài để chạy trốn. Tôi nghĩ như vậy. Và trả lời hắn:


“Tôi hoàn toàn không biết, vì tôi đã rời khỏi cơ quan này 6 tháng trước đó”.


“Tại cơ quan Mãi Dịch có người báo cáo anh có vào cơ quan này trước khi chúng tôi tiếp quản. Đúng không”.


“Không đúng. Lúc đó mạnh ai nấy chạy bằng chứng là trên mọi ngã đường rất hỗn loạn. Tôi phải lái xe quanh co tìm đường về nhà, đâu có thì giờ để ghé vào đó làm gì”. (Thật sự tôi có ghé thăm, cũng là để chia tay các cộng sự viên cũ của tôi)


Cả ba tên luân phiên đặt câu hỏi:


“Anh cho biết về tổ chức và hoạt động của ngành Mãi Dịch trong quân ngụy như thế nào? Ảnh hưởng quân sự, ảnh hưởng kinh tế ra sao?”


“Về tổ chức. Tại trung ương, chúng tôi có Cục mãi Dịch. Tại các địa phương là Đà Nẳng, Qui Nhơn, Nha Trang, và Cần Thơ, mỗi nơi chúng tôi có một Sở mãi Dịch. Về hoạt động. Trong thời gian tôi giữ chức Cục Trưởng, hằng năm chúng tôi mua hàng của các nhà sản xuất trên dưới 30 tỷ bạc Việt Nam để cung cấp cho quân đội. Ngoài ra, cơ quan Mãi Dịch Lục Quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, cũng đấu thầu mua những mặt hàng do kỹ nghệ Việt Nam sản xuất để viện trợ cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi. Trị giá mua hàng hằng năm bằng hoặc cao hơn trị giá do cơ quan Mãi Dịch chúng tôi mua. Các cơ quan truyền thông thường dùng nhóm chữ “xuất cảng nội biên” để chỉ cho sự kiện này. “Xuất cảng nội biên”, vì các công ty bán hàng ngay trong nước nhưng nhận tiền bằng mỹ kim. Sự kiện mua hàng trong nước, cho dù Mãi Dịch Việt Nam hay Mãi Dịch Hoa Kỳ, đã góp phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam chúng tôi phát triển.”


“Anh có xác nhận điều anh nói là đúng không?”


“Những gì tôi vừa nói, chính là những việc mà trước đây là nhiệm vụ của cơ quan mãi dịch mà tôi là người trách nhiệm. Còn tin hay không tin, tùy các anh”.


Im lặng một lúc, một tên nói:


“Anh vào trại viết lại cho tôi những gì anh nói hôm nay. Trưa mai có người gọi anh ra gặp chúng tôi”.


“Vâng. Chào các anh”.


Chiều và tối hôm ấy tôi viết lại. Cũng như những lần bị thẩm vấn trước, tôi đều lưu lại bản nháp để thỉnh thoảng xem qua cho nhớ đề phòng sau này nếu bị hỏi còn nhớ mà trả lời. Kinh nghiệm cho thấy, nếu lần sau trả lời không giống lần trước thì chúng nó vặn vẹo đủ điều, vì nghi ngờ mình giấu điều gì đó. Khi chúng nó nghi ngờ, không chỉ vặn vẹo điều nghi ngờ đó mà chúng còn vặn vẹo những điều khác nữa.


Hôm sau, lại theo tên võ trang hướng dẫn. Đứng bên ngoài một lúc, chẳng thấy ai. Tên võ trang bảo tôi đứng chờ, hắn vào trong. Khá lâu, hắn trở ra gọi tôi. Vào nhà cũng chẳng thấy ai. Khoảng 5 phút sau, ba tên hôm qua lần lượt bước ra. Một tên chỉ cái ghế để riêng ở đầu bàn nhưng khoảng cách bàn chừng 1 thước:


“Anh ngồi xuống”.


Chừng như hắn sợ tôi điều gì, nên không cho tôi ngồi sát bàn như hôm qua. Hắn vừa ngồi xuống, cầm trên tay những trang giấy tôi đưa và hắn đốp chát:


“Những hầm bí mật ở Long Bình và ở Bộ Tổng (Tham Mưu) của anh ở chỗ nào?”


“Nếu tôi nhớ không sai thì trước đây tôi đã trả lời câu này ba lần rồi. Tôi xin lặp lại để trả lời câu hỏi của anh. Trong quân đội chúng tôi không có khái niệm về hầm bí mật, chúng tôi chỉ có hầm nửa nổi nửa chìm ở căn cứ Long Bình để tồn trữ điện trì dùng cho máy truyền tin thôi. Tôi nghĩ thời gian đã gần 3 năm rồi, nếu như chúng tôi có hầm bí mật thì các anh tìm ra đâu có gì khó, vì tất cả đều trong sự kiểm soát của các anh mà”.


Cả ba tên châu mắt nhìn tôi, tuy không đằng đằng sát khí nhưng không kém hằn học. Cả ba cùng vào trong không để lại lời nào cho tôi. Áng chừng 5 phút sau, một tên bước ra với vẻ mặt hầm hầm:


“Trước đây, anh đã ngoan cố chống cách mạng. Đảng với nhà nước khoan hồng cho anh mà anh không biết hối cải, vẫn tiếp tục ngoan cố, không hợp tác với cách mạng. Anh có biết anh là gì không?”


“Vâng. Tôi biết. Tôi là tù của các anh, trong tay các anh. Anh nói tôi ngoan cố, xin anh cho tôi trình bày còn anh có tin hay không là tùy anh. Anh nói trước đây tôi chống cách mạng, trong khi tôi là một công dân Việt Nam Cộng Hòa, thi hành lệnh gọi của chánh phủ tôi, khi vào quân đội thi hành lệnh của cấp chỉ huy tôi. Bây giờ anh nói tôi ngoan cố không hợp tác, trong khi tôi cố gắng trả lời câu hỏi của các anh về những gì mà tôi biết. Các anh vẫn nói tôi ngoan cố, nói tôi chống cách mạng trong khi tôi chống lại các anh là tôi thi hành đúng bổn phận một công dân Việt Nam Cộng Hòa trên phần lãnh thổ miền Nam. Bây giờ tôi biết nói thế nào với các anh”.


Hai tên kia bước ra với thái độ nhẹ nhàng so với lúc nảy, một trong hai tên mặc quân phục khá tươm tất, có vẻ là trưởng của toán này:


“Sang vấn đề khác. Anh cho chúng tôi biết: Tư duy của anh tại sao các anh thua chúng tôi nhanh như vậy?”


“Xin hỏi cho rõ để tôi trả lời đúng câu hỏi: Có phải anh hỏi tôi suy nghĩ gì về sự kiện chúng tôi thua các anh nhanh quá phải không?”


“Đúng”.


“Tôi xin trả lời. Trong lần đầu tiên tôi bị thẩm vấn tại Sài Gòn, tôi đã trả lời câu hỏi tương tự như vậy. Lúc ấy tôi trả lời rằng, câu hỏi của anh cũng chính là câu tự hỏi của tôi, cũng như của các bạn tôi cùng làm việc ở Bộ Tổng Tham Mưu nữa. Và bây giờ tôi cũng chỉ trả lời anh được như vậy thôi. Tôi không biết cho đến bao giờ, tôi mới tìm được câu trả lời thích đáng cho chính bản thân tôi”.


“Anh có điều gì giấu cách mạng phải không?”


“Không. Tôi không có điều gì giấu cả. Với lại chúng tôi đã thua các anh gần 3 năm rồi, có giấu cũng chẳng lợi ích gì, trái lại chỉ có hại thôi”.


Lại im lặng. Một lúc sau:


“Anh viết vào xấp giấy này những gì mà anh đã nói với chúng tôi. Bây giờ anh vào trại được rồi. Chúng tôi sẽ gọi anh sau”.


“Những câu hỏi này tôi đã trả lời lúc ở trại Tam Hiệp trong Nam rồi mà. Bây giờ tôi cũng viết lại nữa sao?”


“Tôi bảo anh viết là anh viết, đừng có hỏi dài dòng.”


“Vâng. Chào các anh”.


Dù sao thì tôi cũng phải thận trọng trong cách trả lời với bọn chúng. Lúc bị thẩm vấn ở Sài Gòn và tại trại tập trung Tam Hiệp (Biên Hòa), sự hiểu biết của tôi về cộng sản nhất là về sự gian manh dối trá của chúng, làm cho tôi giống như “người điếc không sợ súng” nên tôi trả lời gần như một cuộc đấu lý với bọn chúng. Nhưng khi ngồi trên phi cơ C130 bị còng tay trên đường chuyển từ trại tập trung trong Nam ra Bắc, tôi mới khẳng định mình là tù chính trị của bọn chúng. Vì vậy mà sự thận trọng để giữ thái độ chừng mực, nhưng vẫn giữ được nội dung trong những câu trả lời để không đến mức bị chúng hành hạ.


Hai ngày sau, tên võ trang dắt tôi đến gian nhà nhỏ trước khi đến cây cầu bị sập mà có lần Tổ chúng tôi lên núi đốn cây làm lại. Trên đường từ trại ra đến đường trải đá, gian nhà này bên trái, cạnh dòng suối nhỏ. Hôm nay bốn tên nhưng không có tên nào trong những nhóm thẩm vấn trước đây. Bọn chúng mặc quân phục nhưng vẫn không thể biết cấp bậc họ tên gì cả. Vào đầu có vẻ lịch sự so với những toán trước:


“Chào anh. Mời anh ngồi. Anh dùng chè được chứ?”


“Chào các anh. Vâng, tôi uống trà được.”


Hắn rót mời tôi một chun: “Trông anh khỏe nhỉ!”


“Cám ơn. Tôi vẫn khỏe.”


“Gia đình anh có khỏe không?”


“Theo thư tháng trước thì gia đình tôi khỏe, còn tháng này thì chưa có thư”.


“Anh cho chúng tôi biết những hầm bí mật của các anh ở chỗ nào?”


“Sao lần nào các anh cũng hỏi tôi câu này vậy?”


Bắt đầu có chút gắt gỏng:


“Tôi hỏi là anh trả lời. Anh không được phép hỏi lại.”


“Vâng. Tôi trả lời. Trong quân đội chúng tôi không có khái niệm về hầm bí mật. Tất cả quân trang quân dụng của chúng tôi đều tồn trữ trong các nhà kho hoàn toàn xây dựng trên mặt đất, ngoại trừ điện trì dùng cho máy vô tuyến là tồn trữ trong những hầm nửa nổi nửa chìm thôi.”


“Đơn giản thế thôi à?”


“Đúng. Chỉ có vậy thôi”.


“Trong thời gian cách mạng giải phóng Phước Long với Darlac, các anh chở vũ khí khí tài đem giấu ở đâu?”


“Trong thời gian Phước Long và Ban Mê Thuột bị các anh đánh chiếm, chúng tôi chuyển lương thực, đạn dược, với nhiên liệu từ Qui Nhơn lên Plei Ku cho công cuộc phòng thủ trên Cao Nguyên. Ngoài ra chúng tôi không giấu bất cứ thứ gì, chúng tôi không nhận lệnh nào phải chôn giấu vũ khí từ cấp chỉ huy của chúng tôi.”


“Anh ngoan cố. Trước đây anh trả lời với các đồng chí của tôi, anh có nói chở lên Cao Nguyên giấu. Vậy, các anh giấu ở đâu?”


“Tôi không ngoan cố. Tôi chưa bao giờ trả lời bất cứ điều gì liên quan đến lượng hàng chúng tôi chuyên chở lên Plei Ku là đem giấu cả. Như tôi vừa trình bày, chúng tôi đưa lên Plei Ku để dự trữ cho lực lượng trú phòng ở đó dự trù khoảng 20.000 quân chống lại các cuộc tấn công của các anh. Mà thật ra cũng chưa anh nào hỏi tôi câu ấy cả”


“Anh có chắc thế không?”


“Chắc chắn.”


Tên đó đứng dậy, vào trong. Tên thứ nhì hỏi:


“Mỗi tháng anh lãnh được bao nhiêu đô la Mỹ?”


‘Tôi không lãnh đồng đô la nào cả.”


“Anh làm Đại Tá không lãnh lương à?”


“Tôi đâu có nói là tôi không lãnh lương. Tôi xác nhận có lãnh lương hằng tháng nhưng không phải bằng đô la mà bằng đồng bạc Việt Nam chúng tôi. Với lại tôi là sĩ quan Việt Nam, chiến đấu cho tổ quốc Việt Nam, sao tôi lại lãnh đô la Mỹ.”


“Thế tiền viện trợ của Mỹ đi đâu?”


“Ồ! Anh muốn biết tiền viện trợ của Mỹ đi đâu hả?


“Anh trả lời tôi ngay, đừng có dài dòng”.


“Tôi trả lời anh đây: “Câu này ít ra có một lần tôi đã trả lời với các anh khi còn ở trại tập trung trong Nam. Trên các phương tiện truyền thông trong nước cũng như ngoại quốc, chỉ nói đến số tiền Mỹ viện trợ quân sự cho quân đội chúng tôi, nhưng thật sự không một đồng đô la nào đến với quân đội chúng tôi cả, mà tất cả ngân khoản viện trợ đó biến thành súng đạn, xe tăng thiết giáp, phi cơ, chiến hạm, xăng dầu, máy móc theo nhu cầu quân đội chúng tôi. Nói chung là không một đồng đô la nào nằm trên sổ lương của bất cứ quân nhân nào kể cả Tướng Lãnh, Thủ Tướng, hay Tổng Thống.”


Lại im lặng một lúc:


“Anh ngồi yên đó.” Nói xong cả ba tên cùng vào trong.


Có vẻ như bọn chúng nó cho rằng quân lực Việt Nam Cộng Hòa lãnh lương bằng đô la Mỹ hay sao ấy? Tôi rất muốn hỏi lại hắn: “Bộ ngoài Bắc các anh lãnh lương bằng đồng bạc của Nga hay của Trung Hoa sao, nhưng từ khi khẳng định tôi là tù chính trị nên giảm bớt cơn điếc rồi, và vì bớt điếc nên biết sợ súng một cách chừng mực. Vì vậy mà không dám hỏi hắn. Chun trà hắn mời lúc nảy bây giờ tôi mới uống. Trà đắng quá”.


Hai tên trở ra. Ngồi vào bàn là tấn công ngay;


“Trong nội thành thành phố Hồ Chí Minh, các anh chôn giấu vũ khí khí tài ở những địa điểm nào?”


“Chúng tôi không hề chôn giấu bất cứ quân trang quân dụng nào cả.”


“Có người khai anh ra lệnh cất giấu nhiều nơi trong nội thành?”


“Xin các anh bảo người khai đó đưa các anh đến tận chỗ xem. Phần tôi, tôi xác định là chúng tôi không hề chôn giấu gì cả.”


Thưa quí vị quí bạn, thật ra chúng tôi có dự trữ gạo, lương khô, mì gói, nhiên liệu, đạn dược ở các khu Hạnh Thông Tây, Hóc Môn, Khánh Hội, Cầu Chữ Y, Phú Lâm, khu vực Cục Công Binh bao gồm Quân Tiếp Vụ, và Bộ Tổng Tham Mưu, dự trù cho lực lượng phòng thủ Sài Gòn khoảng 20.000 quân đủ để đánh nhau trong 30 ngày. Cái lợi thế của ngành Tiếp Vận chúng tôi là những khu đó có sẳn kho tồn trữ chớ không phải thiết lập các kho mới, nên bọn chúng có trưng dẫn các kho đó ra cũng không đủ chứng minh là tôi ngoan cố. Nhưng tôi không khai, vì nghĩ rằng khi tôi khai thì bọn chúng sẽ tiếp tục vặn vẹo tôi nữa.


Tên thứ ba trở ra, và hỏi ngay:


“Cấp chức của anh là gì?”


“Tôi là Đại Tá, Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận”.


“Trong quân ngụy, Tham Mưu Trưởng có nghĩa là gì?”


“Theo tổ chức trong quân đội chúng tôi, bên trên là bộ tư lệnh hay bộ chỉ huy tùy theo cấp bộ của cơ quan hay đơn vị, bên dưới là bộ tham mưu và sĩ quan trách nhiệm điều hành bộ tham mưu là Tham Mưu Trưởng”.


“Với cấp chức của anh, tại sao anh không biết những địa điểm chôn giấu?”


“Tại vì quân đội chúng tôi không có khái niệm về hầm bí mật để chôn giấu gì cả, và vì không chôn giấu nên tôi trả lời các anh là không có”.


Lại hưu chiến lần nữa, cả ba tên bước ra sân thì thầm gì đó. Khi ngồi vào bàn, bỗng dưng bọn chúng nhẹ giọng:


“ Bây giờ cũng muộn rồi, bộ đội đưa anh vào trại, chúng tôi sẽ gọi anh sau”.


“Vâng. Chào các anh”.


Lần này thì chúng không bảo tôi viết lại những gì khai báo như những lần trước. Tưởng là được nghỉ khỏe. Nhưng không, chiều tối hôm ấy tên quản giáo đưa tôi xấp giấy bảo vẽ lại tổ chức bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận.


Sau đó, cứ một vài hôm là tôi bị gọi một lần. Có khi suốt cả tuần, cũng có tuần ba bốn ngày. Bọn họ dường như là hai toán khác nhau và rất có thể tất các toán thẩm vấn tôi từ trong Nam ra đến đất Bắc này cùng trong một tổ chức. Họ hỏi đi hỏi lại nhiều lần, có lẽ để xem những câu trả lời của tôi trước sau có khác nhau không. Bọn họ thẩm vấn tôi từ khi còn ở nhà cho đến khi vào trại tập trung trong Nam rồi chuyển ra ngoài Bắc này, đến lúc ấy cộng chung là 48 ngày, kể cả những ngày viết lại những gì đã khai.


Điểm lại những câu hỏi về Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, về viện trợ, về chuyển vận, tồn trữ, sửa chữa quân dụng, về hoạt động của ngành Mãi Dịch, cách thức đấu thầu mua hàng, nhưng hầu như toán nào cũng trở lại ba câu hỏi:


- Tại sao các anh thua nhanh như vậy?


- Những hầm bí mật chôn giấu vũ khí ở đâu?


- Và Trung Tướng Khuyên còn ở lại Sài Gòn không?”


Sau lần thẩm vấn cuối cùng, tôi theo Tổ đào hốc trồng bí rợ. Cũng như năm trước, ngay ngày đầu năm âm lịch là trồng khoai mì, tiếp đó là trồng bí rợ. Phân bón cho bí rợ là phân xanh và phân chuồng. Tôi với anh Nguyễn Thế Lưỡng (Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến) cùng một khiêng. Chúng tôi cùng bốn cặp khiêng nữa, lang thang theo sau bầy bò trên đường đá lên hướng Liên Trại, gặp một toán cộng sản có lẽ là sĩ quan. Một tên trong số đó ra dấu chận chúng tôi lại:


“Trông các anh tiến bộ nhiều so với năm mới đến đây. Xã hội chủ nghĩa là không phung phí bất cứ thứ gì làm ra của cải cho xã hội, trước mắt là cho chính các anh. Tích cực thêm nữa nhé!”


Nói xong là hắn cười một cách kiêu hãnh, như vừa ra cái điều “giáo dục tù chính trị” chúng tôi ấy. Tôi nói với anh Lưỡng:


“Mình đi khiêng cứt bò là làm theo lệnh của chúng nó, chớ ở đó mà tiến bộ hay không tiến bộ. Chúng nó tưởng nói như vậy là mình khiêng nhiều hơn à!




CHƯƠNG 7A TRẠI TẬP TRUNG NAM HÀ 1


Trại tập trung Nam Hà.






Xin quí vị quí bạn vui lòng ngược dòng thời gian vào chiều ngày 08/04/1978, tại trại 2 Liên Trại 1 Đoàn 776, ở vùng rừng già bờ nam Sông Hồng, cách thị xã Yên Bái khoảng 6 cây số. Tất cả tù chính trị chúng tôi được lệnh ra khu vực lao động mang tất cả dụng cụ về trả kho, và chuẩn bị chuyển trại. Vậy mà buổi sáng, tên quản giáo còn ra lệnh cho Tổ chúng tôi:


“Các anh sang Tổ bên kia đòi lại 10 hốc bí đỏ, tiêu chuẩn của hai anh bên đó chuyển sang Tổ bên này”.


Trước khi chúng tôi đi, hắn còn nhấn mạnh:


“Trong ngày mai, các anh phải hoàn tất chỉ tiêu đã giao”.


Chúng nó đánh lừa chúng tôi để bảo mật đó. Với cái lệnh chuẩn bị chuyển trại, tội cho các anh Tổ nhà bếp là vất vả nhất, vừa nấu cơm buổi chiều lại vừa nấu cơm cho cả trại để ăn dọc đường vào ngày mai. Khẩu phần mỗi người là bốn củ khoai mì với gói thịt chà bông mà họ gọi là ruốc, mặn ơi là mặn cho bữa ăn sáng , và một chén cơm nếp với một miếng thịt heo ram mặn bằng ba ngón tay cho bữa ăn trưa trên đường chuyển trại.


Đêm đó hầu như anh em chúng tôi ngủ rất ít, vì cái số phận long đong cứ vật vờ trước mắt, nhưng lần này chẳng anh nào bàn luận như lúc ở trại tập trung Tam Hiệp trước khi chuyển ra Bắc hồi giữa tháng 6 năm 1976. Dường như chúng tôi có chút kinh nghiệm về bọn chúng nó mỗi khi chuyển trại!


2 giờ sáng. Đám quản giáo với võ trang vào các lán trại gọi chúng tôi dậy:


“Các anh mang tư trang tập trung tại hội trường”.


Một cái lệnh khô khan vang vọng cả trại 2. Bọn chúng tổ chức mỗi xe chở 30 tù chính trị. Có hơn chục anh từ trong trại 3 chuyển ra nhập vào trại 2 chúng tôi. Nghĩa là trại 2 và trại 3 cùng chuyển trại.


Hì hà hì hục dưới cơn mưa lất phất đủ làm cho mọi người ướt loi ngoi lóp ngóp khi đến nơi xe đậu. Chẳng biết ngẫu nhiên với thời tiết, hay thời tiết muốn thử sức chịu đựng của chúng tôi thêm hay không, mà cứ mỗi lần chuyển trại trong vài năm qua đều tay xách nách mang dưới cơn mưa nhè nhẹ! Trời mờ sáng, đoàn xe lăn bánh. Trại 2 đi trước với 5 chiếc Molotova già cỗi. Đến Sông Hồng ngang thị xã Yên Bái, chúng tôi xuống xe, đi bộ lên phà. Sang bên kia bờ. Trong khi đứng chờ xe từ phà lên, rất đông người dân Yên Bái đứng dọc đường nhìn chúng tôi với thái độ hoàn toàn trái ngược với gần hai năm trước. Rõ ràng là người dân nơi đây có thiện cảm với chúng tôi sau thời gian họ có cơ hội tiếp xúc với chúng tôi. Khi đoàn xe lăn bánh, hầu như tất cả già trẻ lớn bé, đều giơ tay cao vẫy vẫy như một cử chỉ thân thiện khi tạm biệt. Vậy là cộng sản đã thất bại, vì họ đã tuyên truyền trong mục đích tạo dựng hình ảnh chúng tôi như những con người tàn bạo đến mức ăn thịt con nít để được thăng cấp, nhưng giờ đây qua thái độ cũng như hành động của những người tù chính trị chúng tôi, đã đánh bại nỗ lực của cộng sản trong lòng người dân vùng rừng núi Tây Bắc Hà Nội.


Tại Yên Bái, có thêm anh Nguyễn Văn Thọ (Đại Tá Nhẩy Dù, bị chúng nó bắt trong trận Hạ Lào đầu năm 1971) lên xe chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi mới biết là đám quản giáo trong trại 2 lẫn trại 3 đã nói dối với chúng tôi, khi bọn chúng ra cái điều khoan hồng nhân đạo là mặc dù anh Thọ gây tội ác tầy trời, nhưng đảng với nhà nước của chúng đã thả về nhà rồi. Đúng ra bọn chúng phải trao trả anh Thọ theo điều khoản trao trả tù binh ghi trong Hiệp Định Paris ngày 27/01/1973, thế nhưng bọn chúng ngoan cố không trao trả, nay còn nói là khoan hồng nhân đạo. Bản chất của cộng sản là gian trá mà! Trước đây anh Thọ là tù binh, sau tháng 4 năm 1975 anh trở thành tù chính trị như chúng tôi mà bọn chúng vẫn gọi là học tập cải tạo!


Trong năm 1955 và 1956, tôi với anh Thọ cùng là Trung Úy, cùng phục vụ tại Trung Đoàn 35 Sư Đoàn 12 Khinh Chiến. Cuối năm 1955, Trung Đoàn 35 đồn trú ở Cheo Reo (sau này là tỉnh Phú Bổn), đầu năm 1956 chuyển đến doanh trại cạnh đồn điền trà Catecka, cách Plei Ku trên dưới 10 cây số về phía Tây. Năm 1957, anh Thọ chuyển sang Nhẩy Dù, tôi vẫn phục vụ ở Trung Đoàn 35 Bộ Binh.


Trên hành trình, tôi ăn hết mấy củ khoai mì với cái túi thịt chà bông quá mặn. Giữa trưa, đoàn xe dừng lại đoạn đường trống trải cả hai bên. Mọi người xuống xe ăn trưa. “Cai tù” ăn theo cai tù, tù ăn theo tù. Anh Trần Văn Lễ đưa tặng tôi mấy củ khoai mì, vì anh bị bệnh trỉ mới thuyên giảm nên không dám ăn những thức ăn có chất xơ. Cũng nhờ mớ khoai mì “tăng viện” này cộng với chén cơm nếp mới giải quyết ổn thỏa cái bao tử của tôi. Chẳng biết tại sao lúc nào tôi cũng cảm thấy đói c ả.


Trong lúc ăn trưa, ngồi nhìn đoạn đê ngăn nước Sông Hồng làm tôi chợt nhớ đến cuối những năm 30 khi ấy tôi học lớp élémentaire (lớp nhất trường làng), trong quyển “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” xuất bản trên đất Bắc. Đa số các bài học đều mô tả sự kiện và con người miền Bắc, trong đó có nói về hệ thống đê điều và mục đích của nó đối với sinh hoạt nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng. Bây giờ tôi mới thấy tận mắt. Nếu dùng kích thước của những bờ đê trên đồng ruộng miền Nam để nói, thì hệ thống đê điều miền Bắc quả là qui mô hơn tôi nghĩ. Cũng từ nét nhìn này, tôi mới hình dung được sức tàn phá bên trong đê khi đường đê bị đứt đoạn.


Xế chiều, đoàn xe qua cầu Long Biên ngang Sông Hồng, vào thành phố Hà Nội. Nhưng đoàn xe chỉ chạy trên những con đường ven ngoại ô, nên chẳng thấy phố phường Hà Nội ra làm sao cả, nơi mà những năm 30-50 nổi danh với 36 phố phường và 5 cửa ô. Đoàn xe tiếp tục trên quốc lộ 1 hướng xuống Nam Định. Đến thị xã Phủ Lý, rẽ phải, và dừng lại ngay trước khi đến chiếc cầu phao ngang sông Đáy. Người dân từ những dãy phố lụp xụp túa ra nhìn từ phía sau xe vì hai bên bị phủ kín bằng “tấm bạt”. Nhóm thanh niên nam nữ tuổi choai choai, đứng sau xe chúng tôi, họ chỉ chỏ:


“Bọn Pôn Pốt đó”.


“Chúng nó nói tiếng Việt mà Pôn Pốt gì”.


“Bọn Pôn Pốt cũng nói tiếng mình chứ”.


“Không phải đâu. Người ta nói bọn Pôn Pốt đen và xấu lắm, còn bọn này giống Việt Nam mình”.


“Này. Ngụy đó. Đừng nói lớn, chúng nó nghe đấy”.


Anh em chúng tôi không ai nói gì đến đám choai choai hỗn xược đó, vì hai thằng võ trang ngồi trên tấm bửng xe đang lườm mắt trong khi vẫn ghìm súng vào chúng tôi trong lòng xe.


Đoàn xe tiếp tục hành trình sau khi qua chiếc cầu phao. Điều lạ là cuối đoàn xe có chiếc xe chở toán Công An mặc đồng phục vàng. Tôi kề tai nói nhỏ với anh Đặng Văn Hậu (Đại Tá Không Quân):


“Hậu ơi! Liệu có phải tụi mình vô tay đám Công An này không?”


“Tụi mình mà vô tay bọn Công An thì khốn nạn với chúng nó đấy”.


“Anh thử đoán xem có phải chúng mình vào tay Công An không?”


“Ai mà biết được cái bọn này. Tớ là người Bắc, dòng họ của tớ ngoài Bắc vô Sài Gòn sau khi mình sụp đổ, họ nói về cái bọn Công An mà dân của họ ngoài Bắc còn chịu không nỗi, tụi mình mà vô tay chúng nó thì khốn khổ là cái chắc!”


Theo đường liên tỉnh 21 có đoạn song song với Sông Đáy về hướng tây bắc, cả đoạn đường này xấu quá nên đoàn xe chạy rất chậm. Đến một đoạn quanh khá rộng và trống trải, tôi khều anh Hậu:


“Hậu. Sao đoàn xe bây giờ còn có mấy chiếc hà. Lúc qua Sông Hồng ở Yên Bái, mình trông thấy mười mấy chiếc lận mà”.


“Chắc nó còn đằng sau chớ đâu”.


Đến đoạn đường quanh gần như chữ U, tôi lại khều anh Hậu:


“Hậu. Vùng rừng núi này mà sao có khu nhà ngói bên kia thung lũng giống như trại lính kìa Hậu”.


“Ừ nhỉ!”


Nam Hà: Giai đoạn 1978-1981


Khoảng nửa giờ sau đó, đoàn xe dừng lại trước cổng khu nhà ngói mà lúc nảy tôi với anh Hậu trông thấy. Nhìn lên tấm bảng có dòng chữ “Trại tập trung cải tạo Nam Hà”. Đoàn xe 5 chiếc Molotova vào hẳn bên trong. Dừng lại giữa cái sân khá rộng, nền đá nên có phần sạch sẽ.


“Các anh mang tư trang xuống xe”.


Cái lệnh đầu tiên của đám Công An rất khô. Ngay sau đó, bọn Công An dẫn các bạn trong 4 xe đầu vào buồng giam số 15 và 16. Còn các bạn trên xe cuối cùng là 27 người -tôi trong số này- bọn họ dẫn vào buồng giam số 5. Lúc ấy cửa khóa, chúng tôi ngồi bên ngoài. Một tên Công An nhỏ nhắn đến cho biết:


“Nhà bếp đang chuẩn bị cơm cho các anh. Có một điều tôi cần báo cho các anh biết, bữa ăn hôm nay là bữa ăn đột xuất, từ mai trở đi các anh sẽ không có những bữa ăn như thế. Ngày mai, các anh làm những thủ tục theo qui định. Tiếp đó sẽ học nội qui của trại, và sẽ đi lao động như các đội khác”.


Nói xong, hắn chắp tay sau đít, ra cửa khuôn viên buồng giam.


Vẫn ngồi ngoài cửa. Mấy anh tù hình sự đem cơm tới. Bữa ăn ngoại lệ này mà tên Công An vừa nói là “đột xuất”, gồm có cơm trắng + canh bắp cải + su hào xào thịt heo. Chia xong, mỗi khẩu phần được gần hai chén cơm, nửa chén canh mà trong đó có 6 miếng bắp cải, khoảng chục lát su hào cùng với 2 miếng thịt lớn bằng hai ngón tay kẹp lại. Nhưng khẩu phần ngoại lệ ít ỏi này lại là sự thèm thuồng của các bạn đằng sau hàng song sắt, vì khi phân chia xong thì hai bạn từ bên trong đưa cái chén nhỏ ra xin mấy lát su hào với một miếng thịt bé xíu còn dính bên hông cái chậu nhỏ! Vài bạn trong số chúng tôi moi ra từ trong những cái túi cái bịt được mấy củ khoai mì bắt đầu “đổ mồ hôi”, mà các bạn đằng sau hàng song sắt tranh nhau nhận lấy và ăn ngấu nghiến ngon lành! Điều này báo hiệu cho chúng tôi biết ăn uống ở trại tập trung này chắc chắn là tệ hơn trại tập trung Yên Bái nữa, và nó sẽ là hình ảnh của chúng tôi trong những ngày sắp tới!


Một tên Công An cầm xâu chìa khóa thật lớn vừa đến. Sau hai tiếng lách cách, cửa buồng giam mở ra. Hắn đứng ngay cửa:


“Các anh từng hai người một, từ từ đi vào”.


Đếm đủ. Ngay tức thì, tiếng cánh cửa ập vào, âm thanh réc-réc của thanh sắt đẩy ngang, tiếng ống khóa “crắc” khô khan. Thế là 27 anh em chúng tôi đang ở đằng sau hàng song sắt, nếu nhìn từ chỗ chúng tôi ăn cơm lúc nảy! Việc đầu tiên là phân chia chỗ nằm. Các bạn trẻ trong buồng giam chia cho chỗ nào thì nằm chỗ đó, cho nên anh em chúng tôi nằm rải rác, người trên nền xi măng, người trên gác bằng ván. Cũng may là tôi + anh Huỳnh Thanh Sơn + và anh Đặng Văn Hậu, nằm cạnh nhau trên sàn gác. Vẫn là những cái cõi không gian bé tí. “Nhập buồng giam, tù mới tùy thuộc tù cũ” mà! Vài nét sơ khởi: Buồng giam -bọn Công An gọi như vậy- có 5 gian thì 4 gian là chỗ nằm, gian còn lại là chỗ vệ sinh kể cả cầu tiêu có thùng chứa. Vừa trệt vừa trên gác, có 18 cửa sổ kể cả cửa sổ ở đầu hồi, với những song sắt tròn và lớn. Lần đầu tiên tôi nhận ra cảm giác sợ hãi khi thấy mình bị khóa chặt trong bốn bức tường đá tảng chật hẹp này! Nhưng sau một ngày dằn xốc và ướt át, chúng tôi cũng có giấc ngủ qua đêm.


Tiếng kẻng đánh thức khi trời mờ sáng, tôi nói với anh Hậu:


“Hậu ơi! Cứ mấy bạn ấy làm sao thì mình làm vậy cho chắc ăn nghe Hậu”.


‘Tù mới phải theo tù cũ mà. Cứ thế ta làm thôi”.


Nhưng đâu phải cứ tù cũ làm gì thì tù mới làm theo được, chẳng hạn như các bạn tù cũ có để dành nước sáng rửa mặt rửa mũi, trong khi tù mới chúng tôi không một ai có lon nước nào cả. Thế là đành phải chờ ra cửa hẳn hay.


Trông thấy các bạn tù cũ ghi danh lia lịa, tôi hỏi:


“Xin lỗi, các bạn ghi danh sách gì vậy? Chúng tôi có cần ghi vào đó không?”


“Chúng tôi ghi bệnh, mấy chú có cần ghi không?”


“Cám ơn. Ba anh em chúng tôi không sao”.


Tiếng khóa lách cách ngoài trước. Tiếng réc réc của thanh sắt kéo qua. Cửa mở. Một bạn tù cũ nghe các bạn khác gọi là “buồng trưởng” bước ra trước, đứng đối diện với tên Công An mà các bạn tù cũ gọi là “cán bộ trực trại”:


“Bác cáo cán bộ. Buồng 5 tổng số 47, kể cả số mới đến đêm qua. Chờ lệnh cán bộ”.


“Được. Cho ra”.


Thế là từng đôi hai người ra cửa. Đôi đầu tiên ra đến bờ tường thì đứng lại, chờ hắn đếm xong và đủ mới cho tan hàng.


Nhà bếp đẩy xe nước đến, hai phích nước (x 10 lít) còn nóng vừa để xuống là bà con tù trong buồng giam, nhanh tay lẹ chân đem lon guigoze đem ca ra nhận phần nước của mình, do một bạn tù có trách nhiệm “trực buồng giam” phân chia, mỗi người nửa lon guigoze. Nước thì nóng nhưng không ai biết có sôi hay chưa, với lại đục ngầu, dẫu sao thì cũng có nước đánh răng rửa mặt còn hơn không. Sau khi nhận phần nước xong, bạn nào có ghi tên khám bệnh phải nhanh chân lẹ tay chạy ra “câu lạc bộ” để được bác sĩ khám sơ sơ rồi về nghỉ. Nếu bác sĩ thấy cần cho bệnh nhân ăn cháo thì bác sĩ cung cấp danh sách cho nhà bếp. Bác sĩ nói ở đây cũng là tù chính trị chớ chẳng ai khác, nhưng vì đông quá mà chỉ có thời gian 30 phút để khám hằng mấy chục bệnh nhân của cả trại, nếu không khám sơ sơ thì lấy đâu ra thời gian. Còn thuốc thì dễ lắm, bất cứ bệnh gì cũng chỉ có thứ thuốc duy nhất là “xuyên tâm liên”, bác sĩ không cần phải suy nghĩ gì cả. Từ sự kiện cả xã hội chỉ có một thứ thuốc duy nhất cho mọi thứ bệnh, tôi nghĩ là đất Bắc Xã hội chủ nghĩa 20 này không có trường đại học dược khoa, vì đâu cần bào chế thuốc men gì mà cất trường cho tốn kém.


Tiếng kẻng xuất trại vang vang thúc giục mọi tù nhân chính trị lẫn hình sự, ra sân tập họp để bọn Công An trực trại điểm số xuất trại lao động. Khi trực trại cho Đội nào xuất trại thì cán bộ quản giáo và võ trang Đội đó đến nhận ra cổng. Tôi đứng trên gác đầu buồng giam số 5 nhìn ra sân xem quang cảnh xuất trại lao động mà trước sau gì cũng đến lượt chúng tôi. Sau khi hỏi qua anh bạn trẻ trong toán “trực buồng”, được biết vài nét sinh hoạt nơi đây:


Trại này do Công An quản trị và là trại tù chuyên nghiệp chớ không như trước đây do quân đội quản trị. Tổ chức tù chính trị lẫn hình sự gọi là Đội, mỗi Đội cũng có quản giáo với võ trang, nhưng hai tên này chỉ quản trị Đội khi xuất trại lao động, còn khi vào trong trại thì toán Công An trực trại quản trị. Ngoài ra còn có tên Công An quản trị buồng giam trong hệ thống tổ chức của toán trực trại nữa. Nghĩa là mỗi Đội tù chịu sự quản trị của 3 hệ thống: Cán bộ buồng giam, cán bộ trực trại, và cán bộ lao động. Chưa hết, còn có cán bộ văn hóa và cán bộ giáo dục chung cho cả trại nữa. Tổ trưởng trực trại lúc ấy là tên Trung Úy Thịnh mà các bạn tù cũ gọi là “Thịnh khuỳnh”, vì lúc đi hai cùi chỏ của hắn khuỳnh ra. Các bạn cho biết hắn là hắc ám nhất ở trại này để mà đề phòng khi đối đầu với hắn. Nói chung, tất cả những tên Công An trong 3 nhóm quyền lực trên đây, đứa nào cũng có quyền chửi bới hành hạ tù cả.


Mỗi buồng giam có một khuôn viên riêng, có khóa cửa hẳn hòi. Như vậy, có 3 lần khóa: Khóa cổng trại. Khóa cổng khuôn viên buồng giam. Và khóa cửa buồng giam.


Khi các Đội xuất trại xong, hai bạn trực buồng giam dùng đòn gánh khiêng thùng phân bắc xã hội chủ nghĩa ưu việt xuống triền đồi đổ vào cái hộc lớn chứa loại này. Các Đội trồng rau mà họ gọi là tăng gia từ dưới thung lũng lên đó khiêng xuống khu vực trồng rau, cho nước vào quậy tan ra và tưới lên rau trái. Nước tiểu thì chảy theo cái cống nhỏ dẫn xuống hộc chứa cạnh hộc chứa phân bắc. Khi đi cầu, bỏ cả giấy vào cái thùng chứa phân bắc, và vì không có nước để dội nên mùi nước tiểu lẫn mùi hôi phân bắc xã hội chủ nghĩa tràn vào các gian nằm của tù!


Cơm ăn hằng ngày là độn 100%, hay nói cho đúng là ăn toàn bo-bo mà bọn chúng gọi là “mì hạt”. Bo-bo là loại thực phẩm thế giới dành nuôi gia súc, nhất là ngựa. Thức ăn hắng ngày thường là vài lát su hào với mấy cọng rau lênh đênh trong chén nước gọi là canh. Đội nhà bếp khiêng lên giao các toán trực buồng giam và toán này phụ trách phân chia.


Gần cổng trại có cái giếng rất lớn nhưng rất cạn, cái giếng cạnh buồng giam số 17 & 18, và cái giếng cạnh lối đi vào trạm xá ở cuối một góc trại. Đó là 3 nguồn nước cho tất cả tù chính trị lẫn tù hình sự lúc ấy vào khoảng 800 người sử dụng. Nhà bếp có giếng riêng.


Ban ngày lẫn ban đêm, khi nói chuyện với nhau phải cẩn thận nhất là ban đêm, vì lính Công An tuần tiểu bên ngoài các buồng giam. Đang nói chuyện với anh bạn trẻ trực buồng giam thì tên quản giáo bước vào:


“Các anh đến chiều qua, khẩn trương ra câu lạc bộ làm thủ tục”.


Gần 200 Đại Tá từ buồng giam số 5, 15, và 16, ra gian nhà xiêu vẹo mà họ gọi là câu lạc bộ, ngồi trên các thanh gỗ gác trên nền mặt xi măng loang lỗ, một lô Công An cả nam lẫn nữ ngồi trên các băng dài. Tên Công An Trại Trưởng nghe như là tên Xuyên, hắn có hàm răng hô hết tầm mức, đứng sau bục gỗ nói oang oang: Nào là Việt Nam ta anh hùng, dân tộc ta anh hùng, chủ nghĩa xã hội là khoa học, là ưu việt, ngọn cờ Mác Lê là bách chiến bách thắng, ..v..v… Thật ra trong vài năm qua, đây là thứ bài bản mà từ tên ngồi trên chót vót xuống đến tên quản giáo quèn, đều học thuộc lòng để phun ra với những ai trước mặt như tù chính trị chúng tôi hôm nay chẳng hạn. Đến đoạn cuối, hắn ra lệnh:


“Để sớm có tiến bộ, các anh phải chấp hành mệnh lệnh của cán bộ đây (vừa nói hắn vừa chỉ vào mấy tên Công An đứng cạnh). Các anh phải gọi các sĩ quan và chiến sĩ là cán bộ. Các đồng chí này trẻ tuổi, nhưng đầy đủ phẩm chất và đạo đức cách mạng, để giúp các anh học tập và lao động tiến bộ. Khi muốn báo cáo với cán bộ, các anh phải đứng xa 6 mét. Đó là lệnh, các anh phải chấp hành cho tốt”.


Hắn nói xong, dù muốn hay không muốn, tù chính trị cũng phải vỗ tay vì hắn vỗ tay trước, rồi đám Công An vỗ tay theo. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, các cấp lãnh đạo lớn nhỏ của họ, mỗi khi phun xong một đoạn trong bài bản thuộc lòng nào đó thì ngưng lại và tự họ vỗ tay trước, cử tọa buộc lòng vỗ tay theo. Lại phun tiếp.


Đến thủ tục bàn giao tù, hồ sơ, và những gì mà chúng tôi buộc phải gởi họ lúc ở trại tập trung Yên Bái. Riêng thuốc tây họ hoàn lại cho từng người tự cất giữ. Ba con bé Công An tuổi khoảng 19-20, mỗi đứa một chồng hồ sơ, gọi từng người mà tôi là trường hợp điển hình để ghi lại đây:


“Phạm Bá Hoa”.


“Có”. Nói xong, tôi đứng dậy đến trước mặt con bé trông khá sạch sẽ.


“Tên gì?”


“Phạm Bá Hoa”.


“Năm và nơi sinh?”


“1930, tại Sóc Trăng?”


“Sóc Trăng ở đâu?”


“Sóc Trăng ở Sóc Trăng”.


“Không được đùa trước mặt tôi. Sóc Trăng ở đâu?”


“Tôi không đùa. Cán bộ hỏi không rõ nghĩa làm sao tôi trả lời chính xác”.


Con bé nhìn tôi với nét mặt hầm hầm:


“Sóc Trăng ở Nam Bộ hay Trung Bộ?”


“Sóc Trăng ở miền Nam”.


“Cấp chức?”


“Đại Tá. Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu”.


“Ngày bị bắt?”


“Tôi trình diện”.


“Trình diện hay bị bắt cũng vậy thôi. Ngày nào?”


“Ngày 14 tháng 6 năm 1975”.


“Địa chỉ trước khi bị bắt?”


“X 12, cư xá Bắc Hải, Phường 25, Quận 10, Sài Gòn”.


“Về chỗ”.


Trở lại chỗ ngồi, chờ con bé Công an tóc dài nghe như tên Nguyệt, phụ trách kiểm nhận những gì chúng tôi gởi:


“Phạm Bá Hoa”.


“Có”.


“Đồ vật đăng ký gồm những gì?”


“Một đồng hồ đeo tay hiệu Longines, một chiếc nhẫn vàng 24, nặng một chỉ”.


“Kiểm lại có đúng không?” Cô ta đưa cái túi nhỏ cho tôi. Cái trục đồng hồ tôi đã làm gãy khi ở trại tập trung Tam Hiệp đã bị mốc màu xanh:


“Đúng là của tôi”.


“Còn trong đăng ký (gởi) bao nhiêu tiền?”


“Số tiền tôi gởi còn 35 đồng hoặc sai biệt chút ít”.


“ 34 đồng rưỡi”. Con bé đưa tôi Phiếu Gởi Đồ Vật và Phiếu Lưu Ký (gởi) tiền.


Khi tất cả chúng tôi gọi là làm thủ tục xong, về buồng giam thì anh bạn trực buồng đã chia cho nửa ca bo-bo, mấy lát su hào, với một muỗng nước muối. Ở đây không cho ăn muối hột mà là ăn muối nước. Bữa ăn bo-bo đầu tiên cảm thấy không đến nỗi ghê sợ vì nó ngòn ngọt, tuy là nhai có phần mỏi quai hàm. Anh bạn trẻ bèn chìa kinh nghiệm ra liền:


“Mấy chú mới ăn bữa đầu như vậy đó, chỉ vài hôm thì mấy chú sẽ biết thế nào là bo-bo nguyên võ”.


“Nó làm sao anh bạn?”


“Khi đi cầu thì chú biết liền”.


Thật ra chẳng phải vài ngày gì cả mà ngay sáng hôm sau, khi ngồi bên trên cái thùng đựng phân người. Trời đất ơi, cái hậu môn đau kinh khủng, vì lớp võ lụa còn nguyên nên nó làm rách hậu môn và rỉ máu, đến mức miếng giấy đỏ lòm khi lau nó. Mấy anh bạn trẻ đã “thưởng thức” thứ mì hạt này khá lâu nên từng trải thế nào là nhẩy nhổm khi sản xuất thứ phân bón xã hội chủ nghĩa ưu việt ra ngoài. Các bạn tù trẻ ăn từng hột bo-bo bằng cách dùng cây tăm xỉa răng ghim từng hột cho vào miệng. Ăn như vậy vừa nhai kỷ vừa kéo dài bữa ăn để được sống trong ảo giác là mình ăn nhiều. Nhưng với các anh “chưa mọc răng đầy đủ” (đã nhổ nhiều răng) là khốn khổ như anh Trương Đình Liệu hay anh Nguyễn Hòa Phùng chẳng hạn, phải nghiền nát mới nuốt được.


Ngay chiều ngày thứ hai tại trại tập trung Nam Hà, chúng tôi phải bày ra tất cả những gì mang theo mà họ gọi là tư trang để tên quản giáo buồng giam tên Phụ kiểm soát. Nói cho đúng là tên Phụ đứng nhìn hai tên tù hình sự lục soát chẳng sót món nào. Anh nào có 3 cái lon guigoze trở lên là nó chỉ để lại 2 cái thôi. Tôi có 6 sợi giây dù khá dài, tên quản giáo lấy luôn. “Cai tù” ở đây nghèo lắm, thấy thứ gì của anh em chúng tôi coi được được là nó lấy với lý do:


“Những thứ này các anh không được giữ vì nội qui cấm”.


“Cán bộ cho tôi lại 2 sợi để đi rừng lấy củi”.


“Không được”.


Vậy là ngay chiều hôm nay, hắn đã trấn lột chúng tôi một số đồ tuy không đáng giá bao nhiêu, nhưng những người tù chúng tôi rất cần, như: cái cắt món tay, lưỡi lam cạo râu, cây đèn bấm nhỏ, ..v..v.. Nhớ lại bọn cán bộ với bộ đội trại Tam Hiệp đã trấn lột khá nhiều đồ dùng của chúng tôi, trại tập trung Yên Bái lại trấn lột lần hai, bây giờ bọn Công An trấn lột nữa. Một bạn trẻ -tù cũ- nghe tôi nói trỏng với cái giọng căm tức, anh ta nói theo:


“Mấy chú sẽ còn bị trấn lột nhiều lần nữa chớ không phải chỉ có 3 lần đâu. Ở đây thỉnh thoảng bọn họ bảo mình mang ra cho nó xét. Món gì nó vừa ý là không sớm cũng muộn bị chúng nó lấy thôi”.


“Các bạn bị chúng nó xét mấy lần rồi?”


“Cháu ra đây năm 1976, chưa được hai năm mà bị chúng nó lục xét tịch thu 6 lần rồi. Mỗi lần chúng nó tịch thu một ít. Cả bọn họ cùng một phe trấn lột nên chú đừng hòng báo cáo mà mất công, có khi mình còn bị chụp mũ là nói xấu cán bộ thì đủ thứ phiền hà chú ơi”.


Bo-bo tối xong. Vào mùng. Tôi nói khẻ với anh Huỳnh Thanh Sơn:


“Anh Sơn. Hồi sáng tôi trả lời con nhỏ Công An là tôi trình diện chớ không phải bị bắt, nó nói bị bắt hay trình diện cũng vậy thôi. Điều này làm tôi kiểm lại từ ngày đầu: Từ lúc mình được giữ tiền giữ áo quần cũng như đeo đồng hồ đeo nhẫn, đến chỗ phải móc ra trao cho chúng nó giữ. Từ cách xưng hô gọi chúng nó bằng anh đến gọi chúng nó là cán bộ với bộ đội, bây giờ nó bắt mình phải gọi tất cả chúng nó từ sĩ quan xuống đến lính đều là cán bộ. Từ khoảng cách mỗi khi tiếp xúc như thế nào cũng được, bây giờ phải đứng xa 6 thước. Từ chỗ không đóng cửa đến nay thì 3 lần khóa, khóa cổng trại, khóa cửa khuôn viên, khóa cửa buồng giam. Từ 30 ngày đến 3 năm, và bây giờ chẳng biết là mấy lần 3 năm nữa. Rõ ràng là chúng nó càng lúc càng đẩy chúng mình vào ngõ hẹp đường cùn, anh Sơn hả?”


“Tụi này dã man lắm! Không có điều gì tin được tụi nó cả. Ngẫm nghĩ mà ông Thiệu nói một câu để đời: Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỷ những gì cộng sản làm”.


“Trong thế giới cộng sản, tôi nghĩ, không có cộng sản nào lưu manh hơn cộng sản Việt Nam đâu anh”.


Có tiếng bọn Công An đi tuần bên ngoài, tôi vội chuyển sang chuyện khác:


“Hậu ơi, Hậu. Mình nghe nói trại Nam Hà này có đến 3 hay 4 trại chớ không phải chỉ có trại này không đâu. Bạn có nghe vậy không”.


“Hồi chiều tớ nghe nói phía trong trại này có trại B, ngược ra phía ngoài có hai ba trại nữa, nhưng tớ chẳng biết nó nằm ở đâu nữa. Còn trại nhốt tụi mình đây là trại Nam Hà A”.


Ngày kế tiếp, trong khi đang học nội qui có một tên Công An bước vào, tên quản giáo buồng giam giới thiệu là cán bộ giáo dục của trại. Hắn bảo chúng tôi ghi địa chỉ của trại để viết thư về gia đình: “25A-TD63/NH-Hà Nam Ninh”. Mỗi tháng viết thư một lần, mỗi ba tháng được nhận một gói bưu phẩm tối đa 5 kí lô. Trên bưu phẩm phải dán phiếu do trại phát mới được nhận. Đến chiều, chúng tôi mới biết hắn tên Niệm, dường như là Thiếu Úy. Vợ hắn cũng là Công An trại này, tên là Vường (không phải tôi viết sai đâu).


Tuần sau đó, 27 anh em chúng tôi từ buồng giam số 5 chuyển xuống buồng giam số 15 chung với các bạn từ Yên Bái xuống đây. Tôi nhập vào Đội 30 do anh Trần Công Liễu (Đại Tá Biệt Động Quân) là Đội Trưởng. Sau hai ngày trong toán quét vôi tường buồng giam, tôi nhập vào nhóm “thợ hồ” xây tường rào bằng đá tảng để “rào mình rào bạn”. Tôi có biết thợ hồ là gì đâu, nhưng khi đang quét vôi, tên Ổn -quản giáo buồng giam- ra lệnh cho anh buồng trưởng Nguyễn Đức Khoái: (Đại Tá Biệt Động Quân)


“Anh chuyển cái anh đội nón trắng (vừa nói hắn vừa chỉ tôi) sang tổ thợ nề từ ngày mai”.


Thế là tôi thành thợ hồ từ ngày đó. Trong Nam gọi là thợ hồ thì ngoài Bắc gọi là thợ nề. Còn hồ thì họ gọi là vửa. Hồ để xây tường chỉ là “chạc” trộn với vôi thôi. “Chạc” là loại đá xanh còn non, cứ dùng cuốc chim cuốc vào đá non sẽ có chạc giống như loại sạn trong Nam. Vì hồ chỉ có thế, cho nên khi xây vách nhà xong phải để hai ba tháng mới đủ cứng để làm tiếp những công tác khác.


Học chính trị.


Chỉ mới xây xong nền nhà ăn thì 4 Đội cấp Đại Tá chúng tôi được lệnh chuẩn bị học chính trị do tên Công An nào đó từ Bộ Công An ở Hà Nội xuống dạy.


Tại trại A này rất đông viên chức cao cấp và một số sĩ quan cấp Tá trong ngành Cảnh Sát đã chuyển từ Sài Gòn ra đây năm 1976, tôi chỉ mới tiếp xúc được với cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc, các vị cựu Nghị Sĩ Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Ngọc Mân, Trần Ngọc Oành, Hoàng Xuân Tửu, cùng vài vị cựu Bộ Trưởng, cựu Đại Sứ, ..v..v.. Các vị này khi đến đây đã qua lớp học tập rồi.


Nơi tập trung những buổi lên lớp là cái hội trường xiêu vẹo ven triền núi, gần nhà tên Trung Tá trại trưởng. Suốt một tháng gọi là học tập tại hội trường và thảo luận tại buồng giam, chẳng qua là toán Công An Hà Nội xuống cũng chỉ những lời lẽ kiêu ngạo, nào là nước nhỏ dám đánh và thắng nước lớn, Việt Nam là đất nước anh hùng, xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là vĩnh viễn trên đất Việt Nam, xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa của thời đại, độc lập dân tộc với xã hội chủ nghĩa là hai ngọn cờ mà đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn giương cao, và giữ vững trong cuộc đấu tranh ai thắng ai, ..v..v.. Hết ưu việt, họ quay sang cái gọi là chính sách khoan hồng nhân đạo, chẳng hạn như được tập trung cải tạo là chứng tỏ đảng với nhà nước quan tâm bảo vệ sinh mạng trước sự căm thù của nhân dân. Đến khi phần quảng cáo cạn lời, họ chuyển sang phần dao to búa lớn cái gọi là phát triển đất nước, nào là cả nước sẽ tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, nào là đến năm 2000 thì Việt Nam sẽ ngang hàng với nước Pháp và nhiều quốc gia khác, vì Việt Nam đã có búa đập 1.000 tấn biểu tượng của nền công nghiệp nặng, nào là ..v..v


Nói chung là những ngày lên lớp, tên Công An mà họ gọi là giảng viên luôn luôn bắt đầu bằng một loạt quảng cáo về xã hội chủ nghĩa, như là bức tranh tuyệt mỹ do chế độ độc tài sẽ dựng nên trong vòng 25 năm cuối của thế kỷ 20, đại loại cũng giống như bức tranh mà ông Hồ đã vẽ cho những thế hệ công dân nước Việt Nam Dân Chủ cộng Hòa từ năm 1930 khi thành lập đảng cộng sản vậy, mà rốt cuộc đến năm 1975 thì xã hội dưới quyền cai trị của họ không hơn xã hội đồng bào thiểu số Cao Nguyên Miền Trung bao nhiêu! Bằng chứng là quân lính cũng như hàng trí thức của họ vào Sài Gòn, ngây ngô ngốc ngếch ngờ nghệch ngớ ngẩn chẳng khác những con người từ trong rừng sâu lần đầu tiên vào thành phố. Vậy là bức tranh xã hội ưu việt của ông Hồ vẽ ra để vuốt ve dụ dỗ những thế hệ “cháu ngoan” của ông, để rồi ông đẩy họ lăn xả vào chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Hòa, với kết quả mà đại hội đảng cộng sản lần thứ 4 của họ hồi năm 1976, đã đưa ra con số thống kê với hằng chục triệu thanh niên đã bỏ xác dọc hành lang Trường Sơn, là bằng chứng mà những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam không thể phủ nhận trước lịch sử.


Sau 4 bài học, tên giáo viên đòi hỏi tù chính trị phát biểu cảm nghĩ về các bài học và cả ngoài bài học nữa. Hắn nói rằng:


“… Chúng tôi sẳn sàng nghe các anh và trả lời các anh nếu thấy cần thiết. Muốn được như vậy, các anh phải đưa câu hỏi chúng tôi xem trước…”


Trong câu nói của hắn có hai vế. Vế thứ nhất là hắn “sẳn sàng trả lời”, nhưng vế thứ hai thì hắn nói “nếu thấy cần thiết”. Vừa mở là đóng lại ngay. Điều đó dẫn đến suy đoán, những câu mà tù chính trị đề cao cái chế độ cộng sản độc tài thì hắn sẽ giải thích thêm, bằng ngược lại thì hắn liệng vào sọt rác.


Ngay lúc đó, cựu Đại Tá Phan Xuân Nhuận đưa tay xin phát biểu và tên giảng viên chấp nhận. Cũng cần nói qua một chút về ông Nhuận trước khi nghe ông nói. Ông thăng cấp Chuẩn Tướng ngày 14 tháng 7 năm 1964, và giữ chức Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân. Ngày 10 tháng 3 năm 1966, ông được cử giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ngay trong ngày Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức Tư Lệnh Quân Đoàn I. Nhưng sau cuộc khủng khoảng chính trị do cách chức Trung Tướng Thi, ngày 7 & 8 tháng 9 năm 1966, Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt đã giáng cấp ông từ Chuẩn Tướng xuống Đại Tá và giải ngũ bắt buộc vì ông đứng hẳn trong thành phần chống đối trung ương, cùng lúc Hội Đồng nghe phát lại từ băng cassette do tổng đài điện thoại Cộng Hòa thu cuộc nói chuyện giữa ông với Thượng Tọa Thích Trí Quang, trong đó ông Nhuận mạnh mẽ chống chánh phủ.


Bây giờ mới quí vị quí bạn nghe ông Nhuận phát biểu. Đây là một đoạn lời lẽ của ông Chuẩn Tướng bị giáng cấp:


“Thưa Ban Giám Thị, thưa các cán bộ, thưa các anh em. Trước khi phát biểu cảm nghĩ, tôi xin giới thiệu tôi là ai?”


Đến đây ông phải ngưng lại vì anh em tù chính trị chúng tôi cười ồ lên. Chờ im lặng ông phát biểu tiếp:


“Tôi là Tướng Lãnh của chế độ ngụy, tôi bất mãn chế độ nên tôi chống đối chúng và chúng đã giáng cấp tôi, rồi buộc tôi về hưu…”


Ông phải ngưng lại lần nữa, bởi tiếng cười tiếng nói của anh em chúng tôi trong hội trường át hẳn âm thanh của ông, đến mức đám Công An bao quanh phải hét lên bảo giữ trật tự. Suốt từ đầu đến cuối phần phát biểu của ông Nhuận, toàn là đề cao chế độ cộng sản mà ông Nhuận gọi là cách mạng. Cuối cùng ông nói:


“Tôi rất an tâm học tập cải tạo để sớm có ngày đoàn tụ với gia đình”.


Không ai đưa tay xin phát biểu, hắn cũng không chỉ định ai nữa, nên hắn nói:


“Chúng tôi nghĩ là các anh, anh nào cũng có phần tâm tư tình cảm riêng, lo nghĩ về vợ con. Điều đó cũng là thông thường. Chỉ những anh nào cho rằng mình an tâm thì tôi cho là không bình thường”.


Anh Đại Tá Nguyễn Kim Tây (Đại Tá Biệt Động Quân) đưa tay xin phát biểu. Hắn chấp nhận:


“Thưa cán bộ. Tôi hoàn toàn an tâm về mặt vợ con. Tôi không lo nghĩ gì cả. Vì vậy mà câu của cán bộ vừa nói không đúng với trường hợp của tôi”.


Hắn hỏi lại: “Anh không không lo nghĩ gì về gia đình à?”


“Đúng”.


“Tại sao?”


“Tôi còn độc thân”.


Đúng là anh Tây chưa lập gia đình, nhưng bạn bè vẫn cười râm ran vì thấy anh Tây chọc quê thằng Công An giảng viên.


Hắn hỏi với giọng gay gắt: “Anh bao nhiêu tuổi?”


“Tôi 45 tuổi”.


“Ngần ấy tuổi mà chưa có vợ, chứng tỏ anh rất trung thành với chế độ ngụy, hi sinh cho chế độ ngụy đến mức vẫn độc thân”.


Bị chọc quê, hắn bèn mắng anh Tây một trận. Thế nhưng “bị” mắng mà cả anh Tây lẫn các bạn cùng cười, nhưng lúc ấy cười chúm chím chớ đâu dám cười thành tiếng, hắn mà biết anh em chúng tôi cười vào mặt hắn thì lắm thứ rắc rối xảy ra chớ không yên thân với bọn họ đâu.






Khai báo.


Đến đấy là xong phần học tập chính trị. Nhưng với bọn Công An trại giam chuyên nghiệp này, sau đợt học tập là viết “bản tự khai” để chứng tỏ thông suốt cái gọi là chính sách “khoan hồng nhân đạo” và tin tưởng vào điều mà bọn họ gọi là chủ nghĩa xã hội. Do đó, phần tiếp theo là chúng tôi -tất cả cấp Đại Tá từ trại tập trung Yên Bái chuyển đến- phải khai báo qua những trang giấy. Trước khi họ hướng dẫn khai báo, một tên Công An tầm thước trung bình, mặt rỗ hoa mè, dường như tên là Thịnh (không phải Thịnh khuỳnh của trại Nam Hà) lên bục gỗ:


“… Sau chuyến công tác từ trong Nam về. Tôi thấy rằng, gia đình các anh rất mong đợi ngày về của các anh. Điều đó cũng đúng thôi. Vậy thì các anh nên khai báo cho đầy đủ, cho thật tốt, Tôi hẹn rằng, một ngày gần đây tôi sẽ gặp các anh tại thành phố HCM. Chúc các anh mạnh khỏe và khai báo cho tốt”.


Đánh đúng tâm lý của tù chính trị dù hắn nói rất ngắn, nên chúng tôi đã chào hắn bằng tràng pháo tay khá dài. Khi ra đến cửa, hắn còn quay lại vẫy tay và lặp lại lời hẹn lúc nảy nữa chớ. Trong một chừng mực nào đó, một số anh em chúng tôi có phần tin hắn, một số khác thì dè dặt và cẩn trọng hơn, nghĩa là không tin cũng không bác bỏ hoàn toàn, và một số khác nữa thì bác bỏ ngay lời của hắn. Tôi kề tai anh Lễ:


“Anh thấy sao Lễ?”


“Thằng này khi nó cười trông cái mặt nó đểu hết biết”.


Anh Đặng Văn Hậu chen vào:


“Hắn nói cứ như thật ấy, nhưng cái mặt nó trông khó ưa làm sao á”.


Tôi tiếp lời:


“Tôi thì đơn giản thôi. Đã là cộng sản thì không thằng nào tin được cả. Hai bạn cứ nhớ lại xem, chúng nó tuyên truyền mình học tập 30 ngày, rồi tăng lên 3 năm. Thằng nào cũng nói cách mạng biết hết những việc chúng mình làm, nhưng chúng nó nói muốn thấy mình khai báo thành thật để chúng nó khoan hồng, mà thật ra là để chúng nó buộc tội như trường hợp hai anh Thiếu Tá bị chúng nó bắn ở trại Tam Hiệp (Biên Hòa) đó…. “


Nói đến đây thì tên Công An hướng dẫn khai báo bước vào nên cả hội trường không còn tiếng ồn ào. Theo hướng dẫn, mọi người phải ghi chép cái mẫu khai báo gồm 34 điểm trong ba phần khác nhau:


Phần một là lý lịch bản thân.


Phần hai là dòng họ ông bà nội, dòng họ của hai bên cha mẹ, anh chị em ruột, và vợ con. Những người thân trong dòng họ từ ông bà nội trở xuống dù có chết cũng phải khai trước khi chết, như: Nghề nghiệp, chỗ ở, tại sao chết? Mục đích để chúng nó xem những người chết có phải trong quân đội Pháp hay quân đội Việt Nam Cộng Hòa không, để từ đó chúng nó trừng phạt những con cháu. Lúc ở trại tập trung trên Yên Bái, anh cộng sản từ trong Nam tập kết ra Bắc năm 1954 là Thượng Úy Toản, đã nói đến điều này và dặn đừng bao giờ khai báo sự thật, vì chúng nó sẽ căn cứ vào đó để kết tội người khai báo.


Và phần ba là khai báo bản thân từ lúc sinh ra cho đến lúc ngồi viết khai báo. Phải khai từng năm một bao gồm: Ở đâu? Làm gì? Kết quả của việc làm? Khai cả những cô bạn học, bạn gái bạn trai, và khai về mỗi người cũng đúng theo cái khung khai về bản thân mình.


Tôi lại kề tai anh Lễ -chúng tôi thân nhau từ lâu- và ngay trong lúc này lại ngồi cạnh nhau:


“Anh thấy chúng nó truy lục toàn bộ gia phả của mình không. Lại còn truy lục mọi góc cạnh tình cảm của mình nữa. Giống y như một đoạn mà tôi đã đọc trong “Bóng Cờ Hồng Trên Đất Trung Hoa” hồi năm 1970 khi học ở Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Cao Cấp ở Đà Lạt vậy. Ruột gan mình nó hổng moi được ngay bây giờ, nếu moi được là chúng nó cũng hổng chừa đâu. Thứ gì chúng nó cũng nắm hết. Độc quá sức!”


Chỗ ngồi viết là buồng giam số 15, số 16, và trong gian nhà xiêu vẹo mà chúng nó gọi là “câu lạc bộ”. Tôi trong Đội 30 viết khai báo tại câu lạc bộ. Mỗi người nhận 20 tờ giấy đôi có gạch ô vuông, viết chấm mực và mực. Hết giấy hết mực thì lãnh tiếp.


Tôi nghe các bạn trẻ kể lại là các viên chức cao cấp trong Chánh Phủ, trong Quốc Hội, và các sĩ quan Cảnh Sát cấp Đại Tá đến trại tập trung Nam Hà này trước chúng tôi, đã viết khai báo rồi. Có người viết đến 500 trang như Thiếu Tướng (Nghị Sĩ) Huỳnh Văn Cao chẳng hạn. Có người còn viết nhiều hơn nữa. Vài anh em chúng tôi thắc mắc: “Không biết các ông ấy khai báo gì mà đến mấy trăm trang giấy”.


Phần đầu thì viết dễ thôi, vì là lý lịch của bản thân mà chúng nó gọi là “lý lịch trích ngang”. Với lại trong 3 năm qua, mỗi người chúng tôi phải khai đến vài chục lần chớ không ít, vì bất cứ tên nào cũng bắt tù chính trị chúng tôi khai lý lịch cả. Chúng tôi đâu có biết tên nào có quyền tên nào không có quyền mà nghe lời hay phản đối, thôi thì cứ viết cho yên thân.


Phần gia phả là phải vò đầu bóp trán cả ngày để lục lọi trong trí nhớ xem từng ông bà cô bác tên gì, bao nhiêu tuổi, vì trong gia đình cứ gọi Ông Ba Bà Tư ..v...v.. chớ có bao giờ biết tên. Còn tuổi thì áng chừng từ người nhỏ nhất trở lên, từ đó làm chuẩn để “ấn định” tuổi của những ông bà lớn hơn. Cứ mỗi người lớn hơn thì cộng thêm hai hay ba tuổi, và cứ thế mà khai. Chưa hết, nếu như ông bà cô bác đã chết phải khai vì lý do gì mà chết nữa chớ. Chỉ có cách gắn đại cho cái bệnh gì đó như rắn cắn, té sông, sụp hầm, leo cây bị gãy nhánh, bất đắc kỳ tử, ..v..v.., miễn là đừng chết vì tham gia chánh quyền hay quân đội thì tránh được phiền toái. Có đêm nằm nghĩ lại những gì mình khai mà phát cười. Thuở đời nay con cháu mà dám cả gan đặt tên rồi ấn định tuổi cho ông bà cô bác, lại còn gắn cho cái bệnh phải gió gì đó để chết theo ý muốn nữa. Nếu không khai báo theo cách đó thì tên cán bộ tuổi mới 20 nó mắng nghe đến nổ lỗ tai chớ vừa đâu. Chẳng hạn như:


“Anh là cháu mà không biết tên tuổi của ông bà à? Từ nhỏ đến lớn anh cũng không hỏi xem ông bà cô chú của anh chết vì bệnh gì à? Cái thứ con cháu như các anh là cái thứ mất gốc, chỉ biết đế quốc thôi”.


Tức quá, tôi trả lời:


“Ở trong Nam chúng tôi các cơ quan hành chánh hay quân đội chẳng bao giờ đòi hỏi lý lịch như vậy, nên chúng tôi chẳng ai hỏi ông bà cô bác đến những chi tiết ấy cả”.


“Tại anh không dám khai thật đấy”.


“Báo cáo cán bộ, tôi thấy chẳng có gì phải giấu cả. Dường như cán bộ xem đó là điều quan trọng thì phải?”


“Lý lịch mà không quan trọng à!”


“Trong chế độ của chúng tôi thì khác cán bộ à! Các cơ quan chỉ cần biết bản thân chúng tôi là đủ. Vì nền hành chánh của chúng tôi tổ chức dựa trên “quan niêm tin tưởng” nên căn cứ vàolời khai của mỗi người là đủ. Trường hợp công dân nào lợi dụng lòng tin đó mà vi phạm luật pháp thì luật pháp trừng phạt”.


Hắn im lặng một lúc rồi gằn giọng: “Đừng có lý luận nữa. Tiếp tục đi”.


Đến phần thứ ba mới là phần chánh. Trong phần này phải khai báo từ lúc sinh ra, lớn lên, đi học, làm những việc gì, kết quả của những việc làm đó, ..v..v.. Chỉ trong cái đoạn từ năm 1930 đến năm 1939, mà hắn sỉ vả bảo viết lại đến lần thứ 3 hắn mới chấp nhận. Quí vị quí bạn nghĩ xem, từ lúc chào đời đến khi 9 tuổi thì nhớ được cái gì để viết. Hắn lên giọng:


“Tại anh không đặt mình vào thời điểm ấy mà viết, chẳng lẽ anh không làm gì được cho ba má anh à?”


“Báo cáo cán bộ, tôi đâu phải thần đồng mà khi chào đời đến lúc 9 tuổi, xin lỗi cán bộ nghe, cái tuổi ấy tắm không mặc quần thì làm sao biết mọi việc trên đời cũng như làm được bao nhiêu việc giúp Ba Má tôi để mà viết”.


Cái mặt hắn đỏ lên, hắn quát: “Anh lý luận cái kiểu ấy với tôi à?”


“Không. Tôi chẳng lý luận gì cả, tôi chỉ nói với cán bộ những sự thật trong cuộc sống của tôi thôi”.


Hắn trừng mắt nhìn tôi. Im lặng. Hắn ra ngoài.


Anh Lễ khều tôi:


“Coi chừng nó nhốt anh à. Thôi, đừng có đấu với nó không có lợi đâu”.


“Tôi biết chớ. Lúc nảy tôi muốn hỏi hắn chớ từ lúc sinh ra đến khi 9 tuổi hắn đã làm được gì cho ba má hắn. Nhưng tôi nén lại được, để chuyển qua câu tôi không phải thần đồng đó”.


Khoảng nửa giờ sau hắn quay lại: “Sao anh không viết?”


Bỗng dưng hắn dịu giọng một cách lạ thường, cứ như không có chuyện gì xảy ra trước đó cả!


“Báo cáo cán bộ, tôi cố nhớ lại những gì xảy ra trong đời tôi thuở ấy, nhưng vẫn chưa nhớ được điều gì nên chưa thể tiếp tục”.


“Tôi cho anh suy nghĩ 30 phút nữa rồi viết tiếp”.


Cuối mỗi ngày, viết được bao nhiêu đưa hắn bấy nhiêu, nếu đoạn nào hắn cho là “không đạt yêu cầu”, sáng mai hắn bảo viết lại sau một hồi sỉ vả. Mỗi lần như vậy, tôi phải vẽ vời để viết theo điều mà hắn gọi là “đạt yêu cầu”, ấy vậy mà hắn chấp nhận. Nghĩa là viết thật thì hắn cho là “không đạt yêu cầu”, còn tưởng tượng ra để viết thì hắn cho là “đạt yêu cầu”. Điển hình khi tôi viết về cô bạn học thời sơ học với cái bằng “Việt Nam Sơ Đẳng Tiểu Học Văn Bằng”, cô tên là Yến, mãi 8 năm sau mới gặp lại trong một dịp tình cờ ở Sài Gòn. Hắn hỏi với chút châm biếm:


“Anh không tình tự gì à?”


“Trời đất ơi! Tám chín tuổi mà tình tự gì cán bộ”.


“Không. Tôi không hỏi anh lúc tám chín tuổi, mà tôi hỏi anh khi gặp lại cô bạn học của anh. Sĩ quan ngụy của anh chỉ biết tình tự ăn chơi chớ biết làm gì”.


“Lúc ấy tôi vừa đi làm vừa đi học chớ chưa vào quân đội. Mà có vào quân đội đâu phải chỉ có tình tự ăn chơi như cán bộ nói. Chẳng lẽ chúng tôi chỉ ăn chơi mà hơn 20 năm cán bộ mới vào được Sài Gòn sao”.


Hắn quát:


“Tôi không chấp nhận cái lối lý luận của anh. Viết tiếp đi, đừng có dài dòng mà có chuyện”.


Hắn dọa tôi đó. Và đây là một đoạn vẽ vời của tôi mà hắn chấp nhận:


“… Quê tôi, tên gọi là Đại Ngãi (tỉnh Sóc Trăng), gối đầu lên bờ Nam Sông Hậu, duỗi mình trên cánh đồng trỉu hạt vụ mùa. Cạnh đó là dòng sông hai mùa mặn ngọt. Người người rất hiền hòa bên nhau trong nghề hạ bạc (đánh bắt cá) và đồng áng. Tôi được chào đời trên vùng đất xa thành thị nhưng gần gủi tình người ấy….”


Đến đoạn tiếp theo, tôi lại viết theo cách khai báo chớ không viết theo lối viết văn. Hắn lại mắng:


“Anh đùa với tôi hả? Anh viết kiểu gì lạ vậy?”


“Tôi viết theo khai báo như tôi đã khai báo ở các trại trong Nam cũng như các trại trên Hoàng Liên Sơn chớ đâu có kiểu gì lạ cán bộ”.


“Ở đây khác. Anh phải trộn lại và viết theo thời gian. Anh là người sử dụng nhiều giấy nhất mà chẳng viết được gì cả”.


“Cán bộ nói như vậy, có nghĩa là tôi viết như viết văn phải không?”


Hắn im lặng một lúc:


“Không văn vẽ gì hết, anh cứ viết theo lời tôi bảo”.


Thế là tôi dựa theo một số sự kiện có thật rồi tiểu thuyết hóa nó trong khai báo. Chuẩn bị cho bài viết bằng cách mỗi đêm ôn lại những sự kiện, rồi lọc ra một số sự kiện mà tôi cho là có tác dụng chung chung nói lên tinh thần dân tộc để hôm sau viết. Điển hình như sự kiện Tổng Thống Ngô Đình Diệm không chấp nhận sự có mặt các căn cứ quân bộ chiến Hoa Kỳ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, để giữ uy tín Việt Nam trên chính trường thế giới. Sự kiện Quốc Trưởng Nguyễn Khánh kêu gọi quân viện chỉ để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa, chớ không có kế hoạch đánh ra Bắc. Sự kiện khi quân bộ chiến các quốc gia đồng minh hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, cũng chỉ góp sức bảo vệ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong chiến lược “can gián mực thước” hay “chiến tranh không cần thắng” mà thôi. Cách trình bày của tôi để họ thấy quân đội của họ có mặt trên chiến trường Việt Nam Cộng Hòa trước khi quân đội đồng minh có căn cứ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.


Sự kiện những chiếc tàu của họ chở vũ khí đạn dược từ Hải Phòng, men theo hải phận quốc tế rồi xâm nhập vào hải phận Việt Nam Cộng Hòa, đã bị đánh chìm tại cửa sông Bồ Đề (An Xuyên), cửa Ba Động (Vĩnh Bình), Vũng rô (Khánh Hòa-Phú Yên) ..v..v.. Tôi cố tình khen cuốn phim “Lửa Hận Rừng Dừa” của họ (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) sản xuất mà tôi đã xem tại Bộ Tổng Tham Mưu. Ý của tôi là để chứng minh những chiếc tàu của họ thật sự bị đánh chìm, và nhiều tài liệu phim ảnh bị tịch thu đưa về Trung Tâm Hỗn Hợp Việt Mỹ Khai Thác Tài Liệu. Tôi cũng tóm tắt tin tức về mấy ngàn bộ xương của đồng bào Huế/Thừa Thiên đã phát hiện từ nhiều mồ chôn tập thể, sau trận tấn công của họ trong Tết Mậu Thân đầu năm 1968. Nhiều phóng viên cơ quan truyền thông quốc nội quốc tế, đã có nhiều bài viết cùng với những thước phim tài liệu phổ biến đến khán thính giả khắp nơi trên thế giới.


Gặp phái đoàn Pháp.


Tháng 07/1978, một buổi sáng, chúng tôi rất ngạc nhiên là buồng giam 15 và 16 (nhốt tù chính trị cấp Đại Tá) vẫn bị khóa kín mà thường ngày vào khoảng thời gian này đã được mở để viết khai báo. Nhìn theo ánh mặt trời, tôi áng chừng đã quá 8 giờ (vì đồng hồ của chúng tôi đều do trại giữ), lúc ấy cửa mở nhưng chỉ gọi 16 người ra khỏi buồng, trong số này có tôi. Đang trên lối đi nhỏ hẹp ra sân trại, tên Công An an ninh của trại -Thiếu úy Thung- bảo tôi đứng lại, lúc ấy nét mặt hắn có phần hung tợn trong khi tay hắn chỉ thẳng vào mặt tôi, gằn giọng:


“Tôi nói cho anh biết, chốc nữa có một đoàn khách nước ngoài đến tham quan trại, họ muốn gặp một Đại Tá ngụy từng làm việc ở Bộ Tổng (Tham Mưu). Xem danh sách, họ chọn anh. Ban Giám Thị ra lệnh cho anh, họ hỏi điều gì thì tùy họ, nhưng tuyệt đối anh phải trả lời có lợi cho trại, cho nhà nước. Anh phải biết gia đình anh nằm trong tay chúng tôi. Tôi nhắc lại, gia đình anh trong tay chúng tôi, anh nghe chưa?”


“Báo cáo cán bộ, tôi rất bở ngỡ vì không quen tiếp xúc báo chí ngoại quốc, xin cán bộ cho tôi miễn công tác này”.


“Anh đùa với tôi hả? Đoàn khách đã chọn anh. Anh không chịu gặp họ, tức là anh chống đối trại và gây nghi ngờ về phía họ đối với trại. Tôi nhắc lại lần nữa, gia đình anh trong tay chúng tôi. Nghe chưa!”


Tôi ức quá. Lúc ấy hai hàm răng tôi cắn lại, quai hàm bạnh ra, và chắc là mặt tôi cũng xanh nữa.


“Anh theo tôi lên lớp học lịch sử, ngồi ở đó như là một học viên, khi nào nghe gọi tên anh thì anh bước ra. Anh coi chừng tôi đó. Tuyệt đối không được nói tiếng nước ngoài dù là lời chào. Anh nghe rõ chưa?”


“Rõ”.


Nơi tôi đang ngồi là chỗ mà chúng tôi thường ngày viết khai báo, nhưng hôm nay cả trại đã xuất trại từ hồi nào nên vắng hoe, trong khi các đội cấp Đại Tá chúng tôi đều bị nhốt trong buồng giam 15 và 16, ngoại trừ một số bạn ngồi đây mà họ gọi là lớp học lịch sử. Trong hội trường được dàn dựng một phòng đọc sách, và khoảng 6 anh -cũng cấp Đại Tá- được chọn ngồi vào đó như là nhàn nhã đọc sách vậy. Tất cả tù chính trị lẫn hình sự đang nằm ở trạm xá cũng đem giấu trong núi sau trại B, và thay vào đó là số người khỏe mạnh để xem như trạm xá điều trị tốt. Màn gian trá chưa hết, tại “mỗi đầu giường bệnh” có một hộp sửa đặc, một nải chuối, với vài cánh hoa dại nữa. Mỗi buồng giam đang từ 50 hay 60 tù, sắp xếp lại để mỗi buồng giam khi nhìn vào mớ áo quần cuộn lại thay gối nằm chỉ còn 25 tù thôi. Riêng buồng giam 15 và 16 chúng tôi nằm sâu trong góc cuối của trại, bị che khuất bởi bức tường đá tảng mà thoạt nhìn cứ tưởng đó là bức tường cuối cùng của trại giam này, nên họ không cần che giấu số người trong buồng giam. Nhà bếp có treo một con heo làm sẳn, để trả lời với phái đoàn -nếu có hỏi- là ăn trong ngày, nhưng thật ra là chia cho 3 trại khoảng 1.000 tù chính trị lẫn hình sự. Tôi mô tả như vậy là vì hồi tháng 4 (1978) có một phái đoàn nào đó đến thăm, lúc ấy tất cả tù cấp Đại Tá chúng tôi đều bị đưa vào kẹt núi sau trại B cất giấu trọn ngày, mãi đến khi phái đoàn rời khỏi trại chúng tôi mới được về. Lần đó phái đoàn có tiếp xúc phỏng vấn một ông cựu Bộ Trưởng của Việt Nam Cộng Hòa.


Rõ ràng là Ban Giám Thị trại giam này đang che mắt phái đoàn, che mắt thế giới, cứ như tù chính trị trong tay họ chỉ có học về lịch sử chớ không học chính trị, cũng như không làm lụng vất vả gì hết. Đây là màn đầu tiên trong bản chất gian trá của cộng sản quản trị trại giam, và anh em chúng tôi ngồi đây là những thành viên bị bắt buộc diễn cái màn gian trá đó do một nhóm Công An từ Hà Nội xuống đạo diễn màn này.


Tôi nghĩ, sự có mặt của phái đoàn ngoại quốc, nếu không phải là cộng sản cũng là có khuynh hướng cộng sản. Ngay bây giờ, tôi không có cách nào tránh né được vì tên Thụng đánh đúng vào điểm yếu nhất của tôi là gia đình, mà lúc nảy hắn đã luôn miệng đe dọa sự an toàn của gia đình tôi. Vậy là tôi phải tiếp xúc.


Trong một thoáng thật nhanh, tôi có ngay câu giải đáp “phải làm gì” khi tiếp xúc với phái đoàn cho dù phái đoàn đó là cộng sản hay thân cộng sản. Tôi phải tùy cơ ứng biến, trong một tích tắc nào thuận lợi để nói cho phái đoàn đó biết rằng “đây là trại tù chứa 750 tù, và chúng tôi là tù chính trị không hề ra tòa án”. Điều mà tôi rất đắn đo “có nên liều mạng để nói lên sự gian trá của cộng sản cho họ biết không?” Nếu liều mạng như vậy có lợi gì, hại gì? Nhìn lại thân phận người tù chính trị nơi đây nhỏ nhoi quá, trong khi thế giới thì quá ư rộng lớn với biết bao vấn đề phức tạp mà mình thì hoàn toàn không có lãnh đạo. Thôi, đành phải giữ chừng mực khi phát biểu đến mức đủ để chúng nó nạt nộ mắng chửi chớ không biệt giam cùm chân bỏ đói! Đang miên man suy nghĩ, tôi nghe mấy tên Công An đứng bên ngoài nói với nhau:


“Không thằng nào trông chúng nó để chúng nó ngồi đầy trên bệ cửa sổ nhìn sang trạm xá, lại còn la ó nữa. Phái đoàn đã trông thấy và họ chụp một số hình rồi. Không khéo là mang họa đấy”.


“Thằng Lực coi chớ ai”.


“Không. Thằng Lực chuyển ra trực trại rồi, thằng Ổn quản giáo buồng đó”.


“Thằng nhóc đó mà cho nó quản giáo mấy thằng già cứng đầu sao được”.


Vừa lúc phái đoàn từ trạm xá lên, đứng bên hông lớp học. Họ nói tiếng Pháp và trong lớp nghe rất rõ:


“Chúng tôi muốn gặp Đại Tá Hoa”.


Trong một thoáng, tôi nghĩ có thể thực hiện được mục đích mà tôi đã nghĩ lúc nảy.


Tiếng của tên Công An thông dịch:


“Phái đoàn muốn tiếp xúc với Đại Tá Hoa”.


Tên Thung bước vào gọi tôi. Khi tôi bước đến cửa, hắn đứng sát vào tôi:


“Anh nhớ là gia đình anh trong tay chúng tôi đấy!”


Âm thanh của hắn như dưới sức ép của hai hàm răng nghiến chặt, tôi nghe mà phát tức! Vừa ra khỏi cửa, một tên Công An có lẽ là từ Hà Nội xuống, hắn đi sau lưng tôi và nói thật khẽ:


“Tôi cấm anh không được nói tiếng nước ngoài, dù một lời chào”.


Tôi đứng lại nhìn hắn, như thể cho phái đoàn biết là hắn vừa nói vào tai tôi. Dĩ nhiên là phái đoàn chẳng biết hắn nói gì, nhưng ít ra họ cũng nhận thấy điều gì đó không minh bạch. Hắn giục:


“Tại sao anh đứng lại. Hãy đi bình thường”.


Tôi bước thêm mấy bước nữa là đứng cạnh phái đoàn. Nhận xét thật nhanh, các thành viên trong phái đoàn khá trẻ, áng chừng tuổi trên dưới 30. Vui vẻ. Tôi nói tiếng Việt, phái đoàn nói tếng Pháp, qua lời thông dịch của Công An.


Tôi cười nhẹ: “Tôi chào các vị”.


“Chào ông. Có phải tên ông là Phạm Bá Hoa không?”


“Vâng. Tôi tên Phạm Bá Hoa”.


“Ông bao nhiêu tuổi?”


“Vài tháng nữa tôi tròn 48 tuổi”.


“Chúng tôi chúc mừng ông sinh nhật vui vẻ”.


“Cám ơn các vị”.


“Trước đây ông là Đại Tá?”


“Vâng. Tôi là Đại Tá”.


“Tháng 4 năm 1975, ông giữ chức vụ gì ở Bộ Tổng Tham Mưu?”


“Tôi là Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu”.


Tên Công An thông dịch moi mãi mới ra chữ “Chef de Bureau” để dịch chữ Tham Mưu Trưởng. Tôi quay sang hắn:


“Xin cán bộ làm ơn dịch chữ “Chef d’ État Major” để chỉ chức vụ của tôi”.


Một cô trẻ trong phái đoàn bước đến sát mặt tôi:


“Ông biết tiếng Pháp?”


Đúng cái lúc mà tôi nghĩ là thuận tiện để nói thật nhanh điều tôi đã nghĩ, thì tên Thung, an ninh của trại đứng sát lưng tôi. Không biết hắn dùng vật cứng gì mà đầu nhọn ấn nhè nhẹ vào lưng tôi, mỗi lần ấn vào là tôi đau nhói nên tôi nghiêng qua nghiêng lại. Hành động của hắn như uy hiếp tôi không được trực tiếp nói chuyện với phái đoàn. Tôi không trả lời câu hỏi của cô ấy, mà tôi chỉ cười nhẹ nhưng mặt thì nhăn nhó vì lưng bị đâm đau quá!


Tên Công An Hà Nội: “Anh có thái độ gì lạ vậy?”


Tôi nghĩ là hắn thấy tên Thung đứng sát lưng tôi, nhưng không rõ hắn có thấy tên Thung dùng vật nhọn ấn vào lưng tôi hay không, tôi trở lại thế đứng bình thường vì hắn không ấn vào lưng tôi nữa:


“Không. Tôi không biết tiếng Pháp”.


Cô gái trẻ ấy nhìn tôi một lúc, gật đầu tỏ ý cô ta nhận biết tôi hiểu câu hỏi của cô ta. Rồi cô ta nheo mắt kèm theo nụ cười nhẹ, như thể cô ta nhận thấy sự kiện không bình thường vừa rồi.


Một anh trẻ khác hỏi: “Ông ở trong quân đội bao lâu?”


“Vừa tròn 21 năm”.


“Ông vào trại cải tạo mấy năm rồi?”


“Vừa hơn 3 năm”.


“Ông có biết tại sao ông vào trại cải tạo không?”


“Tôi là sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau ngày 30/04/1975, tôi ở nhà chờ lệnh. Sau đó Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn ra thông cáo gọi tất cả sĩ quan viên chức chế độ cũ trình diện học tập cải tạo...”


Tên Công An thông dịch chưa kịp dịch cho phái đoàn nghe thì tên Thung quát tôi trước mặt phái đoàn:


“Anh trả lời thẳng là anh có tội với nhân dân, không có quanh co gì hết”.


Tôi cứ như không nghe “lời mớm” của hắn, và thản nhiên tiếp tục:


“Trong đợt học chính trị tại trại Long Giao ở miền Nam, bài học nói chúng tôi là những người có tội với dân, lúc ấy tôi mới biết là tôi có tội. Trước đó nếu tôi biết như vậy thì tôi trốn rồi, chớ đâu có ai biết mình phạm tội mà đi trình diện vào trại tập trung đâu”.


Có tiếng xì xầm của mấy tên Công An sau lưng tôi, nhưng tôi không để mình bị chi phối vì còn phải tìm cơ hội nói với phái đoàn về điều tôi muốn nói.


Lúc bấy giờ tên Công An dịch câu trả lời của tôi cho phái đoàn với nội dung “tôi là Đại Tá ngụy, có tội với dân nên nhà nước cho vào học tập”. Một cô trong phái đoàn hỏi tiếp:


“Ông có tin là ông sẽ được về không?”


“Có chớ. Nếu không tin như vậy thì làm sao tôi có nghị lực để sống!”


“Điều gì làm ông tin?”


“Dù chưa nhìn thấy điều gì rõ rệt, nhưng tôi vững tin vào thời gian với những biến đổi trên thế giới cũng như tại Việt Nam”.


“Chúng tôi cám ơn ông. Chúc ông giữ vững nghị lực vì chúng tôi tin quảng đường trước mặt của ông còn dài lắm”.


“Cám ơn các vị và chúc các vị sức khỏe”.


Câu cuối cùng của thành viên trẻ trong phái đoàn làm tôi hiểu theo hai nghĩa: Rất có thể là họ biết chúng tôi còn trong trại tập trung dài lâu lắm. Hoặc họ khuyên chúng tôi là trách nhiệm với quốc gia dân tộc còn dài lâu trước mặt, hãy cố gắng vững nghị lực cho cuộc chiến đó. Cho dẫu hiểu như thế nào đi nữa, tôi tin phái đoàn này không phải là phái đoàn thân cộng sản.


Sau khi phái đoàn rời khỏi trại, cán bộ Lực, Công An trực trại vào gọi tôi lên văn phòng an ninh. Vừa bước vào cửa, tên Thung vỗ bàn hét lớn:


“Anh có biết rằng anh nói như vậy, tức là anh không có tội mà đảng với nhà nước bắt anh không?”


Tôi chậm rãi và nhẹ nhàng trả lời như để xoa dịu hắn, vì dù sao thì lúc sáng tôi đã “tấn công” hắn bằng “một vài nắm đấm chính trị” rồi:


“Báo cáo cán bộ, tôi đâu có nói như vậy. Tôi đâu có nói là đảng với nhà nước bắt mà là tôi trình diện theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản. Đó là sự thật mà cán bộ”.


Tôi cố tình nhấn mạnh chữ “sự thật mà cán bộ” để ám chỉ hắn giả dối, trại giả dối, nhà nước giả dối, mà tất cả đều do bản chất giả dối từ trong đảng của hắn tạo nên cả.


Hắn lại quát: “Anh là tên ngoan cố”.


“Cán bộ nói vậy chớ bản thân tôi chưa biết như thế nào gọi là ngoan cố”.


“Anh chống lại cải tạo là anh không có ngày về đâu. Rục xương đấy!”


“Báo cáo cán bộ. Tôi không làm gì trái nội qui mà cán bộ nói tôi chống cải tạo. Tôi nghĩ là cán bộ biết rõ những gì tôi trả lời phái đoàn đều là sự thật mà”.


Có lẽ hắn tức lắm nhưng dường như đuối lý nên hắn quát:


“Vào trại ngay”.


Chỉ chờ có thế là tôi chào hắn và quày quả ra khỏi phòng. Trên đường vào trại, cán bộ Lực hỏi tôi:


“Anh làm gì mà ông Thung quát dữ vậy?”


“Tôi có làm gì đâu cán bộ”.


Vừa đi vừa thuật chuyện giữa tôi với cán bộ an ninh vừa rồi. Cán bộ Lực có ý khuyên tôi nhưng không rõ là hắn có thật lòng hay không:


“Anh không nên đối đầu với ông Thung. Không có lợi cho anh đâu”.


“Vâng. Cám ơn cán bộ. Thật ra tôi không có ý đối đầu gì cả mà chỉ nói sự thật thôi”.


RX là gì?


Chiều ngày 1 tháng 9 năm 1978, trong lúc Đội 29 với 30 chúng tôi ngồi viết khai báo trong câu lạc bộ gần loa phóng thanh. Thường ngày loa này không được mở, nhưng chiều nay bỗng dưng chúng tôi “bị nghe” chương trình truyền thanh chuẩn bị cho ngày mai -2 tháng 9- lễ độc lập của chúng. Trong bài diễn văn dài lê thê của ông Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, có một đoạn ngắn cuốn hút anh em chúng tôi đến mức đều ngưng viết. Đó là vấn đề tù chính trị chúng tôi, ông ta thẳng thừng rằng:


“… Bọn ngụy quân ngụy quyền và đảng phái phản động là bọn đã gây tội ác tầy trời, ta không thể tha thứ cho chúng …”


Lúc ấy không có tên cán bộ nào có mặt, có lẽ chúng chuẩn bị về nhà sớm. Vì vậy mà điều đầu tiên là chúng tôi xúi hai anh Đội Trưởng xin về sớm với lý do viện dẫn ngày mai nghỉ lễ. Rồi cùng nhau tụm năm tụm ba bàn luận suy đoán với bao nhiêu là hình ảnh được vẽ ra và chồng lên nhau bắt nguồn từ lời tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng, tên cộng sản mà năm 1958 đã chan1h thức công nhận các đảo và quần đảo vùng Biển Đông thuộc về Trung Hoa cộng sản. Chúng tôi trông chờ vào bài diễn văn của ông Thủ Tướng cộng sản hôm nay, vì nghe chừng sẽ có quyết định liên quan đến tù chính trị. Thế nhưng qua lời của ông Đồng vừa rồi, đúng là ông ta có nói đến chúng tôi, nhưng điều mà ông ta nói chắng khác thùng nước lạnh tạt vào anh em chúng tôi choáng váng đến tối tăm mặt mũi!


Sau bữa ăn bo-bo chiều, cửa buồng giam đóng rầm một cái, tiếng click khô khan của cái ống khóa vừa bấm lại, từng nhóm anh em chúng tôi tiếp tục bàn luận chung quanh lời tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng lúc trưa. Một bạn trong nhóm chúng tôi ở cuối góc phòng mở đầu với câu ngắn mà không ai hiểu:


“Vậy là RX rồi”.


“RX là gì vậy cha nội?”


“RX là rục xương chớ là gì nữa! Rõ vớ vẫn”.


“Đấy. Các anh tin vào cái gọi là khoan hồng nhân đạo của chúng nó nữa đi. Nó lừa được bọn mình vô tù rồi nó nói huỵch toẹt ra đấy”.


“Thôi. Nóng làm chi bạn ơi! Thế bạn có tin cái chính sách 10 điểm của họ hay không mà bạn ngồi đây?”


“Tôi thì khác”.


“Cứ cho là bạn khác với bọn tôi, nhưng nhìn lại thì chúng mình cũng thế thôi bạn à! Là tù thua trận cả mà. Nặng nhẹ xách mé làm chi cho đau lòng nhau!”


“Tôi xin các anh cứ mặc cha nó! Cái quan trọng là mình phải vững tin rằng, chúng mình sẽ được ra khỏi trại tập trung dù chưa biết là sẽ ra như thế nào. Thế giới, nhất là Hoa Kỳ, vẫn xem Việt Nam là một vấn đề thì ta vẫn còn hy vọng mà. Bây giờ, vấn đề của chúng ta là giữ vững nghị lực để đừng bỏ xác trong nhà tù cộng sản. Thế thôi”.


“Các anh ơi! Khi bước vào hoạt động chính trị, người ta buộc phải sử dụng ngôn từ của chính trị, cái thứ ngôn ngữ không nhất thiết 1 với 1 là 2 đâu. Nhất là chính trị trong cái quốc gia nghèo giữa một thế giới cạnh tranh nhau vì quyền lợi thì sự ổn định khó mà có được, nếu không nói là ảo tưởng. Trong một quốc gia không có khả năng độc lập kinh tế như Việt Nam thì đừng hòng có độc lập chính trị. Với lại, những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, được chọn từ thành phần 3 đời bần cố nông để đại diện công nhân nông dân thì họ có học hành gì đâu. Khi lãnh đạo mà không có kiến thức thì đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa càng ngày càng xuống vực thẳm là điều hiển nhiên. Rõ ràng nhất là cái nhóm lãnh đạo loại ấy lúc nào cũng vỗ ngực lớn tiếng bảo vệ đất nước cả”.


“Thằng cộng sản nó đếch cần đến kiến thức mà chỉ cần lưu manh để nắm quyền cả đời đấy. Cho nên chẳng phải riêng chúng mình, mà là cả dân tộc cứ như bị nhốt trong cái nhà tù bằng cả một quốc gia ấy”.


“Như Trung cộng thôi. Chúng nó định nhốt các Tướng Lãnh của Đài Loan đến rục xương trong tù, thế nhưng mới bước đầu chấp nhận ảnh hưởng của Hoa Kỳ là chúng nó thả các ông ấy về Đài Loan sau 26 năm trong tù đấy”.


“Thôi các bạn ơi! Làm ơn ngưng lại để ngủ cho có sức để mai còn khai báo tiếp. Không xong là chúng nó mắng đến phát tức bạn à!”


Nằm cạnh tôi, bên phải là anh Ngô Văn Huế (Công Binh). Anh nói nho nhỏ:


“Hồi đi trình diện, tôi ước tính ít nhất cũng phải 5 năm chớ tôi không tin là 30 ngày, vì cộng sản từng chà đạp Hiệp Định Genève 1954 và Hiệp Định Paris 1973 thì còn chỗ nào để mà tin nó”.


Tôi tiếp lời cũng nho nhỏ như vậy:


“Thật ra đâu có ai trong chúng ta dám nghĩ là đến một lúc nào, chúng ta sẽ là nguồn lợi cho cộng sản, như sự kiện Cu Ba đã từng thả tù chính trị sang Mỹ để đổi lấy máy cày nông nghiệp đó. Trong chính trị việc gì cũng có thể xảy ra cả. Nói rõ hơn, điều mà tôi hy vọng là chúng mình sẽ ra khỏi nhà tù bắt nguồn từ phía Hoa Kỳ, và biết đâu Hoa Kỳ sẽ đổi chúng ta bằng cách cấp cho chúng nó (cộng sản Việt Nam) những thứ gì đó cũng nên.”


Anh Nguyễn Xuân Hường (Thiết Giáp) nằm bên trái tôi:


“Bây giờ tôi không còn tin bất cứ điều gì chúng nó nói cả. Tôi đồng ý là mình phải giữ vững nghị lực để sống, còn việc gì sẽ tới phải tới”.


Lại khai báo.


Toàn bộ những bản khai báo của từng người phải đóng lại thành tập. Chúng bảo bên ngoài phải ghi “Cuộc Đời Tôi”. Tập khai báo dày hay mỏng là tùy theo từng người viết, nhưng dưới 200 trang là bị chúng nó mắng nhiếc, hay ít ra cũng lời nặng tiếng nhẹ vì cho rằng chưa thành thật khai báo.


Khai báo bản thân xong tưởng là yên thân, nhưng đâu dễ dàng vậy. Vì đám Công An từ Hà Nội lại xuống hướng dẫn khai báo tập thể. Nói cho đúng là “tập thể khai báo về những Tướng Lãnh của mình”. Nói theo ngôn ngữ giang hồ là chúng nó bắt chúng tôi “bề hội đồng” Tướng Lãnh của mình đó. Tất cả tù chính trị cấp Đại Tá từ Yên Bái xuống đây, chúng nó bảo chia thành 3 nhóm: Nhóm Quân Khu 1 + 2. Nhóm Quân Khu 3 + Biệt Khu Thủ Đô + Trung Ương. Và nhóm Quân Khu 4. Chúng nó hướng dẫn chọn như thế này: Không căn cứ vào thời gian sau cùng phục vụ ở đâu, mà căn cứ vào những vị Tướng Lãnh từng là cấp chỉ huy của mình để chọn nhóm. Thật ra anh em chúng tôi ráp lại theo nhóm là do ý thích, vì đã là Đại Tá thì không dưới quyền vị này cũng dưới quyền vị khác. Do đó việc tham gia vào nhóm là do chúng tôi thỏa thuận với nhau chớ chúng nó có biết gì đâu.


Tôi chọn vào nhóm Quân Khu 4, dù rằng thời gian tôi phục vụ ở Bộ Tổng Tham Mưu lâu hơn các nơi khác. Mỗi người chọn những vị Tướng mà mình đã phục vụ hoặc mình biết, cuối cùng là trong nhóm Quân Khu 4 chúng tôi lọc ra danh sách 18 vị Tướng. Anh Bùi Văn Sảnh được anh em trong nhóm bầu làm Trưởng Nhóm. Đến phần Thư Ký thì tôi tình nguyện và được tất cả các anh đồng ý. Khi tên cán bộ ra khỏi phòng, tôi trình bày ý kiến:


“Thưa các anh, tôi có quan niệm như thế này . Thư Ký là ghi chép phần nhận xét và thảo luận của các anh, nhưng tôi xin phép tóm tắt theo hướng đưa đến kết luận những vị Tướng Lãnh chúng ta có kiến thức tổng quát, có khả năng lãnh đạo chỉ huy, và có lòng nhân đạo. Cho dẫu mỗi vị đều có những khuyết điểm, mà thật ra đã là con người thì ai cũng có điểm tốt lẫn điểm không tốt, nay có nhìn như thế nào đi nữa thì cuộc chiến cũng tàn rồi, nhưng không phải vì vậy mà chúng ta nhận chìm các vị mà một thời chúng ta phục vụ dưới quyền, hay ít nhất những vị ấy cũng là Tướng Lãnh của quân đội mà chúng ta từng phục vụ. Nói cho cùng, nếu các vị Tướng lãnh của chúng ta dở thì chúng ta đã không thể chiến thắng trong cuộc phản công Tết Mậu Thân đầu năm 1968 và trận chiến Mùa Hè 1972. Tôi phải trình bày ý kiến với các anh trước và mong được các anh cho biết ý kiến trước khi chúng ta bắt đầu”.


Chẳng những ý kiến của tôi được tất cả anh em đồng ý, mà nhiều anh còn bắt tay tôi như lời khuyến khích ý kiến đó nữa. Tôi mời anh Nguyễn Tài Lâm phụ tôi phần ghi chép ý kiến và thảo luận của các anh.


Anh em đồng ý 9 khung để thể hiện nhận xét của từng vị Tướng Lãnh, như: (1) Kiến thức tổng quát. (2) Kiến thức tham mưu. (3) Kiến thức chỉ huy. (4) Kiến thức huấn luyện. (5) Tính khí. (6) Nhân cách. (7) Phong cách. (8) Uy tín lãnh đạo. (9) Sở thích.


Cứ xong trang giấy nào thì anh Lâm đưa tôi trang ấy để tôi viết sạch lại. Tôi vừa diễn đạt thành văn vừa nghe để bổ túc thêm phần ghi chép của anh Lâm.


Sau hai ngày khai báo tập thể, anh Sảnh nhờ hai anh giả vờ sang hai nhóm kia thăm bạn để xem quan niệm khai báo của các anh ấy thế nào, để còn học hỏi nếu cần. Nhóm chúng tôi ghi nhận như sau: Nhóm Quân Khu 1 + 2 có quan niệm như chúng tôi, còn Nhóm Quân Khu 3 + Biệt Khu Thủ Đô + Trung Ương khá nặng lời. Anh Trần Ngọc Thống trong nhóm này nói với tôi rằng:


“… Nhiều anh làm cho tôi có cảm tưởng các anh ấy buộc tội các ông Tướng vậy …”


Chuyển trại.


Nhưng không phải chúng tôi tại đây chuyển trại mà là các anh từ các trại ở Sơn La, Bắc Thái, và các trại còn lại ở Hoàng Liên Sơn, ào ào chuyển về trại tập trung Nam Hà này quá nhiều. Trại Nam Hà này có 18 buồng giam với gần 1.000 tù chính trị lẫn tù hình sự, nay tăng lên đến hơn 1.500 người. Tất cả các buồng giam từ 60 người, nay dồn ép lại để tăng lên hơn 100 người, như buồng giam chúng tôi đang từ 65 người tăng lên thành 101 người. Sàn gác bên trên được nới thêm đến mức 60 người trên sàn gác chỉ còn hai khoảng trống đủ cho hai người lên hay xuống cùng một lúc. Mỗi sáng cũng như mỗi tối, chúng tôi phải mất khoảng 10 đến 15 phút mới lên hay xuống xong. Thế là “cái cõi không gian bé tí” của mỗi người chúng tôi, một lần nữa lại thu hẹp từ 70 phân tây (0.7m) xuống còn 50 phân tây (0.5m). Chỗ nằm hiện nay còn chật hơn chỗ nằm ở “ngưu ốc” (chuồng trâu) trên Yên Bái nữa! Nếu như sàn gác này bị hỏa hoạn hay một sự kiện gì đó gây hoảng loạn chẳng hạn, anh em tù chính trị chúng tôi sẽ bị lửa thiêu không phải là ít! Ngay cả lượng dưỡng khí cũng là một vấn đề đối với chúng tôi, vì chỉ còn trông cậy vào lượng dưỡng khí qua các cửa sổ thôi. Nghĩ đến đây là ghê rợn rùng mình! Nhưng mọi người im lặng, và chấp nhận, bởi không có cách nào khác!


Hầu hết chúng tôi không ai giăng mùng. Tuy thời tiết vào thu nhưng “cái nóng nung người nóng nóng ghê” còn đó, bầy muỗi vo ve còn đó, bầy rệp mà con nào con nấy bằng đầu đủa ăn vẫn còn đó. Để chống lại cái nóng khi ngủ, tôi mặc bộ bà ba do trại phát. Chỉ một lúc là bộ đồ đẫm mồ hôi, và từ lúc ấy tôi cảm thấy mát mẽ dẫn vào giấc ngủ nhanh hơn. Muỗi với rệp, vừa là bạn vừa là thù của chúng tôi. Tôi nói “bạn” vì lúc nào chúng nó cũng quanh quẩn với chúng tôi, tôi nói “thù” vì lúc nào chúng nó cũng hút máu chúng tôi. Mỗi sáng phải ra giếng giặt bộ bà ba vừa đẫm mồ hôi vừa đầy máu muỗi máu rệp, nhưng là “giặt chay” tức là giặt áo quần không xà bông.


Dần dần chúng tôi mới hiểu được nguyên nhân chuyển trại ào ạt từ các trại gần biên giới, là do tình hình căng thẳng giữa cộng sản Việt Nam với cộng sản Trung Hoa, sau khi lãnh đạo cộng sản Việt Nam ký hiệp ước hỗ tương với Liên Bang Sô Viết, và cộng sản Việt Nam xua quân đánh chiếm nước Cam Bốt cộng sản, đàn em của Trung Hoa cộng sản.


Tình trạng ngột ngạt đó kéo dài gần hai tháng, họ mới chuyển bớt một số tù chính trị chúng tôi đến các trại khác cũng thuộc trại tập trung Nam Hà. Cũng lúc ấy, anh em chúng tôi trong buồng giam 15 và 16, được chuyển lên buồng giam số 1 và số 2 để chuẩn bị lao động. Hai buồng này thoáng hơn, nói chung là dễ chịu hơn ở buồng 15 với 16 quá ẩm thấp. Đội 29 chúng tôi đổi thành Đội 2


Trồng nấm mèo.


Sau gần 6 tháng “khai báo”, tất cả chúng tôi bắt đầu đi lao động. Đội 2 chúng tôi phụ trách trồng nấm mèo. Nhà trồng nấm ngay bên ngoài cổng trại do Trung Úy Công An tên Xoa phụ trách. Dưới quyền hắn có hai nữ Công An tên Nga và tên Kim phụ tá. Lúc ấy quản giáo Đội chúng tôi là “Thắng mặt đỏ”, vì mặt của hắn lúc nào cũng đỏ như say rượu. Sau khi tên Thắng giao chúng tôi cho tên Xoa thì tên Xoa mở lớp cấp tốc dạy chúng tôi khoảng một tiếng đồng hồ, đại để như thế này:


“Cây trồng nấm do các Đội khác cung cấp. Các anh cưa từng khúc dài 1.2 thước, đục lỗ tròn theo kích thước của cái đục, sâu từ một phân tây đến một phân rưởi, cho “meo” vào và dùng nhựa thông bít lỗ tròn lại. Đem vào nhà nấm, gác những đầu cây chụm vào nhau tạo thành hình nón. Mỗi ngày tưới hai lần. Khi nấm đến tuổi thì thu hoạch, đem phơi khô, cho vào bao, vậy là xong một chu kỳ trồng cấy nấm”.


Ngày đầu tiên, sau khi “dự lớp học cấp tốc”, hắn bảo chúng tôi đi làm: Tôi hỏi:


“Báo cáo cán bộ. Căn cứ theo hướng dẫn của cán bộ, tôi đã tổ chức Đội thành các nhóm công tác xong”.


“Xong thì anh lãnh dụng cụ mà làm, chứ đứng đó báo cáo không à?” Hắn bắt đầu gay gắt với chúng tôi. Tên Xoa này lúc nào cũng cau có.


Tôi hơi tức, vì trông cái mặt của hắn, cộng với cái kiểu cách nói chuyện, quả là khó ưa:


“Dụng cụ ở đâu cán bộ?”


Hắn gay gắt thật: “Dụng cụ trong túi tôi đây”.


Tôi quay lưng ra ngoài mà không nói gì với hắn.


Hắn tức: “Anh đi đâu đó?”


“Tôi không biết dụng cụ ở đâu mới hỏi cán bộ, mà cán bộ trả lời như vậy tôi đứng đó làm gì”.


“Anh không lãnh dụng cụ à?”


“Cán bộ không hướng dẫn, tôi biết đâu mà lãnh”.


“Anh có muốn tôi trả các anh vào trại không?”


“Báo cáo cán bộ. Với chúng tôi, không có vấn đề muốn hay không muốn”.


Hắn lừ lừ nhìn tôi một lúc, rồi gay gắt thêm:


“Cô Nga, cô dắt anh ta lên kho lãnh dụng cụ”.


Con bé công An trả lời nhỏ nhẹ:


“Dạ dụng cụ em còn giữ trong kho nhà nấm anh ạ!”


“Cô cho chúng nó mượn đi”.


Con bé này độ 20 tuổi, vừa đi vừa nói với tôi:


“Anh cãi với ông Xoa chi vậy?”


“Mới vô câu đầu là tôi không có cảm tình rồi cán bộ. Cách nói chuyện của ổng, cán bộ có chấp nhận không?”


“Ông Xoa nóng tính lắm. Anh chống lại ông ấy không có lợi cho anh đâu”.


“Cám ơn cán bộ. Tôi biết tính ông Xoa trong thời gian ổng làm trực trại, nhưng tôi cũng biết sử dụng cái đầu của tôi đến mức cần thiết chớ. Chúng tôi là tù chính trị chớ đâu phải tù hình sự. Thôi, cán bộ đừng nói chuyện đó nữa”.


Lãnh dụng cụ và phân phối cho các Tổ xong, tôi vào phụ với anh Ngô Văn Huế (Đại Tá Công Binh). Anh Huế nói:


“Thằng cha này khó ưa lắm, nhưng anh cũng nên cẩn thận vì thằng nào cũng có quyền phạt giam mình hết”.


“Cám ơn Anh. Tôi thận trọng trong mọi trường hợp chớ không riêng gì với hắn. Sự thận trọng của tôi có nghĩa là tôi biết chống lại tụi nó đến mức nào phải dừng lại để tránh bị phạt giam”.


“Hồi nảy con Nga nó rù rì với anh cái gì vậy?”


“Nó có ý khuyên tôi không nên cãi với thằng cha Xoa. Cãi với hắn là không có lợi cho tôi. Ở vị trí của con bé đó nó thấy như thế, nhưng tôi thì khác. Tôi cho là có lợi cho mình, vì ít ra mình cũng cho nó thấy anh em mình không phải dễ nạt nộ như tù hình sự đâu anh”.


Ngoại trừ các tổ trong nhà nấm, còn có tổ gồm 6 anh đẩy xe cải tiến lấy phân dê ở chuồng dê trên đường ra chợ Ba Sao, hằng ngày đều đi ngang nhà thăm nuôi do Đội anh em Cảnh Sát phụ trách xây cất. “Cứt dê” đem về đổ xuống hầm nhưng không biết họ sử dụng làm gì. Họ giao chúng tôi buổi sáng hai chuyến và buổi chiều một chuyến. Trong tổ này có anh Nguyễn Kim Tây và anh Trần Bá Thành (cả hai là Đại Tá) hay tếu lắm, nhất là anh Tây. Cứ mỗi chuyến đẩy xe cải tiến “cứt dê” về, thể nào cũng có chuyện vui gì đó kể lại cho anh em nghe, đôi khi cười bò lăn trong nhà nấm. Anh gọi chuồng dê là “chuồng thầy”, và cứt dê là “cứt thầy”.


Tôi không rõ công việc sản xuất nấm này từ lúc nào, nhưng kết quả là “nấm không quyết tâm mọc nhiều, mà những cái nấm mọc ra lại không quyết tâm phát triển”, nên những cái nấm vừa ít lại vừa nhỏ. Có thể vì vậy mà nhà nấm này bị dẹp bỏ sau mấy tháng “sản xuất”.


Chuyển lúa.


Sau khi cơ sở sản xuất nấm mèo đóng cửa, Đội chúng tôi phụ trách chuyển lúa từ dưới cánh đồng chiêm lên sân phơi gần khu vực cơ sở chánh của trại. Lúc ấy Công An quản giáo Đội chúng tôi tên Kiện, bảo chúng tôi chia làm hai toán: Một toán chuyển lúa vừa cắt xong từ cánh đồng ngập nước lên lưng chừng triền đồi, và một toán chuyển tiếp từ đó lên đến sân phơi. Đây là núi đá, nên triền dốc toàn là đá tảng rất ư là lổm chổm khó đi. Tôi trong toán thứ nhì. Trong lúc ngồi tại chỗ chờ toán thứ nhất chuyển lên để chúng tôi chuyển tiếp, tên Trung Úy Công An mà anh em chúng tôi gắn cho hắn cái biệt danh “Trung Úy gà” từ trên sân phơi xuống. Vì hắn ăn cắp gà ở khu gia đình của đám Công An cai tù, nên anh em chúng tôi gắn cho hắn cái biệt danh ấy. Hắn đứng trước mặt tôi với giọng kênh kiệu:


“Tại sao anh ngồi đây?”


“Báo cáo cán bộ, chúng tôi chờ toán dưới đồng mang lúa lên”.


“Tại sao anh không xuống dưới mà mang lên?”


“Chúng tôi đã phân công rồi cán bộ”.


“Ai phân công cho anh?”


“Cán bộ quản giáo Đội tôi”.


Hắn càng gắt giọng: “Cán bộ nào?”


“Cán bộ Kiện”. Tôi cứ từ từ trả lời.


“Cán bộ Kiện ở đâu?


“Cán bộ Kiện ở dưới đồng”.


“Anh xuống đồng với tôi”.


“Không được cán bộ, tôi phải ở đây vì tôi phụ trách toán chuyển tiếp từ đây lên trên sân phơi”.


Hắn càng thêm tức khi mấy bạn tù trẻ ngồi gần đó cũng chờ chuyển tiếp bên Đội của các bạn ấy, nói bâng quơ:


“Đẹp. Đẹp lắm”.


Hắn ra lệnh như quát: “Đứng lên. Đi với tôi”.


Tôi đứng lên, nhưng không phải đi theo hắn, mà là nhận bó lúa do toán dưới đồng vừa lên đến, và quay lưng đi. Hắn lại quát:


“Anh đi với tôi xuống gặp cán bộ Kiện”.


Thấy hắn giận dữ, tôi ra vẻ dịu xuống:


“Báo cáo cán bộ, cán bộ Kiện phân công cho tôi, chừng nào cán bộ Kiện bảo tôi đi thì tôi đi”. Nói xong, tôi vác bó lúa cùng các bạn leo dốc.


Buổi chiều, quay về trại và trong khi ngồi chờ “điểm số” vào buồng giam, tôi nghe tiếng một bạn ngồi gần cuối hàng:


“Hôm nay thằng cha Hoa cho thằng “Trung Úy gà” đo ván quá nặng. Kể ra “chả” liều mạng thiệt, nó nhốt chả như chơi”.


Sau “trận” đó, Đội 2 chúng tôi “bị” chuyển đến đầu đằng kia vẫn là chuyển lúa, nhưng triền dốc đá ở đây khó đi hơn nhiều vì dốc vừa cao vừa lổm chổm. Cùng là một cánh đồng nhưng có hai lối đi vận chuyển những bó lúa. “Cánh đồng chiêm” khi lúa chín lại là lúc chìm sâu dưới mặt nước mà lần đầu tiên tôi trông thấy. Các bạn cắt lúa phải ngâm mình dưới nước, có nơi phải lặn xuống mới cắt được.


Nhìn chung, Đội “trầm mình” cắt lúa ướt mem, mà Đội vận chuyển lúa cũng ướt mem nếu vác. Vác thì tương đối dễ đi, còn khiêng thì không bị ướt nhưng rất khó đi vì dốc cao. Tôi với anh Nguyễn Kim Tây cùng một khiêng hai bó. Tôi thấp nên đằng trước cái khiêng. Trưa nắng và oi bức, thấm mệt, trong một bước không vững, tôi ngã người tới trước và chân phải vấp vào cạnh tảng đá, ngón chân cái bị tróc móng đến hơn phân nửa khỏi phần thịt. Máu ra nhiều và đau “thấy trời xanh”! Vì đau quá nhưng không khóc cũng không than, chỉ có cách nhìn lên trời mà cắn răng nhăn mặt! Anh Tây dìu tôi lên đầu dốc, lại trở xuống đồng báo cáo với cán bộ Kiện cho tôi về bệnh xá trại.


Trong bệnh xá, ngoại trừ một bác sĩ Công An, còn lại là bác sĩ quân y cùng là tù chính trị. Bác sĩ Diễn, bác sĩ Nhâm, bác sĩ Cảnh, bác sĩ Phong, và bác sĩ Trương Văn Quýnh là trưởng nhóm. Bác sĩ Trương Văn Quýnh có những năm làm Giám Đốc Bệnh Viện Sài Gòn, chuyên về cấp cứu. Bác sĩ Quýnh cho biết phải vài ngày mới rút móng được, vì rút bây giờ tôi sẽ không chịu nỗi. Mỗi ngày tôi phải khai bệnh xin nghỉ. Đêm ngủ phải treo chân lên cao ngang đầu gối mới ngủ được. Hôm rút móng chân, bác sĩ Cảnh (Trung Tá, Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ) vừa cười vừa nói như giúp tôi quên bớt cơn đau nhức:


“Hôm nay có dịp “làm thịt” ông anh đây. Ông anh nằm yên. Vì không có thuốc tê, anh Phong (bác sĩ Mã Thạch Truy Phong) sẽ châm cứu gây tê cho ông anh, rút móng xong vài hôm là xuống đồng vác lúa nữa”.


Bác sĩ Phong châm cứu cả hai chân đến 14 cây kim, tôi nghe như có dòng điện li ti từ đầu cây kim này nối đến đầu cây kim kia, khi bác sĩ Phong và bác sĩ Diễn rung nhè nhẹ những cây kim để kích thích gây tê. Cùng lúc, bác sĩ Cảnh cầm kềm rút móng chân tôi. Sau cái đau thấy mấy chục ông Trời đang lơ lửng trên trần nhà, tôi ngồi dậy nhìn ngón chân. Trời đất ơi! Cái móng còn nguyên.


Bác sĩ Cảnh không đùa như lúc nảy nữa mà nói yếu xìu:


“Cứng quá, rút chưa được. Anh chịu khó nằm xuống đi”.


“Khoan anh Cảnh. Tôi đau lắm. Tôi cần điều hòa nhịp thở một lúc rồi anh tiếp tục. Châm cứu không ăn thua anh ơi!”


Tôi nằm xuống. Anh Trần Xuân Đức đè hai tay tôi xuống giường vì sợ tôi ngồi dậy.


“Anh đừng đè tôi, đau thì đau nhưng tôi chịu được”.


Không thể tưởng tượng nỗi với mức độ đau nhức khi anh Cảnh rút móng chân tôi! Chừng như toàn bộ khả năng chống đỡ của tôi đều tập trung vào sức chịu đựng khi móng chân đi theo cái kềm trong tay bác sĩ Cảnh bức ra khỏi ngón chân. Người tôi yếu hẳn trong những phút sau đó, mãi đến khi điều hòa được hơi thở, tôi mới để bác sĩ Cảnh rửa ngón chân, nơi mà cái móng phủ bên trên không còn nữa. Mỗi khi miếng bông gòn lướt trên lớp thịt bầy nhầy với máu đỏ bùn đen, đau và xót kinh khủng! Sau đó, với dáng đi “chấm phết”, tôi từng bước về buồng giam.


Đi lao động mới có nước sôi ăn mì gói, chớ nằm buồng giam chỉ bẻ từng mẫu mì gói ăn sống, rồi uống nước vào cho nó nở ra thôi. Còn khẩu phần bo-bo chỉ dậm thêm chút ít, chớ ăn hết chén càng khổ khi đi cầu. Hai ngày sau, tôi đến bệnh xá thay băng, và từ đó không được nghỉ nữa mặc dầu vẫn còn đau, và vẫn đi “chấm phết”. Khi nghỉ bệnh, chúng nó căn cứ theo thời gian chớ không căn cứ vào bệnh trạng của tù chính trị. Nhân đạo của cộng sản như vậy đó!


Cuốc đất thay trâu cày.


Sau Tết, Đội chúng tôi và 9 Đội nữa được lệnh xuống cánh đồng chiêm cuốc đất làm ruộng. Khi gặt lúa vụ chiêm, anh em chúng tôi trầm mình dưới nước, mấy tháng sau thì mặt đất của cánh đồng ngập nước này trở thành nứt nẻ vì nắng hạn. Những con cá con ếch con nhái “thân tàn ma dại” trong những đường nứt. Hầu hết khi cuốc đất lên, chúng nó chỉ còn là những bộ xương bao bọc lớp da bên ngoài, hoàn toàn không giúp ích gì cho những cái bao tử của chúng tôi. Nếu nhìn cánh đồng như một bức tường đá tảng, thì những đường nứt tựa như những mạch hồ nối những tảng đá liền với nhau mà có thời gian tôi “làm thợ hồ” xây bức tường buồng giam vậy. Trông cũng hay hay. Đó là cách nhìn ít nhiều lãng mạn. Nhưng nếu nhìn theo góc độ dân tộc thì rất tội nghiệp cho người dân xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nơi đây, mấy chục năm qua rất ư là khốn khổ!


Gần 200 tù chính trị chúng tôi toàn sĩ quan viên chức với đảng phái chính trị, khom lưng cuốc ruộng thay trâu cày. Cán bộ Kiện, quản giáo Đội, gọi tôi:


“Anh cử một anh nấu nước, một anh lấy củi, và một anh sửa cuốc cho Đội. Anh cử một anh đến nấu nước cho cán bộ. Mỗi anh còn lại giao chỉ tiêu 100m2 mỗi ngày lao động”.


“Báo cáo cán bộ, chỉ tiêu 100m2 là cao lắm, tôi lo là chúng tôi không thể cuốc nỗi. Tôi đề nghị để chúng tôi cuốc thử vài ngày rồi cán bộ ấn định chỉ tiêu. Về người nấu nước, tôi nghĩ là chúng tôi nấu nước chung rồi pha trà đem đến cán bộ, đỡ tốn một lao động”.


“Anh có biết đề nghị của anh mang tính chống đối không. Đây là chỉ tiêu chung chứ không phải riêng Đội anh. Tôi nói cho anh biết, nếu đề nghị của anh đến tai ông Huy (Đại Úy Trại Trưởng) là có vấn đề đấy. Còn nấu nước phải nấu tại đây (tại lều của hắn)”.


Tôi trở lại Đội tường thuật cho các bạn. Anh Cao Văn Phước “tình nguyện” sửa cuốc. Về chỉ tiêu cuốc đất và người nấu nước:


“Ý kiến của tôi là tùy theo sức mà cuốc rồi tôi liệu cách đối phó với hắn. Về người nấu nước tại lều của hắn, chúng ta lớn tuổi rồi, tôi không muốn bất cứ anh nào trong số chúng ta đến đó nấu cho hắn uống, nhưng hắn có vẻ gay gắt khi đòi hỏi phải có một người làm công việc đó”.


Anh Phước nói: “Anh Hoa, tụi nó ngoắc anh kìa”.


Tôi chưa đi thì tên võ trang dùng hai bàn tay chụm lại làm loa nói lớn:


“Được rồi, các anh cứ nấu nước pha trà mang đến đây”.


Tôi nói với các bạn:


“Vậy là chúng nó đồng ý đề nghị của tôi rồi. Thà là mình tốn một ít trà để khỏi phải nấu riêng cho chúng nó hơn là để nó sử dụng mình như tù hình sự. Mỗi buổi mình cho chúng nó một “lon guigoze” trà pha đặc một chút. Trà thì tôi cung cấp được, còn cái lon bạn nào có thể cho mượn được?”


Anh Cao Văn Phước đồng ý cho mượn. Đến ngày thứ ba, tên quản giáo Kiện và tên Thắng, lại bắt Đội cử người luân phiên đến lều của nó nấu nước. Cuối cùng, chúng tôi đành phải đồng ý mỗi ngày luân phiên một anh. Đến đây cũng chưa ổn, vì hai ngày sau đó là phiên anh Đặng Văn Hậu, chúng nó bắt buộc anh Hậu hằng ngày đến lều của nó mà nấu chớ không luân phiên nữa. Buổi chiều, anh Hậu thuật lại cả Đội nghe:


“Thằng Thắng với thắng Kiện không chấp nhận luân phiên nữa, chúng nó bảo tớ phải nấu nước cho bọn nó. Nó nói thằng cha Hoa miệng rất ngọt, ăn nói nhẹ nhàng, ra lệnh gì cũng nghe nhưng bụng chứa đầy dao găm. Tớ mà nghe thằng cha Hoa là rục xương trong tù. Thằng Thắng nó ghìm thằng cha Hoa dữ lắm”.


“Thế Hậu trả lời hắn ra sao?” Tôi hỏi.


“Tớ bảo việc này do Đội quyết định. Thằng Thắng nói nếu nó bắt tớ làm thì tớ có làm không? Tớ trả lời: Cán bộ bắt buộc thì tôi phải làm, nhưng tôi buồn lắm!”


Cuối cùng chúng tôi quyết định vẫn cứ luân phiên, nhưng vẫn cung cấp trà với thuốc điếu quấn cho chúng nó mỗi ngày 20 điếu. Nghĩa là thêm một chút “hối lộ”, cũng có thể nhờ đó mà tên quản giáo giảm “chỉ tiêu” cuốc đất mỗi người/ngày 70m2, tức giảm được 30m2. Chúng tôi là tù chính trị chớ không phải tù hình sự mà chúng nó sai khiến quá mức. Chúng tôi luôn tùy cơ ứng biến. Tôi nghĩ, chúng nó không dám mạnh tay vì đây là việc riêng cho chúng nó. Mà nói cho cùng, nếu Ban Giám Thị có gọi tôi sỉ vả mắng chửi, tôi sẽ giải thích được, trừ khi chúng nó cột tôi vào cái tội gì khác để trừng phạt tôi. Nhưng rồi không việc gì xảy ra khi chúng tôi áp dụng luân phiên.


Thời tên Phụ làm quản giáo, hắn hỏi tôi:


“Tôi và cán bộ võ trang sẽ lãnh phần ăn trưa còn sống đem xuống đồng, anh cử người nấu cho chúng tôi được không?”


Tôi trả lời:


“Cán bộ ra lệnh cho chúng tôi khiêng phân người hay khiêng nước tiểu, chúng tôi thi hành ngay. Nhưng nấu ăn cho cán bộ thì chúng tôi không thể làm được. Chúng tôi là những người tù chính trị, lại lớn tuổi, thậm chí là già yếu, tôi nghĩ là cán bộ cũng thông cảm với tôi về câu trả lời này”.


Hắn làm thinh. Thật ra trước khi trả lời hắn, tôi nghĩ ngay đến “cái lực” trong tay chúng tôi, nếu như hắn mạnh tay thì chúng tôi “ngưng viện trợ” thuốc hút và thuốc uống, đó là hai thứ mà hắn rất cần chúng tôi.


Hạn hán ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nước của chúng tôi. Quí vị quí bạn thử hình dung, từ ngoài cổng vào bên trong trại, ngay bên phải có một cái giếng rất lớn nhưng rất cạn. Đường kính khoảng 10 thước, nhưng sâu chỉ hơn 2 thước thôi, vì vậy mà gọi nó là giếng cũng không đúng hẳn. Hằng ngày sau khi lao động về dù mùa hạ oi nồng hay mùa đông lạnh buốt, chúng tôi đều trần trụi đứng tắm nơi đây. Nhưng bây giờ đang là mùa đông, cái gọi là giếng đó hoàn toàn khô cằn, trơ lại cái đáy giếng đất và đá. Một chút may mắn là có bốn cái lỗ mội rỉ ra từng rỉ nước. Chúng tôi khoét bốn lỗ mội đó sâu chừng một gang tay và rộng cũng chừng ấy, để trữ nước. Mỗi sáng dậy, khi cửa buồng giam vừa mở là hầu như mọi người xách cái lon guigoze và cái muỗng ăn cơm chạy ra giếng, tuột xuống ngồi xếp hàng chờ múc nhẹ từng muỗng nước cho vào lon đem về buồng giam rửa mặt. Phải nhẹ nhàng để tránh nước bùn từ bên dưới trồi lên làm đục “ao nước” nhỏ nhất thế giới, nhưng hết sức cần thiết cho anh em chúng tôi trong mấy buồng giam lân cận. Hằng ngày khi lao động bất cứ ở vùng nào, chúng tôi tìm những vũng nước, lạch nước, cho dẫu nước phèn mà vàng cách mấy cũng ráng tắm giặt. Mỗi người chỉ vài lon là xong. Tôi chỉ nói “tắm giặt xong” chớ không dám nói “tắm sạch giặt sạch” nghe quí vị quí bạn. Nếu không tắm giặt ở đây thì không thể nào giải quyết được nhu cầu này ở đâu cả. Điều đặc biệt là không có sự xích mích va chạm nào giữa anh em chúng tôi về vấn đề nước cả.


Vợ tôi đến thăm.


Từ đầu năm 1979, Bộ Công An cho gia đình tù chính trị đến thăm nuôi, kèm theo điều kiện là phải được các cơ quan địa phương cho đi, và tù chính trị không bị những hình thức kỷ luật tại trại. Vậy là cái lệnh này đã dẫn đến việc xây cất nhà thăm nuôi cách cổng trại hơn cây số.


Trung tuần tháng 05/1979, vợ tôi và con trai út chúng tôi 8 tuổi từ Sài Gòn ra thăm tôi. Hôm đó là chiều thứ bảy, anh Phạm Văn Thường (Đại Tá Tiếp Vận) tạt vào buồng giam báo tin cho tôi:


“Hoa ơi! Bà Xã của anh đang ở ngoài nhà thăm nuôi đấy. Ngày mai anh sẽ gặp”.


“Sao anh biết?” Tôi hỏi lại một cách vội vàng.


“Chiều nay tôi ra gặp vợ tôi và vừa vào tới. Bà Xã anh gởi cho anh 10 cái trứng luộc”.


Trao xong là ảnh ra ngoài để mang quà về buồng giam vì sắp đến giờ khóa cửa buồng giam.


Tôi bưng cái thau nhựa có 10 cái trứng bên trong với thái độ có vẻ lúng túng, trong khi các bạn ngồi chờ điểm số vào buồng giam. Anh Trần Văn Lễ nói:


“Thằng cha Hoa mất hồn rồi, giống như tôi hồi đầu năm vậy”.


Đêm đó quả thật tôi không ngủ được, và tôi tin vợ và con tôi cũng không ngủ được. Vì quá bất ngờ nên các bạn thấy tôi lúng túng, chớ được tin báo trước thì không đến nỗi “mất hồn” như anh Lễ nói đâu quí vị quí bạn à!


Sáng hôm sau, Công An cai tù phụ trách hướng dẫn thăm nuôi tên Quan, vào trại gọi tôi ra thăm gặp gia đình. Hắn đưa cái chìa khóa cho tôi:


“Anh mở khóa lấy cái xe cải tiến kéo theo chở quà”.


Nếu quí vị quí bạn hình dung được sự hăng hái của người tù chính trị lần đầu tiên được gia đình đến thăm như thế nào, thì tâm trạng của tôi cũng y như vậy. Nhưng mà cái khung xe bằng kim khí nó nặng quá trời, nhất là khi kéo lên cái dốc khá cao và khá dài. Phải qua khỏi đầu dốc mới đến nhà thăm nuôi. Tôi mặc quần áo tù màu xanh do trại phát, kiểu như bộ bà-ba trong Nam nhưng lại có cái cổ cao. Khi đến đầu dốc:


“Báo cáo cán bộ. Ngừng lại nghỉ chân một lúc cán bộ, vì lần đầu gặp gia đình mà mặt mày xanh lè xanh lét thì thất sách lắm cán bộ”.


“Dừng thì dừng. Nhưng anh nói thất sách là thế nào?”


“ Cán bộ nghĩ xem, sau bốn năm vợ chồng mới gặp lại nhau mà tôi cứ đứng thở hì hà hì hục thì vợ tôi xúc động lắm, trong khi tôi không đau yếu bệnh hoạn mà chỉ kéo cái xe vừa nặng vừa lên dốc nữa”.


“Được. Tôi thông cảm rồi. Anh cứ ngồi nghỉ, khỏe lại hãy đi”.


Mùa hè trên đất Bắc, mới sáng sớm mà nóng chẳng khác cái nóng ban trưa ở Sài Gòn, chiếc xe và cái dốc làm cho cái áo tôi đẫm mồ hôi. Tôi vừa quạt vừa đi tới đi lui trong khi hắn ngồi trên mỏm đá nhìn tôi, không hiểu hắn sợ tôi trốn hay hắn thấy dáng điệu của tôi có cái gì khác thường chăng?


Vừa để cái xe ngay bậc thềm, vợ tôi với đứa con trai út chúng tôi bước ra. Chúng tôi nắm tay nhau thật chặt, nhưng tôi không dám hôn, vì tên “Thắng chuột” phụ trách nhà thăm nuôi chầm chập nhìn chúng tôi.


Tôi không dám hôn vì nhớ đến chuyện anh bạn tù trẻ vừa được vợ đến thăm tuần trước. Sau khi chú ấy gặp vợ một lúc thì “Thắng chuột” bảo chia tay rồi vào trại. Vợ chú ấy tiễn chồng bằng cách cùng chồng đẩy xe cải tiến một đoạn đường. Đến đầu dốc xuống, dừng xe cải tiến lại, anh tù trẻ bước vòng ra sau xe, ôm vợ hôn lia lịa. Tên “Thắng chuột” lúc ấy cùng vào trại, trông thấy, hắn la to:


“Ơ! Ơ! Cái anh này làm gì kỳ thế? Buông ra nhanh”.


“Tôi hôn vợ tôi chớ làm gì mà cán bộ la om sòm”.


“Nắm tay được rồi, ai lại hôn kỳ vậy”.


Anh tù trẻ hơi tức: “Bộ cán bộ chưa từng hôn vợ hả?”


Hắn quát: “Đi vào. Không có lý sự nữa”.


Vì vậy mà tôi chỉ nắm tay và nhìn vào đôi mắt vợ tôi. Buông tay vợ tôi ra, ngồi xuống, ôm chặt con tôi vào lòng. Một lúc, nó từ từ gở tay tôi ra, có vẻ như nó “mắc cở” thì phải. Vì lúc tôi vào tù nó mới 4 tuổi nên không nhớ được nhiều về tôi chăng?


Thắng chuột nói: “Anh chị vào đây”.


Hắn ngồi vào cái bàn sát tường bên kia, vợ chồng tôi và đứa con ngồi trên cái băng sát tường bên này, đối diện nhau trong gian phòng nhỏ xíu. Hắn bắt đầu “giảng bài” y như băng cát xét phát ra vậy :


“Anh chị biết là đảng với nhà nước rất khoan hồng nhân đạo, cho gia đình mấy anh gặp nhau. Vậy, thứ nhất, khi thăm gặp ở đây, anh chị phải chấp hành nội qui cho tốt, nếu vi phạm là bị cắt ngay, và có thể bị cấm thăm trong nhiều lần sau này. Thứ hai, khi về địa phương, chị phải nói cho nhiều người biết về chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng với nhà nước đối với ngụy quân ngụy quyền. Thứ ba, anh phải luôn luôn chấp hành tốt nội qui của trại, và quyết tâm học tập cải tạo tiến bộ để sớm được khoan hồng về với gia đình. Anh chị nghe rõ chưa?”


“Báo cáo cán bộ. Nghe rõ”.


“Anh chị ra ngoài xem bản nội qui dán ở cửa, sau đó vào đây trao đổi chuyện gia đình trong vòng 2 tiếng đồng hồ”.


Tôi ôm con tôi và hôn bé lia lịa, nhưng con tôi “mắc cở” thật. Gian phòng nhỏ xíu chúng tôi ngồi đang quét dọn nên bụi mịt mù, chúng tôi sang gian phòng nhỏ bên cạnh, chỉ có bộ ván chớ không có bàn ghế gì cả. Chúng tôi ngồi sát vào nhau, và bên cạnh là một gia đình người bạn. Ngay bên ngoài, hai tên Công An đi qua đi lại như để chứng tỏ lúc nào cũng có hắn theo dõi chúng tôi. Tôi nói khẽ:


“Em vẫn đẹp như trước tuy vất vả trong mấy năm trời”.


Lời khen của tôi còn bao hàm lời khen vợ tôi đã vượt biết bao khó khăn gian khổ lo cho các con, và lo cho gia đình chúng tôi.


Vợ tôi ngã đầu vào vai chồng:


“Anh không ốm (gầy) như Em nghĩ nên Em mừng lắm. Em cứ tưởng là Anh ốm lắm. Ráng giữ sức khỏe nghe Anh…”


Lần lượt vợ tôi thuật mọi diễn biến về bà con thân quyến trong thời gian qua, điểm chánh là các con chúng tôi:


“Tuần rồi, bốn con đã đi trên một chuyến tàu dưới dạng người Việt gốc Hoa hồi hương, ra hải phận quốc tế chờ tàu biển chở đến nước thứ ba, nay thì Em nhẹ cả người. Còn Nghĩa, chờ con lớn một chút hãy tính nghe Anh. Con còn nhỏ quá Em hổng dám cho đi. Anh đừng lo chuyện nhà, dẫu sao những năm gian khổ đã qua mà Em cố gắng quán xuyến được, nay Em tin là Em vẫn vượt qua được thôi. Em nhắc lại là Anh phải giữ gìn sức khỏe. Chừng nào Anh về thì chưa biết, nhưng Anh phải hứa với Em là Anh phải giữ sức khỏe nghe Anh”.


“Anh hứa với Em. Em còn tiền để chi dùng ở nhà không?”


“Em còn chút ít Anh à! Lúc Anh bị giam ở Biên Hòa, Em mất mấy lượng (vàng). Khi Anh ra Yên Bái, Em mất mấy lượng nữa vì tin vào chị N. V. M. Chỉ nói có bà con làm tướng cộng sản sắp trở ra Bắc, nên Em với chị Chí (Nguyễn Thành Chí) gom góp gởi cho Chỉ, nhờ mang ra Bắc đưa lại Anh với anh Chí. Tụi Em có trả tiền công chớ có phải nhờ không đâu. Gởi đi rồi, trông hoài không thấy Anh với anh Chí nói gì trong thư. Cuối cùng, Em với chị Chí tìm hiểu mới biết chị M. chẳng có tình bè bạn gì cả, mà Chỉ gạt để lấy vàng của tụi Em thôi. Đâu có thưa ai được Anh, chỉ có cách là tụi Em không bao giờ nhìn mặt chị đó nữa”.


Ngưng một lúc, vợ tôi thuật tiếp:


“Miếng vườn thì tụi nó tịch thu sau khi Anh vào tù. Căn nhà Ba Má đang ở (Vĩnh Long) bị chúng nó lấy sau đó với lý do là cha mẹ của Đại Tá ngụy. Ba Má phải về Nha Mân cất căn nhà nhỏ trên đất của Cô Bảy mà Em đâu dám nói trong thư. Sang cái chuyện đi xe bò đến thăm Anh. Anh biết không, chị Thường (Phạm Văn Thường) với chị Lục (Lê Đình Lục) nhờ Cô của anh Thường dẫn từ Sài Gòn ra Nam Định ở nhờ nhà cô anh Thường. Sáng hôm qua, Cô anh Thường mướn xe bò chở người lẫn chở đồ từ Nam Định lên Phủ Lý, rồi vô đây. Trời đất ơi! Những đoạn đường dốc, tụi Em phải xuống đẩy phụ con bò. Nắng nóng quá, con vừa mệt vừa khát nước lại vừa đói mà đâu có cơm nước gì cho con. Mới đi lần đầu nên tụi Em có biết gì đâu mà chuẩn bị. Em cho con ăn mì gói sống. Con muốn uống nước đá mà cái xứ này trông giống nhà quê quá, có ai bán nước đá đâu Anh. Đi từ sáng sớm mà chiều tối mới tới đây. Đêm hôm đông người quá, muỗi thì nhiều mà họ không đủ mùng cho mượn. Cũng may là có ông già người Bắc, thấy con bị muỗi cắn giật mình hoài, ổng mới kêu con vào mùng ngủ chung với ổng. Từ lúc đó con mới ngủ được đến sáng! Em cực đành rồi, thấy con cực quá Em muốn khóc!”


Rồi vợ tôi khóc thật! Tôi cũng ứa nước mắt từ lúc nào ..!


“Em gan lắm, chớ Anh ở nhà chưa chắc Anh dám cho các Con cùng ra biển một lần đâu. Nay thì mọi việc suông sẻ. Tương lai các con bao giờ cũng là hạnh phúc của mình. Đó là quan niệm mà chúng mình xây dựng từ lúc cưới nhau. Giờ thì mình trông tin ngày nào các con đến Mỹ, ngày đó xem như các con chúng mình bắt đầu vào đường xây dựng tương lai rồi Em. Mong là các con bình an đến nơi đến chốn”.


Tôi hôn phớt trên mái tóc vợ tôi, trong khi chúng tôi nắm chặt tay nhau. Tiếng của “Thắng chuột” đứng ở cửa nghe mà phát ghét:


“Anh Hoa mang quà ra xe vào trại. Hết giờ rồi”.


Tôi quẳng bao quà lên xe cải tiến, quay lại vợ tôi rồi cùng nắm chặt tay nhau và cùng nhìn thẳng vào ánh mắt của nhau, như chuyển gởi vào đó tất cả tâm tình giống như lúc chúng tôi cùng “giở mâm trầu” sau khi làm lễ cưới ngày 5 tháng 3 năm 1958 vậy. Xoay qua ôm con tôi vào lòng, hôn lên má của bé trước khi ra cửa, vào trại.


Đến đầu dốc xuống, tôi dừng lại, quay nhìn vợ con tôi vẫn đứng ở bậc thềm nhìn tôi. Có lẽ thông cảm tôi nên cán bộ Quan không nói năng gì khi tôi dừng lại. Lượt vào trại cứ thong thả ghì xe xuống dốc, nên không mệt như lượt ra mặc dù bao quà cũng đến mấy chục kí lô. Ngay trước cổng là nhà trực trại. Nơi đây có cái bàn dài để Công An trực trại khám xét quà bánh mà tù nhân nhận của gia đình từ nhà thăm nuôi, hoặc những gói bưu kiện nhận từ nhà bưu điện bé xíu ở Ba Sao mang vào. Từng món một, bao, túi, lon, hũ, lần lượt mở toang ra. Chúng nó cho chiếc đủa vào ống kem đánh răng rồi ngoáy ngoáy tìm cái gì đó hổng biết, hai cục xà bông đều bị cắt làm hai làm ba, đường cát thì chúng nó trút từ túi này sang túi khác, từng gói mì bị cắt ra, từng túi cơm sấy khô bị họ lắc qua lắc lại đến khi trông thấy toàn bộ bên trong, mấy con cá khô cũng được chiếu cố đặc biệt bằng cách cho cái muỗng vào miệng cá khô và nong ra xem có cái gì bên trong không. Không tìm thấy bất cứ thứ gì để chúng nó qui vào tội vi phạm nội qui để tịch thu, lúc đó mới cho vào trại. Anh Ngô Văn Huế vác giùm bao quà trong khi tôi đẩy xe cải tiến đem trả.


Vào buồng giam, việc đầu tiên là tôi bày tất cả mấy chục cái bánh dầy và chả lụa đã được vợ tôi xắc sẳn, mời tất cả các bạn trong Đội 2 chúng tôi cùng ăn, gọi là góp vui với tôi. Anh Trần bá Thành vừa cười vừa hỏi:


“Ê! Tiệc này gọi là gì vậy mấy cha?”


Một bạn đưa ý kiến: “Thì gọi là “hiền thê tân đáo” được không?”


Thế là một tràng pháo tay thể hiện sự đồng tình với câu gợi ý của anh bạn nào đó. Trong tình trạng thiếu ăn triền miên, bỗng dưng có bữa ăn được xem là thịnh soạn, tất cả chúng tôi rất tự nhiên và vui vẻ. Bữa cơm chiều hôm ấy, tôi + anh Lâm + anh Phước (chúng tôi ăn cơm chung từ lâu), có cơm trắng với con gà luộc, phải công nhận rằng, đây là bữa ăn ngon nhất với tất cả hương vị từ gia đình, cộng với hương vị của thức ăn kể từ ngày vào trại tập trung đến nay. Cái giá trị về tinh thần lẫn vật chất của bữa ăn này đối với tôi, còn cao hơn cái giá trị của bữa ăn cơm vắt với hai con mắm sặc sống hồi tháng 07/1955 nữa quí vị quí bạn à!


Ngày ấy, tôi là Thiếu Úy, Trung Đội Trưởng/Đại Đội 3/Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân. Tiểu Đoàn chúng tôi đang trong cuộc hành quân vùng giữa Lai Vung với Sa Đéc. Rời Sa Đéc lúc nửa đêm, và xuất phát hành quân khi làng quê còn chìm sâu trong giấc ngủ. Lúc mặt trời lên cao, Đại Đội 3 chúng tôi bị tấn công từ trong bờ vườn. Đại Đội 2 từ cánh phải đánh bên hông của địch, phá tan cuộc phục kích. Nói thì đơn giản như vậy, nhưng thật sự chúng tôi phải quần nhau với địch đến khoảng 5 giờ chiều chiến trường mới kết thúc. Sau khi tản thương xong (bốn quân nhân), cả Tiểu Đoàn đều đói chớ không riêng gì chúng tôi, vì từ giữa đêm đến lúc ấy có ăn uống gì đâu. Với hai con mắm sặc sống và hai vắt cơm bắt đầu nhơn nhớt vì bị bịt kín gần như cả ngày. Thế nhưng tôi ăn ngon như chưa bao giờ ngon đến như vậy. Xét cho cùng, bữa cơm chiều hôm nay ngon hơn nhiều, vì ngoài phẩm chất của thức ăn còn ẩn chứa hương vị thân thương của gia đình nữa.


Trước giờ buồng giam đóng cửa, tôi với anh Trần Văn Lễ -bạn rất thân- ngồi sát góc tường khuôn viên buồng giam tâm sự:


“Cho đến bây giờ là đoạn cuối, chớ đoạn đầu thì vợ con mình gian nan lắm. Vợ tôi kể cho nghe là sau khi tụi mình vô “hộp” (ý nói vào tù), cái đám cộng sản nó thường xuyên hằn học với gia đình sĩ quan tụi mình, nhất là cái đám Công An trong cư xá chúng tôi. Nay đe dọa tịch thu nhà, mai đe dọa đuổi đi khu kinh tế mới, mốt đe dọa về quê sinh sống. Nói chung là bài bản của chúng nó khủng bố tinh thần gia đình mình, để đoạt mục đích là chiếm nhà mình làm tài sản của chúng nó. Thấy đe dọa chưa làm vợ con mình nao núng, thằng Công An khu vực tên Đó mà chúng nó thường gọi là “Tư Đó”, sỉ nhục gia đình sĩ quan mình bằng cách bắt vợ tôi cùng với mấy chị bạn trong cư xá, đến làm cỏ sân nhà của tướng cộng sản Trần Văn Danh ngay sau lưng nhà tôi. Căn nhà này là của cựu Trung Tướng Phạm Quốc Thuần đã di tản, hắn vào chiếm ngụ. Trong số các chị có chị Vân là bạo miệng hơn hết. Lần thứ hai đến đây làm cỏ dưới cơn mựa lất phất, đứng trên sân ngập nước, chị Vân lớn tiếng:


“Thiếu Tướng ơi! Ra coi mấy bà vợ sĩ quan ngụy làm cỏ nè Thiếu Tướng”.


“Mãi một lúc sau, mới có người ra cho về. Từ đó, không còn cái cảnh bắt vợ tôi với mấy chị trong cư xá làm cỏ cho các nhà cán bộ của chúng nó nữa”.


Anh Lễ thuật về gia đình ảnh:


“Ở khu tụi tôi không có cái cảnh bắt đi làm cỏ như trong cư xá Bắc Hải của anh, nhưng ngày này sang ngày khác, tụi Công An cứ bắt đến Phường để nghe chúng nó nhai đi nhai lại cái điều mà chúng nó gọi là khoan hồng nhân đạo, vợ tôi nghe nói riết có hôm “bả” muốn chửi nó luôn nhưng kịp bịt miệng lại, nếu không thì chưa biết chuyện gì xảy ra nữa”.


Anh Lễ ngưng, tôi thuật tiếp:


“Đầu năm 1978, tụi nó kéo đến nhà tôi 11 đứa mà vợ tôi nói cái đám đó giống như trong rừng mới ra vậy. Trong số đó có hai phụ nữ. Tụi nó chiếm nhà tôi suốt một tuần, nhốt vợ với năm con tôi trong một gian phòng, rồi chúng bới móc lục soát đập phá những chỗ nghi ngờ cất giấu vũ khí tài liệu, và có thể chúng nó tìm kiếm tài sản nữa. Trong tình cảnh đó, bà con lối xóm nấu thức mang đến tiếp tế cho vợ con tôi. Thật là cảm động! Tất cả hồ sơ giấy tờ, nhất là những tập viết tay mà tôi ghi chép những sự kiện xảy ra trong các cuộc đảo chánh còn lại, bị tụi nó xé tung rồi liệng đầy nhà. Cũng may là cái đám cộng sản đần độn này không biết giá trị của những tập đó, nên vợ tôi gom góp lại rồi cho vào bao cất giữ. Còn toàn bộ hơn 1.500 cuốn sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, và tôn giáo mà tôi đóng bìa cứng hẳn hòi, tụi nó ôm đi bán ngay trong cư xá chúng tôi chớ đâu xa. Rõ ràng là cái tụi trấn lột chớ chính trị chính em gì đâu.


Chuyện kế tiếp là con trai lớn chúng tôi là Phạm Bá Trung. Năm 1975, Trung học lớp 11 (học sớm 1 năm). Với tuổi 16 so với các bạn, Trung rất giỏi về điện tử nhất là sửa máy thu thanh, vì năm 1972 con tôi theo học lớp điện tử trong trường trung học La San tại Cần Thơ. Khi tôi vào trại tập trung, con tôi mua cái máy vô tuyến liên lạc tầm xa do những người lấy trong các đơn vị quân đội đem ra bán, với dự định tháo những cơ phận dùng sửa máy thu thanh, vì bà con hàng xóm thường nhờ con tôi sửa máy. Chưa kịp tháo tung ra thì một toán Công An đến trước nhà, thật ra vợ tôi không hiểu chúng nó đến vì chuyện gì, nhưng vợ tôi tìm cách giữ chúng nó ở cửa trước để con tôi trên lầu tháo tung cái máy rồi cho vào bao. Khi vợ tôi cho chúng nó vào trong nhà thì không còn gì để gọi là cái máy nữa. Nhưng đó lại là cái tội mà hai con trai chúng tôi Phạm Bá Trung với Phạm Bá Tín bị bắt. Vợ tôi “chạy” đầu trên xóm dưới chỉ đem được con trai nhỏ ra khỏi nhà giam Quận 10, còn con trai lớn chúng tôi (19 tuổi) bị chúng nó đưa lên trại tù ở Bà Rá mà chúng nó gọi là “trại lao động”. Bị giam gần một năm trong trại tù đó, vợ tôi chạy tiền và chính chúng nó tổ chức cho con tôi trốn trại, Vợ tôi đón nó ở đoạn đường giữa Bà Rá với Đồng Xoài đưa thẳng về Vĩnh Long “tị nạn” bên Ngoại. Đến khi mua được bốn cái giấy chứng nhận “người Việt gốc Hoa”, cả bốn anh em nó lên tàu rời Việt Nam ngày 14/05/1979) rồi Lễ. Vợ tôi ghi tên (cộng sản gọi là đăng ký) ở Sở Công An tỉnh Vĩnh Long cho tụi nó đi theo diện người Việt gốc Hoa hồi hương. Mỗi đứa phải tốn đến 7 lượng vàng lận. Trước đó, phải tìm mua cái giấy chứng minh người Việt gốc Hoa với giá 300 đồng (Việt Nam) cho mỗi đứa nữa”.


Anh Lễ vừa cười vừa bắt tay tôi:


“Mừng anh nghe. Mấy đứa nhỏ thoát được là tụi mình khỏe rồi. Tương lai của tụi nhỏ chính là cuộc sống của tụi mình bây giờ. Bà Xã anh hay thiệt. Tụi mình tính sai nước cờ mà mấy “Bả” ở nhà gian khổ quá!


“Tôi nói thiệt anh nghe nhe. Đặt hoàn cảnh ngược lại, nếu tụi mình ở nhà chưa chắc dám cho các con ra biển, vì sống với cộng sản mà tụi mình cứ méo mó cái nghề tham mưu, làm gì cũng tính toán chi li mới bắt tay vào việc, còn mấy “Bả” cứ làm đại vậy mà nhiều cơ hội thành công hơn mình Lễ à! Có thể nói rằng, cộng sản cai trị theo cái luật rừng, nhưng nếu ai xài luật rừng hơn nó thì được việc”.


Tiếng kẻng đóng cửa buồng giam vang lên, cắt ngang dòng tâm sự dài ngoằng của chúng tôi, rồi hai đứa cùng vào chỗ xếp hàng với các bạn.


Đêm hôm trước khó ngủ vì mong đến sáng để gặp vợ con. Gặp xong rồi, đêm nay cũng không dễ gì yên giấc, cứ chập chờn khi hình dung vợ con tôi vất vả trên xe lửa bảy mươi hai (72) tiếng đồng hồ với khoảng cách 1.736 cây số, thêm mười (10) tiếng đồng hồ ngồi xe bò dưới cái nắng của mùa hè oi bức trên đất Bắc. Đêm ngủ không mùng mà muỗi thì nhiều vô kể, để chỉ được gặp chồng gặp cha vỏn vẹn hai (2) tiếng đồng hồ, rồi lại chịu đựng lượt về cũng vất vả tương tự thời gian lượt đi! Điều gì đã giúp vợ tôi vượt lên trên những gian khổ ấy? Đó là tình yêu chồng và tình thương con!


Trở lại chuyện trong trại. Một số Công An bày ra cái vụ bán phở cho tù để có thêm tí tiền bỏ túi. Anh nào có tiền gởi trại, ghi tên mua phở họ sẽ căn cứ vào đó mà trừ dần. Mỗi buồng giam mua bao nhiêu cũng được, cứ 10 tô họ đựng trong một chậu thau bưng vào buồng chia lại. Ngày chủ nhật tuần sau đó, tôi mời các bạn ăn phở vì vợ tôi có gởi cho tôi 200 đồng. Hôm ấy tôi trả tất cả là 82 đồng. Không phải tôi mời đến 82 bạn đâu mà có bạn ăn đến 5 tô lận. Năm tô không có nghĩa là nhiều, vì một tô chỉ bằng cái chén trung bình thôi quí vị quí bạn à! Chỉ riêng nhóm chúng tôi có 3 người mà “tiêu thụ” đến 20 tô một cách nhẹ nhàng. Một phần vì sau bốn năm mới cảm nhận được “chút hương vị phở”, và phần khác là được “no bụng bởi phở”. Tôi nói “chút hương vị phở”, vì nó được gọi là phở chớ thật sự nó có đúng nghĩa là phở đâu. Thôi thì trong hoàn cảnh này, cứ gọi nó là phở để cái bao tử cảm thấy “dễ chịu” trong chút thời gian ngắn ngủi!


Cộng sản nuôi tù.


Trại tập trung này thường xuyên là ăn độn, nhưng độn theo lương thực thì từng đợt vài ba tuần hay vài ba tháng. Chẳng hạn như bo-bo thì thời gian dài hơn, khoai mì xắc từng cọng phơi khô thì vài tuần, khoai tây tươi nguyên củ thì theo mùa, bột mì luộc thì tùy theo viện trợ từ ngoại quốc. Nói là độn nhưng thật sự ăn 100% chớ không phải một phần gạo một phần độn đâu. Bo-bo là thức ăn dành cho ngựa ngoại quốc, cọng khoai mì phơi khô là thức ăn dành cho heo trong nước, nếu nói cho văn chương một chút gọi là thức ăn dành cho gia súc. Vì là thức ăn dành cho những động vật không phải con người, nên người ta không cần giữ vệ sinh từ lúc sản xuất, tồn trữ, chuyển vận, đến cung cấp cho bếp trại. Nghĩa là trong tình trạng không sạch sẽ chút nào, vì khi đổ ra sân người ta dùng bàn cào hay chổi để trải ra phơi hay gom lại cho vào bao. Hãy hình dung bữa ăn với cọng khoai mì khô đã nấu chín. Mỗi khẩu phần từ 10 đến 12 cọng, nhỏ thì bằng ngón tay út còn lớn thì bằng ngón tay cái, và dài nhất cũng khoảng 12 phân tây (0.12 thước). Bên cạnh những cọng khoai mì nhơn nhớt, là muỗng nước muối với khoảng mười cọng rau mùa hè (rau muống) hay rau mùa đông (bắp cải, su hào). Đấy là một phần ăn.


Trong số những thứ lương thực thay gạo đó, bo-bo là tai hại nhất, vì cái võ lụa của nó không tiêu được, nên nó phải “cào” những gì vướng mắc trên đường đi từ cái bao tử ra đến cái thùng gỗ đựng nó, chờ khiêng xuống khu vực trồng rau để “chăm bón”. Cuối cùng, nó lại quay vòng trở vào bao tử chúng tôi dưới dạng rauCó bạn dùng cây tăm xỉa răng, ghim từng hột bo bo cho vào miệng. Cách ăn này vừa nhai thật kỷ, vừa đánh lừa cái bao tử làm cho “nó” tưởng là được ăn nhiều!


Năm 1978-1979, tôi với anh Nguyễn Tài Lâm ăn chung. Tuy bo-bo “nó hung hăng” như vậy, nhưng hai chúng tôi cứ trông đến ngày thứ bảy nhờ anh Sét -em rể anh Lâm- ở buồng giam khác, mua giùm một phần bo-bo với giá một đồng. Hai đứa chia nhau mỗi người một nửa, giúp cái bao tử đỡ phần lỏng lẽo! Theo lời anh Sét thì anh bạn muốn có một phần bo-bo bán cho chúng tôi, mỗi chiều anh ấy để lại một muỗng. Ngày thứ hai để lại hai muỗng từ phần bo-bo mới lãnh và gộp muỗng bo-bo của ngày thứ nhất vào phần ăn lúc ấy. Ngày thứ ba để lại ba muỗng và gộp hai muỗng của ngày thứ hai vào phần ăn lúc ấy. Và cứ như thế cho đến ngày thứ bảy là đủ một phần, anh ấy bán cho chúng tôi lấy tiền lén gởi mua thuốc lào hút.


Bây giờ quí vị quí bạn hãy hình dung thời gian tại trại tập trung Nam Hà vào chiều Ba Mươi Tết Nguyên Đán đầu năm 1979. Nhà bếp phát cho mỗi người tù chúng tôi một cái bánh chưn, mỗi cạnh 15 phân tây kể cả lớp lá dông thật dày bên ngoài. Tôi với anh Lâm phác thảo “kế hoạch” ăn hai cái bánh chưn đó. Chiều Ba Mươi ăn cái bánh của tôi, và sáng Mồng Một ăn cái bánh chưn của anh Lâm. Chúng tôi nhẹ nhàng cắt dây, rồi từ từ gở từng miếng lá nhỏ cứ như sợ nó văng mất từng hột nếp hay miếng thịt nho nhỏ bên trong ấy, và … trời đất ơi, một nửa cái bánh còn nguyên hột nếp! Nếu có bạn nào trông thấy hai cái mặt chúng tôi lúc ấy, cũng không thể nào tưởng tượng cái bao tử của chúng tôi nó thất vọng đến như vậy! Và trong cái hoàn cảnh cần có thức ăn gì đó giúp cái bao tử bớt kêu ca, chúng tôi quyết định sống chín như nhau. Thế là sau khi cắt làm hai, mỗi đứa có một nửa sống với một nửa chín.


Theo “kế hoạch” thì sáng Mồng Một mới ăn cái bánh chưn của anh Lâm, nhưng chúng tôi không thể thực hiện được vì thức đêm chờ Giờ Giao Thừa mà bụng thì đói! Thôi thì mang cái bánh ra, lại từ từ cắt làm hai vẫn là nửa chín nửa sống, nhưng cứ xem như cái bánh có đủ phẩm chất của nó thì y như rằng nó vẫn cứ ngon miệng lúc đêm khuya! Sáng Mồng Một có gì ăn đâu. Bữa ăn trưa, tù chính trị được ăn cơm bằng gạo hẳn hòi, nhưng đây là bữa ăn duy nhất để rồi sau đó vẫn là bo-bo. Chiều Mồng Một Tết, một bạn trẻ ngay trong buồng giam chúng tôi, mang cái bánh duy nhất của anh ta bán cho chúng tôi giá 1 đồng rưỡi. Tôi với anh Lâm, mỗi đứa có thêm nửa cái bánh chưn, trong khi anh bạn trẻ có thêm thuốc lào hút. Không biết có nên nói là “hai bên cùng có lợi” hay không, vì xem ra sự thể chẳng hay ho gì!


Thật lòng mà thưa với quí vị quí bạn rằng, cái bánh chưn thứ 3 này cho tôi cảm nhận chút hạnh phúc! Nếu quí vị hỏi tôi: “Tại sao là một chút hạnh phúc?” Tôi xin trả lời:


“Thứ nhất, vì chiều hôm qua và hôm nay, chúng tôi mới được ăn cơm thật sự cộng với cái bánh chưn cho dẫu là cái bánh chưn vừa sống lại vừa chín. Đó là hạnh phúc của người tù chính trị, vì đã lâu lắm rồi anh em chúng tôi mới trông thấy những hột gạo hột nếp như vậy từ cái bếp của trại tù này. Thứ hai, chỉ một chút thôi, vì từ ngày mai -Mồng Hai Tết- cái hạnhphúc đó sẽ tan biến theo chén bo bo lưng lững mỗi lúc chia khẩu phần! Cái hạnh phúc của chúng tôi nó mong manh như vậy đó!


Đến muối hột ở trại này cũng thuộc vào loại thực phẩm quí nữa! Bởi vì họ chỉ cho ăn toàn nước muối, rất ư là khó nuốt. Trong Đội nhà bếp mà tù chính trị chúng tôi đã thay thế tù hình sự, có anh Mẫn. Trong năm 1962-1963, anh Mẫn cùng làm trong văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân với tôi. Sáng Mồng Một Tết năm 1979, anh Mẫn đến buồng giam khều tôi:


“Anh xuống đây với em một chút”.


Tôi nghĩ có thể anh ấy có tin tức gì liên quan đến tù chính trị nên thận trọng như vậy. Tôi theo sau anh Mẫn vào hành lang nhỏ hẹp của buồng giam 15 và 16. Đến giữa hành lang anh dừng lại, cho tay vào bên trong áo moi ra một gói bằng nắm tay nhét vội vào tay tôi:


“Anh cất gói muối này để dành ăn. Muối hột đó. Em đi nghe”.


“Cám ơn anh rất nhiều nghe Mẫn”.


Tặng xong là Anh nhanh chân về nhà bếp vì sợ có người trông thấy, vì khoảng thời gian ấy nếu bị “cai tù” bắt là họ phạt biệt giam.


Âm thanh ba tiếng “muối hột đó” đủ nói lên “giá trị” của hột muối đối với chúng tôi như thế nào rồi . Bởi, ngoài cái chất mặn của nó ra, tôi nghĩ là quí vị quí bạn không cảm nhận điều gì khác, nhưng với chúng tôi thì âm thanh đó gợi lên sự thèm khát cái chất mặn lạ kỳ của hột muối. Và tôi không thể tưởng tượng được khi cho một hột muối vào miệng tôi cảm nhận nó ngọt vô cùng! Tôi đang mơ màng thưởng thức “chất ngọt của hột muối”, có tiếng anh Lâm:


“Này, ông làm gì mà vui thế?”


Tôi giật mình. Hơi ngượng, vì “bị bắt gặp” thái độ sung sướng một cách kỳ lạ, nhưng tỉnh lại ngay:


“Anh có tin là tôi đang sung sướng vì được ăn một hột muối không”?


“Tôi cũng tù như ông mà”.


Câu trả lời mang theo âm hưởng một lời than ngắn ngủi của anh Lâm. Vậy là quí vị quí bạn cảm nhận được mức độ thèm khát “muối hột” của chúng tôi như thế nào rồi chớ!


Ở những cái “xóm nhà lá” trong xã hội lớn, người ta thường bày tỏ tinh thần tương trợ lẫn nhau khi trái gió trở trời, qua câu nói “hột muối cắn làm hai” được hiểu theo nghĩa bóng hơn là nghĩa đen. Nhưng trong xã hội nhỏ của nhà tù, hột muối không chỉ cắn làm hai mà là làm ba làm bốn hoàn toàn theo nghĩa đen của nó. Sự chia xẻ nhỏ nhoi mà anh Mẫn dành cho tôi là một trong những cách biểu hiện rõ nét về ý nghĩa “hột muối cắn làm hai”, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!


Thưa quí vị quí bạn, bo-bo mà chang nước muối vào thật vô duyên, nhưng ăn với muối hột thì dễ ăn hơn. Tôi nói “dễ ăn” là so sánh khi ăn nó với nước muối, chớ tôi không nói nó thân thiện với cái bao tử khi nó vào đó.


Sau đợt ăn những cọng khoai mì phơi khô là khoai tây tươi. Cũng là ăn 100% chớ không phải độn với gạo. Từng xe vận tải Molotova chở khoai tây vào trại, thứ khoai tây hạng bét vì củ nào lớn nhất cũng chỉ bằng cườm tay trẻ con vài tuổi là cùng. Mỗi khẩu phần diễn biến từ 12 đến 16 củ còn nguyên võ. Anh nào có bơ thực vật hoặc đường hay sữa do gia đình gởi qua đường bưu điện 3 tháng 1 gói 5 kí lô, sau khi lột võ một cách cẩn thận để tránh chất bột bị mất tí ti vì dính theo võ, rồi cho chút bơ hay sữa hoặc đường vào củ khoai, vừa ăn vừa cảm nhận niềm thương nỗi nhớ mà người Vợ từ ngàn dặm xa xôi đã âm thầm “gói ghém tâm hồn của Nàng chung trong những gói đường, hộp bơ, hộp sữa …” gởi đến người Chồng trong trại tập trung!


Vì thiếu ăn, một số bạn trong số chúng tôi những khi cuốc đất hay làm gì dưới cánh đồng, bất cứ con gì nhúc nhích cũng ăn được cả. Từ con cua, con cá, con nhái, con luơn, cào cào châu chấu, ..v..v.., cứ bắt bỏ vào bếp lửa, một lúc khều ra phủi tro phủi bụi là cho vào miệng.






12345678

KÝ SỰ TRONG TÙ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA - KỲ 5





12345678

CHƯƠNG 7B TRẠI TẬP TRUNG NAM HÀ 2


Thậm chí, ngay cả con trùn cũng ăn nữa! “Con trùn hổ” lớn bằng ngón tay út, dưới nắng trưa làm ánh lên những màu sắc trên lớp da nhơn nhớt của nó, rạch một đường theo chiều dài con trùn, cạo bỏ tất cả bên trong chỉ còn lại lớp da bầy nhầy đem rửa sạch phơi khô, cho vào bếp nướng. Các bạn ấy gọi là “long đất nướng” và xem chừng ăn ngon lắm! Trong “bản ghi nhớ” của tôi có ghi tên các bạn ấy, nhưng tôi nghĩ không nên ghi vào đây vì hoàn cảnh thiếu ăn!





Theo qui định mà tên Công An “quản giáo” Đội nhà bếp cho biết, “tiêu chuẩn mỗi người tù là 15 kí lô gạo một tháng”, nhưng khi họ cho tù ăn những thứ không phải gạo thì họ vẫn tính theo trọng lượng của gạo mà thật ra cũng chính họ cho biết, cứ 2.5 kí lô khoai mì hay khoai tây mới bằng 1 kí lô gạo. Chúng tôi đâu có kêu với ai được, bởi vì họ chia chác với nhau và cùng che chắn cho nhau mà!






Họ cấm tuyệt đối về nấu nướng. Nếu bị bắt, có thể bị họ đưa vào khu biệt giam trong trại Nam Hà B mà chung quanh toàn núi rừng bao bọc. Nếu bị biệt giam thì khẩu phần hằng ngày giảm xuống còn một nửa, khi hết hạn biệt giam sẽ bị cấm thăm nuôi và có thể họ cấm luôn nhận quà thông thường là từ 3 đến 6 tháng. Cứ mỗi 3 tháng vợ tôi gởi cho 1 gói quà mà những món chánh là bơ thực vật, đường cát, sữa bột, và lạp xưởng.


Tôi kể quí vị quí bạn nghe về cách tôi nướng lạp xưởng và sử dụng lon sữa bột. Mỗi lần nướng một cái lạp xưởng, tôi dùng chiếc đủa lùa vào trong để dễ cầm và dùng 3 tờ giấy báo kích thước của tạp chí, cuộn lại theo chiều dài, mượn cái quẹt máy (bật lửa) cho vào túi. Ra cửa buồng giam, nhìn qua nhìn lại không thấy tên Công An nào là tôi ba chân bốn cẳng chạy ra đằng sau buồng giam và chui vào cầu tiêu. Bật lửa, châm vào giấy. Tay cầm tờ giấy đang cháy để phía dưới chiếc đủa lạp xưởng. “Năng lượng” của 3 tờ giấy đủ chín cái lạp xưởng, thế là tôi có bữa ăn ngon miệng và cơ thế tiếp nhận được một lượng ca-lô-ri nhỏ nhoi mà cơ thể rất cần.


Có lần vợ tôi gởi cho một xâu lạp xưởng 12 cặp, phải cho vào hai cái lon guigoze để dành ăn, nhưng nó dài quá phải cắt một đoạn mới đậy nắp được. Tôi với anh Cao Văn Phước (Đại Tá Cục Quân Vận) muốn ăn nhưng không biết là nó chín hay sống, vì thư vợ tôi còn bị Công An trực trại giữ để kiểm soát. Lúc ấy chúng tôi bị nhốt vào buồng giam rồi đâu làm sao nướng được. Hai đứa tôi cứ ngắm nghía suy già đoán non, lúc thì đã hấp rồi lúc thì chưa. Cuối cùng chúng tôi xem như nó đã chín rồi và cứ thế mà ăn hết 24 đoạn cắt ngắn đó. Ngày hôm sau nhóm trực trại trả thư. Xem thư mới biết là lạp xưởng sống, thế nhưng cái bụng cũng hiền lành không gây khó khăn hay hoạnh hẹ gì tôi, mặc dù nó “bị bắt buộc” phải tiếp nhận và thanh toán hơn mười khúc lạp xưởng sống! Kể cũng lạ.


Đến hộp sữa bột. Đó là sữa bột sản xuất từ Liên Xô, chung quanh bằng giấy cứng, màu vàng, cái nắp của nó là miếng kim khí mỏng cũng màu vàng, chỉ bằng một phần ba đường kính cái hộp, vì mặt trên có miếng kim khí mỏng khác phủ kín hai phần ba miệng hộp. Tôi nhìn cái hộp và nghĩ rằng có thể sử dụng được nó dù chưa biết sử dụng vào việc gì. Thế là tôi “nghiên cứu” cái hộp mà “cái lợi” trên miệng sẽ che kín cái gì đó có thể giấu bên trong. Mãi một lúc là tôi biết cách sử dụng nó. Đó là viết thư, quấn một vòng tròn cho nhỏ lại rồi lùa vào trong hộp, ém dần cho những trang thư sát vào vách hộp. Nghĩ được là thực hiện được. Sau khi nhận thấy những trang thư nằm “kín đáo” bên trong, tôi cho sữa bột vào hộp, đậy nắp cẩn thận, trông không khác những cái hộp sữa mang từ nhà thăm nuôi vào trại. Tôi phải trả 2 đồng Việt Nam cộng sản cho chú tù hình sự phụ trách dọn dẹp nhà thăm nuôi, đem ra gởi cho mấy chị bạn của vợ tôi đến thăm chồng nhờ mang về Sài Gòn trao lại vợ tôi. Có khi gởi cho anh bạn ra nhà thăm nuôi gặp vợ và gởi chị ấy mang về giùm. Có lần bị hạch hỏi trước khi họ hướng dẫn ra nhà thăm nuôi, anh bạn trả lời là đem sữa ra đó uống. Thế là thoát.


“Họ tuyệt đối cấm nấu” nhưng chúng tôi “không tuyệt đối tuân hành”, nghĩa là chúng tôi vẫn nấu, và đây là cách nấu. Nói cho đúng là nấu nước pha trà, pha cà phê, chớ chưa cả gan đến mức nấu cơm nấu cháo trong buồng giam. Sữa bột guigoze sản xuất từ Hòa Lan đựng trong cái lon bằng nhôm, mỏng nhưng rất cứng, đem cắt làm hai: Phần dưới làm nồi nấu, phần trên làm lò nấu. Phần trên phải đục một hàng lỗ để có không khí vào và năng lượng là cây đèn cầy (đèn sáp). Thường là xin người nhà cho đèn cầy loại lớn, cắt ra từng đoạn vừa với độ cao của “cái lò” mini, loại này cung cấp năng lượng nhiều hơn.


Trường hợp không còn đèn cầy thì dùng củi thay thế. Củi là những cây dại chết khô cở như chiếc đủa ăn. Trước khi từ chỗ lao động trở về, lượm những cây dại chết khô đó, bẻ từng đoạn dài chừng gang tay, dùng giây cột quanh hai bắp chân, ghim những que củi vào đó và mang về trại. Nếu bị Công An trực trại xét thấy, họ giật ném bên ngoài kèm theo những lời chửi mắng. “Lời chửi của chúng nó như nước đổ lá môn” thôi mà.


Cái bình trà rất nhỏ và uống trà thật đặc, chỉ cần một vài hớp cũng đủ thấm giọng cả đêm, nhất là đêm đông. Nếu không quen uống trà đậm kiểu này mà uống vào buổi tối, có khi cả đêm không ngủ được. Nhưng nếu không uống trà đặc như thế này thì đâu có đủ nước pha trà loảng cho nhiều người uống. Không biết có phải đây là “cái khó ló cái khôn” hay không, nhưng có điều là thích hợp với hoàn cảnh.


Đến cái cảnh đổi áo quần lấy thức ăn mà tôi là trường hợp điển hình. Công An “cai tù” thừa biết tù chính trị chúng tôi có nhiều áo quần dân sự bằng hàng vải ngoại quốc rất tốt, trong khi chúng tôi rất cần chất bột, chất béo, chất ngọt. Thế là đám “cai tù đực lẫn cái” bắt đầu cho “nhập cổng bất hợp pháp” các món hàng sữa đặc có đường, sữa bột, đường cát, để gạ chúng tôi đổi lấy áo quần, rồi “xuất cổng” cũng bất hợp pháp mang lên Hà Nội bán. Cái nghề “khốn nạn” này đã giúp họ phát lên khá nhanh, bởi vì như cái quần tây của tôi bằng vài nhập cảng từ Australia chỉ đổi được có 1 hộp sữa đặc và 1 kí lô sữa bột. Lần khác một cái quần tây chỉ đổi được 1 hộp sữa đặc và thêm 1 đồng bạc. Chính cái tình trạng thiếu ăn này, không chừng tù chính trị chúng tôi dần dần đến chỗ không còn cái áo cái quần dân sự nào cả!


Một hôm, khi đổi được hộp sữa đặc trong tay và khi âm thanh ống khóa cửa buồng giam crắc một tiếng, tôi khui hộp sữa đặc, mời anh Bùi Quang Hiền với anh Cao Văn Phước nằm cạnh tôi, cả 3 chúng tôi luân phiên “tu” một lúc là hết sạch. Thoạt nghe có vẻ ly kỳ rồi, nhưng chưa thấm thía gì so với anh bạn trẻ Nguyễn Kim Tiếng (Thiếu Úy Cảnh Sát đặc biệt). Sau giờ lam lũ dưới cánh đồng ngập nước, về đến cổng chờ kiểm soát mới được vào trại. Cả Đội ngồi chồm hổm, đám Công An trực trại lục soát từng người từ trước ra sau. Anh Tiếng có mua hộp sữa đặc đang giấu trong người, khi thấy khó thoát khỏi vì chúng nó xét kỷ quá, anh ta bèn moi cục đá ngay chỗ ngồi rồi ngoáy mãi cũng được hai lỗ trên miệng hộp, thế là anh “tu” hết sữa và liệng cái hộp vào sát vách trại, lúc ấy tên Công An xét đến anh:


“Cái hộp này của ai?” Hắn quát với vẻ tức tối.


Ai dại gì mà lên tiếng. Hắn lại quát gay gắt hơn:


“Tôi hỏi cái hộp này của ai ném ra đây?”


Còn 3 Đội “xếp hàng như bầy vịt” đều nhìn vào cổng trại, cứ như không nghe không thấy không biết việc gì kể cả lời quát của hắn. Hắn càu nhàu một lúc mới cho vào.


Những Đội làm ruộng dưới đầm lầy mà họ gọi là “vụ chiêm”, thường có những toán trẻ con lẫn người lớn, lén lút giấu gói đường với vài hộp sữa trong người rồi giả dạng như đi bắt cá để đến gần chúng tôi bán vài món lặt vặt ấy. Do vậy mà anh Tiếng mới có hộp sữa trong người, và thật tài tình khi “tu” trọn hộp sữa trong nháy mắt.


Cầu cơ.


Nhóm anh em chúng tôi gồm các anh Cao Văn Phước, Ngô Văn Huế, Vũ Tiến Phúc, Cao Nguyên Khoa, Phạm Duy Khang, anh Đàm Quang Yêu, và tôi, bắt đầu chơi “cơ” sau khi vào buồng giam, thường gọi là “cầu cơ”. Thỉnh thoảng có thêm anh Nguyễn Kỳ Nguyện và anh Đặng Văn Hậu. “Cầu cơ” cần có cái bàn và con cơ. “Cơ” phải là mảnh ván hòm (quan tài) lấy từ cái huyệt mà thân nhân họ đã hốt cốt mới “linh thiêng”. Một hôm anh Khang trong nhóm đào ao nuôi cá dưới đồng, lượm được một mảnh ván mà anh nghĩ là “ván hòm”, đem về cắt gọt theo hình dáng cái cơ. “Bàn cơ” là mảnh giấy có viết đủ các mẫu tự Việt Nam, một hàng số từ 0 đến 9. Ngoài ra còn viết nguyên chữ đúng/sai, có/không, tốt/xấu để đỡ phải ráp các mẫu tự. Chúng tôi dùng hai cái mền treo lên để tạo thành cái phòng kín, tránh sự rình rập của đám Công An tuần tiểu từ cửa sổ nhìn vào. Chúng nó bắt gặp cũng phiền phức lắm.


Hôm đầu tiên, anh Khang “ngồi cơ”, anh Yêu khấn vái gọi hồn. Đại khái thì anh giới thiệu với hồn ma hồn quỷ rằng:


“Chúng tôi là tù chính trị miền Nam, bị giam tại trại tập trung Nam Hà này, xin thỉnh hồn các vị khuất mặt khuất mày nào đi ngang đây, vui lòng nhập cơ để chúng tôi nhờ giúp đỡ độ trì”.


Anh Phước khều tôi: “Ê! Cơ chạy rồi kìa”.


Nhưng cơ lại ngừng. Một lúc sau thì cơ chạy lại, tức là có hồn nào đó nhập vô rồi. Anh Yêu lại lâm râm khấn vái:


“Vị khuất mặt khuất mày nào đã nhập vô cơ xin nhập luôn chớ đừng ngập ngừng, để anh em chúng tôi hỏi đôi điều”.


Tôi phụ trách ráp các mẫu tự mà cơ chỉ vào, và có câu sau đây:


“Tôi tên Thọ, Tiểu Thần phụ trách khu này. Trước kia tôi là công nhân nhà máy dệt Nam Định, chết vì không có thuốc trị dạ dày (bao tử). Hiện tôi còn một vợ và bốn con ở tại Nam Định” (có cho số nhà và tên đường).


“Chúng tôi có thể nhờ ông Thọ cho biết tin tức gia đình ở Sài Gòn được không?”


“Được. Nhưng chờ tôi xin phép Thổ Thần trước”.


Cơ ngưng chạy. Trong tích tắc thì chạy lại, nhưng là hồn khác:


“Tôi tên Ban, tù hình sự, đã chết vì đói tại Trại Mễ ở Phủ Lý. Hiện tôi là “ma đói”. Các ông có gì cho tôi ăn không”.


Tôi lấy cái bánh ngọt và tách nước trà để lên bàn cơ, anh Đàm Quang Yêu mời:


“Chúng tôi mời ma đói ăn bánh uống nước”.


Cơ chạy tới đụng nhẹ vào cái bánh rồi đến chạm vào tách nước, cơ lui lại vị trí chờ. Trong lúc anh Yêu hỏi thêm thì cơ chạy vội vào các mẫu tự, tôi ráp lại:


“Xin phép các ông tôi đi, vì ông Tiểu Thần vừa đến ngoài cửa. Ông ấy bắt gặp là tôi bị phạt”.


Trong chớp mắt cơ chạy lại, đó là ông Tiểu Thần:


“Tôi được phép rồi, các ông cần gì thì nói”.


Tôi hỏi trước: “Tôi tên là Hoa …”


Cơ cắt ngang bằng cách chạy vào các mẫu tự:


“Tôi biết tên ông rồi vì tôi nghe các ông bên cạnh gọi tên ông. Ông nói tiếp”.


“… Tôi có bốn đứa con đi ngoại quốc bằng tàu đã hai tháng nay mà tôi chưa có tin tức. Ông Thọ có thể vào Sài Gòn, đến nhà X12 cư xá Bắc Hải, Phường 25 Quận 10, xem giùm tình trạng ở nhà tôi và cho tôi biết tin tức được không?”


“Được. Ông Hoa chờ một chút”.


Khoảng 30 giây sau, cơ chạy lại:


“Không phải như ông nói đâu. Hiện ở nhà ông có bốn đứa con, còn một đứa nữa thì ông Thổ Thần tại đó nói nó đi rồi nhưng chưa đến nơi”.


“Cám ơn Ông Thọ”.


Anh Yêu hỏi: “Làm sao mà ông đi mau vậy?”


“Tôi chỉ là luồng khói nhỏ, thoắt đây thoắt kia, nhưng phải có phép của Thổ Thần mới đi được như vậy. Bây giờ tôi bận, tôi phải đi ngay. Chào các ông”.


Thật lòng mà nói, tôi không tin vào cơ, nhưng những lời của hồn từ bên kia thế giới xưng là Tiểu Thần đã nói trên bàn cơ vừa rồi làm tôi suy nghĩ mãi: “Tin hay không tin?” Thôi thì chờ tin từ vợ tôi mới đánh giá lời cơ đêm nay.


Tuần lễ sau, chiều thứ bảy, anh Lễ từ nhà thăm nuôi trở vào, đưa cho tôi gói quà của vợ tôi gởi. Vội vàng mở ra, việc đầu tiên là xem thư mà tôi tin là thể nào cũng có trong hộp sữa bột mà chúng tôi dùng để thư bên trong. Và y như rằng, có bốn trang thư bằng giấy “pelure” mỏng. Xem xong, tôi ngẩn ngơ! Vì trong thư có hai chuyện rất buồn: Chuyện thứ nhất. Khi vợ tôi xin giấy phép ở Phường để ra Bắc thăm tôi hồi tháng 05/1979 thì họ không cấp, vợ tôi nhờ người bạn mua cái giấy phép ở Phường khác. Khi vợ và con tôi từ Nam Định trở về Sài Gòn thì nhà chúng tôi bị niêm phong, với dòng chữ “nhà vắng chủ”. Vợ tôi gục đầu vào cửa nhà vì quá uất ức! Đêm đó, vợ con tôi ngủ bên ngoài cửa nhà. Hôm sau, vợ tôi đến nhờ chị bạn (Chị D.V.D.) có người thân làm trong tòa án cộng sản can thiệp. Cuối cùng, đám Công An Quận 10 phải gở niêm phong. Dĩ nhiên sự “giúp đỡ” đó theo phương thức “có qua có lại mới toại lòng nhau”. Đến chuyện thứ hai. Bốn con chúng tôi tưởng đã đi được rồi, nhưng chỉ mấy ngày sau khi tàu rời Vĩnh Long (14/05/1979) là quay về bến. Lý do mà Sở Công An thông báo vì thời tiết xấu nên tàu quay về, nhưng họ không nói bao giờ thì đi, cũng không nói gì đến số vàng mà họ đã nhận của những người có giấy tờ “người Việt gốc Hoa ghi danh hồi hương”. Từ đó đến nay đã hơn hai tháng, họ vẫn hoàn toàn im lặng, có ai đến hỏi thì họ trả lời vắn tắt: “Chưa có lệnh cấp trên”. Mọi người biết mình bị Công An cộng sản trấn lột nhưng đâu thể làm gì họ được.


Sau khi quay về, đứa con trai lớn chúng tôi vẫn phải “tị nạn” ở quê Ngoại vì trước đó đã trốn trại lao động.


Vậy thì lời cơ hoàn toàn đúng nhưng tự thâm tâm tôi vẫn chưa thể tin được, vì từ trước đến giờ tôi không tin vào tướng số tử vi, huống hồ gì lời của “hồn ma bóng quế” từ thế giới vô hình nói về những sự kiện trong thế giới hữu hình.


Về Công An tổ chức vượt biển, xin mở ngoặc. Năm 2004, trên trang báo Dân Vận của đảng bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Germany, có bài viết về tội ác của cộng sản Việt Nam, trong đó có đoạn nói đến vấn đề vượt biển do Công An tổ chức. Xin trích một đoạn:


“Theo tin tức tiết lộ từ Bộ Công An, chánh phủ cho phép các Sở Công An tổ chức những chuyến vượt biển cho thành phần người Việt gốc Hoa từ tháng 11 năm 1978 với mục đích, vừa đẩy thành phần đó ra khỏi Việt Nam, vừa thu được 7 lượng vàng của mỗi người để bổ sung ngân sách nhà nước. Hành động như vậy, Việt Nam không mang tiếng trục xuất một thành phần tai mắt của Trung Hoa cộng sản, vì lúc ấy bang giao giữa hai nước cộng sản này đang căng thẳng. Về số vàng thu được từ năm 1978 đến 1982 lên đến 700.000 lượng, nhưng có thật sự vào ngân sách nhà nước hay vào túi riêng của những người quyền thế, chỉ có họ với Trời mới biết thôi. Vàng thì họ thu khi ghi danh, còn bao nhiêu người thoát khỏi Việt Nam thì không ai biết. Nguồn tin cũng cho biết, trung ương của họ ra lệnh thu mỗi người 3 lượng vàng chớ không phải 7”. Đóng ngoặc.


Tôi gởi hộp sữa bột về lại Sài Gòn với những trang thư bên trong: “(1) An ủi vợ con tôi nên xem đó là bài học kinh nghiệm mà bài học nào cũng có cái giá phải trả. Có điều là giá đó thuộc loại trấn lột. (2) Giữ vững ý định tiếp tục đưa các con ra khỏi Việt Nam khi thấy có thể, vì không thể để các con sống với cộng sản. (3) Nên chia ra từng một hoặc hai đứa mà đi, để tránh trường hợp tất cả bị tai nạn cùng lúc. Và (4) Có thể nhờ các em trợ giúp tài chánh cho con đi”.


Rồi những đêm sau đó, nhóm chúng tôi tiếp tục chơi cơ. Anh nào cũng nhờ ông Tiểu Thần vào Sài Gòn xem giùm tin tức gia đình. Một đêm, anh Yêu khấn thật lâu cơ mới chạy. Sau một lúc hỏi đáp, mới biết là ông Tiểu Thần bận nên “ma đói” vào cơ:


“Hôm nay tôi ở đây được lâu, các ông có hỏi gì tôi không?”


Theo lời anh Yêu, không phải ai ngồi cơ cũng có hồn nhập vào đâu mà phải như thế nào đó thường gọi là “cơ duyên”. Không biết đúng hay không nhưng rõ ràng là anh Vũ Tiến Phúc (Đại Tá Pháo Binh) ngồi cơ thì nhiều hồn nhập vào cơ. Tôi có thử một lần nhưng phải nửa tiếng đồng hồ mới có hồn nhập vào cơ, lại là hồn ma thôi. Khi hồn nhập vào cơ thì tôi không thể giữ lại. Tôi muốn thử cho biết bằng cách tôi cố ấn mạnh ngón tay giữa để giữ cơ lại, nhưng cứ như có người đẩy cơ đi. Hai lần tôi cố tình kềm cơ lại nhưng không thể được. Vì vậy mà tôi tin là có hồn nhập vào cơ, nhưng vẫn chưa tin hẳn vào lời cơ.


Anh Khang nói:


“Nào, bạn lên nhà ông Xuyên (trại trưởng) xem tụi nó làm gì trên đó mà đèn sáng choang vậy”.


“Không được ông Khang ơi. Tụi nó gác dữ lắm, nó không cho tôi vào”.


“Lính cộng sản gác, ăn thua gì bạn mà bạn sợ”.


“Tôi nói lính của ông Tiểu Thần gác, chớ tôi đâu có nói lính của ông Xuyên”.


“Vậy thì anh xuống nhà bếp xem mai chúng nó cho chúng tôi ăn gì?”


“Ngày mai các ông ăn bột mì luộc, vì trong kho chỉ có bột mì thôi”.


“Hừm. Sao không coi luôn thức ăn?”


“Tôi thấy chỉ có bột mì với muối, ngoài ra không có gì khác nữa”.


Trong khi chưa có câu hỏi gì thêm thì cơ chạy vòng vòng, đột nhiên cơ hỏi:


“Mấy ông có quen với phụ nữ ở đây sao?”


“Phụ nữ ở đâu mà quen? Chúng tôi là tù chính trị trong Nam ra đây, đâu có quen với ai”.


“Tôi thấy có hai cô đang ngồi phía trước kìa”.


“Bạn ra hỏi giùm hai cô ấy là ai vậy? Và muốn gặp ai?”


“Không xong rồi. Ông Tiểu Thần đang đến, hai cô đó đứng dậy đi rồi. Thôi, tôi đi nghe”.


Ngay sau đó ông Tiểu Thần nhập cơ, và anh Khang hỏi:


“Ông Thọ có biết có người Mỹ nào chết trong trại này không?”


“Có. Tôi biết có hai người”.


“Ông Thọ có thể cho biết vài chi tiết về hai người Mỹ đó không?”


“Không. Tôi chỉ biết hai người đó là sĩ quan”.


“Ông Thọ có thể mời họ đến đây được không?”


“Được. Ông chờ tôi”.


Sau đó cơ chạy lại, nhưng lúc ấy tôi phải chui vào mùng vì tôi bắt đầu bị cúm, rất khó chịu. Sáng sớm hôm sau, anh Khang thuật tóm tắt như sau:


“Hai sĩ quan Mỹ, một là Thiếu Tá và một là Đại Úy. Cả hai chết tại buồng giam số 1 này. Mồ của hai anh ấy ở sườn núi phía Tây cách trại khoảng 500m đường chim bay. Anh Thiếu Tá ở tiểu bang California, có cho địa chỉ đầy đủ kể cả zipcode. Anh Đại Úy đang buồn vì vợ anh đã có chồng khác, hai con gái của anh được tòa giao cho mẹ anh nuôi, vì vậy mà anh không muốn cho ai biết địa chỉ. Cả hai sĩ quan này đều biết hút thuốc lào, và chết vì kiệt sức do không đủ dinh dưỡng. Sở dĩ hai anh biết tiếng Việt, vì khi vào thế giới vô hình tại Việt Nam bắt buộc phải học, và hai anh trả lời những câu hỏi cả Việt ngữ lẫn Anh ngữ”


Dần dần chỉ còn lại các anh Vũ Tiến Phúc, Cao Nguyên Khoa, với anh Phạm Duy Khang tiếp tục chơi cơ một thời gian khá lâu sau đó. Có anh hỏi những vấn đề chiến lược chiến thuật, về tương lai của Việt Nam, và “những vị” trả lời có “vị” xưng là Bà Chúa Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần, có khi là vị thần này vị thánh kia, ..v..v…


Riêng tôi thì ngưng sau hai tuần tham gia, vì cảm thấy gai gai trong người làm sao á! Tôi không giải thích được,nhưng rõ ràng có vài đêm trong giấc ngủ cứ như có ai đó đến nói chuyện với tôi, vì phát âm không rõ nên tôi không hiểu họ nói gì. Với lại tôi nghĩ rằng: “Chuyện người ở thế giới vô hình nhập vào cơ của thế giới hữu hình là có thật, và trả lời những câu hỏi ngay trong cuộc sống là tin được, nhưng về những câu hỏi có tính cách quan trọng dài lâu trong tương lai, khó mà chấp nhận. Bởi lẽ, nếu cơ cung cấp chính xác về chiến lược chiến thuật ở cấp bậc quốc gia quốc tế, thì ông Tổng Thống chỉ có việc rao truyền trên toàn quốc để tìm mời người “có cơ duyên cao nhất” vào Phủ Tổng Thống ngồi cơ, cầm chắc là Tổng Thống sẽ thành công xuất sắc trên mọi lãnh vực sinh hoạt quốc gia, mà không cần đến năm bảy bộ tham mưu đồ sộ với máy móc tinh vi, lúc ấy ngân sách quốc gia lúc nào cũng thặng dư . Vậy là “dân giàu nước mạnh” rồi. Suy cho cùng, nếu sự thể diễn ra như vậy, hà tất phải tốn công tốn của chọn bầu vị Tổng Thống.


Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta có đức tin riêng, nhưng mỗi người có cách riêng của mình khi nhìn về đức tin, trông chờ sự hiện hữu của đức tin.


Vá đường.


Tháng 05/1980, vừa ra khỏi cổng trại thì tên võ trang bảo dừng lại:


“Anh Hoa. Anh cử người đến kho lãnh dụng cụ đi sửa đường. Từ hôm nay, Đội phụ trách sửa đoạn đường từ nhà thăm nuôi ra đến nhà máy xi măng”.


“Cán bộ có cho xuống đồng mang dụng cụ về trả kho không?”


“Không cần. Cán bộ Vượng (quản giáo) bảo các anh cứ bỏ dưới đó, để nhân viên kho đi tìm mang về”.


Tôi theo tên võ trang đến kho, hắn bảo tôi:


“Anh vào lãnh dụng cụ đi”.


Tôi vào kho, vừa nói mượn dụng cụ là tên giữ kho quát:


“Các anh phải mang số dụng cụ dưới đồng về trả mới được lãnh dụng cụ mới”.


Tên võ trang bước vào:


“Đồng chí cho Đội mượn đi, đồng chí Vượng nói sẽ trả sau, vì hôm nay phải sửa đường gấp, chậm trễ là có vấn đề đấy”.


Cuối cùng, chúng tôi cũng mượn được dụng dụ cần thiết. Một bên đường là sườn núi với rất nhiều đá dăm, nên chúng tôi không phải khiêng đá từ xa đến, còn bên kia là triền đồi xuống cánh đồng chiêm. Qua khỏi nhà thăm nuôi, tên quản giáo bảo Đội dừng lại, hắn hỏi tôi:


“Anh muốn Đội bắt đầu từ nhà máy xi măng vào, hay từ đây ra?”


“Báo cáo cán bộ. Tôi nghĩ là nên bắt đầu từ đây ra, vì đoạn này nhiều lỗ trũng mình sửa là thấy kết quả ngay”.


Tôi nêu ý kiến như vậy vì trước mắt, anh em chúng tôi có cơ hội gặp những gia đình bạn bè có thể hỏi thăm tin tức. Thể nào hắn cũng ngăn cấm, nhưng thể nào chúng tôi cũng có cách qua mặt hắn.


“Được. Anh cho Đội bắt đầu từ đây, nhưng nếu anh nào lén phén chui vào nhà thăm nuôi là anh trách nhiệm. Tôi nói trước để mà tránh, tôi mà nổi điên lên khi bắt gặp anh nào vào nhà thăm nuôi thì mấy anh cũng chẳng ra gì đâu. Nghe chưa?”.


Hắn muốn nói là hắn sẽ chửi chúng tôi đó. Tên Vượng này nóng tánh và thô lổ nữa, nhưng nghe chừng “bịt miệng” hắn cũng không khó.


“Vâng. Nhưng tôi xin cán bộ, khi giao trách nhiệm cho chúng tôi cán bộ đừng bảo phải làm thế này thế khác, hãy để chúng tôi làm theo cách của chúng tôi. Trước khi về tôi sẽ báo cáo và cán bộ kiểm soát công tác tại chỗ”.


Hắn im lặng một lúc:“Cứ làm đi”.


Nói xong, hắn lầm lủi vào dãy nhà dành cho tổ Công An điều hành và canh giữ nhà thăm nuôi.


Chúng tôi chọn địa điểm nấu nước và ngồi nghỉ giải lao chỉ cách nhà thăm nuôi khoảng 50 thước về phía ra Ba Sao. Trong nhà thăm nuôi khá đông thân nhân của tù chính trị chúng tôi, trẻ con cũng khá nhiều. Có lẽ tôi cần giải thích một chút về nấu nước. Mỗi Đội trên dưới 20 người được cử một người phụ trách nấu nước cho Đội uống. Họ phát hai cái thùng loại 20 lít và một đòn gánh. Đội chúng tôi có anh Nguyễn Kỳ Nguyện phụ trách nấu nước. Nước thì anh Nguyện tự tìm chỗ lấy và gánh về, còn củi thì anh Nguyễn Xuân Hường phụ trách lên núi kiếm mang xuống cho anh Nguyện. Một số trong số anh em chúng tôi được gia đình tiếp tế gạo, nên cho nhúm gạo và nước vào lon guigoze có cái quai móc, đem móc vào chung quanh miệng thùng nước, nhờ sức nóng của lửa do anh Nguyện cố tình cho lửa thoát nhiều ra chung quanh, giúp chúng tôi có lon guigoze cơm ngon miệng bụng no.


Tôi với anh Nguyễn Kim Tây trong một toán. Khi tên võ trang vào nhà thăm nuôi ngồi nhìn ra, tôi đứng sát anh Tây:


“Tây ơi! Thư mới nhất của vợ “ta” cho biết trong tháng này Ba “ta” sẽ ra thăm. Vì vậy mà “ta” hy vọng gặp Ba mình trong lúc tụi mình sửa đường”.


“Nhà ngươi” nhìn vô nhà thăm nuôi chưa?”


“Có nhìn nhưng không thấy, kể cả người quen”.


Tôi với anh Tây khi nói chuyện với nhau, thường dùng “ta” hay “nhà ngươi” để chỉ ngôi thứ nhất với ngôi thứ hai của chúng tôi. Trong lúc giải lao, tôi thuật lại lời của tên Vượng cấm vào nhà thăm nuôi, và có ý kiến:


“Tôi nghĩ, nếu bạn nào muốn liên lạc với các chị trong nhà thăm nuôi, nên nhắn ra phía cầu vệ sinh. Nếu hắn có thấy thì nói là mình đi tiêu đi tiểu gì đó cho khớp với nhau. Dần dần tôi sẽ cố gắng thử xem có “bịt miệng” hắn được không rồi mình liệu cách”.


“Bịt miệng” có nghĩa là mua chuộc hắn bằng cà phê thuốc lá, thậm chí là chút ít tiền cuối tuần cho hắn đi xe về nhà.


Mùa hè trên đất Bắc nóng và oi bức lắm, không như cái nóng hiền hòa của miền Nam. Càng nóng chúng tôi càng mặc quần áo dài tay để giữ mồ hôi bên trong làm giảm sức nóng từ bên ngoài. Lại còn cái khăn lông nhỏ thấm nước phủ lên đầu trước khi đội nón, chốc chốc kéo xuống lau mặt cho mát.


Cứ như thường lệ, mỗi khi đến chỗ làm chúng tôi được nghỉ 10 phút để thu xếp đồ đạc cá nhân cũng như dụng cụ đi làm. Ba ngày sau đó, trong lúc nghỉ ngơi chuẩn bị mang vác dụng cụ đào đất vá đường, tôi liếc nhìn vào nhà thăm nuôi xem có Ba tôi không. Bỗng, tôi rất đổi ngạc nhiên, dụi mắt, nhìn lại. Rõ ràng là vợ tôi ngồi dựa cột ở hàng hiên … nhìn tôi. Tay trái giở nón lên để thấy rõ và tay phải tôi chỉ vào tôi. Vợ tôi liền đứng dậy, cũng dùng tay chỉ vào vợ tôi. Vậy là chúng tôi nhận nhau rồi. Tôi khều anh Tây:


“Tây ơi, Tây”.


Vừa gọi, tôi vừa ngoắc anh Tây đang ngồi uống nước chỗ anh Nguyện, vì còn mấy phút nữa mới bắt đầu lao động. Anh Tây đi nhanh lại:


“Bác đến hả nhà ngươi?”


“Đến rồi. Nhưng không phải Ba ta, mà là vợ ta”.


“Chị đâu?”


“Vợ ta mặc đồ tây kiểu đồ bộ, màu nâu, đứng dựa cột thứ ba từ bên phải qua trái đó. Nhà ngươi thấy chưa?”.


“Ta thấy rồi. Có phải Chị hơi ốm một chút không?


“Đúng. Hơi ốm so với giữa năm ngoái. Nhà người đứng đây với anh em giùm ta, ta kiếm thằng Vượng nhờ nó xin thằng Thụ -phụ trách nhà thăm nuôi- cho ta gặp mấy phút được không?”


“Nhà ngươi đi đi. Hình như nó đang ngồi trong chòi của hình sự kìa”.


Đúng là hắn ngồi trong đó. Tôi bước vào:


“Chào cán bộ. Vợ tôi từ Sài Gòn ra thăm, đang có mặt trong nhà thăm nuôi. Cán bộ có thể giúp cho tôi gặp vợ tôi trong chốc lát được không?”


“Không được. Ông Thụ không cho đâu. Để mai gặp luôn”.


“Báo cáo cán bộ, nếu vậy thì có gì phải nói đâu. Sẳn Đội đang lao động ở đây, tôi nghĩ là cán bộ có thể giúp tôi được, chớ chờ mai thì bình thường thôi. Cán bộ gắng giúp tôi trong 10 phút thôi mà”.


“Anh lộn xộn quá. Để tôi vào gặp ông Thụ xem sao”.


Một lúc sao, hắn ngoắc tôi vào và nói với con Kim:


“Đồng chí Kim (cô này năm ngoái làm ở nhà trồng nấm), cho anh này gặp vợ trong 10 phút. Tôi xin ông Thụ rồi”.


“Được”. Cô ta xoay qua tôi: “Anh vào trong”.


Hai cái bàn dài đông nghẹt người. Cô ta đưa tôi cái ghế của cô ta:


“Đưa ghế này vợ anh ngồi, còn anh ngồi tạm cạnh vợ anh. Anh chị nói chuyện nhanh lên, chỉ 10 phút thôi. Các ông trong trại ra trông thấy là phiền lắm”.


“Cám ơn cán bộ”.


Vợ tôi vào chuyện ngay:


“Hai bên gia đình đều mạnh. Còn chuyện các con vượt biển dưới dạng người Việt gốc Hoa, khi tàu rời Vĩnh Long chưa được một ngày thì tàu quay lại, họ nói là biển động không đi được. Rồi từ đó, mỗi khi có người đến hỏi thì họ trả lời là chưa biết chừng nào mới khởi hành được. Khi hỏi đến số vàng đã đóng thì họ nói đó là chuyện của cấp trên chớ họ không biết, mặc dù vàng thì nộp cho họ. Vậy là chúng nó trấn lột, chỉ kể trong chuyến đó cũng đến cả ngàn lượng vàng chớ ít đâu Anh. Thôi thì các con còn đủ là được rồi. Em đưa các con về Sài Gòn, riêng con Trung vì trước đó đã trốn trại tù nên ở lại Vĩnh Long lánh mặt tụi Công An khu vực trong cư xá mình. Bây giờ thì con Trung với Tín đã đến Thái Lan rồi Anh”.


“Em được điện tín hay thư của hai con chưa?”


“Có thư của hai con rồi. Hai con vượt biển từ Cà Mau và trốn đi chớ không phải như lần đi năm ngoái. Lần thăm Anh năm ngoái trở về, nhà mình bị tụi nó niêm phong, nó đòi tịch thu. Em liều mạng với tụi nói, cuối cùng nó mới chịu trả. Lúc nào tụi nó cũng chực lấy nhà mình, cũng như nhà của các bạn trong cư xá Bắc Hải mình. Chúng nó toàn cái bọn ăn cướp cả”.


“Em giỏi lắm”.


(Trong hình là Phạm Bá Trung & Phạm Bá Tín đang leo qua tàu biển)


“À, có con gái với út Nghĩa theo Em thăm Anh nữa. Hai con với các bạn nó đi tắm rồi, chắc cũng sắp về. Con Hùng đang ở Vũng Tàu, lúc nào đi được là con sẽ đi với thằng Thành con anh Có (Đại Tá Nguyễn Hữu Có) và mấy bạn nữa. Khi nào có tin, Em nhắn cho Anh hay”.


“Hùng gan quá hả Em, dám đi một mình. Có thằng Thành cũng đỡ đần nhau được. À! Em có mang cho Anh hai chiếc nhẫn không?”


“Có. Nhưng bây giờ không tiện lấy ra, vì Em để người. Ngày mai Em đưa Anh. Bây giờ Anh có thể đem con gà luộc này vào trại được không? Em để trong bao ni-lông rồi”.


Tôi quay sang cô Kim:


“Báo cáo cán bộ, tôi có thể mang cái túi có đựng con gà luộc ra khỏi đây không cán bộ? Cán bộ có thể xem trước, chỉ có con gà luộc thôi”.


“Anh đưa tôi xem….. Được, Anh mang ra khỏi đây, nhưng khi vào trại đừng để mấy ông trực trại trông thấy là phiền phức lắm”.


“Cám ơn cán bộ. Giới thiệu với cán bộ, đây là vợ tôi, còn hai con tôi đi tắm rồi”.


“Tôi biết rồi. Con gái của Anh Chị xinh lắm”.


“Vợ chồng tôi chỉ có mỗi đứa con gái, còn lại đều là trai, nên cưng lắm”.


“Thôi. Anh ra Đội đi. Quá 10 phút rồi. Mai thăm chánh thức, tôi để ngồi nói chuyện lâu hơn”.


Ra đến hàng hiên, vợ tôi chỉ phía dưới dốc:


“Tụi nhỏ đi tắm về kìa Anh. Con gái đi tận cùng bên phải đó”.


“Con gái mình cao lớn quá hả Em”


“Càng lớn, con gái càng xinh. Mấy chị bạn đều khen con mình”.


Thằng quản giáo Vượng gọi tôi sang bên kia đường, trong lúc hai con tôi đi ngang tôi nhưng là bên này đường. Tôi với hai con tôi chỉ cách nhau mấy thước tây mà chỉ được nhìn nhau qua ánh mắt, chớ không được hôn lên trán con gái, hay ít nhất cũng vuốt được mái tóc dài của con gái tôi mà tôi thường ao ước! Ngày trước, tôi thường khuyến khích con gái tôi để mái tóc dài như Mẹ nó lúc còn đi học. Tên Vượng hỏi:


“Anh nói gì mà lâu thế?”


“Báo cáo cán bộ. Vợ chồng hằng năm trời gặp nhau chỉ 10 phút đồng hồ, vợ tôi mới kể cho tôi nghe về sức khỏe và cuộc sống của hai bên gia đình chúng tôi là hết giờ rồi, còn nói gì nữa đâu cán bộ”.


Tôi trở lại Đội, cùng anh Tây đứng nhìn vợ con tôi vẫn đứng ở hàng hiên nhà thăm nuôi. Tôi gởi cái túi ni-lông cho anh Nguyện, để chốc nữa cho vào cái thùng (nấu nước) mang vào trại. Anh Tây nói:


“Con gái nhà ngươi phúc hậu lắm”.


Sau giờ buồng giam bị khóa cửa, cũng có nghĩa là “giờ tự do” bắt đầu. Tôi thực hiện ý định cất giấu hai chiếc nhẫn khi vợ tôi đưa tôi ở nhà thăm nuôi để mang vào trại, vì hai chiếc này trong ý định táo bạo của một số anh em chúng tôi sẽ chung góp để mua máy thu thanh đưa vào trại theo dõi tin tức trên làn sóng đài phát thanh BBC Luân Đôn. Dạo này tụi nó cho chúng tôi mặc quần tây áo sơ-mi mỗi khi được phép thăm nuôi, vì mặc đồ trại trông thảm hại lắm. Thế là tôi moi cái túi quần bên trái ra, tháo một đoạn chỉ tận cùng phía dưới túi và sát cạnh trước, đủ cho chiếc nhẫn lọt xuống cái túi nhỏ xíu nối dài đến gần đầu gối. Tôi dự trù 2 chiếc nhẫn sẽ xuống nằm yên ở đó. Vì thông thường đám trực trại khi khám xét người, bọn chúng vuốt hai bên túi quần, nhất là túi quần bên phải xuống đến hết cái túi thôi, vì vậy mà tôi hi vọng 2 chiếc nhẫn sẽ qua được những đôi mắt cú vọ với những bàn tay nhám nhúa của đám trực trại. Anh Hậu ngồi bên trông thấy là hiểu ngay:


“Này, cậu nghiên cứu bao giờ mà có sáng kiến hay thế?”


“Qua nhiều lần nhập trại, mình quan sát cách khám xét của tụi nó, nhất là xét mấy bạn thăm nuôi vào trại. Trong đám trực trại thì thằng Thịnh khuỳnh là hắc ám nhất. Nó mằn từ lưng quần xuống tận .. “dế” nữa nghe. Hai hôm trước, trong khi chờ xuất trại không biết Hậu có thấy không, thằng Thịnh nó mằn cái chỗ.. í .. của một anh nào đó ra gặp người nhà, ảnh nhột quá nên nhảy dựng lên làm anh em ngồi chờ xuất trại cười quá trời”.


“Anh hổng hay nó mằn ra cái thư à?”


“Không. Mà ai vậy?”


“Anh nào đó ở buồng (giam) 15. Nó mằn ra cái thư giấu trong quần lót, nó đuổi vô luôn. Sau đó phải làm bản kiểm điểm nó mới cho ra gặp người nhà”.


“Mình chuẩn bị bửu bối này, nhưng mình sẽ tùy cơ ứng biến lúc mình ra cửa để vào trại, có thể trong tích tắc mình chuyền sang các bạn mang vào trại giùm”.


“Theo tôi thì cách đó là ổn nhất, chứ bạn mà lọt vô tay thằng Thịnh khuỳnh nó hành bạn là cái chắc”.


“Sáng mai, lúc nào Hậu cũng liếc mắt nhìn vào hàng hiên nhà thăm nuôi, sẳn sàng để khi mình ra cửa là tùy cơ ứng biến à nghe”.


“Lúc Đội làm ở nhà nấm, con Kim thường hay rù rì với bạn, hi vọng nó không hại bạn đâu”.


“Cái con khỉ. Nó là “cộng sản cái” chớ có phải nó là con gái bình thường đâu. Đã là cộng sản thì “đực cái” cũng vậy thôi. Chúng nó là chúng nó, chúng mình là chúng mình, đừng nói lôi thôi, Hậu phải cứu bồ đó”.


Sáng hôm nay nhà thăm nuôi đông người lắm. Vợ chồng tôi ngồi đối diện nhau, hai con chúng tôi ngồi cạnh tôi, con gái bên phải và con trai bên trái tôi. Con Kim ngồi đầu bàn, nó nói khẻ:


“Anh cho con gái anh sang ngồi với chị, chứ các ông trong trại ra trông thấy là căng lắm”.


Ngay khi vào chuyện, vợ tôi vờ khòm xuống gầm bàn lượm cái khăn mà vợ tôi cố tình làm rơi xuống, rồi nhanh chóng chuyền vào tay tôi hai chiếc nhẫn bọc trong miếng giấy mỏng. Tôi đứng dậy sửa lại thế ngồi của đứa con trai, nhưng thật ra là tôi cho hai chiếc nhẫn vào túi quần bên trái, và nó xuống thẳng cái đáy túi nhỏ như tôi muốn. Xong, ngồi lại một cách tự nhiên:


“Em à! Anh muốn Em đưa các con còn lại cùng vượt biển với Em. Em nghĩ sao?”


“Còn Anh?”


“Không sao đâu Em. Anh đã sống được 5 năm qua mà lại là 5 năm đầu rất gian khổ, nên Anh có đủ nghị lực chịu đựng rồi. Nghị lực vững vàng, với lại sức khỏe của Anh tốt. Mỗi sáng Anh đều tập thể dục đều đặn nữa Em”.


“Họ cho mấy anh ra ngoài tập hả?”


“Nó nhốt tụi anh kỹ lắm, làm gì có chuyện đó. Anh tập chạy và những động tác tay chân thì bên ngoài mùng, nhưng tập những động tác khác thì trong thế ngồi thiền ngay trong mùng”.


“Em với các con đi hết, đâu có ai lo cho Anh. Không được đâu”. Nói đến đó là vợ tôi rơm rớm nước mắt, rồi tiếp:


“Lúc đó Em còn khổ hơn ở đây nữa. Không được đâu Anh”.


“Em hãy tập trung lo cho các con có cơ hội xây dựng tương lai, chớ để các con sống mà không có tương lai thì mình làm sao sống được Em”.


“Để Em tính lại rồi cho Anh biết”.


“Em nhớ là chúng mình đồng ý với nhau, tương lai các con là hạnh phúc của chúng mình mà Em”.


“Em sẽ viết thư ra Anh sau”.


Chưa nói được bao nhiêu thì hết giờ. Tiếng con Kim:


“Các anh nhanh lên, hết giờ rồi, để đợt hai còn ra cho kịp”.


Tôi vói kéo tay con gái tôi sang đứng cạnh tôi. Tôi vuốt mái tóc mượt mà của con gái tôi đến mấy lần:


“Con gái cao bằng Ba rồi. Cuối tháng 5 này con gái của Ba tròn 19 tuổi hén. Chúc mừng con gái nghe”.


Tôi nắm chặt tay vợ tôi và con gái tôi, từng bước ra cửa. Tôi vòng tay ôm chặt vợ con tôi trong giây lát, rồi bước nhanh ra chỗ các bạn tôi đang ngồi giải lao, cho tay vào túi quần bên trái giật nhẹ cái túi nhỏ có hai chiếc nhẫn bên trong, buông thỏng cái túi theo ống quần rớt xuống đất cạnh anh Nguyện. Anh Nguyện lượm chuyền liên tiếp sang hai bạn khác, trong khi tôi bước đi ngay vì có vẻ như con Kim trông thấy. Phải chuyền như vậy đề phòng nếu con Kim đến xét chẳng thấy gì hết.


Tôi và các bạn đẩy xe cải tiến theo con Kim vào trại. Đến đầu dốc xuống, nó đi sát tôi:


“Anh đứng chỗ Đội anh làm gì vậy?”


“Có gì đâu cán bộ. Các bạn tôi trêu tôi nên tôi đáp lễ thôi”.


“Anh có mang tiền hay vàng vào trại phải cẩn thận. Tôi biết là hôm nay ông Thịnh kiểm tra anh. Tôi nghe ông Thịnh nói nếu bắt được anh là anh bị phạt cấm thăm nuôi đó”.


“Không. Tôi chẳng mang gì mà nội qui cấm đâu. Cám ơn cán bộ”.


Đúng là Thịnh “khuỳnh” đang nhắm vào tôi. Trong khi “Thịnh khuỳnh” lục soát toàn bộ quà cáp của tôi, thằng “Thắng chuột” phụ trách an ninh (trước đây phụ trách nhà thăm nuôi) hỏi tôi với cái giọng khá gay gắt kèm theo nụ cười đểu của hắn:


“Hôm qua anh gặp vợ anh rồi, phải không?”


“Không cán bộ. Chúng tôi chỉ đứng nhìn nhau thôi”.


“Tôi nói là anh có gặp”.


“Đó là cán bộ nói thôi”.


“Anh có muốn gặp vợ anh thêm không?”


“Báo cáo cán bộ, đâu có người tù nào trả lời “không” với câu hỏi của cán bộ”.


“Được. Anh sẽ không gặp thêm”.


Tôi xuống giọng một chút nhưng cũng có phần thách thức:


“Vâng. Tùy cán bộ”.


Hắn chắp tay sau mông theo tôi vào tận buồng giam, xem tôi sắp xếp thức ăn với đồ dùng, mặc dù chính hắn với Thịnh khuỳnh lục soát trước nhà trực trại rồi. Món nào nó cũng cầm lên ngắm nghía rồi mằn tới mằn lui, miệng hỏi đủ thứ:


“Gói này là gói gì?”


“Lạp xưởng đó cán bộ”.


“Bao nhiêu tiền vậy?”


“Tôi không biết”.


“Vợ anh không nói với anh à?”


“Nói để làm gì cán bộ”.


“Tiền đâu vợ anh mua?”


“Tiền của chúng tôi”.


“Anh ăn bao lâu thì hết?”


“Có thể ngày mai, ngày mốt, tùy theo tôi mời các bạn tôi cùng ăn”.


“Anh tốt vậy à?”


“Tôi chẳng tốt lành gì đâu. Anh em chúng tôi thường mời lẫn nhau mỗi khi có quà từ gia đình. Bạn tôi mời tôi, bây giờ tôi mời bạn tôi cùng ăn”.


Cứ thế mà nó hỏi đến phát tức, nhưng nhất định tôi không tức. Vì cái kiểu nó chọc cho mình tức để rồi sơ ý trong lời nói là chúng nó hoạnh hẹ, thậm chí mắng chửi nữa.


Sáng hôm sau, đã quá giờ lao động mà cả trại im ỉm, tất cả các buồng giam vẫn khóa chặt. Theo kinh nghiệm những lần tương tự như vậy trước đây, nếu không có người trốn trại, thì tất cả tù chúng tôi cũng bị lục soát mọi thứ để chúng nó kiếm tiền hay những thứ mà chúng nó cho là vi phạm nội qui để tịch thu, hoặc luân chuyển tù hay luân chuyển buồng giam, vì chúng sợ lâu ngày chúng tôi móc nối nhau rồi chống đối chúng nó.


Trong lúc chúng tôi nhốn nháo vì không biết nguyên nhân, thằng “Chi mụn”, quản giáo buồng giam chúng tôi, mở cửa gọi tôi ra “cái chuồng cu” mà thường ngày đám trực trại đứng trong đó kiểm soát xuất trại lao động. Hắn đứng trong, tôi đứng ngoài:


“Chị đến phải không?”


“Vâng. Vợ con tôi đến thăm tôi hôm qua, cán bộ”.


“Anh có muốn thăm nữa không?”


“Có chớ cán bộ”.


“Anh làm bản kiểm điểm rồi Ban Giám Thị xét sau”.


“Tôi không vi phạm nội qui, tại sao tôi phải làm kiểm điểm?”


“Anh đừng vờ vịt nữa”.


“Tôi hoàn toàn không hiểu gì cả”.


“Anh biết anh D. bị mấy anh đánh không?”


“Có. Tôi có biết, vì anh ấy bị đánh ngay trong khuôn viên buồng giam chúng tôi, nhưng sao lại dính dáng đến tôi?”


Hắn đứng im, nhìn ra cổng. Một lúc, hắn quay lại và gắt giọng:


“Anh vào buồng”.


Tôi ráng hỏi thêm:


“Liệu tôi có được ra gặp vợ con tôi lần nữa không, cán bộ?”


Hắn nạt tôi: “Anh vào buồng ngay”.


Chỉ mấy phút sau, Thắng chuột vào buồng giam hỏi tôi:


“Anh đã làm kiểm điểm chưa?”


“Báo cáo cán bộ, tôi không sai phạm gì, tại sao tôi phải làm kiểm điểm?”


“Cán bộ Chi có nói gì với anh chưa?”


“Có. Nhưng tôi hỏi tại sao thì cán bộ Chi không nói mà lại bỏ đi nên tôi không hiểu gì hết”.


Chẳng biết sao bỗng dưng hắn xuống giọng:


“Ít ra anh cũng phải làm đơn Ban Giám Thị mới xét chứ”.


“Vâng, tôi làm ngay. Thật ra thì thủ tục này tôi chưa từng biết”.


Đến quá trưa hôm ấy, con Kim theo thằng Lực trực trại vào buồng giam, dắt tôi ra nhà thăm nuôi:


“Anh được gặp vợ con anh trong một tiếng đồng hồ. Anh biết tại sao anh bị mấy ông ấy phạt không?”


“Không. Cán bộ có biết tại sao không?”


“Có phải anh chủ mưu đánh anh D. không?”


“Không. Hoàn toàn không. Lúc anh D. bị đánh thì tôi đang trong buồng giam, nghe ồn ào tôi chạy ra mới biết có người đánh anh D. Thế thôi”.


“Anh bị qui trách chủ mưu đánh anh D. vì có lần anh trông thấy anh D. báo cáo hành động của anh với cán bộ an ninh. Thôi, bỏ qua chuyện đó”.


“Cán bộ có biết tại sao hôm nay không mở cửa xuất trại lao động không”.


“Có hai anh trốn trại đó”.


Ra đến nhà thăm nuôi, cô ta nói:


“ Anh vô gặp vợ con anh. Nhanh lên”.


Vợ tôi nói ngay:


“Chiều tối hôm qua, có hai thằng Công An nó bảo Em dặn dò Anh phải bỏ cái thói ngang tàng bướng bỉnh mà lo học tập tốt để có ngày về. Em ức quá, Em nói mấy anh không cho chồng tôi ra làm sao tôi nói cho chồng tôi biết. Tôi biết tính chồng tôi không phải là người ngang tàng với bất cứ ai. Em nói càng lúc càng lớn tiếng, chẳng ngờ hai đứa nó bỏ đi hà Anh”.


“Tụi nó ghìm Anh, cho là Anh tổ chức đánh anh D. vì con nhỏ Công An này (tôi len lén chỉ con Kim) nói với Anh, tụi an ninh với tụi trực buồng giam quả quyết là Anh, vì có lần Anh thấy anh D. viết báo cáo tố cáo Anh dính líu đến những vụ lộn xộn trong trại. Sáng nay hai thằng Công An luân phiên hạch hỏi Anh đủ điều. Có thể là hai thằng nói chuyện với Em chiều qua cũng là hai thằng nạt nộ Anh sáng nay chăng”.


“Anh nói anh D. bị đánh là gì vậy?”


“Chuyện dài dòng lắm, bỏ qua đi Em. Mình chỉ còn hơn nửa tiếng đồng hồ để nói chuyện của mình”.


Vợ tôi tiếp tục kể chuyện về Ba Má chúng tôi bị chúng nó cướp nhà, cướp vườn, nhiều bạn bè trong cư xá cũng trong tình trạng như vậy. Vợ tôi hứa sẽ cố gắng đưa hai con còn lại vượt biển, riêng vợ tôi có đi hay không còn phải suy nghĩ lại. Thoáng một cái, vừa hơn một tiếng đồng hồ:


“Anh Hoa, thu xếp vào trại”.


Thật ra con bé Công An này nó không chanh chua đanh đá như mấy con bé trước đây phụ trách hướng dẫn tù thăm gặp gia đình, nhưng nó rất sợ đám Công An trực trại với đám an ninh nên nó canh chừng giờ giấc kỷ lắm. Tôi nắm tay vợ tôi thật chặt, hôn mái tóc con gái tôi và hôn thằng trai út lia lịa. Tâm hồn tôi rất thanh thản, vợ tôi quản trị gia đình vững vàng, nhất là có kinh nghiệm đối phó với đám Công An Phường, Công An Quận, trong khi hai con trai lớn đã đến trại tạm trú Thái Lan, con trai thứ ba đang sẳn sàng vượt biển, và hai con còn lại sẽ đi tiếp.


Trước khi vào đến nhà trực trại là một sân trống trước khu nhà dành cho Công An “cai tù” ở, khi đi ngang tôi thấy hai anh trốn trại bị bắt lại đang nằm co quắp vì tay chân bị trói, trong khi con chó đi vòng vòng gầm gừ như sẳn sàng cắn xé hai anh! Nhìn kỷ, áo quần hai anh tả tơi, nhưng không rõ là hai anh đã bị chó cắn hay tả tơi lúc trốn trại? Bọn Công An cai tù chuyên nghiệp này dã man lắm, chúng nó cột hai anh rồi cho chó canh giữ trong khi một nhóm chúng nó ngồi trong nhà uống nước nhìn ra cười toe toét! Đến tối tôi mới biết hai anh ấy bỏ trốn vào chiều qua khi từ dưới đồng leo dốc về trại. Không biết vì sao mà cả đêm hai anh chưa băng qua được cánh đồng chiêm nên ẩn trú trong núi đá ngay bên ngoài trại, để rồi chúng nó dùng chó lùng bắt.


Ngay tối hôm đó, anh Lê Minh Chúc, tù chính trị duy nhất phụ trách phiên dịch các sách Anh ngữ do tụi cộng sản ở Bộ Quốc Phòng đưa, nên anh được thăm gặp vợ anh lâu hơn mọi người khác. Sau khi từ nhà thăm nuôi trở về buồng giam, anh nói với tôi:


“Khi cán bộ Chi dẫn tôi ra nhà thăm nuôi, nó nói với tôi là Ban Giám Thị quả quyết anh tổ chức đánh anh D nhưng vì chưa có bằng cớ nên trại chưa kỷ luật anh. Giữa anh em, tôi nói để anh đề phòng”.


“Cám ơn anh. Hồi sáng này, thằng Thắng chuột với thằng Chi mụn quay tôi quá trời, cũng cái vụ ấy”.


Chuyển tiền vào trại.


Nói đến chuyển tiền vào trại, mời quí vị quí bạn quay trở lại thời gian Đội chúng tôi làm công tác vệ sinh khu vực cơ quan của trại. Hết làm cỏ lại sửa lối đi, xoay qua san bằng sân bóng chuyền. Làm cỏ xong đến cuối khu vực thì đầu khu vực cỏ đã lên cao, và cứ như thế. Trong thời gian công tác linh tinh ở đây mới biết thêm cách chuyển tiền từ nhà thăm nuôi vào trại tù. Chuyện như thế này: Công An “cái” tên Thanh mà một số anh em chúng tôi gọi là “Thanh hai hàng”, vì dáng đi của cô ta “không phải một hàng”. Cô ta phụ trách hướng dẫn anh em chúng tôi thăm nuôi, là một trong những “cai tù” chuyển tiền vào cho chúng tôi nhiều nhất. Khi mang vào trại, cô ta trao trực tiếp cho người nhận hoặc ngang qua trung gian, nhưng nhất thiết người trung gian phải là tù chính trị chớ tuyệt nhiên không dính dáng đến tên “cai tù” nào khác.


Một hôm, anh bạn trẻ tên Quế đến nhờ tôi:


“Anh ơi! Hôm nay con Thanh nó mang vô cho em 500 đồng. Nó lấy 10%, còn lại 450 đồng em có dặn nó trao cho anh đem về giùm em”.


Tôi hỏi: “Ai thăm chú vậy Quế?”


“Dạ vợ và con em”.


“Yên chí. Tôi mang về cho chú”.


Hôm ấy Đội chúng tôi làm cỏ quanh khu vực nhà ở của “cai tù”. Cô ta đưa tù hình sự thăm nuôi về sớm, tất nhiên phải về sớm vì nếu về đúng giờ thì Đội chúng tôi vào trại. Tôi đứng ở lối đi mà cô ta phải đi ngang. Tôi hỏi:


“Có tiền của Quế đó không cán bộ?”


“Có. Anh chờ một chút”.


Cô ta vào nhà một lúc, tôi nghe như có tiếng cục đá rơi bên cạnh, quay nhìn, trông thấy cô ta đứng ở cửa sau. Rõ ràng là cô ta ngoắc tôi. Tôi lắc đầu, và chỉ tay về hướng cửa sổ nhà trẻ vì ở đó có tên Công An đang đứng. Cô ta lại ngoắc tôi lần nữa, tôi cũng lắc đầu. Thật ra nếu không có thằng Công An đứng đó tôi cũng không dám vào nhà, vì hành động đó rất nguy hiểm nếu bị bắt gặp tù trong nhà “Công An cái”. Con bé này được xem là đẹp trong số Công An “tóc dài” nên đám Công An tóc ngắn thường tới tán tỉnh. Với lại cái vụ anh Nguyễn Kim Tây làm cho chúng tôi ngại lắm. Khi em gái anh Tây nhờ cô ta mang tiền vào, cô ta gọi anh Tây vào nhà và vào hẳn sau tấm màn cô ta mới trao tiền, anh Tây “lạnh cẳng” lắm nên nắm được tiền trong tay là nhanh chân ra cửa sau. Không chuyện gì xảy ra, nhưng không phải mọi lần đều may mắn như vậy.


Một lúc sau, tay cầm bàn chải tay ôm ôm chiếc chiếu ra giếng khỏi chỗ tôi đứng khoảng 20 thước, cô ta đi sát vào tôi:


“Anh xuống giếng với tôi”.


“Cán bộ xuống trước, tôi xuống sau”.


Tôi nhờ anh Tây gác giùm đám Công An, nếu thấy thì báo động bằng tiếng gọi lớn hơn bình thường. Tôi xuống giếng, cô ta ngồi khuất tấm vách nhà tắm, nhanh tay đưa tôi một xấp giấy bạc mà tờ trên cùng là giấy 50 đồng:


“Đủ rồi đó”. Trao xong, cô ta đứng dậy, bước đi.


“Không được. Cán bộ ngồi lại chờ tôi đếm. Cán bộ đưa tôi mấy tờ?”


Cô ta trả lời chỉ một tiếng. “Chín”.


“Đủ rồi. Cán bộ đi đi”.


Tôi bảo cô ta ngồi lại vì cô ta đã đánh lừa ba người bạn chúng tôi, số tờ giấy bạc thì đúng nếu căn cứ tờ giấy bạc bên trên, nhưng mấy tấm dưới là loại giấy bạc nhỏ.


Thêm một hành động “lừa đảo” của cô ta ngay tại nhà thăm nuôi. Có dạo Ban Giám Thị trại tự phát hành loại giấy bạc 1 đồng và 2 đồng dùng để mua hàng “căn tin” trong trại mà thôi. Chẳng hạn như vợ anh A đến thăm, gởi cho anh A 200 đồng, cô ta đưa cho anh A 200 đồng bằng loại giấy 1 đồng và 2 đồng của trại. Cách lừa đảo của cô ta là chờ đến hết giờ thăm nuôi, khi đứng lên vào trại cô ta mới đưa. Đúng vào cái lúc anh A chia tay với vợ, cũng là lúc tay xách nách mang bỏ vào xe cải tiến làm sao mà đếm được. Về buồng giam đếm lại, may lắm chỉ đến 170 hay 180 đồng là cùng. Đâu có tố cáo hay thưa kiện gì được. Cũng có trường hợp cô ta vào giao trực tiếp cho người nhận ngay trong trại, bằng cách cô ta xin gác cổng cho vào gọi thăm nuôi hay vào bệnh xá xin thuốc chẳng hạn, rồi trao tiền thường là ở hành lang nhỏ vào buồng giam 13 - 14. Trường hợp này cô ta “ăn” đến 15%.


Cũng xin nói thêm về quyền hạn của mỗi loại Công An mà chúng tôi buộc phải gọi là cán bộ. Bước vào trong trại thì thuộc quyền toán trực trại. Đám Công An quản giáo, Công An võ trang, hay hướng dẫn thăm nuôi mỗi khi muốn vào cổng trại phải xin phép tên gác cổng. Trước khi xuất trại đi lao động hay thăm nuôi phải do “cai tù” quản giáo” hay “cai tù hướng dẫn”, nhận của “cai tù trực trại”. Ngược lại, trước khi tù vào cổng phải do cai tù liên hệ trả lại cai tù trực trại. Nhóm nào cũng có quyền với tù chính trị và tù hình sự cả. Nhìn bên ngoài là vậy, thật sự thì giữa cai tù này với cai tù kia và giữa bộ phận cai tù này với bộ phận cai tù kia, họ vừa rình rập nhau lại vừa lo sợ lẫn nhau. Cái chính sách của cộng sản là không tin vào ai cả, thậm chí ngay trong gia đình họ cũng vậy. Bởi vì cái chế độ này độc tài quá, tàn bạo quá, chỉ phục vụ đảng mà không phục dân, cho nên lúc nào họ cũng sợ sự chống đối từ tất cả mọi người mà họ cai trị, thậm chí họ cũng sợ cả những người mà họ gọi là “đồng chí” của họ nữa.


Thế nhưng những cai tù liên quan trực tiếp với tù chính trị, có những liên hệ về quyền lợi khá sòng phẳng với tù chính trị. Bên cai tù có “cái thế” của cai tù là muốn bắt nạt tù thế nào cũng được, nhưng bên tù cũng có “cái lực” của tù là tiền bạc và vật chất do gia đình gởi đến. Nhóm chữ khá sòng phẳng, nói cho dễ hiểu là chúng tôi dùng “cái lực” của mình để đổi lấy sự dễ dãi chừng mực, tùy theo “cái thế” của mỗi bộ phận cai tù. Nhìn chung, hầu hết cai tù bất cứ thuộc bộ phận nào kể cả bộ phận giáo dục của trại, đều thèm thuồng “cái lực” của tù chính trị, nhất là “cái lực” thuốc tây với cà phê. Tạm thời trừ nhóm lãnh đạo trong cái cơ quan quyền lực có toàn quyền hoạch định và điều khiễn thực hiện chế độ, còn tất cả công dân xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc từ nhỏ đến lớn, chỉ uống mỗi một thứ thuốc có tên là “xuyên tâm liên” cho tất cả các bệnh, nên bây giờ được uống thuốc tây (âu dược) rất công hiệu và tác dụng rất nhanh.


“Biết địch biết ta” để có quan niệm thích ứng cho cuộc sống của người tù chính trị trong xã hội xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc này, và chúng tôi đã thành công chừng mực.


Tên Đoàn, đến làm quản giáo Đội chúng tôi thay Thắng “mặt đỏ” sang Đội khác. Tên này kiếm ăn dữ lắm. Dắt Đội đến chỗ làm là hắn thọc hai tay vào túi long nhong sang các Đội kế cận kiếm ăn. Và chính cái hành động “kiếm thức ăn thuốc hút” của đám quản giáo lẫn võ trang, đã thúc đẩy anh em chúng tôi sử dụng một số trong số quà do gia đình gởi cho, để đổi lấy sự dễ dãi chừng mực nói trên. Cách kiếm ăn của tên quản giáo làm cho tên võ trang ganh tức, cho đến một hôm thì lòng ganh tức nổ ra. Khi đến địa điểm lao động, trong khi anh em chúng tôi sắp xếp vật dụng thì anh Nguyễn Xuân Hường báo cáo đi lấy củi như thường ngày. Tên võ trang:


“Hôm nay anh Hường không được đi”.


“Cán bộ quản giáo cho tôi đi rồi cán bộ”.


“Quyền của tôi. Tôi bảo anh không được đi là không được đi”.


“Cán bộ không cho tôi đi lấy củi thì anh em chúng tôi đâu có nước chín uống”.


“Tôi ra lệnh quay lại. Anh bước thêm bước nữa là tôi bắn anh đó”.


Vừa quát hắn vừa lên đạn. Tôi nói:


“Anh Hường. Anh trở lại Đội, mọi việc mình tính sau”.


Mấy thằng quản giáo với võ trang của các Đội lân cận tụ tập trong gian nhà cô công nhân lò gạch, nghe ồn ào nên bước ra ngoài cùng nhìn chúng tôi. Tên Đoàn bước đến mấy bước rồi nói với anh Hường:


“Cán bộ võ trang không đồng ý thì anh vào Đội đi”.


Nói xong, hắn lại chui vào gian nhà bé xíu của cô gái. Tôi quay sang tên võ trang:


“Báo cáo cán bộ. Anh em chúng tôi không có nước chín để uống, xin cán bộ cho Đội tôi không lao động hôm nay”.


“Chuyện các anh có lao động hay không, không liên hệ đến tôi. Các anh muốn làm thì làm, muốn nghỉ thì nghỉ. Tôi chỉ cần các anh có mặt đủ là được”.






Quyền hạn của mỗi bộ phận quản trị tù chính trị chúng tôi như vậy đó.


Khi thấy anh em chúng tôi vác cuốc quay lại điểm tập trung của Đội, tên quản giáo từ trong nhà nói vọng ra:


“Anh Hoa, cho Đội đi làm đi”.


“Báo cáo cán bộ, không cuốc nỗi đâu vì chúng tôi không có nước uống. Chúng tôi lớn tuổi rồi, cuốc một lúc là xỉu hết thì nguy lắm. Cán bộ xin với cán bộ võ trang cho anh Hường đi lấy củi thì Đội lao động ngay”.


Vẫn từ bên trong, hắn nói vói ra:


“Đồng chí cho anh Hường đi lấy củi để đội lao động”.


Tên võ trang gắt giọng:


“Tôi nói không, là không”.


Mọi việc ngưng ở đó. Chúng tôi quây quần bên nhau, không ai nói với ai nhưng mỗi người chúng tôi có nụ cười khoái chí vì chúng nó “oánh” lẫn nhau. Một lúc sau, tên võ trang ra lệnh:


“Anh Hoa, cho Đội về trại”.


Tôi nói to: “Các bạn ơi! Cán bộ võ trang bảo chúng ta về trại”.


Mấy tên quản giáo từ trong nhà cô gái trông thấy, nói to:


“Đoàn ơi! Đội của mầy về trại kìa”.


Hắn quýnh quá, chạy theo, và nói lớn:


“Anh Hoa, cho Đội quay lại ngay”.


Tôi cũng nói lớn:


“Trong lúc này chúng tôi phải nghe theo cán bộ võ trang, nếu không thì chúng tôi bị bắn sao cán bộ”.


Hắn chạy lại tên võ trang xuống nước năn nỉ ỉ ôi sao đó mà tên võ trang bảo chúng tôi trở lại lao động, dĩ nhiên là anh Hường lên núi lấy củi nấu nước. Sở dĩ tên quản giáo phải năn nỉ tên võ trang, vì nếu Đội về trại trong giờ lao động thì tên quản giáo bị kỷ luật. Theo tổ chức của trại tù chuyên nghiệp, quản giáo trực thuộc bộ phận kế hoạch, còn võ trang thì thuộc đội võ trang. Vì vậy mà Đội nào gặp phải tên quản giáo với tên võ trang xung khắc nhau thì giữa hai đứa nó rắc rối hoài, chúng tôi thường khai thác và đào sâu mối xung khắc đó, đem lại lợi ích cho chúng tôi dù chỉ là những lợi ích nhỏ nhoi trong cấp thời.


Sau đó, không biết có phải vì sự kiếm ăn quá mức hay không mà tên Đoàn cuốn gói lên trại tập trung nào đó ở mạn rừng núi phía Bắc Hà Nội. Lúc ấy tên Vượng thay. Khi làm dưới đồng, trước khi về trại thì dụng cụ gom lại một chỗ nào đó giấu, khỏi phải sáng lãnh vác đi chiều lại vác về trả kho, mặc dù tên Công An giữ kho bắt buộc lãnh và trả hằng ngày. Thật ra tên quản giáo nào cũng mong Đội về đến cổng trại là về nhà ngay, chớ đâu để mất thì giờ chờ Đội trả dụng cụ. Nhờ vậy mà chúng tôi cũng đỡ phải mang vác lên dốc xuống đồi hằng ngày. Thỉnh thoảng tên “Thịnh khuỳnh” cũng giở chứng, nếu Đội nào không có quản giáo “trả” cho trực trại thì hắn bắt Đội đó ngồi tại cổng, cho đến khi tên quản giáo đến trả mới cho vào trại. “Thịnh khuỳnh” là một trong những tên hung thần của trại tập trung Nam Hà A.


Theo dõi đài BBC.


Cái việc mà người này nói người kia là “báo cáo” là “ăng-ten” cũng có, nhưng cũng có những trường hợp do bọn Công An đưa tin để rồi anh em tù ngờ vực nhau, cảnh cáo nhau, thậm chí đánh dằn mặt nữa, dĩ nhiên là đám Công An có lợi vì chúng nó sợ tù chính trị kết thành một khối, rồi có những hành động chống đối chúng nó. Trong trại tập trung Nam Hà A này, nghĩ cho cùng có hai loại người báo cáo cho tụi Công An: Thứ nhất là báo cáo vặt như nấu nướng, mang thư mang tiền vào trại, nói năng chống đối, …. loại báo cáo này không nguy hiểm lắm. Thứ hai là loại báo cáo thật sự nguy hiểm, nhưng loại này không do anh em tù chính trị chúng tôi, mà là “giả danh tù chính trị”. Chuyện tổng quát thế này:


“Anh Nguyễn Mây (Ty Cảnh Sát Quảng Tín) nhận sửa cái máy thu thanh của tên Công An quản giáo. Sửa xong, anh nghe được làn sóng đài phát thanh BBC Luân Đôn. Thế là tin tức đài BBC được ngấm ngầm chuyền thật nhanh trong anh em chúng tôi, dần dần mới nhận ra nhu cầu theo dõi đài này. Anh Mây hỏi hắn cho anh mướn để nghe, dĩ nhiên là không cho nó biết mình nghe đài BBC. Ngoài anh Mây, còn có anh Trần Hàng (Trưởng Ty Cảnh Sát Quảng Tín), và anh Lê Viết Hằng. Ban đêm nghe xong, ban ngày các anh kín đáo chuyền tin cho nhau rộng rãi hơn. Bỗng tôi nhớ đến một giai đoạn trong đệ nhị thế chiến, tù binh Pháp bị quân Đức giam giữ trên đất Pháp, nhờ cái máy thu thanh mà phá ngục kịp thời khi theo dõi được quân Đồng Minh đổ bộ trên đất Pháp, và trên đà chiến thắng quân Đức. Nhận ra tác dụng của cái máy thu thanh rất quan trọng đối với tù chính trị chúng tôi, cũng là lúc tên quản giáo không cho an


h Mây mướn nữa. Anh Mây đứng ra trách nhiệm liên lạc với tên quản giáo nhờ hắn mua cái máy thu thanh, một số anh em chúng tôi bí mật chung góp để anh Mây gởi mua.


“Phần tôi chung góp một nửa chiếc nhẫn trong số hai chiếc nhẫn vợ tôi vừa cho. Thường ngày tôi cho một chiếc vào lai quần một chiếc vào cái túi nhỏ xíu trong nách áo. Đúng là “tù đâu của đó”, nếu không cẩn thận dễ bị chúng nó tịch thu lắm vì bất cứ lúc nào chúng nó cũng có thể lục soát cả. Tôi theo anh Mây cứ như đi lang thang ngoài sân trại, nhưng thật ra chúng tôi dần dần cặp theo sát tường rào, rồi nhanh chân men theo hành lang từ sân trại vào buồng giam 15 và 16. Rảo mắt chung quanh:


“Anh có thấy thằng nào không Mây?”


“Yên chí. Tụi nó ra ngoài trại, còn đám hình sự cũng vào buồng giam rồi anh”.


Tôi kéo ống quần lên và nhanh chóng lận ra chiếc nhẫn, trao ngay cho anh Mây. Chiều hôm đó, anh Mây đưa lại tôi 35 đồng vì chiếc nhẫn đánh giá 70 đồng. Tên quản giáo buộc phải đưa cho nó một chiếc nhẫn chớ nó không nhận tiền. Nó nói giá chiếc nhẫn là 70 đồng, nhưng nó bán cao hơn là cái chắc vì nghe mấy người dân làm dưới đồng nói chiếc nhẫn một chỉ với giá 85 đồng lận. Nghĩa là bán nhẫn đã có lời, khi mua cái máy nói giá cao, lại thêm cái khoản thưởng cho hắn nữa. Mua cái máy thu thanh, hắn kiếm được ba khoản tiền, nhưng cũng nguy hiểm cho hắn lắm. Thôi thì chẳng hơn thiệt làm chi vì cái máy thu thanh là chính.


Không biết vô tình hay cố ý mà hắn mua cái máy thu thanh lớn quá, ban đêm không đưa lọt qua khe cửa sổ, anh em chúng tôi phải chung góp thêm 50 đồng nữa để nó đem đi đổi cái nhỏ một chút. Ngoài ra lại phải thêm cái khoản mua điện trì nữa, nó tính giá bằng hai, mà thật ra không biết giá bằng hai hay bằng mấy lần giá thật chúng tôi đâu có biết. Nhưng chỉ vài tháng là cái máy thu thanh bị hư, có lẽ hắn đưa chúng tôi cái máy “dỏm” thì phải.


Anh Lâm Minh Đức (Thiếu Tá An Ninh Quân Đội) nhờ tên quản giáo của Đội ảnh mua cái máy thu thanh trong khi trong túi chưa có đồng nào cả. Tên quản giáo nói hắn ứng tiền mua và giao cho anh Đức tại chỗ lao động. Anh Đức rất bình tỉnh, cho cái máy vào thùng (nấu nước) và dường như chính anh gánh vào trại. Cũng may là đám trực trại không xét cái thùng. Cái máy vào trại an toàn, anh Đức mới liên lạc rỉ tai mấy anh em đã cộng tác trong vụ máy thu thanh. Anh Phạm Kim Qui, anh Dương Công Liêm, tôi, anh Bằng (Quận Trưởng Quận 5 Sài Gòn), và hai hay ba anh nữa cùng chung góp. Lúc ấy anh Bằng moi trong cái bao lấy ra cái gói, mở cái gói ra rồi mở thêm một lần bao bọc nữa, và nói:


“Đây là một trăm đồng sanh tử của tôi, tôi chung góp với mấy anh một nửa”.


Anh Đức điều hành công việc cất giấu, cũng như luân phiên các bạn trẻ ban đêm thức nghe và ghi chép tin tức. Cái máy luân chuyển giữa các buồng giam 3 (anh Trần Hàng), buồng giam 4 (anh Đức), buồng giam 13 (anh Lê Viết Hằng), buồng giam 15 (anh Mây). Các anh không chuyển sang buồng giam cấp Đại Tá, vì các anh lo ngại nếu cấp Đại Tá bị tụi nó bắt trong vụ này thì khó sống lắm. Các anh ấy sẳn lòng nhận sự nguy hiểm thay chúng tôi. Tôi với anh Qui, anh Liêm, và anh Bằng, rất cám ơn các anh ấy.


Mỗi trưa sau khi nhập trại (lúc lao động ngày hai buổi) là tất cả các anh Đội Trưởng, nay cái góc này mai cái góc kia trong trại, chúng tôi ngồi lại để nghe các bạn tường thuật tin tức nghe được đêm qua. Nghe xong lập tức giải tán về buồng giam ăn cơm, chuẩn bị lao động buổi chiều. Đầu giờ lao động buổi chiều, chúng tôi được nghỉ 10 phút ngay khi đến chỗ lao động, trong khi tên quản giáo với tên võ trang cũng kiếm chỗ mát ngồi nghỉ. Tôi sử dụng trường hợp Đội chúng tôi như trường hợp điển hình về phổ biến tin tức. Tôi ngồi giữa, các bạn trong Đội gần như ngồi chung quanh. Chúng tôi không ai nhìn ai, cứ như lơ đãng nhìn đâu đâu nhưng thật ra là đang chú ý theo dõi tin tức tôi chuyển lại. Lúc tôi xoay bên trái lúc xoay bên phải để các bạn nghe rõ. Xong, chúng tôi vác dụng cụ đi làm chớ không chờ tên quản giáo thúc giục. Đây cũng là cách chúng tôi giữ lòng tin của hắn. “Mình gian phải ngoan” để đạt mục đích.


Công việc theo dõi tin tức đài BBC Luân Đôn diễn tiến tốt đẹp, hằng ngày chúng tôi nghe tường thuật tin tức đều đặn. Cứ hết điện trì thì anh em chung góp gấp đôi đưa “chui” cho tên quản giáo là hôm sau có ngay. Cho đến một hôm, đó là ngày chủ nhật, thông thường khoảng 8 hay 9 giờ sáng thì đám trực trại mở cửa buồng giam cho tù ra rửa mặt và chuẩn bị cơm nước. Nhưng hôm nay theo bóng mặt trời ít ra cũng 10 giờ rồi mà không một buồng giam nào mở cửa. Ngay cả mở cửa gọi tù thăm nuôi cũng không. Vậy, ắt phải có vấn đề quan trọng gì đó mới có sự kiện khác thường này, hoặc giả là cả đám trực trại ngủ quên hết không chừng. Một bạn đùa:


“Theo đài BBC thì xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên đường kiệt quệ, hổng chừng tụi nó cuốn gói bỏ chạy hết rồi, anh em mình tìm cách mở cửa ra để còn rượt theo chúng nó chớ”.


“Thôi đi bạn ơi!”


Tôi lên tiếng trong lúc tôi đang đứng ở đầu hồi buồng giam nhìn ra sân trại, và tiếp:


“Tụi nó đi tới đi lui đầy ngoài sân trại kìa, có vẻ như không có tên nào vào hướng các buồng giam khu mình cả. Tôi ngờ là có chuyện không may cho anh em mình nhưng chưa đoán được là chuyện gì”.


Anh Bùi Quang Hiền:


“Anh Hoa, giống như tiếng anh Đức bên buồng 4 gọi anh kìa”.


Tôi trở về chỗ nằm, bên trên cửa sổ có lỗ thông hơi nhưng hơi cao, tôi rướn người lên nhìn qua buồng 4, khoảng cách áng chừng 20 thước, dù không thấy gì nhưng vẫn lên tiếng:


“Hoa đây Đức ơi! Có gì lạ không?”


“Dưới buồng (giam) 6 vừa chuyền lên là tụi nó đang lục soát ở buồng (giam) 13, sau khi lục soát buồng 15”.


“Bên anh, anh cẩn thận nghe Đức. Nó nằm ở đâu?” Nó, tức là cái máy thu thanh.


“Anh yên tâm, chuẩn bị rồi. Nó ở dưới 13 hay 15 gì đó”.


Chừng một tiếng đồng hồ sau đó, một đám Công An lên lục soát buồng 3 buồng 4, rồi sang buồng 1 chúng tôi cùng lúc với buồng giam số 2. Tại các buồng 1, 2, 3, và 4, chúng nó lục soát nhanh hơn buồng 13 và 15, vì chúng nó chỉ chú trọng li ti đến đồ đạc của anh Trần Hàng (buồng 3), anh Lâm Minh Đức (buồng 4), tôi (buồng 1), và anh Phạm Kim Qui với anh Phạm Kim Tấn (buồng 2).


Áng chừng 12 giờ trưa, đám trực trại mở cửa buồng giam. Chúng tôi chạy đi chạy lại tìm các bạn ở các buồng nói trên hỏi thăm tin tức. Tuy không bạn nào biết rõ chuyện gì xảy ra, nhưng nhóm chúng tôi ở buồng giam 1 và 2 nghi ngờ vụ này liên quan đến cái máy thu thanh, vì được các bạn trong buồng giam 13 và 15 tường thuật thì chúng nó lục soát tỉ mỉ, không bỏ sót bất cứ thùng gì gói gì để trong buồng giam, mà cái máy thu thanh hai đêm qua nó nằm ở hai buồng này. Và anh Mây thuật lại hành động của tụi Công An lục soát buồng giam 15 như sau:


“Trong số Công An lục soát, có hai đứa từ Bộ Công An ở Hà Nội xuống. Cửa mở, chúng nó bắt mọi người đi tay không ra sân trong khuôn viên buồng giam, ngồi xuống. Tuyệt đối không được đi lại nếu chưa có phép. Tuần tự từ đầu buồng giam đến cuối buồng giam, mấy thằng lục soát sàn dưới, mấy thằng lục soát sàn trên, không bỏ sót bất cứ món gì. Trong khi mấy tên lục soát chỗ nằm, thì mấy tên khác lục soát đồ dùng mà ban đêm để ngay giữa lối đi trong buồng giam. Đến đồ dùng của anh nào thì chúng nó gọi anh đó vào. Tuần tự từng món một, bất cứ là lon, hộp, bao, gói, giỏ xách, nói chung là chúng nó đều mở ra xét. Từng món khi xét xong, để ra sau lưng rồi tiếp tục những món trước mặt. Xét xong anh nào thì chúng nó đuổi anh ấy ra ngoài sân ngồi.


Tại buồng giam 15, theo lời một bạn trẻ thuật lại xem như một chuyện lạ. Tên Công An liên tục khám xét đến cái hộp hình chữ nhật đựng cái máy thu thanh bên trong, nhưng thình lình mấy tên Công An trên sàn gác gọi mấy tên này lên vì thấy tiền, anh bạn đang bị xét, lập tức để cái hộp đó vào đống đồ đã xét xong.


Cứ như thế mà chúng nó tiếp tục xét cho đến hết toàn bộ vật dụng và đồ dùng của tất cả các buồng giam mà chúng nhắm vào, nhưng chúng nó không tìm được cái máy thu thanh. Tuy không tìm được bằng chứng, nhưng chúng cũng bắt anh Lê Viết Hằng, anh Nguyễn Mây, với một anh phụ trách nghe radio, đưa đi đâu đó. Anh Trần Hàng thì an ninh trại bắt nhốt vào chỗ biệt giam trong trại Nam Hà B. Vài ngày sau đó, chúng nó loan tin anh Trần Hàng thắt cổ tự tử. Tin này làm cho tù chính trị chúng tôi, nhất là “anh em chúng tôi trong nhóm radio” nghi ngờ anh Hàng bị chúng nó giết. Một tuần sau nữa, tôi với anh Nguyễn Kim Tây trong một buổi lao động gần trại Nam Hà B, có anh tù hình sự cho biết thi thể anh Trần Hàng do anh ta với người bạn chôn cất. Tôi hẹn ngày mai làm ơn chỉ cái mộ anh Hàng, tôi sẽ tặng anh ta 100 gram bột ngọt mà người dân xã hội chủ nghĩa miền Bắc này gọi là “mì chính”.


Hôm sau khi đến chỗ lao động, như lời hứa, sau khi nhận quà của tôi, anh ta đưa tôi với anh Tây xuống khu rừng ngay dưới chân đồi, chỉ cái mộ còn rất mới ngay giữa đám cây rậm rạp, nếu anh ta không chỉ chưa chắc chúng tôi tìm được. Có tảng đá xanh khá lớn mà anh ta nói là làm dấu để chỉ cho tù chính trị chúng tôi. Đúng hay không thì không rõ, nhưng rõ ràng là có tảng đá bên cạnh. Sau đó, anh Lâm Minh Đức cũng bị bắt đưa lên xe, nhưng không rõ chúng nó đưa anh Đức đi đâu.


Xuất xứ của sự kiện chết người này là bản báo cáo viết tay của tên tù hình sự loại trộm cướp, nhưng tụi Công An cho nó núp dưới danh nghĩa “tù chính trị có án”. Hắn tên Chúc, nói là đưa từ trại khác đến trại Nam Hà A này giam chung với tù chính trị chúng tôi. Cứ vài tuần là tên Thắng “chuột” phụ trách An Ninh của trại, chuyển hắn sang buồng giam khác cũng là buồng giam tù chính trị, với lý do “tên Chúc quậy phá quá”. Nhưng đêm thứ bảy thì tên Chúc này bị chuyển đi trại khác hay đi đâu đó, rồi sáng chủ nhật là chúng nó lục soát khám xét chúng tôi như tường thuật ở đoạn trên. Vậy là tên Chúc do Công An đưa vào các buồng giam chúng tôi để tìm dấu vết cái máy thu thanh, báo cáo cho tụi nó và tụi nó lục soát chúng tôi. Do vậy mà chúng bắt đúng những anh liên quan trực tiếp trong vụ này. Thật ra chúng tôi không hiểu tên Chúc có phải là tù hình sự hay tù chính trị có án, hay là một tên Công An trá hình dưới tên tù chính trị có án. Nhưng cho dù tên Chúc có là loại gì đi nữa, thì hắn là loại báo cáo thật sự nguy hiểm đối với chúng tôi.


Anh Lâm Minh Đức, mãi mấy năm sau mới được chuyển trở lại trại Nam Hà A. Lúc ấy chúng tôi mới biết anh Đức bị chúng nó đưa lên giam ở trại Thanh Lãng (ngoại ô Hà Nội). Anh Đức cho tôi biết, cứ mỗi lần anh bị thẩm vấn, chúng nó đều hỏi tôi với anh Phạm Kim Qui có liên quan gì đến vụ này. Anh Đức một mực trả lời “không liên quan gì”. Anh Đức kết luận:


“Nếu mà em chỉ gật đầu sau câu hỏi của chúng nó, anh với anh Qui bị nó biệt giam tức khắc, và chưa biết chuyện gì xảy ra sau đó nữa”.


Trở lại chuyện nhờ đâu mà cái máy thu thanh thoát khỏi bàn tay vấy máu của mấy tên Công An trong đường tơ kẽ tóc? Dưới đây là tóm tắt những lời của nhiều anh em chúng tôi bàn luận rất sôi nổi, vì đã có một bạn bị giết chết và ba bạn bị bắt đưa đi thẩm vấn ở trại khác:


“Các anh theo đạo Thiên Chúa thì cho rằng, nếu không có ơn Trên ban phước lành, còn các anh theo Đạo Phật nói nếu không có Đức Phật độ trì, làm sao chúng ta tránh được cái nạn tai hết sức nguy hiểm vừa rồi?


“Thằng Thịnh khuỳnh có đôi mắt cú vọ với cái đầu gian ác, chắc rằng khi xuống sàn dưới hắn không quên cái hộp nhỏ mà trước khi leo lên sàn gác hắn đã trông thấy. Bây giờ không thấy cái hộp, ắt hẳn hắn phải hiểu có cái gì bên trong cái hộp nhưng hắn lờ đi. Chẳng phải hắn thương chúng tôi đâu, mà hắn thương bản thân của hắn đó. Bởi vì nếu như cái máy thu thanh đó bị Công An Hà Nội tịch thu, hắn phải hiểu là trách nhiệm thuộc về hắn vì hắn là Trưởng Toán trực trại. Biện pháp kỷ luật một mình hắn lãnh đủ, thậm chí có thể ra tòa nữa”.


Còn cái máy thu thanh “sống sót” sau cuộc đại ruồng bố, các bạn trẻ của chúng tôi đã “phân thây” và đem “an táng” biệt tông biệt tích.


Vài tháng sau đó, anh em chúng tôi được biết, tên quản giáo mua giùm cái may thu thanh đã bị lột áo Công An, tức bị sa thải. Một hôm, hắn thất tha thất thểu vào trại trong giờ trưa, các bạn trẻ gom góp một ít tiền và một bộ đồ (quần tây áo sơ mi) tặng hắn, xem như an ủi hắn hắn về quê sinh sống.


Phần tôi, sau khi anh Đức bị bắt, tôi ước tính có thể sẽ bị chúng nó bắt, nên viết sẳn hai cái thư và nhờ anh Nguyễn Tài Lâm:


“Nhờ anh giữ giùm để gởi về vợ tôi. Thư thứ nhất gởi sau khi tôi bị bắt khoảng hai tuần, còn thư thứ hai gởi sau thư thứ nhất một tháng. Nhớ gởi “chui” chớ đừng gởi theo kỳ thư sẽ bị lộ thì nguy. Sau đó tôi sẽ liệu”.


“Anh linh cảm gì mà chuẩn bị vậy?”


“Trong số các bạn bị bắt, chỉ cần một lời khai có tôi tham gia là chúng nó chộp cổ tôi ngay. Anh thấy đó, anh Đức bị bắt là do lời khai mà”.


“Anh cẩn thận nghe. Tụi nó mà chộp anh là nguy lắm chớ hổng vừa đâu”.


“Tôi tin là tụi trực trại với đám an ninh đang theo dõi tôi với anh Qui chớ chưa yên đâu”.


“Thư anh đề ngày chưa”.


“Chưa. Khi gởi thì anh đề ngày giùm tôi. Anh ráng gò cho nét con số giống nét chữ viết của tôi nghe. Tuyệt đối không để bạn nào biết nghe anh, kể cả anh Phước”.


“Anh không lo việc đó, bí mật là nghề của tôi mà”.


Sau cùng, anh Lâm trả thư lại tôi.


Trở lại công việc vá đường.


Sau ngày vợ con tôi rời nơi đây trở về Sài Gòn, Đội chúng tôi vẫn còn quanh quẩn gần nhà thăm nuôi do chúng tôi cố ý chậm chạp để còn ở quanh đây ngày nào tốt ngày ấy, vì các bạn tôi có thể gặp được vợ con như tôi vừa gặp. Vẫn là cái nắng đổ lửa, tôi với anh Tây vừa ngưng tay cuốc đá để lau mồ hôi trán, tôi nghe tiếng quen quen:


“Duy à Duy. Bác Hoa kìa con”.


Ngạc nhiên quá. Tôi quay nhìn, nhưng nắng chói chang mãi một lúc mới nhận ra chị Trần Kinh Điển. Anh Điển là một trong bốn Thiếu Úy mới tốt nghiệp khóa 5 Thủ Đức, chúng tôi cùng thuyên chuyển đến Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân đồn trú ngoại ô tỉnh lỵ Vĩnh Long hồi tháng 2 năm 1955. Tôi nói với anh Tây:


“Nhà ngươi trông chừng thằng quản giáo giùm ta nghe, chị ngồi trên thềm nhà thăm nuôi là bạn rất thân với vợ chồng ta khi phục vụ Tiểu Đoàn rồi Trung Đoàn đồn trú ở Kon Tum”.


Tôi cuốc dần sang lề đường bên phía nhà thăm nuôi:


“Chị Điển. Chị đến hồi nào vậy?”


“Tôi với thằng Duy đến đây hồi trưa”.


“Ảnh Điển ở trại nào vậy chị?”


“Trại B. Anh biết trại B ở đâu không?”


“Khỏi trại A khoảng vài cây số hà chị. Năm ngoái tôi có gặp anh Chươu (Nguyễn Ngọc Chươu) ở đây, nhưng ảnh chuyển trại khác rồi. Thôi, tôi lại đằng kia vì tên Công An đang nhìn tôi kìa. Chào chị”.


Tôi lại chỗ bếp của anh Nguyện giả vờ uống nước để hi vọng gặp anh Điển, người bạn rất thân. Khi trông thấy anh ấy theo tên Công An hướng dẫn thăm nuôi nhưng không cách nào đến gần được, chỉ vẫy tay vừa chào gặp gỡ vừa chào chia tay, vì đôi mắt tên võ trang đang nhìn chúngtôi.


Những ngày sau đó, Đội chúng tôi chuyển dần ra hướng Ba Sao. Cái hôm cách nhà thăm nuôi khoảng năm trăm thước, hai bên là rừng chồi, bên phải có cái đường mương cạn, sâu khoảng ngang lưng quần, đám cỏ sát đường cao khuất đầu người lại oằn xuống gần như phủ đường mương cạn, rất thuận lợi cho chúng tôi gởi “thư chui”.


Hôm đó trong số các chị đang thăm thân nhân tù chính trị trong nhà thăm nuôi, không có chị nào mà chúng tôi quen biết, nên chúng tôi sẽ gởi cho bất cứ chị nào ra về. Chúng tôi “dàn trận” như sau: Anh Phụng cuốc sát lề đường bên phía có đường mương cạn. Anh Tây, anh Huế, anh Phước, đứng cuốc hàng ngang che tầm nhìn của tên quản giáo từ nhà của đám Công An phụ trách nhà thăm nuôi. Anh Hậu và ba anh nữa đứng cuốc che tầm nhìn của tên võ trang từ cái chòi của hình sự phụ trách dọn dẹp nhà thăm nuôi.Các bạn trong Đội còn lại, đứng cuốc tản mác trên mặt đường, nhưng cùng quan sát xem có tên Công An nào trên đường đi thì báo động bằng cách gọi tên tôi là tôi biết.


Khoảng 10 giờ, có hai chị trên tay xách giỏ rời nhà thăm nuôi đi bộ ra hướng chợ Ba Sao, lúc ấy tôi đang ngồi dưới đường mương cạn:


“Anh Phụng ơi! Anh đến gần chị mặc áo xanh, nói với Chỉ làm ơn chuyển cái giỏ sang tay phải và đi sát lề đường, tôi sẽ từ dưới đường mương chồm lên để xấp thư đã cột lại cẩn thận, nhờ Chỉ mang về Sài Gòn bỏ thùng thư giùm nghe anh Phụng”.


“Được rồi, Anh để tôi”.


Khi Chị ấy ngang vừa tầm tay, tôi vừa để xấp thư vừa nói:


“Chị làm ơn giúp giùm chúng tôi. Rất cám ơn Chị. Chúc Chị bình an”.


Khỏi chúng tôi một quảng, Chị ấy vừa đi vừa lấy xấp thư nhét sâu bên trong giỏ, và cuối cùng hai Chị khuất dưới dốc đường. Chúng tôi cùng cười vì vừa thực hiện xong “một đoạn phim cảm giác mạnh”. Anh Cao Văn Phước:


”Thằng cha Hoa chơi trò ú tim nguy hiểm quá!”


Anh Đặng Văn Hậu:


“Ra tù, cử thằng cha Hoa làm đạo diễn phim được à!”


Thật ra chúng tôi chỉ là những người trong cùng hoàn cảnh, muốn gởi thư về gia đình đế nói những việc ở trại tập trung cũng như bàn đến những việc nhà mà thư gởi chánh thức ngang qua kiểm soát của đám Công An không thể viết được. Đó là một trong những cách mà chúng tôi tùy lúc tùy nơi thực hiện. Mỗi lần như vậy, thường là gởi được vài chục cái thư chớ đâu ít. Chúng tôi vừa làm được việc cho mình, cho bạn, vì chuyển đạt tin tức về nhà cũng như nhận lại tin tức từ gia đình là nhu cầu hết sức cần thiết đối với chúng tôi.


Rồi Đội chúng tôi sửa đường ra đến gần lò vôi của trại, trên đường ra chợ Ba Sao. Điểm nấu nước của Đội, anh Nguyện chọn cạnh chân núi trên đầu dốc, còn nhà hình sự làm lò vôi ở dưới đầu dốc.


Ngay ngày thứ nhì, xe của trại từ Phủ Lý trở về và vì lên dốc nên xe chạy chậm lại, nhờ đó mà anh Nguyễn Bá Hưng (Đại Tá, Bộ Tổng Tham Mưu) trông thấy vợ và con anh ngồi trên xe. Ngược lại, có lẽ chị Hưng thấy có Đội tù đang sửa đường nên nhìn xuống và trông thấy anh Hưng. Thế là tối đến, nhiều bạn viết thư để chiều mai khi chị Hưng đi bộ ra Ba Sao, chúng tôi sẽ tìm cách trao xấp “thư chui” nhờ chị ấy mang về Sài Gòn gởi giùm. Tôi nói với anh Hưng:


“Sáng mai khi gặp chị, anh dặn chị sau khi thấy Đội đi lao động buổi chiều ngang nhà thăm nuôi một lúc thì chị với cháu hãy ra về. Còn anh sau khi thăm buổi sáng thì buổi chiều nên theo Đội đi làm để tìm cách anh chị gặp nhau tại chỗ làm”.


“Anh liệu có được không?” Anh Hưng hỏi tôi.


“Tôi chưa biết bằng cách nào, nhưng tôi cố gắng thuyết phục thằng võ trang thử xem. Anh cũng nên có tí quà cho nó, như gói thuốc đầu lọc hay thứ gì đó gọn gọn một chút để nó cho vào túi, hi vọng là anh chị được gặp nhau. Tôi nghĩ vậy là vì thằng Hải võ trang mới đến Đội, nhưng trước đây hắn là một trong hai thằng gởi thư chui của chúng mình đó”.


Anh Hưng vẫn e ngại: “Mình cần xin thằng Vượng hông anh?”


“Tôi thấy xin hắn khó lắm. Anh có để ý là khi giao việc cho chúng mình xong, hắn xuống nhà hình sự ở lò vôi uống trà, mà ở đó không nhìn thấy Đội. Tôi nghĩ, xin thằng võ trang có thể dễ hơn”.


Như ước tính, sau khi thằng võ trang nhận gói thuốc lá đầu lọc do con gái anh Hưng đưa, hắn đồng ý cho anh chị Hưng gặp nhau ở chân núi để tránh những cặp mắt của những tên Công An đi trên đường. Con gái anh Hưng khoảng 10 tuổi, tôi bảo nó:


“Con đến bới đống tro bên cạnh bếp, lấy xấp thư mang về Sài Gòn gởi giùm các bác các chú nghe con”.


“Dạ”.


Con bé nhanh tay cầm xấp thư và đang phủi tro bụi bên ngoài túi ni-lông, tôi nói:


“Nhanh lên con. Có Công An đang lên dốc kìa”.


Trong một động tác thật nhanh, một tay giở cái nón rộng vành lên, tay kia nhét xấp thư lên đầu, vội vàng chụp cái nón xuống. Con bé nhanh chân mà lại nhanh tay nữa. Sau khi anh chị Hưng gặp nhau trong đám cây sát chân núi, chị Hưng và con gái của chị thản nhiên tiếp tục đi bộ ra Ba Sao, đón xe ra Phủ Lý, theo xe lửa lên Hà Nội, sau đó trở về Sài Gòn.


Sang ngày thứ ba, Đội dời xuống lò vôi. Đoạn đường này nhiều lỗ trũng quá. Chúng tôi phải mượn quang gánh để gánh đá dăm từ trong núi ra lấp. Trong giờ giải lao buổi sáng, thằng Vượng quản giáo ngồi trên miệng lò vôi:


“Anh Hoa, lên đây tôi hỏi”.


Anh Đặng Văn Hậu nói khẽ:


“Có chuyện đấy. Trông cái mặt nó hầm hầm kia kìa”.


Tôi leo lên lò vôi. Lò đang nun đá thành vôi, sức nóng thoát ra các lỗ thông thoáng rất mạnh, tôi phải tránh né mãi mới đến chỗ hắn ngồi:


“Chào cán bộ”.


“Hôm nọ anh chống đối lệnh ông Huy (Trại Trưởng Nam Hà A) phải không?”


“Ông trại trưởng bảo tôi đóng vai trại viên ngồi đọc sách ở phòng văn hóa, nếu phái đoàn ngoại quốc có hỏi thì trả lời. Tôi trả lời ông Trại Trưởng là tôi không làm được việc đó, vì tôi không quen nói dối, mà tôi nói thật thì trại kỷ luật tôi. Cả hai điều, nói dối theo trại thì tôi không muốn mà nói theo sự thật thì trại không muốn, tôi đều không làm được. Lúc ấy ông Huy đập mạnh trên mặt bàn làm bình mực văng xuống nền gạch bể ra nhiều miềng, mực văng tung tóe, rồi ổng hét to: “Đi ngay cho khuất mắt tôi”. Ổng liền gọi cán bộ Lực dắt tôi ra Đội đi lao động ngay. Báo cáo cán bộ, chuyện chỉ có thế”.


“Anh có biết ông Huy làm căng với tôi thế nào không?”


“Chuyện của tôi sao lại liên quan đến cán bộ?”


“Ông ấy bảo tôi tại sao cho anh làm Đội Trưởng. Ông Phượng (cán bộ kế hoạch) nói các anh trong Đội tín nhiệm anh. Tôi với ông Phượng nói mãi, ông ấy mới im đấy”.


“Vậy thì cán bộ cho tôi làm đội viên đi. Ở vị trí Đội Trưởng, tôi thường xuyên đương đầu với những việc phức tạp. Tôi vừa giữ tình anh em chúng tôi, vừa giữ cách xử sự giữa chúng tôi với cán bộ, lẫn cán bộ trực trại. Có lúc đau đầu lắm cán bộ”.


“Anh có thấy một số anh được về sớm là do không bao giờ chống lại lệnh của trại không. Tuy có nhục giữa mấy anh với nhau, nhưng được về sớm. Anh không muốn à?”


“Tôi không nghĩ như vậy cán bộ. Chúng tôi đã vào tù tập thể, thì ra tù cũng có tính cách tập thể là tốt nhất. Về riêng lẽ, không phải là điều mà tôi mong đợi”.


“Anh không thương vợ con anh à?”


“Thương hay không thương, tôi nghĩ là cán bộ đã nhận biết điều đó khi tôi năn nỉ cán bộ cho tôi gặp vợ con tôi chỉ trong chốc lát. Chính vì rất nặng tình gia đình nên tôi mới vào đây, và tôi nhất quyết, khi ra tù tôi vẫn là tôi chớ không phải là ai khác”.


“Thôi, bỏ chuyện đó đi. Nói chuyện với anh một lúc tôi muốn nổi nóng lên rồi, huống chi ông Huy là Trại Trưởng. Sang chuyện khác”.


Bỗng dưng hắn xuống giọng:


“Chuyện riêng tư thôi. Anh có đồ đăng ký không? Tôi có thể giúp anh rút ra được”.


“Đang nói chuyện căng thẳng thần kinh, bỗng dưng cán bộ chuyển sang chuyện này làm tôi hơi đột ngột. Vâng, tôi có cái đồng hồ hiệu Longines (Thụy Sĩ), và chiếc nhẫn 1 chỉ. Nếu cán bộ rút được, cán bộ giữ lại cái đồng hồ, tôi chỉ cần chiếc nhẫn thôi”.


“Để tôi gặp cán bộ đăng ký xem sao”.


Một tuần sau, hắn đưa tôi chiếc nhẫn. Thật ra thì cái đồng hồ bị gãy cái chốt vặn nên nó lên meo xanh lè mà tôi đã thấy lúc bàn giao khi từ Yên Bái chuyển đến trại này. Nhận lại chiếc nhẫn, tôi rạch một đường nhỏ bên trong cái túi da dùng đựng kem đánh răng, bàn chải, và cạo râu, dùng giấy keo dán chiếc nhẫn dính chặt vào đó, rồi dán lằn rạch đó lại. Tôi chọn ngay cái lằn xếp để đám Công An khó phát giác. Còn tiền mang lén vào trại, tôi cuộn lại cho vào vòng tròn cái hộp sữa bột do Nga sản xuất, có “cái lợi” trên miệng rồi cho sữa bột vào nên có phần yên tâm với “mớ tài sản chìm” đó.


Xin nói thêm rằng, việc rút hai món đồ của tôi mà tôi không ký giấy tờ gì cả, vậy liệu họ có muốn lấy món gì của ai thì họ có tự ý lấy theo cách như vậy hay không?


Trong hai tuần lễ sau đó vẫn tiếp tục sửa đoạn đường này, có thêm chị Đặng Văn Hậu và chị Ngô Văn Huế đến thăm hai anh. Vẫn gặp nhau lén lút trên đường trở ra Ba Sao, ngoài buổi thăm chánh thức tại nhà thăm nuôi.


Chuyện thật tình cờ. Buổi chiều, Đội trên đường về trại. Khi gần đến nhà thăm nuôi, một chị lảng vảng bên đường liền sáp vô Đội và thật nhanh khi nhét vào tay anh Nguyễn Quang Chiễu chiếc nhẫn nhờ trao lại một vị linh mục, nhưng anh Chiểu hoảng quá nên buông tay làm chiếc nhẫn rơi xuống đường, vì anh sợ thằng võ trang thấy. Tôi nhìn thằng võ trang đi bên kia lề đường có vẻ như hắn không hay biết gì hết, tôi móc khăn tay trong túi áo rồi buông xuống đường như vô tình làm rớt. Tôi dừng lại, khom xuống lấy cái khăn và chụp lên chiếc nhẫn mang vào trại đưa cho anh Chiễu. Nhanh tay lẹ mắt thường khi được việc. Có lẽ tôi chưa bị bắt tại trận lần nào nên “chưa sợ lắm” thì phải.


Ba tôi đến thăm.


Từ đầu năm 1981, Đội chúng tôi lại xuống “cánh đồng chiêm”, nhưng thay vì cuốc đất trồng lúa thì đánh luống trồng rau muống. Cũng từ thời gian này, mỗi sáng các Đội không phải ra sân ngồi chồm hổm chờ lệnh xuất trại lao động như trước, mà quản giáo vào nhận Đội ngay trong khuôn viên buồng giam ra đến cổng mới báo cáo xuất trại. Nguyên nhân vì gần đây có những vụ lộn xộn trong lúc ngồi chờ xuất trại, do một số bạn trẻ Đội 20 công khai chống đối trại, đồng thời cũng chống lại những Đội không nghe theo các bạn ấy nữa. Trẻ là vậy mà, chống mà không cần tính toán lúc nào nên lúc nào không nên, và chống đến mức nào dừng lại để tránh biệt giam. Sau đó tất cả các bạn trẻ Đội 20 bị chúng nó chuyển vô trại Nam Hà B, lại đưa ra Trại Mễ ngoài Phủ Lý biệt giam ở đó. (Trong số đó có chú Thành, Thiếu Úy Biệt Động Quân, năm 2006 định cư tại San Antonio, Texas. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau nhắc lại chuyện trong tù, và nói chuyện hôm nay).


Một sáng, trong khi chờ quản giáo vào nhận xuất trại, con bé Công An tên Hoa đã thay con bé Kim, vào gọi tôi thăm nuôi. Tôi áng chừng Ba tôi ra thăm vì thư gần đây vợ tôi cho biết là Ba tôi sẽ ra. Con bé này vừa hơn 20 tuổi, mới nhận công tác này vài tuần là có biệt danh “Hoa đanh”. Theo lời thuật của một bạn chứng kiến tại nhà thăm nuôi, chuyện như thế này: “Cô ta hối thúc tù hình sự thu xếp nhanh vào trại, bà mẹ của anh ta nài nỉ:


“Cô cho cháu nán lại ăn xong chén cơm là cháu vào ngay. Lâu lắm cũng độ 10 phút thôi”.


“Tôi bảo đi vào là đi vào. Hết giờ rồi”.


“Thì tôi có nói còn giờ hết giờ gì đâu, chỉ xin cô cho cháu ăn chén cơm thôi mà”.


“Tôi bảo vào là vào, không có cơm với nước gì cả”.


Bà già nổi sùng lên, đứng dạng hai chân ra, hai tay chống nạnh, và nghênh chiến:


“Này. Bà nói cho mà biết. Đanh đá vừa vừa để còn kiếm chồng chứ quá quắc cho lắm chẳng có thằng nào nó mó vào đâu, nghe chưa”.


Thấy bà già “phản công” dữ dội, con bé làm thinh luôn. Nhưng trên đường vào trại, anh tù hình sự bị con bé “pháo kích tơi bời” giống như “thua me gở bài cào” vậy. Từ đó, con bé hướng dẫn thăm nuôi được tù chính trị chúng tôi lẫn tù hình sự tặng thưởng biệt danh “Hoa đanh (đá)”. Trên đường ra nhà thăm nuôi, tôi hỏi con bé Hoa đanh:


“Ai thăm tôi vậy cán bộ?”


“Công An cái” trả lời cộc lốc: “Đến nơi thì biết”.


Đúng là con gái xã hội chủ nghĩa miền Bắc ăn nói cụt ngủn, thật khó ưa. Mà nghĩ cho cùng, nếu nó dễ ưa thì nó đâu phải cộng sản phải không quí vị quí bạn?


Lên quá đầu dốc, nhìn thấy Ba tôi đứng ở hàng hiên nhà thăm nuôi. Vừa đến cửa là tôi chạy đến ôm Ba tôi:


“Má khỏe hả Ba?”


Tiếng con Hoa đanh:


“Anh làm cái gì thế? Tôi chưa cho phép mà. Tất cả vào trong nhà ngay”.


Đúng là cái đám cộng sản “đực cái như nhau”, dường như chúng nó từ dưới đất chun lên chớ không do cha mẹ chúng nó sanh ra, nên không hiểu thế nào là tình cha con mẹ con gì hết. Tức lắm, nhưng vẫn phải nghe theo nó. Tôi nắm tay Ba tôi cùng vào. Lại tiếng con Hoa đanh:


“Các anh được gặp gia đình trong hai tiếng đồng hồ. Nghe rõ chưa?”


Có vài tiếng trả lời “rõ”. Ba tôi kề tai tôi:


“Má con khỏe. Má con đòi đi theo nhưng Ba hổng cho vì Má con không khỏe bằng Ba”.


“Ba đến hồi nào vậy?”


“Ba theo xe của vợ chồng con bé Năm (bà con cô cậu với tôi) chở gạo từ Sài Gòn ra Hà Nội. Nó đưa Ba đến đây hồi sáng, nhưng vì nó để tóc dài nên họ không cho gặp con. Nó lên Hà Nội rồi, Ba hẹn địa điểm gặp nó ở Hà Nội chiều ngày mốt. Con coi hình thằng Trung với thằng Tín đi, tụi nó tới Houston (Hoa Kỳ) hồi tháng trước (12/1980). Đứa nào đứa nấy cao hơn hai chú nó rồi con”.


Trung là con thứ nhất (1959) và Tín là con thứ ba (1963) của chúng tôi, nay thì hai anh em nó cao bằng nhau.


“Chút nữa Ba quên. Thằng Hùng (1966) vượt biển đến Phi Luật Tân rồi con. Tháng tới (02/1981) có thể nó đến Houston gặp hai anh nó. Kỳ này vợ con không ra thăm con vì đang lo cho con Vân với thằng Nghĩa vượt biển. Thằng Nghĩa mới 10 tuổi mà nó đòi đi theo con Vân (20 tuổi) để qua đó đi học, nên vợ con mới bấm bụng cho nó đi”.


Tuyết Vân (1961) là con thứ nhì, Hùng là con thứ tư (1966), và Nghĩa (1971) là con út. Vợ chồng tôi có bốn con trai và một con gái. Hai đứa vượt biển đợt 1, một đứa vượt biển đợt 2, và sắp đến đây là hai đứa chót.


“Lần trước, Con có bảo vợ con thu xếp đi với con Vân và thằng Nghĩa để chăm sóc mấy đứa nó. Thỉnh thoảng gởi quà trực tiếp về con được rồi. Các con của con sang được Hoa Kỳ là con sung sướng lắm Ba. Con rất lo về học hành và tương lai của mấy đứa nó, chớ bản thân con không sao đâu. Tuy con chưa có tin tức gì, nhưng con rất tin vào sự can thiệp của Hoa Kỳ, có điều là con chưa suy đoán được sẽ xảy ra vào thời gian nào”.


“Ba nghe vợ con có tính đi theo con Vân, nhưng lại sợ không ai thăm nuôi con. Ba không chắc lắm, nhưng theo Ba thì vợ con không đi đâu, vì sợ con bệnh hoạn không ai lo. Còn cái việc Mỹ có lãnh tụi con hay không thì ở Sài Gòn, người này nói người kia nói. Ba nghe vậy hay vậy chớ không biết gì thêm”.


“Mấy em con có gởi thư về hông Ba?” Các em tôi là vợ chồng Phạm Thu Nguyệt di tản tháng 4 năm 1975, và vợ chồng Phạm Phi Long với Phạm Bá Sáng vượt biển năm 1976.


“Có con. Nhưng tụi nó bận bịu với công ăn việc làm, thỉnh thoảng có rảnh nó mới viết thư được”. Ngưng một lúc, Ba tôi nói tiếp:


“Hồi sáng, xe đậu ngay chỗ lính gác để xuống quà, Ba để cái áo ấm dài tới đầu gối ngay chỗ chú Công An ngồi, vậy mà khi xuống quà xong thì cái áo biến mất. Ba hỏi chú Công An thì chú đó nói không thấy. Ba tưởng chỉ có mấy chú tù hình sự mới ăn cắp, ai dè Công An còn ăn cắp công khai nữa con. Tệ quá. Đúng là quân cộng sản”.


Tôi nói để Ba tôi vừa đủ nghe:


“Thức ăn của anh em tù chính trị tụi con để bên ngoài buồng giam, ban đêm cái đám Công An canh gác trại vào ăn cắp dữ lắm Ba. Bởi vì những thứ đó họ không cho mang vào bên trong buồng giam”.


Sau đó, Ba tôi kể nhiều gia đình cho con vượt biển, mỗi gia đình có mỗi hoàn cảnh bi đát khác nhau, chung qui chỉ vì sự cai trị tàn bạo của cộng sản Việt Nam. Trong cùng cư xá Bắc Hải chúng tôi, có một gia đình 5 con cho vượt biển một lần và hoàn toàn biệt tông biệt tích. Năm di ảnh xếp hàng ngang trên bàn thờ! Chuyện kể đang diễn tiến thì giọng khó ưa của con Hoa đanh:


“Các anh chuẩn bị vào trại”.


“Báo cáo cán bộ, tôi muốn xin ra thăm Ba tôi lần nữa được không cán bộ? Mai chủ nhật mà?”


“Thăm ông cụ chắc được, nhưng tôi phải trình lãnh đạo đã. Các anh đi vào”.


Tại nhà trực trại, phải nộp hình nộp thư trước. Xem xong xấp hình, Thịnh khuỳnh chìa ra nụ cười rất đểu:


“Ăn bơ sữa nhiều nên béo quá hả?”.


“Ở Mỹ bơ sữa dư dùng mà cán bộ”.


“Bỏ tổ quốc để bám đuôi Mỹ phải không?”


“Không phải bỏ tổ quốc đâu cán bộ, con tôi chỉ bỏ nơi cấm học hành thôi cán bộ”.


“Anh xuyên tạc chế độ đấy hả?”


“Không phải đâu cán bộ. Tôi chỉ nói sự thật thôi. Bộ Giáo Dục đâu có cho các con chúng tôi vào đại học”.


“Con các anh thi không đổ chứ nhà nước nào cấm”.


“Các con chúng tôi bị cấm thi bằng cách xếp loại về thành phần chính trị. Con chúng tôi vào loại 12/13 để ngăn chận vào đại học, dù tất cả các điểm khác rất cao”.


“Anh định nói xấu Bộ Giáo Dục phải không?”


“Không phải đâu cán bộ. Dựng chuyện để nói hoặc nói không đúng sự thật mới là nói xấu, còn nảy giờ tôi nói thật thì đâu phải nói xấu cán bộ”.


Hai chữ cán bộ tôi nói chậm và kéo dài một chút


“Anh lý sự lắm. Anh nhớ là tôi phụ trách trại này đấy nhé!”


“Báo cáo cán bộ. Đâu phải mình tôi nhớ, mà tôi nghĩ là cả ngàn tù trong trại này đều biết cán bộ phụ trách trực trại mà cán bộ”.


Hắn không nói gì với tôi nữa, nhưng hắn lục toàn bộ những gì mà Ba tôi vừa cho. Có thể nói hắn là tên Công An duy nhất trong đám trực trại là chúng tôi chưa “xỏ mũi” được. Xin hiểu “xỏ mũi” có nghĩa là trong một mức độ nào đó, họ không còn hoạnh hẹ chúng tôi như trước nữa.


Hôm sau tôi được gặp Ba tôi 2 tiếng đồng hồ nữa. Trong ngần ấy thời gian, Ba tôi thuật lại cái chuyện chiều hôm qua Ba tôi xuống khu lò vôi tắm, bị một tên tù hình sự ở đó chận cửa nhà tắm trong khi hai đứa khác lục soát tất cả túi áo túi quần lấy hết tiền và cái đồng hồ đeo tay. Ngay sau đó, Ba tôi vào lò vôi báo cho tên Công An ngồi bên trong. Tên này bảo tên Công An khác đưa Ba tôi về nhà thăm nuôi và hứa sẽ truy tìm những gì mà Ba tôi báo là bị trấn lột. Đến sáng nay, Công An chỉ đưa lại Ba tôi cái đồng hồ và 100 đồng. Thôi thì lấy lại được ngần ấy cũng là may rồi.


Chiều hôm ấy, Ba tôi lên Hà Nội để về Sài Gòn.


Bốn vị cựu Tướng đến trại Nam Hà.


Thời tiết đang vào Đông. Bất ngờ có 4 vị cựu Tướng Lãnh từ trại tập trung Hà Tây tỉnh Hà Sơn Bình chuyển đến trại Nam Hà, nhốt chung với chúng tôi. Đó là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang. Thiếu Tướng Đảo và Chuẩn Tướng Sang vào buồng giam số 1 (tôi ở đây) còn hai vị kia vào buồng giam số 2. Qua tin tức của hai vị Tướng, chúng tôi mới biết 29 vị Tướng Lãnh từ Liên Trại 1 ở Yên Bái, đã chuyển xuống trại tập trung Hà Tây cùng ngày với chúng tôi chuyển đến trại Nam Hà này.


Từ hôm 4 trong số 29 vị cựu Tướng Lãnh chuyển đến trại này, lại phát sinh một số thắc mắc từ các bạn tù trẻ. Xin nói qua một chút về các bạn trẻ bị giam chung trong các buồng giam trại Nam Hà A. Đa số trong số các bạn này trong tổ chức “Phục Quốc” sau ngày 30/4/1975. Tổ chức này do bọn tình báo cộng sản tạo ra với cái tên có sức thu hút nhiều người không khuất phục kẻ thắng trận. Họ phong cấp bậc chức vụ cho những người ghi tên tham gia, cấp phát thẻ của tổ chức nữa. Sau khi nắm được đầy đủ họ tên và địa chỉ, thế là trong một đêm chúng nó bắt tất cả những ai là thành viên của “Phục Quốc”. Đa số trong số thành viên Phục Quốc bị bắt là các bạn trẻ, như: Nguyễn Minh Chí, Đinh Vượng, Đặng Hữu Nam, Nguyễn văn Tiếng, Nguyễn Văn Thuận, ..v..v... Chính mấy chú trẻ này thắc mắc “tại sao có gần 30 vị cựu Tướng Lãnh ở trại Hà Tây mà chỉ có 4 vị lại chuyển về trại này?” Và “liệu mấy vị này có phải đến đây để làm cò mồi tiếp các phái đoàn đến thăm trại tù không?”


Thấy cựu Chuẩn Tướng Sang có vẻ buồn dù vốn dĩ ông là người ít nói, trầm tỉnh, tôi gợi chuyện:


“Thưa Anh, trong hoàn cảnh chúng mình, nhận thức của vài anh em chưa được sắc bén về một số vấn đề trong cuộc sống, nên thường kết luận khi chưa nắm được những yếu tố liên quan. Anh có thấy như vậy không?”


Ông chậm rãi:


“Tôi đồng ý với anh. Đánh giá con người mà chỉ nhìn bên ngoài, quả là phiến diện”.


Lại có một số bạn cho là cựu Thiếu Tướng Lê Minh Đảo “ủng hộ” cộng sản khi ông vừa đánh đàn vừa hát cho nhóm quay phim từ Bộ Công An ở Hà Nội đến đây thu hình. Tất nhiên chúng nó thu hình đoạn phim này để “quảng cáo” về cái gọi là “khoan hồng nhân đạo” của chúng, cho dù chẳng có giấy tờ gì nói như vậy nhưng với cộng sản nhất là Công An sử dụng tất cả mọi hình thức để phục vụ mục đích chính trị của chúng, Về trường hợp này, nhận xét của tôi có phần khác. Tôi quen biết với anh Đảo từ năm 1962 khi tôi giữ chức Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, lúc ấy anh Đảo là Sĩ Quan Tùy Viên của Thiếu Tướng Lê Văn Kim. Anh là người rất say mê âm nhạc. Khi anh đứng trên sân khấu với cây guitare trong tay, trông anh chẳng khác người nghệ sĩ chuyên nghiệp bao nhiêu. Lần sau cùng tôi được thưởng thức tiếng đàn của anh là hôm Sư Đoàn 25 Bộ Binh kỷ niệm ngày thành lập Sư Đoàn tại căn cứ Củ Chi, anh đệm guitare cho ca sĩ Phương Hồng Quế hát. Bây giờ, cũng dáng điệu như vậy ngay trong khuôn viên buồng giam số 1 (trại Nam Hà) dưới ống kính của Bộ Công An, và một vài anh em chỉ trích phong cách của anh như là sự ủng hộ cộng sản, nhưng tôi cho rằng niềm say mê âm thanh nốt nhạc của anh vẫn như lúc nào thôi.


Một buổi chiều, anh Đảo xách cây đàn ra góc sân lớn gần cổng ra vào trại dạo những khúc nhạc giật gân, khá đông anh em chúng tôi đứng bao quanh, tên trực trại -Trung Sĩ Lực- trông thấy. Hắn chạy vào hét lớn:


“Các anh giải tán. Vào buồng ngay”.


Một anh lên tiếng:


“Anh em chúng tôi chơi một chút mà cán bộ”.


“Không được. Tôi nói giải tán là giải tán. Anh Đảo về buồng ngay”.


“Giải tán thì giải tán chớ có gì mà cán bộ la dữ vậy”.


Hắn trở ra phòng trực trại, vội vàng đánh kẻng hiệu lệnh bảo tù vào buồng giam khóa lại. Mỗi lần vào buồng giam thì chúng tôi ngồi hai hàng dọc, hàng đầu ngay thềm cửa và hàng cuối tận tường rào, trông như “bầy vịt” mỗi chiều chủ lùa vào chuồng, chỉ khác một chút là chúng tôi ngồi thẳng hàng ngang dọc. Chiều nay, buồng giam số 1 chúng tôi đóng cửa sau cùng, cho nên ngồi chờ khá lâu. Tên Lực bước vào khuôn viên buồng giam với cái mặt hầm hầm, hai tay chắp sau lưng với xâu chìa khóa hằng mấy chục cái. Anh Buồng Trưởng chờ nó vào vị trí để báo cáo như thường lệ. Nhưng không, hắn đứng giữa sân một lúc rồi phát lời chửi mắng:


“Đừng có ương ngạnh mà chống cải tạo, đừng làm cái việc lấy nạng chống trời. Thằng nào, thằng nào không chấp hành nội qui, thằng nào chống cải tạo, giỏi thì đứng lên coi tao dám gông đầu cho rục xương không”.


Hắn im lặng nhưng đôi mắt cú vọ của hắn lướt từ trước đến sau rồi từ sau đến trước, và ghìm vào anh Đảo (ngồi gần hàng đầu). Thời gian lúc ấy như đọng lại, và khoảng không gian lúc ấy thật yên ắng, nhưng là cái yên ắng trong nghẹt thở. Hắn gằn giọng:


“Sao. Không thằng nào dám đứng dậy à? Đứng dậy đi, tao trị cho biết tay”.


Anh em chúng tôi vẫn im lặng. Cái không khí lắng đọng đó kéo dài thêm một lúc, anh Buồng Trưởng nhìn sang hắn, nhỏ nhẹ:


“Báo cáo cán bộ, có thể cho anh em vào được không?”


“Được”.


Cái cung cách của Công An trại tập trung này ăn nói cụt ngủn vậy đó. Anh Buồng Trưởng Nguyễn Đức Khoái:


“Các anh đứng dậy đi.”


Khi chúng tôi đứng dậy, cứ như bài bản mỗi chiều, anh Buồng Trưởng dỏng dạc:


“Buồng 1… Nghiêm. Báo cáo cán bộ, Buồng 1 tổng số 51. Đủ. Chờ lệnh cán bộ”.


“Được. Cho vào.”


“Đằng trước … Bước”.


Thế rồi sau lưng vẫn tiếng rít của thanh sắt khi kéo mạnh, vẫn tiếng crắc của ống khóa khi bấm vào. Đó là những âm thanh mà chúng tôi không bao giờ quên! Vào buồng giam, tôi nói trống không như để phá tan cái không khí yên ắng một cách ngột ngạt:


“Các anh ơi! Từ giờ phút này đến sáng mai là chúng ta được tự do trong cái cõi không gian bé tí của mình rồi”.


Tôi nghĩ: Lúc bị tên Lực quát mắng xỉa xói, anh Đảo nên đứng dậy một cách mạnh mẽ nhận trách nhiệm cho phải lẽ với anh em. Đó cũng là cách chứng tỏ khí khái của vị Tướng quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Có quá lắm thì tên Lực hằn học chửi mắng anh chớ đâu phải nói gông là gông được.


Có phải bị mắng bị chửi riết rồi quen chăng? Không! Không bao giờ quên chớ đừng nói gì quen quí vị quí bạn à! Cái đau cái uất ức do bị nhục mạ, tuy không hằn lên cơ thể như cái đau khi bị hành hạ bằng tay chân gậy gộc, nhưng nó hằn sâu trong khối óc con tim, mà khi đã hằn vào nơi đó thì không thể nào quên và cũng không bao giờ quên được!


Trồng rau.


Đội chúng tôi xuống “cánh đồng chiêm” phụ trách trồng rau. Cũng anh em chúng tôi đào ao nuôi cá, rồi dùng đất đào lên đấp thành một khu tương đối cao và bằng phẳng để trồng rau. Ngày đi làm hai buổi sáng chiều chớ không đi “thông tầm” từ sáng đến xế chiều mới về. Lúc ấy cũng giữa mùa rau muống nên chúng tôi trồng bằng cọng rau muống chớ không trồng bằng hột, vì trồng bằng cọng thì 4 tuần là ăn được trong khi trồng bằng hột phải 6 tuần. Phân bón gồm phân người, nước tiểu, và phân chuồng (trâu bò). Mỗi khi cắt rau, gánh về giao cho bếp của Công An và bếp trong trại. Rõ ràng là anh em tù chính trị chúng tôi, ăn những cọng rau lá rau do phân và nước tiểu của chúng tôi mà vươn lên! Vì vậy mà mỗi người chúng tôi tự trồng rau trên bất cứ khoảnh đất trống nào dù chỉ một hai thước rộng mà Công An gọi là đầu thừa đuôi thẹo, và chúng tôi ăn những cọng rau lá rau đó tuy ít nhưng sạch.


Lúc đầu chúng tôi cũng trồng những thứ rau đang trồng trong luống, nhưng vì đám Công An biết là những đám rau bé tí do chúng tôi trồng là vệ sinh nên chúng nó xin hoài. Anh Nguyễn Kim Tây xin hột “khổ qua” từ cô em gái của anh để trồng, vì đám Công An không biết ăn “khổ qua”. Anh cho tôi một nhúm hột, chúng tôi cùng trồng. Đúng là đám Công An không ăn được chất đắng của “khổ qua”, đó là thòi gian đầu nhưng sau khi ăn thử vài lần, trời đất ơi chúng nó xin hoài và khen “khổ qua” dồn thịt ngon lắm. Chúng tôi phải trồng đằng sau những lùm bụi dọc bờ mương để che giấu chúng nó.


Hằng ngày Đội chúng tôi đi từ trại trên triền núi xuống cánh đồng chiêm như cái hồ rộng lớn ra đến Ba Sao. Dọc triền núi toàn đá tảng có nhiều hốc kín đáo, làm tôi chợt nhớ đến bài học về “hộp thư chết” trong trường hợp liên lạc bí mật. Thế là tôi bàn với anh Dương Công Liêm về một “hộp thư chết” nối vào tù hình sự chuyển ra nhà thăm nuôi nhờ các chị mang về Sài Gòn giùm. Vấn đề là phải móc nối với tù hình sự phụ trách vệ sinh nhà thăm nuôi. Vụ này thì anh Liêm hay lắm. Anh móc nối không khó khăn, nhưng dù sao chúng tôi phải thử một vài lần mới khẳng định “nên hay không nên” thực hiện.


Do hẹn trước, chú tù hình sự (tên Thành) xuống cánh đồng trồng rau, xin cán bộ quản giáo nắm rau ra nhà thăm nuôi ăn. Cũng không phải tốt lành gì mà đám quản giáo cho ngay, vì thỉnh thoảng có được mấy chị thăm nuôi cho món gì thì hắn cũng dâng một ít cho những tên quản giáo, nhất là tên Đại Đội Trưởng võ trang, vì tên này có quyền đề nghị với Ban Giám Thị cử hình sự dọn dẹp sạch sẽ nhà thăm nuôi, cũng là phục vụ cho toán Công An phụ trách nhà thăm nuôi. Nhờ đó mà tôi với anh ta thỏa thuận những điều kiện về hộp thư chết. Tôi chọn địa điểm rồi chỉ cho anh ta. Cứ mỗi thứ hai và thứ sáu, hắn đến hộp thư chết nhận thư và tiền công. Trường hợp có thư hay tiền mà thân nhân cần hắn trao tận tay, hắn sẽ xuống vườn rau chúng tôi, chỉ cần hắn nháy mắt là tôi với hắn giả bộ như cắt rau. Lúc ấy hắn khom xuống, để tiền hoặc thư lên luống rau. Khi hắn lên triền núi thì tôi xách thùng nước đến tưới, rồi cho những thứ ấy vào thùng. Khi chuẩn bị về trại, tôi dùng giây quấn những thứ ấy vào ống chân. Cứ thế, tôi theo Đội vào trại.


Sở dĩ chúng tôi phải nghĩ đến hộp thư chết, vì chúng tôi thường gởi thư về gia đình nói những chuyện mà không thể nói trong thư gởi chánh thức. Riêng tôi, từ năm 1979, bắt đầu viết vắn tắt những sự kiện xảy ra trong trại dự trù sau này sử dụng, và nhờ đó tôi mới có tài liệu viết lại những trang sách này. Khởi đầu tôi hỏi ý kiến Công An quản giáo Đội tôi tên Hèo, mang thư chúng tôi ra bỏ thùng thư bưu điện cứ mỗi thư chúng tôi trả hắn một đồng khi chiều thứ bảy hắn về thăm nhà. Hắn đồng ý. Hai lần đầu chúng tôi mở thư cho hắn xem, toàn chuyện nhà chớ không liên quan gì đến trại để lấy lòng tin của hắn. Từ đó về sau viết những chuyện mà mình thấy cần viết, riêng những thư của tôi toàn là những chuyện mà đám Công An “cai tù” nơi đây không thể chấp nhận. Mỗi lần trao thư cho tên Hèo, hắn cũng được từ 20 đến 30 đồng với 2 viên đường hóa học, xem như về nghỉ cuối tuần không tốn tiền. Riêng hai viên đường hóa học có lẽ hắn vui ngang bằng số tiền do mang thư đi gởi nữa. Lần đầu tiên nhận được đường hóa học, hắn nói:


“Tôi đem về làm nước chanh cho bố tôi uống, chỉ bỏ một viên vô ly nước là đủ và bố tôi ngạc nhiên vô cùng. Ông ấy coi như đó là điều kỳ diệu trong xã hội miền Nam”.


Theo lời hắn nói, lúc đầu bỏ tất cả thư vào một thùng thư không sao, nhưng mấy tuần sau đó, hắn phải bỏ vào 3 hay 4 thùng thư khác nhau vì hắn nhận thấy có vẻ như nhân viên bưu điện theo dõi. Và rồi đến lúc hắn không dám nhận gởi thư nữa, vì an ninh của trại nghi ngờ đám Công An của họ mang thư chúng tôi ra ngoài gởi.


Không biết có phải vì tên Hèo bị nghi ngờ (theo lời hắn nói) hay không mà tên Phụ đến thay tên Hèo. Tôi lại phải ướm thử với hắn về việc mang thư chúng tôi ra bưu điện gởi, với giá tiền công cho hắn là một đồng/một cái như đã trả cho tên Hèo. Hắn đồng ý. Bốn tuần qua, cứ tưởng là công việc lén lút gởi thư đâu vào đó, nào ngờ trong nhóm gởi thư chui của chúng tôi tình cờ trông thấy một xấp thư trong cái ụ chứa phân người mà họ gọi là “phân bắc” dưới triền đồi. Cái ụ này dành cho các Đội trồng rau khiêng xuống cánh đồng chăm bón rau xanh. Cố gắng bươi cái đống … ghê tởm hôi thúi mùi “phân bón xã hội chủ nghĩa ưu việt” ấy ra có thêm mấy cái xem được những dòng chữ trên bao thư. Trời đất ơi! Toàn là thư của chúng tôi gởi tên Phụ tuần trước. Đúng là tên trấn lột! Từ đó, chúng tôi trừng phạt hắn bằng cách không cho hắn thuốc lá với trà uống mỗi sáng nữa, và nghĩ cách khác để gởi thư.


Bỗng dưng tôi nhớ đến bài học tình báo dạy về cách sử dụng “hộp thư chết”. Thế là tôi ứng dụng nó mà khởi đầu là anh Liêm liên lạc “móc nối” với chú tù hình sự như nói trên. Nhưng sự việc cũng nhiêu khê lắm quí vị quí bạn à! Lúc này tất cả anh em chúng tôi chuyển từ các trại tập trung ở Yên Bái đến đây, đều đi lao động bên ngoài trại và làm “thông tầm”. Họ dùng chữ “thông tầm” để chỉ cho thời gian đi lao động từ sáng đến chiều mới về, mang phần ăn trưa theo ăn tại chỗ. Việc đầu tiên phải làm là tôi tìm cách liên lạc với tù hình sự phụ trách dọn dẹp nhà thăm nuôi, cách trại khoảng hơn 1 cây số. Nhà thăm nuôi cất đơn sơ bên cạnh triền núi, sát con đường trải đá từ trại tập trung này ra đến chợ Ba Sao. Từ Ba Sao, cũng theo con đường trải đá ra đến thị xã Phủ Lý. Anh bạn trẻ tù hình sự phụ trách dọn dẹp nhà thăm nuôi cũng ở trong trại với chúng tôi nhưng bên khu hình sự. Tiếp xúc và thỏa thuận giá 1 đồng cho mỗi cái thư và 2 đồng cho mỗi cái hộp.


“Hộp thư chết” mà tôi chọn là một tảng đá lớn có nhiều tảng đá nhỏ chung quanh, trong đó có cái hộc đủ cho hai bàn tay chụm lại đưa vào. Chính cái hộc này là “hộp thư chết”, cạnh lối đi quanh co khúc khuỷu từ trên trại theo triền đồi xuống khu trồng rau dưới thung lũng. Cách trại chừng 200 thước, và cách lối đi khoảng vài thước rất tiện để tôi tách ra khỏi Đội và nhanh tay cho thư vào đó. Thông thường thì anh Nguyễn Thế Lưỡng giúp canh chừng hai tên Công An đi đằng sau mỗi khi tôi vào “hộp thư chết” để nhận thư hay gởi thư.


Một hôm tới ngày hẹn anh tù hình sự lấy thư vì tại nhà thăm nuôi đang có vợ của anh Vĩnh Thái thăm anh ấy, lại là ngày nhiệt độ xuống đến 10 độ C nên trại cho nghỉ và sẽ đi làm bù vào ngày khác. Lúc ấy trong tay tôi có 18 cái thư. Quýnh quá. Tôi rũ anh Lưỡng (bạn cùng khóa 5 Thủ Đức với tôi):


“Lưỡng ơi! Tôi với anh thay thế hai anh vệ sinh của buồng (giam) khiêng rác xuống đồi đổ, vì trưa nay thằng hình sự đến hộp thư chết lấy thư đem ra cho chị Vĩnh Thái. Mấy anh trực vệ sinh đồng ý rồi”.


“Ớn quá Anh! Nó bắt được tụi mình bị kỹ luật là cái chắc”.


“Nếu bị bắt, tôi nhận hết và xem như anh không biết gì cả. Hai đứa khiêng, anh đi trước tôi đi sau. Anh cứ tỉnh bơ, còn mọi việc tôi sẽ tùy cơ ứng biến. Ráng bình tỉnh nghe Lưỡng”.


Thế rồi chúng tôi khiêng thùng rác lên vai, đứng lại một lúc để anh Lưỡng bình tỉnh trước khi chường mặt ra cổng. Đến cổng, dừng lại, trong khi anh Dương Công Liêm đứng nép sát bên trong cổng, ngay đầu hành lang vào buồng 1 buồng 2 quan sát tình hình. Theo đúng qui định, tôi báo cáo:


“Báo cáo cán bộ, buồng 4 xin ra cổng đổ rác”.


“Trực buồng đâu mà hai anh khiêng rác?”


Hắn quen mặt hai anh trực buồng 4 phụ trách đổ rác, nhưng nghe giọng hắn không có vẻ nghi ngờ, tôi cười cười:


“Báo cáo cán bộ, chiều qua tôi để quên cái muỗng kim khí dưới bãi, xin cán bộ cho ra để tìm vì tôi chỉ có cái muỗng duy nhất thôi cán bộ”.


Làm thinh một lúc:


“Được. Anh ra đi. Tìm được là về ngay”.


“Cám ơn cán bộ”.


Chúng tôi đi thật nhanh. Anh Lưỡng nói:


“Anh làm tôi hồi hộp quá trời!”


Xong việc. Trở lên đến cổng, tôi móc từ trong lưng quần ra cái muỗng mang theo lúc chuẩn bị ra cổng:


“Báo cáo cán bộ. Xong công tác, và tôi tìm được cái muỗng rồi. Cám ơn cán bộ”.


Được. Vào đi”.


Thế là xong một “phi vụ” cho hộp thư chết. Nhưng rồi một hôm, anh Liêm hoảng hốt khi hay tin tên hình sự phụ trách dọn dẹp ở nhà thăm nuôi sắp bị tên Thụ, Đại Đội Trưởng Đại Đội Võ Trang thay thế. Chúng tôi bàn nhau và cuối cùng anh Liêm trách nhiệm dò tìm để biết tên hình sự nào được tên Thụ cử ra đó, rồi tùy cơ ứng biến. Hóa ra có đến hai tên hình sự mà tên Thụ đang chọn. Anh Liêm móc nối được anh hình sự mặt mày tương đối dễ cảm. Hắn yêu cầu cho hắn 200 đồng, để hắn vừa tổ chức bữa nhậu đãi Đại Úy Thụ, vừa “lót tay” anh ta 100 đồng, hi vọng sẽ được chọn. Anh Liêm vừa có ý kiến cũng vừa hỏi tôi:


“Anh Hoa, tôi thấy mình nên cho hắn. Nhưng anh có nghĩ là liệu thằng quỷ đó (thằng hình sự) có gạt mình không?”


“Có chớ anh. Nhưng hành động nào mang lại lợi ích cho mình cũng có cái giá của nó mà anh. Có điều nếu chúng ta bị nó gạt, coi như cái giá đó đắt hơn mình nghĩ. Thế thôi”.


“Anh 100 tôi 100 nhé! Nhiều anh em gởi thư nhưng tạo đường giây chỉ có tôi với anh. Chẳng sao, miễn đường giây chuyển thư an toàn là được rồi, chớ so đo quá e mình không tiếp tục được mục đích chuyển tin tức về gia đình như những cơ hội trong hai năm qua”.


Số tiền 100 đồng là khá nặng, nhưng tôi đồng ý với anh Liêm:


“Được, mặc dù tôi phải vét hết số tiền đang có. Nghĩ cho cùng, tôi với anh là gởi nhiều thư hơn bất cứ bạn nào khác. Riêng tôi mỗi tuần ít nhất là một hộp đựng thư”.


Ngày anh tù hình sự nhận việc ở nhà thăm nuôi, anh ta xuống vườn rau gặp tôi để xin rau cho toán Công An phụ trách thăm nuôi, tôi với anh ta thỏa thuận những vấn đề liên quan đến nhân thư, chuyển thư, chuyển tiền, và giá của mỗi “loại hàng dịch vụ” này. Tuy vậy, chúng tôi cũng đề phòng bằng cách trong hai kỳ thư đầu tiên, mỗi kỳ chỉ 5 thư xoay quanh những chuyện gia đình, để xem anh ta như thế nào rồi quyết định. Dù sao thì chúng tôi vẫn phải đề phòng vì chung quanh anh ta toàn là Công An, trong khi chúng tôi chỉ biết anh ta một cách khái quát về mặt nổi chớ có biết gì về lý lịch anh ta đâu. Nói chung là không thể tin Công An và tù hình sự được, vì họ đều là công dân xã hội chủ nghĩa mấy chục năm rồi.


Nhưng rồi công việc chuyển thư ra nhà thăm nuôi cũng như chuyển thư và tiền vào trại cho nhóm chúng tôi, tốt đẹp.






12345678




KÝ SỰ TRONG TÙ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA - KỲ 6





12345678


CHƯƠNG 7C TRẠI TẬP TRUNG NAM HÀ TIẾP NẤU ĂN.



Cuối năm 1981, sau thời gian khá dài, những vật dụng của chúng tôi bị bắt buộc để bên ngoài buồng giam bị mất cắp càng lúc càng nhiều vào ban đêm, nhất là thức ăn do gia đình mang đến khi thăm nuôi, tất cả Đội Trưởng chúng tôi cùng đề nghị Ban Giám Thị trại giải quyết tình trạng này, vì ban đêm không một tù chính trị lẫn tù hình sự nào ở ngoài buồng giam cả. Chúng tôi không nói ra, nhưng điều đó có nghĩa là chúng tôi muốn nói “Công An canh gác và tuần tra trong khuôn viên trại” là kẻ cắp chớ không ai khác. Chỉ có buồng giam 15 và 16 vì không có “nhà ăn” bên ngoài nên tất cả đồ đạc lỉnh kỉnh đều để trong buồng giam, còn các buồng giam có nhà ăn phải để đồ đạc bên ngoài.

Trại tổ chức buổi họp với tất cả Đội Trưởng tù chính trị chúng tôi. Thảo luận một lúc, họ chấp nhận cho chúng tôi mỗi chiều đem vào buồng giam những gì mà chúng tôi thấy cần, và mỗi sáng phải đem ra ngoài ngay khi cửa buồng giam mở. Đồ đạc đem vào để ở lối đi giữa hai sạp nằm. Thấy được một bước, chúng tôi đề nghị cho tù chính trị chúng tôi được nấu ăn trong khuôn viên buồng giam để có thêm dinh dưỡng. Thế nhưng chúng tôi rất ngạc nhiên là họ chấp nhận đề nghị của chúng tôi ngay. Rất có thể họ đã có quyết định về việc này để họ khỏi mang tiếng với thế giới là họ bắt chúng tôi vào tù mà không nuôi ăn cũng nên? Họ nói thêm:




“Khi lao động về, các anh được mang theo bó củi nhỏ vào ngày thứ ba và thứ sáu, nhưng cả Đội phải cột lại hai bó thôi. Bếp làm sát hàng rào phía sau khuôn viên buồng”.




Thế là chúng tôi sắm nồi niêu tô chén bằng cách xin gia đình mang theo khi đến thăm nuôi hoặc gởi các chị bạn mang giúp. Cái bếp là dễ nhất, chỉ cần mấy cục gạch là xong. Củi thì lượm ở khu trồng rau mang về, hoặc mua lại của những bạn mang vào trại vừa sử dụng vừa bán. Lệnh của họ bắt phải cột lại thành hai bó, nhưng những tên Công An -ngoại trừ tên Thịnh khuỳnh- cũng nương tay, nên mỗi người chúng tôi cũng mang vào được một bó nhỏ. Từ lúc ấy, nhiều anh em chúng tôi trong các Đội trồng rau cũng như trong các Đội làm gần đó “ăn cắp rau” nhiều hơn. Ăn cắp thì không khó vì là bạn cả, nhưng đem được rau vào trại mới thật sự là khó. Ấy vậy mà rau vào trại ”bất hợp pháp” ngày càng nhiều thêm.




Đây là cái hoạt cảnh “chuyên chở rau” vào trại mà tôi là điển hình vào những tuần lễ đầu tiên, lúc ấy rau chúng tôi trồng chưa ăn được, nên phải sang Đội bên cạnh xin hoặc “ăn cắp”. Rau muống hoặc cải xanh tùy mùa. Xin lỗi quí vị quí bạn dùng tay che mắt lại cho tôi cởi cái quần dài ra, tôi dùng sợi giây quấn vòng quanh bắp chân lên đến bắp vế. Sau khi mối cuối cùng cột lại cho chặt, tay trái nong sợi giây ra rồi ghim những cọng rau vào. Cứ lần lượt như vậy cho đến khi những cọng rau nằm im hai bên ống chân từ trên xuống dưới, tôi mặc cái quần dài vào là xong. Bây giờ quí vị quí bạn buông tay ra được rồi. Thế là tôi thản nhiên vào trại. Nói vậy chớ thật ra có hôm bị đám trực trại xét cũng phập phồng lắm, tuy không phải lúc nào họ cũng khám xét trên người. Các bạn tù trẻ còn ghim những cọng rau vào phần ngực và bụng để có được nhiều thêm chút ít.




Tôi nói “họ nương tay” cũng không phải đơn thuần như vậy đâu quí vị quí bạn à! Thật ra là ngay sau cái lệnh cho anh em chúng tôi nấu ăn thêm, từng bước, anh em chúng tôi tùy khả năng mỗi người, “mua chuộc” đám trực trại với quản giáo và võ trang bằng những tách cà phê, thuốc lá đầu lọc, bột ngọt, mì gói, nhất là thuốc tây trị bệnh. Thuốc tây thì anh Phạm Kim Qui (Đại Tá Phụ Tá Tư Pháp tại bộ tư lệnh Cảnh Sát) nhiều nhất vì vợ anh gởi về từ Paris.




Cạnh khu vực trồng rau có hai cái mương vừa lớn vừa dài do đất đào lên đấp thành khu trồng rau. Thường ngày có những cậu bé từ chợ Ba Sao vào, hoặc những tên quản giáo với võ trang đến đây câu rê. Nhờ đó mà thỉnh thoảng tôi mua được cá lóc. Chúng tôi gọi là cá lóc nhưng người dân địa phương gọi là “cá trào” hay “cá trèo đồi”. Mỗi khi mua được cá, tôi làm sạch để nguyên con cho vào cái gà-mèn tròn, cùng với rau muống, muối, bột ngọt đem theo, treo cạnh thùng nước đang nấu trên bếp của anh Nguyện. Khoảng 30 phút sau là tôi có gà-mèn canh. Thế là giờ giải lao giữa buổi, tôi với anh Nguyễn Kim Tây có bữa ăn thật ngon.




Do được nấu ăn mà họ gọi là “bồi dưỡng” mà sức khỏe tù chính trị chúng tôi, nhìn chung, có phần khá hơn những năm trước đó. Nhớ lại những năm 1977-1980 mà hãi hùng! Rất nhiều bạn đã chết do thiếu dinh dưỡng. Trong những năm đó, chỉ riêng trong buồng giam số 1 chúng tôi có thể chia thành ba nhóm về phong cách ăn uống: Nhóm thứ nhất, có bao nhiêu cứ ăn hết bấy nhiêu cho cái bao tử dễ chịu một chút. Nhóm thứ hai, vừa ăn vừa dành dụm cho những ngày kế tiếp. Nhóm thứ ba, ăn theo kiểu “sương rơi mùa hạ” mà điển hình là ăn đường cát. Mỗi ba tháng lãnh được 100 gram đường cát. Vài bạn trong nhóm này dùng cây tăm xỉa răng hoặc bẻ nhánh cây chuốt nhỏ lại như cây tăm, để vào lưỡi cho đầu cây tăm thấm ướt, cho vào đường cát dính ở đầu cây tăm trên dưới 10 hột đường, cho vào miệng nhâm nhi thưởng thức cái chất ngọt trôi chầm chậm vào cơ thể. Và cứ thưởng thức như vậy cho đến hết 100 gram đường, tương tự như lúc ăn bo-bo bằng cây tăm vậy.




Niềm vui cao nhất.




Tôi thấy cần giải thích ngay kẻo quí vị quí bạn tưởng là tôi được ra khỏi trại tập trung này. Niềm vui đó là cuối tháng 5 năm 1981, vợ tôi báo tin vắn tắt rằng hai con chúng tôi -Phạm Tuyết Vân 20 tuổi, và Phạm Bá Nghĩa 10 tuổi- sau hai ngày vượt biển đã được thương thuyền ngoại quốc vớt đưa đến Singapore bình an. Hai ngày sau nữa, vợ tôi nhận được điện tín xác nhận tin đó. Tôi nói với anh Nguyễn Kim Tây:




“Tây ơi Tây. Nhà ngươi có nhớ hồi năm ngoái vợ ta ra thăm có dắt theo con gái với thằng trai út không?”




“Có. Tuyết Vân với thằng nhóc đòi uống nước đá chớ gì”.




“Đúng. Bây giờ hai con ta tới trại tị nạn Singapore rồi nhà ngươi”.




“Nhà ngươi được thư của Chị rồi hả?”




“Anh Lê Viết Mười vừa được Chị ấy đến thăm, có mang theo thư ngắn và quà của vợ ta”.




“Vợ nhà ngươi can đảm thiệt. Cho tụi nhỏ đi từng đợt và tất cả đến nơi bình an. Đâu phải gia đình nào cũng có cái may mắn tròn vẹn ấy. Còn thằng ở trại tị nạn Phi Luật Tân đến Mỹ chưa?”




“Nó đến Houston hồi tháng 3 (1981) ở chung với hai anh nó. Ta quên nói với nhà ngươi”.




“Vậy là nhà ngươi ăn mừng chớ?”




“Tất nhiên. Ngay tối nay. Mình ăn bánh uống trà với cà phê trong gói quà mà anh Mười vừa mang vào giùm chiều nay”.




Tháng sau đó, tôi nhận được thư của vợ tôi do chị Nguyễn Tài Lâm mang ra và chui qua chú tù hình sự vào “hộp thư chết”. Trong đó có thư của con gái tôi thuật lại rằng:




“Bác Trại Trưởng và một bác nữa nói là bạn cũ của Ba. Hai bác trợ giúp tụi con về thủ tục giấy tờ nhanh chóng lắm nên Con hi vọng sang Hoa Kỳ sớm”.




Con tôi không nói tên hai bạn ấy, có lẽ nó sợ cộng sản kiểm soát thư vì thư gởi về Sài Gòn, trước khi đến tôi. Cuối năm 2007, khi viết đến đoạn này, tôi có hỏi con gái tôi (năm nay 46 tuổi) về tên của hai anh bạn giúp nó hồi năm 1981, nhưng con tôi chỉ nhớ như tôi đang nhớ. Vì vậy, tôi nhờ những dòng chữ này chuyên chở lời cám ơn chân thành của vợ chồng tôi đến hai bạn ấy, cùng tất cả những bạn nào đã giúp đỡ các con chúng tôi lúc chạy nạn cộng sản, trong khi tôi bị nhốt trong trại tập trung mà cộng sản gọi là trại cải tạo.




Nhóm chữ “chạy nạn cộng sản” dường như chưa phơi bày hết tính chất độc tài tàn bạo của cộng sản nói chung, và cộng sản Việt Nam nói riêng, có lẽ phải dùng nhóm chữ “cộng sản là thảm họa của nhân loại” mới đúng. Nói ngắn gọn là “thảm họa cộng sản”. Trong tập nhật ký Rồng Rắn của ông Trần Độ, cựu Trung Tướng cộng sản viết trong năm 2000 và 2001. Ông nêu rất nhiều câu hỏi với chính ông liên quan đến chủ nghĩa xã hội mà lãnh đạo của ông tự tôn vinh là ưu việt, nhưng sau 25 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội mà người dân ngày càng kiệt quệ, xã hội ngày càng suy đồi? Và ông nêu câu hỏi với lãnh đạo của ông:




“Tại sao chỉ có từ các nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là từ Việt Nam, có đến hằng mấy triệu người bất kể hiểm nguy sống chết trốn chạy tìm đường sống ở các nước khác?




Vì là thảm họa của nhân loại, nên quốc gia nào bị cộng sản cai trị thì y như rằng, các thành phần trong xã hội đều tìm mọi phương cách chạy trốn. Dĩ nhiên không phải muốn chạy là chạy được vì nhiều yếu tố liên quan, chẳng hạn như: Lòng can đảm chấp nhận hiểm nguy bất trắc với mức độ rất cao của người quyết tâm ra đi cũng như của người thân còn lại, tiền bạc, âm thầm tìm tổ chức đưa người vượt thoát, phương cách vượt thoát từ nhà đến địa điểm hẹn mà tránh bị Công An rình rập bắt bỏ tù, thậm chí bị chúng bắn chết tại chỗ, người còn lại phải có cách đối phó với đám Công An địa phương, ..v..v...




Đầu tháng 09/1981, sau hơn 3 tháng ở trại tị nạn trên đảo quốc Singapore, hai con tôi đến Houston. Thế là các con chúng tôi: Tháng 4 năm 1980 hai con trai vượt biển đến Thái Lan, tháng 10 cùng năm một con trai vượt biển đến Phi Luật Tân, tháng 05/1981 một con gái và một con trai vượt biển đến Singapore, tất cả các con chúng tôi -bốn trai và 1 gái- cùng đến Houston, với sự giúp đỡ của các em tôi là vợ chồng Phạm Phi Long, vợ chồng Phạm Thu Nguyệt, và em út Phạm Bá Sáng, định cư tại đây từ những năm trước đó. Bốn đứa con lớn, vừa đi học vừa đi làm, đứa nhỏ nhất học tiểu học.




Với nỗi vui mừng tột độ đó, tôi viết trang thư gởi “chui qua hộp thư chết” ra nhà thăm nuôi, nhờ mang về Sài Gòn để vợ tôi gởi sang Hoa Kỳ cho các con tôi. Nội dung gồm những lời khen tặng vợ tôi, cũng là vừa khen vừa khuyến khích các con tôi bắt đầu hành trình “xây dựng tương lai”. Sau khi đọc đi đọc lại mấy lần, tôi nắn nót từ trang thư thành “trang thơ tự do”, với tựa “Dù Thế Nào Anh Vẫn Nhận Ra Em”:




Vào một ngày nắng hạ




một chín bảy lăm (1975)




Anh phải đi “học tập”




Em ở lại cùng con




Một vòng tay, hai nụ hôn từ giã




Em đứng nhìn, đôi mắt đỏ long lanh




Em nghẹn ngào:




bởi vì đâu, hai đứa phải chia tay Anh hởi?




liệu cuộc đời, bước ngoặc có xa không?




Anh nói khẽ:




hoàn cảnh mình, ai biết được ngày mai




ta hẳn biết, sẽ sum vầy sau ba mươi ngày xa vắng! (1)









***




Nhưng




chẳng phải ba mươi ngày




cũng chẳng phải ba năm (2)




mà là một trăm bốn mươi bảy tuần trăng tròn khuyết (3)




Đó là thời gian




cũng là cuộc sống




Cuộc sống ấy, với biết bao gian khổ




Bủa vây Em, mà Em phải xông pha




Là vợ người chiến sĩ




hai mươi năm dài binh nghiệp (4)




tích lũy dần, đức tính đảm đương




Bằng tình yêu Chồng, và tình Mẹ thương Con




Em chấp nhận cuộc đời




dẩm lên mà bước




đạp xuống mà đi




và Em đi thật vững




Với Anh




dù ngàn dặm xa xôi cách trở




dù nắng hạ oi nồng




dù rét buốt mùa đông




Em vẫn đến thăm chồng




bằng tất cả tâm hồn trong sáng ấy




Với Con




dù trên lằn ranh tù ngục




dù trên lằn biên sống chết




dù ray rứt tâm tư




bởi tình thương người Mẹ




Nhưng




vì tương lai con trẻ




Em tập trung nghị lực




vẫn lệ nhòa, khi tiễn các Con đi










***




Các Con này




đường tương lai trước mắt




Phải trau dồi Kiến Thức




Đạo Đức phải vun bồi




Và giũa mài Nghị Lực




phải vững vàng, bước tiếp nghe Con




Đừng ngập ngừng, khi vấp ngã




Hãy đứng lên, kịp bước với bạn hiền




Thành công nào, cũng trả giá nghe Con




Và chính đó, mới vẹn tròn ý nghĩa




Ráng nghe Con




đừng phụ Mẹ Ba




với Ông Bà Cô Chú Cậu Dì




***




Em




Mười hai năm qua




Em đã lớn biết bao




lớn bởi cách nhìn




lớn do cách nghĩ




lớn về tầm cao nghị lực




và lớn về chiều sâu tâm hồn




Ôi!




Nỗi cô đơn, những năm dài cách biệt




Tình yêu chồng




Em đong bằng nước mắt!




Tình thương Con




Em nhỏ lệ cánh thư dài!




Giờ đây




một vòng tay, hai nụ hôn đoàn tụ




nói gì đây, Anh biết nói gì đây




Anh chỉ nói được rằng:




Dù thế nào, Anh vẫn nhận ra Em




bởi Em, có một tình yêu đầy đặn với Chồng




bởi Em, có một thương dào dạt với Con




bởi Em, có một tình quyến thuộc họ hàng




và bởi Em, có một tình người với bạn




Dù thế nào, Anh vẫn nhận ra Em




bởi Em, là nửa phần hơi thở của hồn Anh




bởi Em, là nửa phần con tim Anh đang nhịp




và bởi Em, là nửa phần cuộc sống của riêng Anh




Dù thế nào, Anh vẫn nhận ra Em




bởi Em là Người Vợ




Người Yêu




Người Bạn Đời mãi mãi của riêng Anh




Dù thế nào Anh vẫn nhận ra Em




để hôn Em, với những nụ hôn dài




và hôn Em, với những nụ hôn dài …




(1) Tại Sài Gòn, thông cáo của cộng sản bảo chuẩn bị học tập 30 ngày.




(2) Tại trại Tam Hiệp, cộng sản nói chính sách cải tạo 3 năm.




(3) 147 tháng, hay là 12 năm 3 tháng trong các trại tập trung.




(4) 21 năm trong quân ngũ.









Thưa quí vị quí bạn,




Bài thơ này khi ra trại tập trung về Sài Gòn hồi tháng 9 năm 1987, tôi cập nhật thời gian cho thích hợp. Cũng xin giải thích thêm về nỗi vui mừng của tôi. Trong những năm 1960, vợ chồng tôi bắt đầu một kế hoạch dành dụm cho con trai lớn du học sau khi xong bậc trung học. Vì đến lúc ấy, chúng tôi chỉ có khả năng thế thôi, trong khi hi vọng con tôi sau khi thành đạt có thể đùm bọc các em nó. Giờ đây, dù muốn hay không muốn, rõ ràng là trong cái “nguy” vì chế độ tự do sụp đổ, lại có cái “cơ” hội. Vì không thể sống nỗi dưới chế độ độc tài tàn bạo của cộng sản, ngay đến cái đơn xin vào làm tiệm giặt ủi cũng không được chấp nhận vì là con của “Đại Tá ngụy”, nên các con tôi phải vượt biển tìm tự do, và an toàn đến vùng đất tự do xa quê hương đến nửa vòng trái đất. Vậy là tất cả các con chúng tôi được “du học tại chỗ” trên đất nước có nền giáo dục khoa học kỹ thuật được xếp vào bậc nhất thế giới. Khi biết được “thư chui” của tôi đã đến tay một chị bạn và chị ấy đã rời nhà thăm nuôi để về Sài Gòn, tôi mỉm cười khi nghĩ rằng:




“Nếu tôi có chết trong trại tập trung của cộng sản, tôi vẫn giữ nụ cười khi nhắm mắt”, vì các con chúng tôi có được tương lai, mà tương lai của các con chúng tôi chính là cuộc sống là hạnh phúc của vợ chồng tôi.




Trại Nam Hà giai đoạn 1982-1987.




Tết Nguyên Đán đầu năm 1982 là Tết thứ tư tại trại Nam Hà này. Từ cái bánh chưn kha khá, nhỏ dần xuống, rồi đến nhỏ xíu. Tết năm nay cái bánh chưn biến mất, thay vào đó là chén cơm nếp với 5 điếu thuốc lá đen. Nếu như không được gia đình tiếp tế thì tù chính trị chúng tôi sẽ là “những bộ xương cách trí” như tù hình sự thôi. Dưới chế độ cộng sản, từ quận/huyện tỉnh/ thành phố, đặc khu, biệt khu, đều có nhà tù, cộng thêm hằng loạt nhà tù trực thuộc trung ương nữa. Bởi dưới chế độ này, mọi người dân đều có tội với nhà nước vì mỗi người không tội này cũng là tội khác, ngay cả ý kiến khác với nhà nước đã là có tội rồi. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người dân không được nói những điều cộng sản cấm nói mà phải nói những gì cộng sản bảo nói, người dân không được thấy những gì cộng sản cấm thấy những phải thấy những gì cộng sản bắt thấy, người dân không được nghe những gì cộng sản cấm nghe nhưng phải nghe những gì cộng sản bắt nghe. Vì vậy mà nhà tù trên toàn cõi Việt Nam nhiều vô kể.




Tình hình kinh tế xã hội chủ nghĩa của họ suy sụp dần. Đầu năm 1979, họ bắt đầu cho gia đình đến thăm và mang theo lương thực thực phẩm nuôi tù chính trị. Nhờ vậy mà tình trạng sức khỏe của anh em tù chính trị chúng tôi, nhìn chung là tốt, và “cái tốt” này lại là điều để họ khoe với các phái đoàn ngoại quốc đến thăm, chứng tỏ cho thế giới bên ngoài thấy cái mà họ gọi là chính sách nhân đạo đối với tù chính trị không có điều gì chỉ trích cả. Cái bản chất gian trá của họ dễ dàng nhận thấy trong các trại tập trung.




Có lẽ do đời sống ngày càng suy kém của người dân nói chung, và của đám Công An “cai tù” nơi đây nói riêng, mà gần đây anh em chúng tôi mua chuộc được đám Công An trực trại với đám Công An quản giáo và võ trang, ngoại trừ tên “Thịnh khuỳnh” và tên “Thắng chuột” an ninh. Dần dần chúng tôi có phần dễ thở. Điển hình như trường hợp Đội chúng tôi, cứ mỗi sáng khi đến chỗ lao động, tôi cho tên quản giáo với tên võ trang 20 điếu thuốc quấn với bình trà, thế là chúng nó ngồi trong lều chớ không đi tới đi lui kiểm soát chúng tôi làm. Sở dĩ tôi cho nó thuốc hút với trà uống, vì nó đồng ý với tôi là khi giao việc cho chúng tôi thì chúng nó chỉ kiểm soát trước giờ về thôi. Thật ra chúng nó có bao giờ kiểm soát tất cả đâu. Thí dụ như giao chúng tôi mỗi người mỗi ngày đào và trồng 5 hốc bí rợ trong khu rừng chồi chen lẫn đá tảng, đâu làm sao chúng nó đếm từng cái một để biết chắc là chúng tôi làm đúng hay không đúng số lượng chúng giao.




Ngày Ba Mươi và Mồng Một Tết, không một tên Công An nào vào trong trại. Thấy yên tịnh, bắt đầu có vài cuộc họp mặt đồng hương, ăn bánh mứt uống trà và nói với nhau cả chuyện xưa lẫn chuyện nay. Thấy được, anh em chúng tôi họp mặt nhau trong cùng binh chủng hay cùng đơn vị, hoặc họp bạn đồng khóa. Đông cũng được vài chục bạn, ít cũng năm bảy người. Tất nhiên là phải chọn cái góc nào đó trong trại tương đối kín đáo, hoặc nơi nào dễ trông thấy chúng nó vào trại để kịp giải tán. Hơn 20 anh em cùng khóa 5 Thủ Đức chúng tôi cũng ngồi lại với nhau ở sát góc buồng giam số 2. Mỗi anh mang theo vật dụng đựng nước uống, nếu anh nào có bánh mứt thì mang đến, ngoài ra còn mang theo cái gì đó để làm ghế ngồi. Anh Văn Công Báu (Trung Tá Lực Lượng Đặc Biệt) nấu cho một thùng nước trà. Anh Khoa (Trung Tá Cảnh Sát) nhiều tuổi nhất, được anh em bầu làm “chủ tọa”. Anh Khoa có vài lời:




“Tôi thành thật cám ơn các bạn. Trong chiến tranh, chúng ta gặp nhau trên khắp nẻo đường, bây giờ thua trận, chúng ta gặp nhau trong trại tập trung, đây là điều đáng quí của chúng mình. Mong rằng, buổi họp mặt đơn giản nhưng có phần ấm áp hôm nay, sẽ giữ mãi cho chúng ta một gạch nối tình cảm cho tương lai, dù chúng ta chưa biết tương lai sẽ ra sao. Xin mời các anh cùng nâng chén trà gọi là cùng nhau chúc mừng năm mới”.




Thế là tất cả anh em gần như nói cùng lúc: “Chúc Mừng Năm Mới”, như vừa chúc cho bạn, cũng vừa chúc cho mình.




Tôi đưa ý kiến:




“Bây giờ chúng ta thử bàn đến lời của ông Phạm Văn Đồng -Thủ Tướng cộng sản- đã nói chúng ta là thành phần ác ôn không thể tha thứ, đồng thời với sự kiện gần đây có dư luận cho rằng Hoa Kỳ sẽ “bốc” chúng ta sang Mỹ. Tôi nghĩ là chúng ta khó có đủ yếu tố khả dĩ dẫn đến kết luận, nhưng biết đâu trong lúc bàn luận lại có những điều mới có thể giúp chúng mình cập nhật những hiểu biết liên quan…..”




Nói đến đây thì anh Bùi Quang Hiền đứng ở hành lang ngay lối vào buồng 2 này, anh ngoắc tôi:




“Anh và mấy anh cẩn thận. Tụi nó đứng ngoài cổng trại đông lắm, có thằng Thịnh khuỳnh nữa”.




Tôi bước nhanh đến đầu hành lang nhìn ra nhà trực trại ngay bên ngoài cổng. Đúng là tụi nó khá đông. Chạy vội vào trong:




“Các bạn ơi! Không xong rồi, chúng ta nên giải tán thì hơn, chúng nó vào trông thấy là phiền phức lắm”.




Anh Khoa: “Giải tán anh em ơi! Một lần nữa, tôi cám ơn và chúc các anh sức khỏe và giữ vững nghị lực. Chúng ta sang bên Văn Hoá đi”.




Anh em chúng tôi tay xách ghế xách lon theo hành lang ra sân trại để sang bên Văn Hoá. Anh Khoa đi sau cùng. Lúc anh vừa ra khỏi hành lang để sang Tổ Văn Hoá bên kia sân trại, Thịnh khuỳnh vào cổng với một toán Công An sau lưng. Hắn chận anh Khoa lại:




“Các anh họp hành gì đó?”




“Báo cáo cán bộ, không ạ! Vài anh em chúng tôi ngồi ăn bánh uống trà cho vui thôi cán bộ. Bây giờ sang Văn Hoá xem chung kết cờ tướng”.




Hắn nhìn một lúc:




“May cho các anh đó. Bộ các anh tưởng chúng tôi không biết các anh làm gì à!”




Anh Khoa lẳng lặng băng qua sân trại về hướng phòng văn hoá.




Chẳng bao lâu sau đó, anh Khoa bị tai biến mạch máu não và chết ngay. Anh Khoa bị cao huyết áp, đang mùa đông anh nấu nước nóng pha nước lạnh cho ấm để tắm. Nước ấm hết trong khi cơ thể chưa sạch xà bông, anh dùng lon nước lạnh xối lên đầu, thế là ngã quỵ trên nền xi măng. Và chết ngay sau đó.




Vợ tôi đến thăm.




Tuần kế tiếp, vẫn còn thoang thoảng hương vị ngày Tết Nguyên Đán. Trong khi lao động buổi sáng, tôi mua được nửa kí lô thịt heo nạc và khi cơm xong tôi bắt đầu kho tiêu. Lúc ấy kẻng báo thức buổi chiều vang vang, tôi vội nếm xem mặn lạt ra sao để dẹp vào và chuẩn bị lao động. Anh Nguyễn Tài Lâm gọi tôi:




“Hoa ơi! Cán bộ gọi thăm nuôi kìa”.




“Thiệt hông Lâm?”




“Cán bộ Trọng chờ anh kìa”. Trọng trong toán trực trại.




Anh Ngô Văn Huế: “Anh vô chuẩn bị đi, để nồi thịt tôi kho cho”.




Tôi ra đến đầu hành lang gặp ngay Trọng “cụ non”. Công An ở đây gọi hắn là “Trọng cụ non” vì lúc nào trông hắn cũng giống như “ông cụ” vậy.




“Anh chuẩn bị ra gặp gia đình”.




“Ai thăm tôi vậy cán bộ?”




“Tôi không rõ. Cán bộ Thúy nhờ tôi gọi anh đấy”.




“Cám ơn cán bộ”.




Tôi nghĩ mãi nhưng vẫn không đoán được là ai đến thăm. Vì mùa đông giá rét này chắc chắn không phải là Ba tôi, còn vợ tôi đang bận lo cho mấy đứa em vượt biển chưa xong. Trong thư gần đây vợ tôi cho biết, sau khi các con đến noi an toàn, vợ tôi lo cho mấy đứa em vượt biển. Ngoài Ba tôi với vợ tôi, tôi nghĩ không có ai đến thăm tôi hết. Có thể là vợ tôi nhờ chị bạn nào đó nhân đến thăm gia đình, thăm tôi luôn.




Quanh năm mặc quần áo tù, lâu lâu được mặc quần tây sơ mi vào, cảm thấy gọn và khỏe. Với cái áo sơ mi ngắn tay màu vàng và cái quần tây màu nâu mà vợ tôi mua cho trong chuyến thăm tôi hồi giữa năm 1980, đôi giày thể thao do Mỹ sản xuất mà anh Trịnh Xuân Nghiêm (Sư Đoàn Nhẩy Dù) nhượng lại tôi vì chân anh đi không vừa. Trước khi ra khỏi phòng, anh Đặng Văn Hậu bảo tôi xoay qua xoay lại:




“Ê! Trông còn phong độ lắm nghe”.




“Thiệt hông đó?”




“Tớ nói thiệt mà”.




Ra đến nhà trực trại, thấy nụ cười của tên Thịnh khuỳnh là phát ghét rồi. Hắn hỏi:




“Ai thăm anh mà diện thế?”




“Báo cáo cán bộ, tôi không biết”.




Công An Thúy, phụ trách hướng dẫn thăm nuôi, cười cười và nói nho nhỏ:




“Đã biết mà còn hỏi. Khéo vớ vẩn”.




Tên Thịnh khuỳnh hỏi tôi:




“Nào, có thư từ gì bỏ ra ngay”.




“Không có gì cả cán bộ”.




“Chắc không. Tôi kiểm tra có thì anh tính sao?”




“Chắc chắn mà cán bộ. Cán bộ cứ kiểm soát tôi đi, nếu có gì vi phạm nội qui tôi chịu kỷ luật”.




Họ dùng chữ kiểm tra, tôi dùng chữ “kiểm soát. Hắn chưa buông tha:




“Trong giày có gì không?”




“Chỉ có vớ không thôi, cán bộ”.




“Anh đùa đấy à?”




“Tôi nói thật mà cán bộ”Không biết hắn có tin hay không, nhưng còn ráng thêm một câu nghe như ân huệ:




“Được rồi. Đội Trưởng tôi không kiểm tra”.




“Cán bộ nói vậy chớ thật ra cán bộ kiểm soát tôi rồi”.




Nói xong là tôi đi ngay. Trong thời gian gần đây, không còn cái xe cải tiến nào dành riêng cho thăm nuôi vì chẳng ai tu bổ nên hư hỏng hết trơn. Cứ mỗi lần cần xe cải tiến cho thăm nuôi, phải xuống tổ nhà bếp mượn. Nhà bếp có ba chiếc nhưng chỉ còn một chiếc dùng được. Tuy ọp ẹp nhưng nhờ cái lạnh của mùa đông nên đỡ mệt khi kéo lên dốc. Lên đến đầu dốc, con bé Thúy mới nói:




“Vợ anh thăm anh đấy”.




“ Cám ơn cán bộ”.




Tôi chửi thầm: “Con quỷ cái” này chắc không vừa với cái miệng quai xách của nó. Nó cầm đơn thăm nuôi trong tay, vậy mà lúc nảy tôi hỏi nó làm thinh. Dễ giận!




Đến nhà thăm nuôi, vừa để cái xe bên ngoài là vợ tôi bước nhanh ra:




“Anh”.




“Em đến lúc nào vậy? Em đi đường có mệt lắm không?”




“Em đến cách đây khoảng 3 tiếng đồng hồ. Em khá quen rồi nên không cảm thấy mệt như mấy lần trước, nhất là lần đầu thăm Anh”.




“Trời lạnh quá sao Em dám đi. Còn mấy cậu nó đi được chưa?”




“Tụi nó đến Thái Lan hết rồi Anh. Nhưng chuyến đi gian khổ lắm vì mưa bão, thức ăn nước uống đều liệng xuống biển cho tàu nhẹ bớt. Cuối cùng thì tàu cũng đến nơi bình yên nhưng rất nhiều người chết vì đói khát, trong số đó có hai đứa con của vợ chồng thằng Bảy (Triệu Văn Trí)”.




“Vậy cũng là may lắm rồi. Em còn áo lạnh nữa không, nên mặc thêm vào chớ như vầy Em dễ bị cảm lạnh lắm”.




“Không sao. Đủ rồi Anh. Để Em lấy hình của các con cho Anh xem. Em để ở phòng nhỏ bên kia”.




Tôi quay sang “Thúy quai xách”:




“Báo cáo cán bộ, cho tôi sang phòng bên soạn quà giúp vợ tôi?”




Nó làm thinh một lúc mới mở miệng:




“Được. Chỉ một lúc thôi nhé!”




Tôi bước nhanh theo vợ tôi và hôn vợ tôi thật nhiều, vì phòng nhỏ bên này không có người nào cả. Đây cũng là những nụ hôn đầu tiên sau gần 7 năm xa cách … Ngần ấy, chỉ ngần ấy thôi, nhưng chứa đựng biết bao nồng thắm ngọt ngào bên trong những nụ hôn vội vàng ….




Vợ Chồng tôi cùng mang quà sang phòng bên, nếu vắng lâu thể nào “Thúy quai xách” cũng hỏi han tra xét.




Từ đầu năm 1981, theo lệnh của Bộ Công An, Ban Giám Thị trại cho phép tù chính trị được thăm gặp vợ 24 tiếng đồng hồ. Giấy tờ thì như vậy, nhưng nếu không sòng phẳng với “cái giá phải trả” cho tên Vũ Quấc (tên của hắn là vậy) phụ trách giáo dục trại Nam Hà A này thì đừng hòng, vì hắn cho ý kiến vào đơn xin trước khi đến tên trại trưởng quyết định. Đến lúc bấy giờ, “cái giá phải trả” là 200 đồng cho mỗi lần thăm gặp 24 tiếng đồng hồ. Ngoài ra còn phải sòng phẳng với toán Công An phụ trách nhà thăm nuôi nữa, nhưng cái giá ở đây nhẹ nhàng thôi, chỉ cà phê thuốc hút loại đầu lọc coi như “sòng phẳng”.




Ngay chiều hôm ấy, tôi được trở ra nhà thăm nuôi đến chiều hôm sau mới hết hạn. Chúng tôi xem hình các con chúng tôi cao lớn cả rồi. Cùng thuê “chung cư” tại Houston sau thời gian được Cô Dượng Chú Thiếm chúng nó giúp đỡ. Vừa đi học vừa đi làm, dĩ nhiên là nhiều khó khăn lắm, nhưng các con chúng tôi chấp nhận vượt qua. Trong thư, các con chúng tôi nói rằng, những khó khăn trên đất Hoa Kỳ không có nghĩa gì so với những gian khổ trên quê hương Việt Nam cộng sản! Các con chúng tôi hứa sẽ thành công trên đất Mỹ.




Có thời gian dài, vợ tôi kể cho nghe biết bao chuyện buồn vui lẫn lộn. Chuyện trong thân quyến chẳng bao nhiêu, nhưng chuyện mà đám Công An Phường với Công An Quận, đối xử với gia đình chúng tôi mà họ gọi là “ngụy quân ngụy quyền” thật là khiếp đảm!




- Chính sách lừa dối để đẩy hằng trăm ngàn quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ vào các trại tập trung mà họ gọi là học tập cải tạo. (Năm 2004, khi xem tạp chí Dân Vận của đảng bộ Việt Quốc tại Đức, tôi đọc được những con số sau đây: Theo tài liệu của Sở Công An Sài Gòn mà họ gắn cái tên ông Hồ vào đó, đến cuối tháng 07/1975, cộng sản đã đẩy 154.772 người vào các trại tập trung. Đến cuối tháng 10/1975, Cảnh Sát Công An bắt thêm 68.037 người nữa. Cộng chung đến ngày 30/10/1975, tổng số cựu quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ, bị họ giam giữ trong khoảng 200 trại tập trung trên toàn cõi Việt Nam là 222.809 người. Trong số khoảng 200 trại này, chỉ riêng Đoàn 776 của họ, đã quản trị đến 82 trại trong tổ chức của 6 Liên Trại trong vùng rừng núi từ Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn, ngược lên thượng nguồn Sông Hồng đến tận biên giới Việt Nam-Trung Hoa)




- Ngày 20/08/1975, Bộ Văn Hoá Thông Tin cộng sản Việt Nam, ra lệnh thiêu hủy tất cả văn hoá phẩm thời Việt Nam Cộng Hòa vì họ cho là loại phản động và đồi trụy. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt giữ những ai tàng trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra tòa án nhân dân. Chính sách này trong một mức độ nào đó, tương tự như chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng thời Trung Hoa phong kiến, và của Mao Trạch Đông thời Trung Hoa cộng sản.




- Ngày 18/09/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam bất thình lình thực hiện chính sách đổi tiền. Họ không giới hạn số tiền mang đến đổi, nhưng chỉ được nhận lại tối đa là 200 đồng mới, mà họ qui định 1 đồng bạc mới bằng 500 đồng bạc cũ (1 mới = 500 cũ). Số tiền còn lại, mỗi khi gia đình có nhu cầu phải làm đơn xin và phải được Phường/Xã chứng nhận mới được cứu xét. Còn cứu xét như thế nào thì tùy họ khi vui lúc buồn.




- Ngày 10/11/1975, chính sách triệt hạ kinh doanh thương mãi tự do, ép mọi chủ nhân mà họ gọi là vận động hiến tặng cho nhà cầm quyền toàn bộ cơ sở kinh doanh thương mãi, kể cả nhà ở, rồi chuyển đến các khu hoang vắng mà họ gọi là khu kinh tế mới tự mưu sinh. Trường hợp không chấp hành sự vận động của họ thì bị bắt vào trại tập trung, còn tài sản bị họ tịch thu. Có nghĩa là, cho dù bằng cách nào đi nữa thì tài sản cũng vào tay cộng sản, chỉ khác ở chổ là những chủ nhân có bị vào trại tập nhỏ -tức nhà tù- hay vẫn trong trại tập trung lớn -tức xã hội- thế thôi.




- Đến chính sách cải tạo văn nghệ sĩ. Tờ L’ humanité của đảng cộng sản Pháp, số ra ngày 21/03/1976 tại Paris, có đăng tải danh sách 321 văn nghệ sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa, đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt vào trại tập trung cải tạo từ ngày 13/06/1976.




- Tháng 06/1977, lại một chính sách khác ra đời. Đó là chính sách buộc tất cả nông dân có ruộng mà họ gọi là vận động đem tập trung vào Hợp Tác Xã. Nông dân vẫn canh tác nhưng sản phẩm do Hợp Tác Xã quản trị, còn nông dân tùy theo lao động của mình bỏ ra mà nhận lại đồng lương bằng sản phẩm do Hợp Tác Xã quyết định. Và họ quản trị lao động công việc đồng áng chẳng khác những trại lính.




Người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ tại Sài Gòn, có câu nói truyền cho nhau nghe thật là cay đắng: “Hòa bình, bắt đầu sum họp, cũng là lúc chia ly!” Những bạn đồng đội từ các đơn vị xa xôi về quê sum họp với gia đình, nhưng rồi lại chia ly không ngày trở lại! Câu này cũng có thể hiểu “bọn cộng sản sum họp, người tự do chia ly! Cũng có câu: “Nếu cái cột đèn mà đi được thì nó cũng vượt biển rồi”.




Vợ tôi nhắc lại chuyện con thứ tư của chúng tôi là Phạm Bá Hùng vượt biển từ bờ biển Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, hồi giữa năm 1980. Bị quân cộng sản phác giác truy lùng, nhiều người lớn cùng với con tôi và các bạn nó bị bắt. Nhà giam chật quá, với lại có lẽ chúng nó thấy con tôi còn nhỏ (mới 14 tuổi), chúng nó bảo con tôi xuống nhà bếp phụ việc lặt vặt. Mấy ngày sau chúng nó thả về. Lúc ấy con tôi trần trụi vì lúc chạy "bán sống bán chết", cái áo bị các nhánh cây "giữ làm kỷ niệm" lúc nào chẳng hay. Có một gia đình gần đó, thấy vậy mới cho con tôi một cái áo, mà là "cái áo con gái" vì nhà bà không có con trai. Khi con tôi về đến nhà Ba Má tôi ở Nha Mân, Ba Má tôi và vợ tôi trông thấy, vừa cười vừa khóc! Khóc vì thấy nó nhỏ quá mà bị tù, còn cười vì cái áo con gái trên người nó. Khi còn sống, mỗi khi Ba Má tôi nhắc lại chuyện ấy là Ông Bà cười thật tươi. Hiện giờ (năm 2008) con trai tôi đã vào tuổi 42, có vợ 2 con, và có cơ sở làm ăn ở tiểu bang khác. Chúng tôi xin mượn những dòng chữ này để bày tỏ lời cám ơn chân thành của vợ chồng tôi đến gia đình ân nhân của con chúng tôi 28 năm về trước. Cái áo không là bao, nhưng điều nghĩa ân mới là đáng quí".




Trở lại chuyện thăm nuôi. Những tù chính trị chúng tôi khi được phép gặp gia đình 24 tiếng đồng hồ, chỉ được đi khỏi nhà thăm nuôi cho đến cái cầu vệ sinh thôi, ngoài khoảng cách đó ra đều bị cấm.




Buổi chiều, có vẻ như thời gian qua nhanh quá! Trong khi tôi đang xếp áo quần của vợ tôi mà chúng tôi giặt ban trưa, tiếng con Thúy ong ỏng:




“Khẩn trương lên chứ. Làm gì mà lề mề thế!




Hôn vợ tôi xong là ra cửa, vợ tôi vừa đi vừa nói:




“Khoảng tháng 5 Em ra thăm Anh. Các con với mấy đứa em đi xong, Em có thì giờ thăm Anh thường hơn”.




Con Thúy chen vào ngay:




“Thăm gì mà thăm liền thế?”




“Xin lỗi cán bộ có gia đình chưa?”




“Anh định nói gì thế? Đã có thì sao?”




“Vậy mà tôi tưởng cán bộ chưa có gia đình”.




“Tại sao anh tưởng thế?”




“Đã có gia đình thì cán bộ phải thông cảm tình vợ chồng, nhưng sao cán bộ có ý chỉ trích”.




“Tình cảm vợ chồng ai mà chẳng biết, nhưng còn công tác nữa chứ ”.




“Chẳng lẽ cán bộ cho là chúng tôi trong Nam chỉ biết có gia đình không thôi sao. Nếu vậy mà phải hơn 20 năm, quân đội nhân dân mới vào được Sài Gòn sao cán bộ”.




Cô ta trừng mắt:




“Anh định nói gì đấy? Đi vô”.




Nhân lúc xuống dốc, tôi phụ đẩy xe quà của anh bạn để khỏi phải lôi thôi với con nhỏ có cái miệng quai xách này. Đám quản giáo với võ trang gọi cô ta là “Thúy tây” vì xem ra cô ta có phần trắng trẻo và sạch sẽ hơn những Công An “tóc dài” khác trong trại này. Con bé này “chưa nhận hối lộ” từ khi phụ trách hướng dẫn thăm nuôi thay con bé Kim. Hơn hai tháng trước, “Thúy tây” rình chụp được một vụ. Hôm ấy anh Vũ Văn Dần (Đại Tá Cảnh Sát) được gia đình đến thăm và được ở lại 24 tiếng. Có mấy anh kéo xe cát về ngang nhà thăm nuôi, ngừng trước cửa, chắc là do anh Dần bảo nên chị Dần bước vội ra và dúi nắm tiền vào đống cát trên xe cải tiến, “Thúy tây” đứng sau khung cửa sổ trông thấy nhưng không nói gì hết. Khi các bạn kéo xe cải tiến đi, cô ta nói lớn:




“Các anh không được đi. Đứng đấy chờ tôi”.




Thế là “Thúy tây” bảo mấy anh đang thăm nuôi ra về cùng với xe cải tiến chở cát. Đến nhà trực trại, “Thúy quai xách” yêu cầu trực trại kiểm soát xe cát. “Trọng cụ non” kiểm soát không thấy gì, cho xe cát đi. “Thúy quai xách” bắt đứng lại, nó bảo mấy anh kéo xe cát phải xúc ra từng xẻng cho nó kiểm soát. Cuối cùng, 500 đồng bạc phơi mình trên đống cát, thế là “Thúy quai xách” lập biên bản. Ngay sau đó nó ra nhà thăm nuôi bắt anh Dần viết kiểm điểm và buộc chị Dần phải hứa 6 tháng sau mới ra thăm nuôi.




Thế nhưng chỉ hung hăng con bọ xít được vài tháng là quỵ ngã trước sức cám dỗ của quà cáp tiền bạc. “Công An cái” với cái miệng quai xách này nhận hối lộ chẳng kém tên Công An cai tù nào cả. Nó mang cả tiền và thư vào trong trại trao tận tay cho tù chính trị chúng tôi, nhưng nó ăn 15% lận.




Trở lại trường hợp anh Khoa chết. Trước khi ra về, tôi đưa vợ tôi địa chỉ nhà anh Khoa ở Sài Gòn để vợ tôi đến cho vợ anh Khoa là chị Bạch Vân biết trường hợp anh Khoa chết. Chỉ tuần sau đó, chị Khoa với cô con gái khoảng 20 tuổi đến trại. Chị Khoa xin cho tôi ra gặp chị. Không có đơn của vợ tôi nhờ thăm, có lẽ chị Khoa “hối lộ” cho chúng nó nên tôi được ra nhà thăm nuôi. Trông chị Bạch Vân buồn lắm, nhưng chị cố gắng nói chuyện với tôi:




“Anh biết hông. Lúc chị (Hoa) đến nhà nói với tôi là anh Khoa chết, tôi đâu có tin. Tôi cứ hỏi tới hỏi lui xem chị có nghe lầm không, nhưng chị quả quyết là anh chứng kiến anh Khoa chết thật. Tôi chỉ mới nửa tin nửa ngờ chớ chưa tin hẳn, vì tôi đâu được trại báo tin tức gì trong khi tôi chờ tin anh Khoa về nhà. Đến đây, tôi mới biết đó là sự thật”.




Chị nín lặng khá lâu. Không khóc! Có lẽ chị đã khóc nhiều rồi! Sau cái dụi mắt mà tôi nghĩ là chị lau khóe mắt ươn ướt. Chị trở lại bình tỉnh:




“Tôi nói anh nghe. Anh Khoa chết, coi như tôi thua canh bạc quá lớn anh à!”




Đến đây thì chị bật khóc thành tiếng! Con gái chị ngồi cạnh cũng khóc theo! Lúc ấy tôi chưa hiểu rõ câu nói của chị, cho đến tối tôi mới nghĩ: “Có lẽ chị Khoa lo tiền lo vàng gì đó để anh Khoa về, và cũng có lẽ đã đưa tiền đưa vàng cho họ rồi và đang chờ ngày anh Khoa về thì phải”.




Một lúc sau, chị lại nói và nói thật lớn như để các anh chị đang có mặt trong nhà thăm nuôi cùng nghe:




“Mấy anh có biết là ông Văn Vĩ đã lái xe Honda chạy vòng vòng Sài Gòn được rồi hông?”




Hầu như anh em tù chính trị đang thăm gặp gia đình đều ngạc nhiên quá sức. Tôi cũng vậy. Lúc ấy chị Khoa nháy mắt với tôi, thế là tôi hiểu. Và tôi hiểu như thế này. Ông Văn Vĩ là nhạc sĩ cổ nhạc rất nổi tiếng. Bất cứ ai mà thích nghe cổ nhạc, có thể nói là đều nghe đến tên ông với ngón đàn tuyệt diệu của ông. Nhưng ông không thấy đường. Nói rõ hơn là ông Văn Vĩ bị mù. Thế nhưng vừa rồi ai cũng nghe chị Khoa nói là lái xe Honda hai bánh được rồi. Nghĩa bóng của câu ấy được hiểu là người dân Sài Gòn bây giờ sáng mắt ra rồi, tức là hiểu được cộng sản rồi, không còn mù lòa về cái chủ nghĩa cộng sản ưu việt nữa. Tôi nói nho nhỏ:




“Câu nói của chị thật rõ nghĩa. Câu nói công khai như vậy nhưng qua mặt chúng nó dễ dàng vì chúng nó có biết gì đâu. Chị đã mang đến cho anh em chúng tôi một nhận thức chính trị của người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ. Cám ơn chị”.




Nỗi khổ của dân quê.




Mùa đông năm 1982, trại tổ chức lại các Đội tù chính trị sau khi các bạn từ trại tập trung Vĩnh Quang và Tân Lập (tỉnh Vĩnh Phú) chuyển đến đây, và một số đã chuyến về các trại trong Nam. Lần tổ chức này không còn các Đội cấp Đại Tá riêng biệt nữa, nghĩa là Đội hỗn hợp. Tôi vào Đội 5 và dọn sang buồng giam số 4, với trách nhiệm Đội Trưởng. Trong Đội 5 có 6 bạn trẻ mà trước đây thuộc Đội 20, bị bắt trong năm 1976 vì tham gia tổ chức Phục Quốc do Công An cộng sản trá hình tổ chức. Đội này lúc ở buồng giam số 8 có lúc công khai chống đối đám Công An, nên bị chúng nó chuyển ra biệt giam tại trại Mễ ở Phủ Lý. Khi trở về trại, sức khỏe của các bạn quá kém vì bị chúng nó hành hạ và phần ăn bị cắt giảm mà vốn dĩ đã không đủ no! Đến mức bạn trẻ Đặng Hữu Nam, trước đó là Đội Trưởng Đội 20, không thể tự mình từ cổng trại vào buồng giam được phải nhờ một bạn cỏng vào!




Đội 5 chúng tôi vào thung lũng khai phá trồng bí rợ và khoai mì. Thung lũng có nhiều cỏ tranh nên đám Công An gọi là thung gianh, trong khi chúng tôi gọi tắt là “thung”. Cách trại khoảng 4 cây số mỗi lượt đi về nên chúng tôi làm “thông tầm”, đi từ sáng đến chiếu mới về. Thung, toàn đá tảng trải dài hai bên triền núi cao, lác đác có đất trống từng mảng nhỏ nhưng cỏ tranh cao khỏi đầu. Công việc của chúng tôi là tìm những phần đất cỏ tranh để dọn sạch đào hốc trồng bí rợ và cuốc những khoảnh đất trống trồng khoai mì. Khởi đầu còn có Đội 6 với Đội 7 cùng vào thung lũng này, nhưng vài tháng sau chúng nó chuyển hai Đội bạn lao động khu vực khác.




Mỗi sáng chúng tôi lãnh phần gạo ăn trưa. Từ vài tháng nay chúng tôi được ăn gạo tuy là gạo đầy trấu và sạn. Nhớ lại những năm ăn 100% bo bo, khoai tây, khoai mì khô, hay bột mì luộc mà hãi hùng! Ngoài phần gạo, có thêm nắm rau. Chỉ thế thôi. Những anh có gia đình đến thăm nuôi hoặc được gia đình gởi tiếp tế thì có chút gì đó giúp cho bữa ăn trưa thêm đậm đà.




Thung lũng này rất rộng. Khi chúng tôi vào đây thì nhiều gia đình nông dân đang dở chòi và đào khoai mì mà họ gọi là thu hoạch để tìm vùng đất khác trồng trọt. Hỏi ra mới biết, nhiều gia đình nông dân từ Phủ Lý vào đây khai thác thung lũng hoang vu này cách nay 3 năm, khi thấy canh tác được nên Công An trại đuổi họ đi nơi khác với lý do đất của trại, họ bị đuổi nhưng không được một đền bù gì cả. Trong số dân nghèo khai phá trồng trọt ở đây, có gia đình ông Tạ với hai cô con gái, chuyển chòi của họ sát vào chân núi mà phía bên kia chân núi là nhà thăm nuôi của trại. Gia đình này đào khoai đến đâu, chúng tôi đào hốc trồng bí rợ đến đó. Tôi hỏi chị Tạ sau khi tìm hiểu về tình cảnh những gia đình canh tác nơi đây:




“Gia đình chị có ngần này người mà ban đêm dám ngủ ở đây sao?”




“Có phải chúng tôi ở đây ban đêm hết đâu. Chiều thì vợ chồng tôi về nhà ngoài Ba Sao một chút, ở nhà còn mấy cháu nhỏ nữa. Chỉ có hai đứa này ngủ đây thôi”.




Vừa nói chị vừa chỉ hai con bé gái bé xíu của chị.




Anh Dương Công Liêm ngạc nhiên: “Chị nói thiệt hả?”




Con bé lớn cười cười:




“Chỉ có cháu với em cháu ngủ đây thôi ông à. Mấy năm rồi chứ phải bây giờ đâu. Mà sao ông ngạc nhiên?”




Các bạn chung quanh cùng nói: “Cháu can đảm thiệt”.




Anh Liêm hỏi: “Chị Tạ ơi! Cháu này được mấy tuổi rồi chị?”




“Cháu Oanh 16 tuổi, còn cháu Loanh 15. Cháu có can đảm can điếc gì đâu mấy ông ơi, chẳng qua là do miếng ăn dần dần rồi quen thôi ”.




“Chị nói sao. Một cháu 15 và một cháu 16 à?”




“Vâng. Trẻ con ở cái đất này có được ăn uống như trong Nam mấy ông đâu mà lớn được. Vùng Ba Sao ra đến Phủ Lý trẻ con đều thế cả”.




“Xin lỗi chị. Tôi không có ý gì khác đâu”.




Quả thật khó tin, nhưng trước mắt là sự thật. Chúng tôi không thể ngờ vóc dáng hai cháu này áng chừng 10 hay 11 tuổi là cùng, không ngờ chúng tôi đoán sai quá xa. Ngẫm cho cùng, câu nói của chị Tạ là một lời than cho cái thân phận người dân xã hội chủ nghĩa 20 năm trên đất Bắc! Nếu chưa đủ tiêu biểu cho nhiều địa phương đồng bằng Sông Hồng, ít ra cũng là cái khốn khổ của người dân nói chung và tuổi trẻ nói riêng quanh vùng này!




Mỗi hốc bí rợ, chúng tôi cho vào 80% phân xanh làm từ những cây dại mà thân mềm, và 20% phân cứt dê mà chúng tôi gọi là “phân thầy”. Thường ngày có hai bạn là anh Phạm Kim Tấn với anh Thuận khiêng “phân thầy” từ cái chuồng dê mà chúng tôi gọi là “chung cư của thầy” ở mãi 3 cây số cách nơi chúng tôi trồng bí. Đúng là người ăn độn, súc vật ăn độn, hốc bí rợ xã hội chủ nghĩa cũng ăn độn luôn.




Đó là công việc, bây giờ mời quí vị quí bạn nhìn qua cuộc sống dọc theo thung lũng này một chút, hi vọng sẽ nhận ra điều gì đó về thân phận người phụ nữ xã hội chủ nghĩa nơi đây. Thượng nguồn thung lũng có một làng của người cùi, xa hơn nữa là nông trường trồng trà.




Vào những ngày giáp Tết, tên võ trang bảo tôi theo hắn vào làng cùi mua vài món về ăn. Ở đây có bán gà vịt, trái cây, rau cải. Vào làng cùi, phải thú thật là tôi rất sợ, vì mọi người già trẻ lớn bé, không lở loét cũng tay không ngón, chân không bàn. Vì là lần đầu hắn kéo tôi đến đây nên trong túi không có đồng nào cả mà chỉ đi một vòng rồi quay về Đội. Từ ngày Đội chúng tôi vào thung lũng này, có thể nói là chúng tôi “mua đứt” tên quản giáo với tên võ trang, cho dẫu là tên võ trang thay đổi hằng tháng, có khi hằng tuần. Mỗi sáng đến khu vực trồng bí, tôi cho mỗi đứa 10 điếu thuốc quấn và lon guigoze nước trà, do chú Hổ -bạn tù trẻ- nấu. Thuốc quấn, là thuốc điếu người ta quấn bằng tay bán từng bó 100 điếu chỉ vài đồng, mà tôi gởi tên quản giáo mua giùm để phát cho chúng nó hút khi ốheo Đội .




Lúc ăn sáng ăn trưa, ngoài anh Phạm Kim Tấn (Trung Tá Cảnh Sát), tôi, với chú Hổ, còn có tênquản giáo với võ trang cùng ăn với chúng tôi. Trừ lúc ăn, hai tên gần như chỉ ngồi trong cái chòi bé xíu cách chòi chúng tôi không xa, vì hắn đồng ý với tôi là khi giao só lượng hốc bí cho chúng tôi làm, đến chiều trước khi rời nơi đây hắn mới kiểm soát kết quả việc làm. Nhưng làm sao hắn kiểm soát nỗi vì khu vực rộng lớn toàn đá tảng với bụi rậm, chỗ này vài hốc bí, xa xa chỗ kia vài hốc bí, ngay khi chúng tôi đi tìm cũng khó chớ nói gì tên quản giáo kiểm soát. Chỉ khi những giây bí nằm la liệt trên các tảng đá hắn mới trông thấy được.




Trước ngày nghỉ Tết, tên võ trang hướng dẫn một số anh em chúng tôi vào làng cùi mua những cành đào rất đẹp để trang trí buồng giam chúng tôi, đồng thời tặng bên Tổ Văn Hoá để trang trí nơi tranh giải cờ tướng với giải bóng bàn do anh em “cầu thủ” tù chính trị chúng tôi tranh giải. Nói là “tranh giải” cho nó oai chớ thật ra khi chiếm hạng nhất cũng chỉ vài cái bánh ngọt với nhúm trà, và tiếng vỗ tay của bạn bè chung quanh thôi. Nhưng cũng giúp đôi chút nhẹ nhàng thư thái trong cái không khí trại tù vốn dĩ luôn căng thẳng!




Hãy gọi là “thể thao”.




Nói đến bóng bàn mà không nói đến anh Chu Văn Sáng (Đại Tá An Ninh Quân Đội) quả là thiếu sót lớn. Vào giữa những năm 50, anh Sáng là Trưởng đoàn tuyển thủ bóng bàn Việt Nam đoạt giải bóng bàn thế giới tại Tokyo, Nhật Bản. Chiến thắng oanh liệt của đoàn tuyển thủ Việt Nam khi hạ đoàn tuyển thủ Nhật Bản tại thủ đô của họ trước sự có mặt của Thái Tử Nhật. Sau đó, theo lời mời của đoàn tuyển thủ Pháp, đoàn tuyển thủ Việt Nam sang Paris và hạ luôn đoàn tuyển thủ này ngay tại thủ đô của họ.




Nói đến cờ tướng mà không nói đến anh Nguyễn Văn Phiên (Đại Tá, Tổng Nha Tài Chánh & Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng), cũng là một thiếu sót khác. Tuy anh Chu Văn Sáng cũng là tay cờ tướng mà nhiều bạn không đương cự nỗi, nhưng anh Phiên là người đoạt giải.




Hào hứng nhất là bóng tròn, hay nói cho dễ hiểu là đá banh. Bước đầu hình thành tương đối khó, nhưng sau đó thì cả trại chia ra 3 đội hạng A và 3 đội hạng B. Tôi nói “chia ra” chớ không phải tổ chức, vì bất cứ bạn nào chịu mang giày vào sân, và thích đội nào thì vào đội đó miễn đủ 7 người là được. Thay vì đội banh phải 11 người, nhưng vì sân trại không đủ kích thước của sân banh, nên chỉ cần 7 cầu thủ: 1 thủ môn + 2 hậu vệ + 1 trung vệ + và 3 ở hàng tiền đạo. Chia ra là như vậy, chớ nếu “tổ chức” phải chọn những anh thích hợp từng vị trí trong sân. Nguồn gốc của “phong trào” đá banh, xin tạm gọi như vậy cho ra vẻ một chút, là đầu tháng 09/1981, tổ Văn Hoá do anh Dương Huy Nam (đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng) trách nhiệm, được trại cấp cho 2 trái banh để tù chính trị đá chơi nhân ngày lễ 2/9 của họ. Anh Cao Văn Phước, một thời là thành viên Tổng Cuộc Bóng Tròn Việt Nam, và từng hướng dẫn đoàn tuyển thủ bóng tròn tham dự nhiều giải quốc tế, tương tự như anh Chu Văn Sáng bên bóng bàn vậy. Anh Phước rủ từng anh vào sân đá banh chơi. Thế là nhiều anh em tham gia, đá hươu đá vượn gì cũng được, miễn có chạy tới chạy lui thì đám trực trại mới mở cửa buồng giam cho ra ở ngoài xem.




Mang đôi giày vải vào sân là may rồi chớ làm gì có giày đá banh. Còn cái sân banh chính là cái sân giữa trại, hai bên là hai bức tường đá tảng, bên trên có hàng rào kẽm gai, nền sân là nền đá lổm chổm, nếu không cẩn thận là đá luôn những cục đá nho nhỏ trên sân nữa. Chuẩn bị cho trận banh đầu tiên, anh Phước hỏi tôi:




“Anh muốn đá ở vị trí nào?”




“Tôi quen hậu vệ giữa, nhưng với kích thước sân này anh cho tôi đứng trung vệ xem sao”.




“Ủa. Bộ anh có đá banh rồi hả?”




“Trong những năm 1937 đến 1940, lúc học trường sơ học Đại Ngãi (Sóc Trăng), tôi là “vua ăn trộm” bưởi trên cây đem thui cho mềm một chút rồi cột giây chuối vào để đội banh tí hon tụi tôi đá được vài trận. Bị đòn quá trời nhưng hổng bỏ cái bệnh đó được vì tôi mê đá banh lắm. Năm 1954, lúc học ở Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, tôi cũng đá trong đội banh của trường. Năm 1956-1958 phục vụ Trung Đoàn 35 ở Plei Ku rồi Kon Tum, tôi vẫn đá”.




“Ê! Trung vệ phải chạy lên tấn công rồi chạy về tăng cường phòng thủ, mệt lắm à nghe. Nhắm kham nỗi hông đó?”




“Lo gì, cứ thử một hiệp xem sao”.




Thế rồi trận đầu tiên với hai đội tạp nham, với chiến thuật cũng tạp nham, mạnh ai nấy đá, trúng cũng đá mà trật cũng đá, nhưng rất ư là vui vì “khán giả” ngồi bít các đầu hành lang vào các buồng giam, vỗ tay liên hồi. Vỗ tay, không phải do đá hay mà là đá loạn trên sân làm cho các bạn tức cười. Vậy là vui rồi. Nhưng sáng hôm sau hầu hết “cầu thủ” chúng tôi đều khai bệnh, vì bắp thịt chân “bị xổ” nên đi đứng rất khó. Anh này nhìn anh kia, muốn cười mà cười không nỗi. Mỗi lần leo lên sàn gác bên trên, tay phải nắm song sắt cửa số đầu hồi buồng giam, tay trái nhấc cái chân để lên nấc cái thang sắt thẳng đứng, đến lượt thay tay để nhấc chân phải lên, và lần thứ hai là ngồi trên sàn gác được rồi. Nhưng sau vài trận thì các bắp chân bình thường trở lại, không thấy đau nữa. Thật ra đâu phải mỗi ngày được đá banh, mà chỉ được đá vào chiều thứ bảy hoặc ngày chủ nhật thôi, nhưng có cái lợi là khi đá banh thì đám trực trại không đóng cửa buồng giam, nếu không đá banh thì chúng nó khóa cửa nhốt trong buồng.




“Phong trào” đá banh được hình thành trong sự hào hứng như vậy đó, nhưng nuôi dưỡng được phong trào mới khó, thậm chí rất khó vì làm sao có banh để đá, và có nước chanh đường để uống hằng tuần. Công An trại chỉ có thể cho vài trái banh nhân ngày lễ của họ thôi. Với lại banh do mấy cái xí nghiệp trời ơi của xã hội chủ nghĩa trên đất bắc sản xuất, đá vài trận là nó sút chỉ hết trơn, lúc ấy chỉ có liệng vào đống rác thôi.




Trong lần vợ tôi thăm hồi đầu năm 1982, tôi thuật vợ tôi nghe về điều khó khăn để nuôi dưỡng phong trào đá banh, vợ tôi hứa sẽ nói với một số chị bạn trong mục đích luân phiên ủng hộ banh cho anh em chúng tôi. Thế là từ cuối mùa xuân năm 1982, gần như cứ hai tháng chúng tôi nhận được một trái banh từ Sài Gòn gởi ra. Thỉnh thoảng còn có một lố khăn lông nhỏ để lau mặt trong lúc giải lao giữa hai hiệp. Phải công nhận những trái banh do kỹ nghệ tại Sài Gòn sản xuất có phẩm chất tốt hơn nhiều so với kỹ nghệ xã hội chủ nghĩa 20 năm trên đất Bắc. Đá được 7 hay 8 trận mới loại ra, dù rằng sân đá banh toàn đá dăm nên da banh mau mòn lắm. Anh Dương Huy Nam gởi Công An đi phép cuối tuần mua giùm cái còi cho trọng tài là anh Cao Văn Phước. Thỉnh thoảng anh Bùi Đức Tài (Đại Tá Tỉnh Trưởng Tây Ninh) hoặc tôi luân phiên làm trọng tài. Có điều là chúng tôi chỉ đá mỗi hiệp 30 phút thay vì theo đúng luật phải đá 45 phút, vì lẽ anh em cầu thủ chúng tôi trẻ nhất cũng hơn 30 tuổi, còn già sơ sơ như tôi cũng hơn 50, đá đúng luật theo thời gian e kiệt sức.




Do hàng hóa sản xuất tại Sài Gòn dù là Sài Gòn cộng sản vẫn có được phẩm chất tốt, cho nên những tên Công An được đi công tác trong miền Nam, họ xem như tương đương với xuất ngoại sang Liên Xô vậy. Và đám Công An quản giáo với võ trang, rất thích đá banh sản xuất tại Sài Gòn, nhưng vì không có nên chúng nó muối mặt vào trại đá với tù chính trị chúng tôi. Chúng tôi đá với nhau còn nương tay nương chân, nhưng với đám Công An thì chúng tôi đá đến nơi đến chốn lắm, nghĩa là thẳng chân. Ngón nghề nào dùng được là dùng với họ nhưng không sợ chúng nó trả thù, vì khi đến chỗ lao động chúng nó vẫn nhờ cậy chúng tôi về trà thuốc, nhất là thuốc tây trị bệnh. Thỉnh thoảng cũng có đứa chơi xấu, lúc ấy anh em khán giả chúng tôi la ó dữ lắm, có hôm đến mức đám trực trại phải đánh kẻng nhốt vào buồng giam.




Bình thường không có lý do gì để “tranh giải” thì giữa các buồng giam cáp độ đá với nhau, đội banh của buồng nào thua phải đãi bên buồng thắng một nồi chè. Chè gì cũng được nhưng phải ngọt đúng mức, vì có lần buồng chúng tôi thắng trận nhưng khi ăn chè giống như ăn đậu xanh luộc vậy quí vị quí bạn à! Có những trận giữa hai đội lão tướng, hoặc hai đội trẻ, lần vui nhất là đá với nhau giữa hai đội độc thân. Vui vì độc thân được hiểu là còn trẻ, thế nhưng anh Nguyễn Kim Tây lúc ấy hơn 50 tuổi mà vẫn độc thân, cũng phải vào sân. Theo banh một lúc là đứng thở để banh lăn tự do. Chưa hết, chúng tôi còn cáp độ giữa khu bên này với khu bên kia nữa, tức là các buồng giam khu bên kia thành lập một đội banh, đấu với đội banh của các buồng giam khu bên này. Như vậy quí vị quí bạn cũng hình dung được là các cầu thủ “xào qua xáo lại” để có những cái tên đội banh nghe như nhiều lắm, chẳng hạn như trận đấu giữa hai đội lão tướng, trận đấu giữa hai đội thanh niên, trận đấu giữa hai đội của hai khu, trận đấu giữa hai đội độc thân, trận đấu giữa đội nhà bếp với “đội tuyển trại”, vì đội nhà bếp có nhiều cầu thủ ngon lành lắm, ..v..v…Có điều là trận banh càng dở chừng nào càng làm cho khán giả cười đến đau bụng lận.




Sau Tết, khoảng trung tuần tháng 03/1983, một số các anh cấp Đại Tá đã chuyển trại trên Yên Bái hồi tháng 10/1977, lại chuyển đến trại Nam Hà. Lúc ấy tôi mới biết các anh ấy từ Yên Bái chuyển xuống trại Tân Lập tỉnh Vĩnh Phú, sau đó chuyển vào trại Thanh Phong tỉnh Thanh Hóa. Tại đây một số trong số đó chuyển vào các trại trong Nam, và số còn lại chuyển đến trại Hà Tây tỉnh Hà Sơn Bình, nay cả trại Hà Tây chuyển đến đây.




Tháng sau đó, khoảng 200 cấp Đại Tá trong trại Nam Hà A -kể cả số Đại Tá từ trại Hà Tây mới chuyển đến- cùng chuyển vào Nam, và nghe đâu bị nhốt trong các trại tập trung ở Xuân Lộc với Hàm Tân. Riêng số bạn cấp Đại Tá hoặc viên chức hành chánh cao cấp trong Tổ Dịch Thuật từ Hà Tây đến, không một bạn nào chuyển vào Nam. Tổ này chuyên dịch các tài liệu và các sách Anh ngữ lẫn Pháp ngữ, nghe nói do cơ quan nghiên cứu gì đó thuộc Bộ Quốc Phòng của cộng sản đưa dịch. Trong số các bạn từ Hà Tây xuống, còn có các vị cựu Tướng Lãnh và bị nhốt riêng trong buồng giam số 3. Các vị không ra ngoài lao động mà chỉ quanh quẩn trong khuôn viên buồng giam này.




Trở lại Đội 5 chúng tôi trồng bí rợ và trồng khoai mì trong thung lũng cỏ tranh. Bên rìa thung lũng có một khu đất nho nhỏ chưa thể gọi là “nghĩa trang” nhưng cũng có một số mộ của tù chính trị lẫn tù hình sự. Mỗi khi có một tù nhân chết, họ sai hai tù hình sự khiêng cái gọi là quan tài đi chôn. Các anh hình sự cứ chỗ nào tiện đào là bỏ quan tài xuống đó mà lấp đất, tiện nhất là cứ tìm cái mộ nào thân nhân đã hốt cốt rồi quẳng cái quan tài xuống rồi lấp đất sơ sài là xong. Vì vậy mà những ngôi mộ ngang dọc rất ư lộn xộn, không biết đầu đít ngôi mộ ở phía nào vì không có cái gì khả dĩ thay thế mộ bia. Sở dĩ chúng tôi biết có khu mộ này là do con gái của anh chị Tạ nói. Lúc nửa giờ nghỉ trưa, tôi nhờ Hổ với Tâm, hai anh bạn tù trẻ trước kia thuộc Đội 20, lén theo con bé để nó chỉ khu mộ đó để biết mà đốt nhang khi có thể thực hiện được.




Nhân tháng “Thanh Minh”, tôi với Hổ lén đến khu mộ toàn cỏ tranh rậm rạp cao khỏi đầu. Hóa ra là gần cái chòi của hai con bé Oanh và Loanh. Hầu hết đã bị trâu bò dẫm nát và gần như chỉ còn một nhúm đất cao thôi, nếu không được hai cô bé tội nghiệp kia chỉ từng nhúm đất thì không thể nhận biết đó là ngôi mộ, ngoại trừ mộ của anh Khoa là dễ nhận. Thật là buồn! Đồng đội và đồng tù của chúng tôi khi từ giả cuộc đời không một người thân bên cạnh! Ngày vào trại tập trung với nguyên vẹn một con người từ thể xác đến tinh thần, ngày ra khỏi cổng trại lại nằm trong cái quan tài nhỏ bé tồi tàn, máng trên hai vòng giây với cây đòn dài do hai chú tù hình sự khiêng đến chân núi bên kia trại mà ”yên nghỉ” dưới lớp đất sơ sài gọi là những nấm mộ!




Sau khi cắm nhang xong, tôi nói với chú Hổ:




“Hổ, mình đứng yên lặng và cúi đầu một phút để tưởng nhớ các bạn đồng tù đã không còn nữa nghe Hổ!”




Xong. Tôi với Hổ lần lên triền núi thử tìm hai ngôi mộ mà lúc cầu cơ có hai hồn nhập vào nói là sĩ quan Hoa Kỳ chết vì kiệt sức tại trại Nam Hà A này, nhưng không tìm được bất cứ dấu vết gì để có thể xem đó là nấm mộ cả. Thuật chuyện quí vị quí bạn nghe như cả buổi trời, nhưng thật ra chỉ trong khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ là chúng tôi quay về, vì e thằng võ trang biết được thì phiền lắm.




Nỗi khổ của nữ công nhân.




Trưa hôm sau, tôi nhờ Hổ lén sang nhờ hai con bé Oanh với Loanh làm cỏ quanh những ngôi mộ, nhưng hai con bé này đòi đến 5.000 đồng tiền công, đào đâu ra ngần ấy tiền vì chúng tôi ước tính năm bảy chục đồng thì chấp nhận được. Thế là anh Huỳnh Chí Tài -quốc tịch Hong Kong- bị Công An bắt vì cờ bạc rồi đưa vào nhốt chung với chúng tôi, cùng với chú Hổ tình nguyện mỗi trưa lén sang làm cỏ.




Cũng may là vài hôm sau đó, tên võ trang gọi tôi:




“Anh Hoa, anh vô Đội 4 Nông Trường chè (trà) với tôi”.




“Chi vậy cán bộ?”




“Đi chơi mà. Nếu tiện thì mua ít đổ (đậu) xanh về nấu chè ăn”.




“Xa không cán bộ?”




“Khoảng 1 giờ đi chân”.




“Liệu cán bộ Cảnh -quản giáo- có cho tôi đi không?”




“Tôi nói với cán bộ Cảnh rồi”.




“Không được cán bộ, tôi phải hỏi cán bộ Cảnh cho chắc”.




Hắn ở đằng chòi, nghe nói thế bèn lên tiếng:




“Tôi đồng ý anh đi với cán bộ Minh, nhưng phải trở về đây trước giờ về trại”.




Tôi xoay sang tên võ trang: “Cán bộ chờ tôi một chút”.




Tôi gọi chú Hổ:




“Hổ, chú rủ anh Tài sang khu mộ làm cỏ được rồi, vì tôi đi với cán bộ Minh cũng phải 3 tiếng đồng hồ lận. Áng chừng hai tiếng đồng hồ là quay về đây nghe Hổ”.




Tên võ trang đi trước, tôi theo sau. Băng qua làng người cùi, ngang qua khu rừng chồi, bắt đầu vào khu vực Đội 4 Nông Trường Trà ở thượng nguồn thung lũng. Hắn mặc đồ Công An, tôi mặc quần áo tù. Đứng trước gian nhà thật nhỏ ngay đầu dãy, đang có sáu cô gái ngồi bên trong. Một trong sáu cô gái vui vẻ:




“Chào anh Minh”. Rồi cô ta nhìn tôi: “Chào anh”.




Tên Minh đưa tay về phía tôi:




“Giới thiệu với các cô, đây là anh Hoa”.




Cô vừa chào, lên tiếng:




“Mời anh Minh và anh vào. Các anh thông cảm cho cảnh nghèo của chúng em nhé!”




Tên Minh có vẻ nịnh đầm:




“Sao hôm nay cô Lan rào đón thế?”




Hai cô cầm hai chiếc ghế đẩu mời ngồi cạnh cái bàn già nua ọp ẹp, trong khi bốn cô kia ngồi chung trên cái giường cá nhân mà tuổi đời với phẩm chất của nó cũng tương đương với cái bàn. Tên Minh hỏi:




“Tất cả các cô ở chung gian nhà này à?”




Cô gái tên Lan trả lời:




“Không anh à! Mỗi gian chúng em ở hai hoặc ba người. Gian này em ở với chị Ánh. Đây là nhà ở, vừa là văn phòng của Đội 4”.




Cô ta quay sang tôi:




“Mời anh dùng chè. Anh có dùng chè xanh được không? Ở đây chúng em nghèo lắm, chè này nếu phải mua chúng em cũng không có tiền mua đâu. Đây là chè xanh trên mấy ngọn đồi mà các anh vừa đi qua đấy”.




Từ nảy giờ tôi im lặng dò xem thái độ các cô gái này đối với tôi xem sao, vì trông vào bộ đồ của trại tù tất nhiên các cô này đoán biết tôi là tù. Các cô nhìn tôi, nhìn thẳng lẫn nhìn lén. Có lẽ các cô muốn nhận biết người miền Nam như thế nào, cho dẫu người miền Nam đang đối diện với các cô là tù chính trị.




“Cám ơn các cô. Đến nay là hơn 7 năm tôi ở trong các trại trên đất Bắc, tôi uống trà xanh này khá nhiều. Có nghĩa là tôi uống được. Còn các cô than nghèo, thật ra đất nước nghèo, người dân nghèo, điều này cả nước biết mà. Tôi xin hỏi, các cô có biết tôi là thành phần nào ở vùng này không?”




“Dạ có, vì nơi anh ở là trại Ba Sao, nơi anh đang ngồi là nhà chúng em ở Nông Trường Ba Sao, nên chúng em biết”.




“Vâng. Cám ơn các cô”.




Cô Ánh hỏi tôi:




“Anh có đến đây lần nào chưa?”




“Đây là lần đầu tiên. Chẳng lẽ cô nghĩ tôi muốn đi là đi được sao?”




“Xin lỗi anh”. Im lặng một lúc, cô ta nói tiếp:




“ Chắc anh chưa biết hoàn cảnh của chúng em. Trong Đội 4 này có 102 công nhân, nhưng có đến 100 nữ mà chỉ có hai nam công nhân thôi …”.




Tên võ trang cắt ngang dường như nó quê vì không cô nào nói chuyện với nó:




“Trong số 100 cô, có bao nhiêu cô có chồng?”




“Chỉ có hai chị có chồng”. Cô Lan trả lời.




“Buồn nhỉ?”




“Anh nói anh buồn hay anh nói chúng em?”




Tên Minh ú ớ mãi mà chưa trả lời, tôi mĩm cười:




“Có lẽ cán bộ Minh muốn làm người thứ 3 lập gia đình ở đây nhưng chưa rõ ý các cô ra sao thì phải”.




Cô tên Ánh nói như một lời than:




“Không ai đến đây với chúng em đâu anh!”




Ngưng một lúc, dường như cô ta đang xúc động!




“Chúng em biết số phận của chúng em trong xã hội này lắm anh. Có khi cả năm mới có một vài anh vì lý do gì đó mới tạt vào đây, chứ chẳng anh nào muốn làm bạn với những cô gái lam lũ quanh năm chỉ quanh quẩn những đồi chè như chúng em đâu!”




“Tôi là người miền Nam, nhưng các cô đừng nghĩ là tôi quá lời về miền Nam chúng tôi. Miền Nam chúng tôi có rất nhiều đồi trà mênh mông bao quanh thành phố Plei Ku và vùng Bảo Lộc, mà là có từ bốn năm chục năm trước. Nhưng ngay trong mấy chục năm chiến tranh mà công nhân vẫn có mức sống cao cùng với mọi tiện nghi trong gia đình, và hưởng mọi tiện nghi tân tiến trong xã hội nữa. Thật lòng mà nói, tôi không hiểu tại sao đời sống của các cô như thế này?” Tôi xin hỏi thêm, theo các cô thì những cô gái ở các vùng khác có cuộc sống khá hơn các cô ở đây không?”




Tên võ trang lên tiếng:




“Tại vì chế độ trong đó thoáng hơn”.




Tôi đáp với chút ngạc nhiên: “Có thể là như vậy”.




Lẽ ra tôi phải nói chính xã hội chủ nghĩa làm cho dân nghèo, đất nước nghèo, nhưng dù gì thì thằng này cũng là Công An cai tù, nói như vậy cũng đủ rồi. Câu của hắn vừa rồi, không hiểu là hắn muốn bẫy tôi, hay trong lúc bất chợt hắn bộc lộ nhận thức chính trị trong con người thật của hắn? Hắn hỏi tôi:




“Anh có đọc bài báo viết về Nông Trường Chè Sông Bôi chưa?”




“Có, vì tôi phụ trách đọc báo trong buồng giam”.




Cô tên Lan hỏi tôi: “Bài báo nói gì vậy anh?”




“Tôi không biết là có nên nói hay không nữa”.




Đó là cách gợi thêm tính tò mò của cô ta nên tôi bỏ lửng như vậy. Tên Minh châm mồi:




“Bài báo nói bên Nông Trường Sông Bôi có đến mấy trăm cô chưa chồng đó mà”.




Cô Lan tỉnh bơ:




“Tưởng gì chứ tin đó bình thường thôi. Hiện giờ công nhân nữ ở Nông Trường nào cũng thế đấy. Bộ anh Minh tưởng Nông Trường này ít à!”




“Tôi thấy bài báo nói ở đó hơn 400 cô chưa chồng, nhưng không thấy nói tổng số các cô ở đó là bao nhiêu nên chưa thể nói là nhiều hay ít”.




“Họ nói chưa đúng đâu anh …..”.




Tên Minh cắt ngang:




“Chẳng lẽ cứ câu chuyện này mãi sao!




Như một lời than, cô Lan nói:




“Thú thật với các anh, chuyện của chúng em ở cái xó rừng này quanh quẩn chỉ thế thôi. Đó là sự thật không thể chối bỏ, đến mức chúng em xem nó bình thường nên chẳng tránh né gì cả”.


Không thể chần chờ được nữa vì phải một tiếng đồng hồ đi bộ để còn kịp giờ về trại, tôi nhắc tên võ trang ra về. Cô Lan vào trong cầm ra một bọc giấy nhỏ:




“Anh Minh cho anh Hoa nhận trà xanh đem về trại uống được không?”




“Được”. Anh Hoa nhận đi”.




Cô ta quay sang tôi:




“Anh Hoa, anh mang trà này về trại uống. Ở đây chúng em chỉ có thế”.




“Cám ơn cô. Chào các cô”.




Sau lời chào đó, tất cả các cô bước ra cửa vẫy tay như một cử chỉ thân thiện. Trên đường về, tôi hỏi:




“Bộ thanh niên vùng này không thích cưới vợ là công nhân ở các Nông Trường sao cán bộ?”




“Anh không biết. Thời bây giờ chẳng anh nào lao đầu vào cưới các cô không có kinh tế cơ bản cả. Tôi không rõ trong Nam các anh ra sao, nhưng ngoài này (tức đất Bắc), sắc đẹp là thứ yếu, kinh tế (ý nói có tiền) mới là chủ yếu”.




“Cán bộ có thể nói trường hợp điển hình được không?”




“Bất cứ cô nào trong số đó, nếu chuyển sang làm mậu dịch viên (tức là đứng bán hàng) là tôi cưới ngay. Làm mậu dịch hoặc nghề máy khâu (thợ may) thì có đồng vào, chứ cưới vợ mà vợ không đẻ ra tiền lại đẻ ra con thì chết sớm thôi. Thanh niên ngoài này (tức trên đất Bắc) thế đấy”.




“Tôi nhớ ra rồi. Có lần cán bộ Giao nói với anh em chúng tôi rằng, sở dĩ cán bộ Giao không cưới cô Liên em gái cán bộ Thịnh (khuỳnh), mà cưới cô nào đó làm thợ may ở Ninh Bình vì cô thợ may có tiền vô hằng ngày, dù rằng cô đó kém cô Liên về sắc đẹp. Cán bộ Giao còn nói cô Liên chỉ là công nhân nhà bếp, vài chục đồng lương mỗi tháng làm sao mà sống”.




“Thanh niên miền Bắc chúng tôi vậy đó anh. Anh biết vợ cán bộ Lực không?”




“Biết, vì khi Đội chúng tôi trồng rau dưới đồng, cô ấy hay xuống xin rau”.




“Xấu như ma lem mà ông Lực vẫn cưới, chỉ vì bố vợ ông Lực là Đại Úy trưởng phòng tổ chức của trại, nên ông Lực nương vào bố vợ để tiến thân. Nhờ vậy ông Lực mới được cái chức trưởng toán trực trại chứ bình thường thì đừng hòng”.




“Cán bộ có biết vụ cán bộ Hèo từ hôn với cô nào đó không?”




“Có chứ. Bị ông bố ép quá nên ông Hèo mới chịu làm lễ đính hôn với cô công nhân trồng cói (tức lát làm chiếu). Mà anh có nghe nói gì về cô đó không?”




“Không, cán bộ”.




“Cô ấy nom xinh xinh nhưng vì không có kinh tế cơ bản, nên sau một tháng đi lại với nhau thì ông Hèo bỏ luôn”.




“Theo cách nhìn của tôi, cán bộ Hèo hành động như vậy không đúng. Thà không chịu từ lúc đầu, đằng này cán bộ Hèo dắt cô ta về quê cả tuần rồi dứt giây là không tốt”.




“Anh nói theo anh ở trong Nam, chứ thanh niên ngoài Bắc này nhất trí (tức đồng ý) với hành động của ông Hèo”.




Qua câu chuyện vừa rồi, tôi nhận ra vài điểm sau đây:




- Thật lòng mà nói, lời của các cô gái xã hội chủ nghĩa ở Nông Trường trà vừa rồi, chính là những lời than tự con tim các cô ấy rất là tội nghiệp! Các cô nói lên sự cùng cực về vật chất, và cùng cực về tình yêu trai gái như một số phận! Chấp nhận một cách tự nhiên như hơi thở từ giây này sang giây khác vậy! Nhưng tôi không cho là số phận, mà chính là tội ác của lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã đẩy xã hội miền Bắc xuống đến tận cùng của đau khổ!




- Lời của tên Minh võ trang “tại vì chế độ trong đó thoáng hơn”, tôi tin là hắn bộc lộ bản chất thật trong con người của hắn. Hắn nhận ra điều đó, nhưng hắn không thể nói với đồng chí của hắn, và trong lúc bất chợt hắn không kịp nén lại bên trong mà thốt nên lời. Chừng như hắn nhận ra sự lỡ lời đó nên hắn xoay sang đề tài khác.




- Vậy là quan niệm hôn nhân của thanh niên xã hội chủ nghĩa trên đất bắc này không còn lồng trong cái gọi là lý tưởng cộng sản nữa, mà là gói gọn trong vật chất dù chỉ là mớ vật chất nhỏ nhoi của cô thợ may hay cô gái bán hàng mà họ gọi là mậu dịch viên. Hoàn toàn không còn tình yêu trong hôn nhân nữa.




Những nhận xét trên đây, chính là ông Hồ và những nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, vừa xây dựng con người trên nền tảng duy vật vừa phá tan đạo đức dân tộc để thay vào đó cái gọi làđạo đức cách mạng, chỉ biết nghe theo đảng và chết cho đảng. Hoàn toàn không có cái gì thuộc về bản thân của những thế hệ thanh niên đúng nghĩa thông thường nữa.




Miên man trong câu chuyện xã hội chủ nghĩa mà lần đầu tôi được biết qua những cô gái vừa nghèo vừa khổ, mà về đến Đội lúc nào không hay. Khi tiếng chú Hổ gọi tôi mới ngưng suy nghĩ vì đến cái chòi của chúng tôi rồi.




Tôi rút cây viết ra vì trong cây viết có cái đồng hồ nhỏ xíu mà vợ tôi cho hồi đầu năm nay, thấy còn thì giờ, tôi đi một vòng xem qua những đám bí rợ và khoai mì. Bí rợ thì vài tuần nữa là hái được, nhưng khoai mì còn phải vài tháng nữa. Trồng khoai mì thì sau khi bỏ “cọng hom” xuống cái hốc, cứ chờ đến ngày nhỗ lên lấy củ, trong khi dây bí rợ bò tứ tung phải kéo đầu nó để lên các tảng đá hoặc những nhánh cây nhỏ cho nó bám vào. Khi bí rợ ra hoa mà hoa thì có hoa đực hoa cái, cứ mỗi sáng anh Nguyễn Xuân Dung (Đại Tá Thiết Giáp) được phân công, len chân vào đám bí ngắt “hoa đực” đem cắm vào “hoa cái” gọi là “thụ phấn” để có đủ âm dương mà kết thành trái. Đúng ra theo tự nhiên thì “hoa cái” thụ phấn do ong, bướm, kiến, đậu trên hoa đực rồi bám vào hoa cái, thế nhưng “nước sông công tù” nên dư nhân công để làm “cái việc ấy” thay ong bướm. Khi từ nụ hoa kết thành trái thì phát triển nhanh lắm. Đến khi không cần cho kết trái nữa sau khi mỗi giây chỉ để 2 trái cho nó lớn, chúng tôi tha hồ ngắt đọt bí và bông bí luộc hay nấu canh đều ngon cả. Tôi nói luộc hay nấu canh, quí vị quí bạn nghe như những món ăn “đâu ra đó” chớ thật ra chỉ là nồi nước với đọt bí bông bí bên trong, đổ nước ra gọi nó là luộc, để nguyên nước cho vào chút muối với chút bột ngọt gọi nó là canh.




Nỗi khổ của hai ba thế hệ.




Nơi mà chúng tôi chọn làm cái lều nhỏ xíu để nấu nước cho Đội và anh em tự nấu cái gì đó để ăn, là ngã ba đường mòn. Con đường mòn này dài theo thung lũng, có cái ngã ba leo lên dốc núi khá cao để qua thung lũng bên kia núi thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, vì bên đó có nhiều người dân từ Phủ Lý vào khai phá trồng trọt. Trong số những người dân làm lụng bên đó có một gia đình bốn người, gồm: Một ông già khoảng 60 tuổi với 3 đứa cháu: Một cô gái khoảng 20 tuổi, và hai cậu bé 12 và 14 tuổi. Theo lời ông cụ, mỗi lần vào là ở đó một tuần, về lại Phủ Lý vài ngày thì trở vô. Nhìn thấy cả gia đình gánh khoai mì từ thung lũng bên kia, leo lên đỉnh núi cao, lại tuột dốc xuống thung lũng chúng tôi đang làm, lại leo lên cái đỉnh núi nữa mới xuống đến con đường đá gần nhà thăm nuôi để ra Ba Sao rồi về Phủ Lý. Những củ khoai mì cột chặt ở hai đầu cây tre mà gánh. Ông cụ với cô gái, mỗi người khoảng 15 kí lô, mỗi cậu bé 7 kí lô. Nhìn tận mắt cái lam lũ của gia đình này thật là tội nghiệp! Cuộc sống của họ bi đát quá! Hơn 20 năm sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc cằn cỗi này, họ chỉ được ăn những củ khoai mì mà họ đổ ra biết bao công lao cộng với hiểm nguy của núi rừng mới có được! Nếu muốn ăn gạo, phải bán 3 kí lô khoai mì mới đủ mua 1 kí lô gạo.




Từ khi Đội chúng tôi vào đây, mỗi khi gia đình này cũng như những gia đình khác đi ngang đều ghé vào lều xin nước uống, vì chúng tôi luôn có nước trà. Một hôm tôi hỏi:




“Mỗi lần vào rẫy, bác phải mang theo thức ăn hay vào mua trong đó?”




“Đâu có mang gì theo ngoài gạo hoặc bắp với muối. Trong đó cũng đâu có gì ăn được ngoài rau, mà rau đâu phải lúc nào cũng có. Khi trồng chưa ăn được, phải chia nhau vào rừng tìm những thứ ăn được hái về ăn”.




“Bác làm gì ăn khi có rau?”




“Luộc chấm với muối chớ có gì khác đâu ông”.




“Bác có quen dùng bột ngọt không?”




Ông già hỏi lại: “Ông nói bột ngọt là gì thế?”




Cậu bé nhanh miệng: “Là mì chính đó Nội”.




Tôi hỏi cậu bé:




“Vậy là ở nhà có dùng phải không cậu bé?”




“Dạ có, nhưng ít khi lắm, vì phải mua”.




“Bây giờ tôi biếu bác một ít đủ nấu canh trong mấy hôm ông với các cháu ở trong rẫy. Dù sao thì có chút canh dễ ăn hơn”.




Tôi quay sang chú Hổ:




“Hổ ơi! Chú ráng cho ông cụ đầy hai muỗng bột ngọt nghe Hổ”.




Nhìn thằng bé cứ mân mê gói bột ngọt chút xíu trên tay với nụ cười vừa dễ thương vừa tội nghiệp! Chừng như nó đang nghĩ là sẽ được những bữa ăn ngon do cái gói nhỏ xíu này vậy!




Ông già run run:




“Cám ơn ông. Thật là quí hóa quá”.




“Không có chi đâu bác. Chắc bác cũng biết, trong hoàn cảnh chúng tôi chẳng phải nhiều nhỏi gì, nhưng giúp nhau được gì thì anh em chúng tôi không hẹp bụng đâu”.




“Chúng tôi biết. Ngoài Phủ Lý cũng biết. Tuy các ông như vậy (ý nói ở tù thì phải), nhưng cuộc sống của các ông vẫn hơn chúng tôi nhiều. Chúng tôi làm gì có cơm trắng như các ông, chỉ mong ăn no chứ đâu dám mong ăn ngon”.




“Thật tình tôi không ngờ cuộc sống của người dân đất Bắc xã hội chủ nghĩa này kém cuộc sống của người dân trong Nam chúng tôi không thể tưởng tượng được, dù rằng chúng tôi phải đương đầu với chiến tranh triền miên do ngoài này gây ra”.




Ông già buông một lời than rất tội nghiệp:




“Ngoài này nghèo lắm ông ơi!”




Trong cái chòi của chúng tôi có cái vạt giường nhỏ xíu và cái bàn ăn cũng nhỏ xíu, là tôi trả công cho hai cô con gái của anh chị Tạ bằng 100 gram bột ngọt. Hai con bé vào rừng tìm những sợi giây leo cở ngón tay út, phơi vài nắng cho dai rồi kết lại thành cái vạt giường nằm êm lưng lắm. Cái chân bàn bằng cây rừng, cái mặt bàn làm bằng cây chổm. Trước khi về trại phải đem giấu trong bụi rậm chớ để đây là mất, vì khu vực này có tù hình sự thường đi ngang để vào làng cùi mua gì đó cho những tên Công An cai tù.




Thời gian cứ tuần tự trôi qua và đám bí rợ đến ngày cắt trái. Đội chúng tôi cắt và gom lại một chỗ, Đội khác vào đây khiêng về. Phải một tuần lễ mới cắt hết trái. Tổng cộng lần cắt bí này mà họ gọi là thu hoạch đầu tiên, bộ phận kế hoạch cân được 2.600 kí lô. Thật ra, trước khi cắt bí thì anh em chúng tôi tự do ăn cắp những trái nho nhỏ đem về trại luộc, xào, kho, hay nấu canh. Còn tại chỗ thì cắt ăn công khai. Ngay cả quản giáo với võ trang, cho dẫu có lục lọi cách mấy cũng không thể nào tìm thấy tất cả trái bí.




Khu vực này khoảng 2 cây số vuông, rất nhiều tảng đá hốc đá mà ở đó giây bí trái bí chen lẫn với cỏ tranh và cây dại hoa dại. Tôi, anh Trần Ngọc Thống, và anh Nguyễn Xuân Dung chuyên viên thụ phấn, chúng tôi biết rõ những trái bí nằm ở đâu vì chúng tôi giấu nó từ lúc còn nhỏ, nên chúng tôi chỉ chỗ cho các bạn ăn cắp. Với lại theo lời của cán bộ Cảnh -quản giáo- thì bộ phận kế hoạch cho là “được mùa bí” nên họ chỉ kiểm soát qua loa chớ không hạch hỏi gì. Nói chung là họ không thể tìm thấy “cái bê bối” về cái gọi là “chỉ tiêu” đã giao cho chúng tôi.




Tôi xin nhấn mạnh, cái không khí dễ chịu đó không phải do chính sách của họ, mà là do chúng tôi mua chuộc mới có kết quả như vậy. Bất cứ lợi ích nào cũng có cái giá của nó mà. Trong nhà tù cũng vậy, nếu mình nhận ra được yếu điểm của họ trong khi mình có thể và có cách trả giá thì cái giá sẽ nhẹ nhàng.




Bếp của Đội chúng tôi có anh bạn sồn sồn và hai chú bạn trẻ. Trẻ là chú Hổ nấu cơm và chú Phùng A Ốn nấu nước. Sồn sồn là anh Trương Đình Thăng (Đốc Sự Hành Chánh) lấy củi cung cấp cho Hổ và chú Ốn. Anh Thăng cẩn thận lắm, khi vác củi về còn chặt nhỏ phơi khô mới giao “nhà bếp”. Nhờ vậy mà cứ vào đến chòi một lúc là chú Ốn gọi các bạn đến lấy nước sôi, vì dòng nước bên cạnh trong khi có sẳn củi khô. Các bạn cần nấu cơm thì đến suối vo gạo, cho nước vào rồi đem gởi chú Ốn vừa nấu nước vừa nấu giùm những lon gô hoặc gà mèn cơm hoặc canh. Những cái có quai thì chú máng quanh miệng thùng nước, những dụng cụ nấu nướng mà không quai, chú cào than ra ngoài và để lên đó.




Một hôm anh Thăng vác củi về là “tấn công” tôi:




“Anh Hoa, hai dì cháu con nhỏ đó hỏi thăm anh kìa”.




“Gì kỳ vậy. Hai dì cháu nào mà hỏi bất tử vậy cha nội?”




“Đừng vờ vịt nữa. Tuần trước có hai người, một sồn sồn một trẻ xinh xinh, ghé lều xin nước uống đó chớ ai. Có không? Khai mau lên?”.




“A! Hôm ấy là chú Hổ mời uống nước chớ hổng phải tôi à nghe. Lúc tôi vác cuốc về lều cũng là lúc bà ta đi ra, chớ có nói gì đâu mà bây giờ hỏi thăm”.




Anh Thăng cười cười:




“Tôi hổng biết, bà ta hỏi thăm thì tôi chuyển lời thôi. Còn muốn biết có hay không thì hôm nào dì cháu người ta đi ngang chận lại mà hỏi”.




“Anh quỷ quái lắm. Đã quen với ai trên núi rồi về đây kiếm chuyện phải hông? Khai thiệt nghe coi”.




Chú Hổ nhảy vào: “Anh Thăng có bồ rồi anh Hoa ơi”.




Anh Thăng xuống giọng chậm rãi:




“Đi trên núi, người ta chào mình, mình chào lại chớ có gì đâu”.




Tôi bắt bí anh:




“Vậy là nhận rồi hén. Người ta là ai? Khai lẹ lên”.




“Người ta là dì cháu đấy. Sao mà hỏi kỹ thế”.




“Hỏi kỹ đặng nghiên cứu xem có nên mét hay không vậy mà”.




Anh Thăng cười lớn:




“Đó” thì chưa rõ, chớ “đây” có hiếu với vợ lắm, đừng hòng mà đe với dọa”.




Tôi bèn cười theo:




“Ô! Đây cũng thế. Vậy là Phe ta rồi. Cho bắt tay cái đi”.




Vài nét đặc biệt.




Trong Đội 5 chúng tôi hầu như mỗi người có cái nét gì đó, hay gọi cho oai là cái “tài” gì đó, chẳng hạn như:




- Anh Huỳnh Văn Trứ (cựu Dân Biểu) là “kỹ sư” sửa đồng hồ. Đồng hồ hư nhận sửa đã đành, đồng hồ không hư cũng nhận sửa cho hư rồi sửa lại hết hư để khỏi cuốc đất.




- Anh Nguyễn Khoa Phước (cựu Nghị Sĩ) là ca sĩ già với giọng rất hấp dẫn “phụ nữ”, nhưng tiếc một điều là trong trại tập trung này không có tù nữ.




- Ông Lê Văn Sớt (Phủ Đặc Ủy Tình Báo) nằm cạnh tôi, tóc bạc trắng nhưng không bỏ sót buổi tập thể dục nào. Tôi với ông Sớt, ai dậy trước thì kêu người kia. Chúng tôi tập ngay trong mùng từ mờ sáng trước khi trực trại mở cửa buồng giam, chớ ra sân làm gì có thì giờ mà tập.




- Chú Nguyễn Văn Thuận (Sĩ quan Cảnh Sát) trong số các bạn trẻ của Đội 20, chuyên viên trốn lao động nhưng có tài kể truyện chưởng với những chi tiết được “pha chế” làm cho nội dung trở nên ly kỳ hấp dẫn.




- Chú Tâm “mập” cũng là bạn trẻ trong Đội 20 cũ, “mê” khơi khơi một cô khi thấy cô ta về làng cùi thăm thân nhân. Mê đến nỗi lúc say rượu mà miệng cứ nói câu “nàng ơi, nàng đừng bỏ ta nghe nàng”. Bạn bè cười quá trời, vì anh chàng Tâm thương cô nào đó chớ cô ta có thương lại đâu. Tình yêu một chiều đó quí vị quí bạn à!




- Chú Nguyễn Kim Tiếng (Cảnh Sát đặc biệt) cũng là bạn trẻ trong Đội 20 cũ, từ lúc ở tù không một thân nhân nào đến thăm. Ấy vậy mà chỉ hai bàn tay trắng trơn dần dần trở thành một trong những tù chính trị “giàu sụ” nhờ “bán hàng lậu” trong trại và ngoài trại. “Hàng lậu” thoạt nghe tưởng như ghê gớm lắm nhưng thật ra chỉ là những món lặt vặt như nắm rau, con cá, hộp sữa, trái chuối, củ khoai, … mua bên ngoài mang “chui” vào trại bán, mua áo quần từ bên trong mang “chui” ra ngoài bán. Nét đặc biệt của chú bạn trẻ này là khách hàng của chú, chẳng những là bạn tù trong trại, mà khách hàng còn là dân bên ngoài trại, và cả Công An cũng là khách hàng của chú nữa. Ngay đám nữ Công An bán hàng cho chú Tiếng đủ thứ hết, ngược lại thì mua áo quần lẫn những thứ hàng thường dùng do trong Nam sản xuất hoặc hàng ngoại quốc, như xà bông thơm, viên thuốc tây, kem đánh răng, răng vàng, nhẫn vàng, nói chung là thượng vàng hạ cám trong trại tù có đủ hết. Cái hoạt cảnh vui nhộn hơn hết là lúc Nguyễn Kim Tiếng, cầm cây kềm cạy cái răng vàng còn trong miệng một bạn cần bán để có tiền mua thuốc lào. Phải công nhận Nguyễn Kim Tiếng vóc dáng không có gì hấp dẫn, nước da ngâm đen, nhưng nói chuyện kèm theo nụ cười rất có duyên.




Khi có phương tiện trong tay kể cả tiền, chú bạn trẻ này dần dần mua chuộc được “Thịnh khuỳnh”, và mua luôn tên phụ trách giáo dục trại Nam Hà A là Vũ Quấc nữa. Nhờ vậy công việc “mua bán chui” vào trại ra trại an toàn mặc dù nội qui nghiêm cấm. Đến mức mua nguyên con dê của tên Niệm, phụ trách giáo dục toàn trại, khiêng vào trại bán lại anh em gần như công khai nhưng an toàn.




Thấy vậy, Đội 5 chúng tôi chuẩn bị Tết Nguyên Đán đầu năm 1984. Nguyễn Kim Tiếng tình nguyện mua nguyên con heo làm sẳn từ những Công An “tóc dài”, đem vào trại bán lại cho anh em có thịt ăn Tết, chỉ cần lời bộ đồ lòng nấu cháo cho cả Đội ăn là được. Thế là chiều 30 Tết, anh em trong Đội được ăn cháo lòng đúng nghĩa của nó. Điểm đáng quan tâm là tất cả anh em trong Đội, đều chung tay góp sức vào tổ chức tất niên chiều nay. Bạn nào làm được việc gì thì nhận ngay việc ấy, kể cả công việc lặt rau, kiếm củi, gánh nước, chụm củi, ..v..v.. Cũng xin nói thêm là mỗi khi chúng tôi “chui” được con dê hay con heo vào trại xẻ thịt bán cho nhau, thì y như rằng, đám Công An trực trại cũng có bữa nhậu không mất tiền. Âu đó cũng là “sòng phẳng theo luật chơi”, vì nếu không như vậy thì không thể nào “chui cả con heo con dê” vào trại được.




Anh em chúng tôi khoái nhất là mua cá do đám Công An cai tù mang vào trại bán. Khoái là vì bọn họ thức đêm thức hôm lặn lội xuống mấy cái hồ dưới cánh đồng chiêm câu cá, nôm cá, để rồi sáng sớm chúng nó đem cá chui vào cái khe thoát nước ở bờ tường đá tảng từ trong trại ra ngoài, sau đó chúng nó vào cổng trại túm cá trong cái bao đem bán cho chúng tôi. Chính vì vậy mà chúng tôi sử dụng chút tiền với vật dụng có được, để khai thác đúng mức cuộc sống thiếu thốn của chúng nó, ảnh hưởng trực tiếp vào sinh hoạt hằng ngày của tù chính trị chúng tôi càng lúc càng dễ thở hơn. Có lần tên cán bộ Quan, trong lúc uống cà phê với anh Phạm Kim Qui ở hàng hiên buồng (giam) số 1, hắn buột miệng:




“Tôi không hiểu tại sao khi mấy anh mới đến trại, chúng tôi bắt mấy anh phải đứng xa 6 mét mỗi khi cần nói chuyện với chúng tôi. Thật ra mấy anh rất tốt”.




Tất nhiên là hắn chỉ nói với chúng tôi chớ đâu dám để “đồng chí” của hắn nghe câu nói ấy, vì chúng nó có bao giờ tin vào chúng nó đâu.




Trong trại tập trung Nam Hà A này, tuy là qua những góc cạnh nhỏ thôi, nhưng chúng tôi có nhận xét chúng nó rất luộm thuộm về mặt tổ chức. Chẳng hạn như cấm mang tiền vào trại, nhưng khi tiền vào trại rồi thì tha hồ mua những thứ mà chúng nó đưa vào trại hoặc ngang qua các anh phụ trách mua hàng ở căn-tin của chúng nó ngay bên ngoài trại. Có lần bọn chúng đi săn được con nai, xẻ thịt để ở căn-tin bán từ sáng đến chiều không hết, bọn chúng mang vào bày ở giữa sân trại bán lấy tiền mặt mà không hỏi han gì về số tiền đó ở đâu ra. Sự thể như vậy, nhưng khi chúng nó khám xét lục soát buồng giam mà thấy tiền là tịch thu ngay trong khi chúng tôi không thể phân bua gì được, vì trái nội qui. Cho nên mua bán có vẻ dễ dàng, nhưng lúc nào cũng phải cất giấu tiền bạc cẩn thận. Phần tôi, tôi giấu tiền trong cái hộp đựng sữa bột mà tôi thường dùng loại này để gởi được nhiều trang thư về vợ tôi. Chiếc nhẫn thì giấu trong cái túi da đựng kem, bàn chải, xà bông, và dao cạo râu. Cái túi này có hai lớp mà phần đáy khá dày, để vào ngay lằn xếp và may dính vào đó.




Đến đêm, anh em chúng tôi trong buồng giam này cùng đón Giao Thừa bằng hoạt cảnh Sớ Táo Quân, có đủ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào Bắc Đẩu, với Táo Quân. Nếu quí vị quí bạn đứng bên ngoài cửa sổ đầu hồi buồng giam, sẽ thấy chúng tôi cười đến ra nước mắt, và ngay sau đó là từng nhóm năm ba người quây quần bên những gói bánh mứt, những cái ca cái lon nước trà hoặc cái gì đó đựng chút cà phê. Nhóm nào trong số chúng tôi cũng nói chuyện râm ran với ý tưởng lạc quan về ngày ra khỏi trại tập trung, nhưng không có chuyện nào dẫn đến kết luận rõ nét cả, vì lẽ chưa đủ yếu tố vững chắc mà toàn là đồn đoán trong dư luận, dư luận ở Sài Gòn, dư luận trong trại, và dư luận ngay trong buồng giam chúng tôi.




Trong những ngày nghỉ Tết, hầu như tất cả tù chính trị chúng tôi quây quần với cờ tướng, bóng bàn, bóng chuyền, nhưng ba môn thể thao này có khuynh hướng chìm dần trong khi môn bóng tròn ngày càng được anh em hâm mộ. Vài tháng nay, hai khung thành của cái gọi là “sân banh” có lưới bọc phía sau và hai cạnh. Lưới này đan bằng giây thừng phế thải từ kho của trại. Anh Dương Huy Nam, Tổ Văn Hóa, xin được gói thuốc lá đầu lọc của một bạn vừa được vợ đến thăm nuôi, làm “chìa khóa” (hối lộ) mở cửa nhà kho khiêng vào trại đống giây mục đứt nhiều đoạn. Lại phải trả công bằng 2 kí lô giò heo và 2 kí lô hủ tiếu cho mấy anh tù hình sự đan 2 lưới khung thành. Tuy không sắc sảo nhưng không đến nỗi tệ. Nói nghe nhẹ nhàng suông sẻ như vậy, nhưng thật ra cuộc sống trong trại tập trung mà chúng tôi làm được những chuyện như vậy không phải là dễ dàng, nếu như không có niềm tin vào tương lai dù chưa biết tương lai sẽ như thế nào, cộng với những phương tiện trong tay.




Tấm ảnh đầu tiên.




Tết năm 1984 này có sự kiện được xem là đặc biệt. Đó là tên trại trưởng trại Nam Hà A -Đại Úy Lới- cho phép gia đình anh Nguyễn Viết Tân (Đại Tá Hải Quân) ở lại một tuần kể từ 27 Tết, để nuôi anh Tân trong tình trạng bại liệt do tai biến mạch máu não. Gia đình anh Tân gồm vợ và con gái tên Phương Nga. Nhà trực trại dành một phòng trống nhỏ xíu để anh Tân được bạn khiêng từ trong trại ra nằm, vợ và con anh Tân từ nhà thăm nuôi vào đó chăm sóc anh. Hết giờ làm việc chiều, vợ con anh Tân trở ra nhà thăm nuôi, trong khi anh Tân được các anh Phan Văn Minh (Đại Tá Không Quân), Nguyễn Văn May (Đại Tá Hải Quân), và anh Phan Văn Phương (Thiếu Tá Hải Quân) khiêng vào trạm xá. Chị Tân và cháu Phương Nga có trường dạy “nữ công gia chánh” cùng tên Phương Nga ở góc đường Phạm Ngũ Lão, gần chợ Thái Bình, Sài Gòn. Chị Tân có mang theo nguyên liệu và dụng cụ làm bánh, kể cả mua than từ Hà Nội. Nhờ vậy mà mỗi đêm, chị Tân với “con gái rượu” của chị làm và nướng bánh, để sáng mang vào nhà trực trại hoàn chỉnh phần “bắt bông kem” để tặng Ban Giám Thị với trực trại gọi là “có đi có lại cho toại lòng nhau”. Chị cũng tặng cho anh em chúng tôi gần phần nửa trong số bánh mà chị với con gái của chị làm. Đều đều như vậy trong một tuần lễ chị được phép chăm sóc chồng.




Sáng Mồng Một Tết, theo đơn xin của chị Tân, tôi được ra nhà trực trại ngay trước cổng trại gặp chị. Lúc ấy cháu Nga lấy trong giỏ ra cái máy ảnh, tôi nói khẻ:




“Nga, con cẩn thận”.




Vừa nói tôi vừa chỉ tấm vách có chiều cao lưng chừng:




“Bên kia họ trông thấy và theo dõi nghe con. Nếu họ bắt gặp con chụp ảnh, có thể họ sẽ tịch thu cái máy, mà hổng chừng sẽ có biện pháp gì đó trong những lần thăm nuôi sau này nữa nghe con”.




“Dạ. Con cám ơn bác, con sẽ cẩn thận. Bác bước ra sát vách, con chụp lén cho bác một tấm ảnh đem về đưa cho bác gái”.




Thế là cháu Nga ra ngoài cửa xem có tên Công An nào ở đó không. Vắng vẻ. Tôi bước ra ngoài đứng vào một góc trong khi cháu bước vào trong rồi quay lại bấm máy thật nhanh. Tuy tấm ảnh không thành công về mặt kỹ thuật, nhưng với tôi thì thành công về tâm lý, vì từ nửa vòng bên kia trái đất, các con tôi trông thấy tôi qua tấm ảnh mờ mờ này.




Đến trước ngày hết phép, chị Tân lại làm đơn xin cho tôi ra nhà trực trại lần nữa. Chị nói với tôi:




“Anh biết không. Khi được trại cho phép ở lại một tuần, má con tôi mừng lắm. Nhưng ban đêm ở nhà thăm nuôi, má con tôi sợ lắm anh ơi! Nhà thăm nuôi sát chân núi, bên cạnh chỉ có dãy nhà của Công An, còn trước mặt là cái thung lũng mịt mù bóng tối. Nói thiệt với anh, má con tôi không dám ngủ cho nên phải thức làm bánh choán thì giờ còn hơn là nằm mà run, vì lúc nào cũng nghe như có bước chân bên ngoài. Không biết họ canh gác tuần tra hay rình rập ám muội gì thì không rõ, nhưng lúc nào má con tôi cũng sợ hãi!”




“Tôi nghĩ, không phải chúng nó canh gác gì đâu vì chúng nó đâu có sợ chị trốn mà canh giữ chị. Nhưng bên ngoài có người đi lại thì không ai khác hơn là bọn chúng nó đâu chị”.




“Suốt đêm, tôi với con Nga đâu dám ra ngoài. Hai má con cột cánh cửa dính vô cái ghế đặng không cho bên ngoài đẩy vào. Chỉ làm được như vậy thôi anh à”.




“Thành ra tuần lễ Tết này chị với cháu Nga vất vả quá, nhưng bù lại có được thời gian trực tiếp chăm sóc anh Tân, phải hông chị?”




“Con Nga nó vui lắm anh”.




Tôi phải vào trại ngay để kịp đá banh. Tôi thuộc đội banh hạng B nên đá trước để còn thì giờ cho hai đội hạng A. Tôi nói hạng A với hạng B chắc là quí vị quí bạn nghe có vẻ như “đâu ra đó” lắm, nhưng thật ra cứ anh nào nhanh tay lẹ chân mà biết kỹ thuật đá banh chút ít là hạng A, còn lại là hạng B chớ có gì ghê gớm đâu. Đang mùa Đông khá lạnh, cứ khoảng 5 giờ chiều là màn đêm xuống rồi. Sân trại toàn đá dăm mà chúng tôi gọi là “sân banh”, chiều nay “khán giả” đông nghẹt. Khán giả tù chính trị lẫn khán giả Công An vào xem. Cái lý do thu hút khán giả hôm nay là vì có “con gái rượu” của anh chị Nguyễn Viết Tân đứng xem. Cháu Phương Nga, khoảng 20 tuổi. Chỉ có “khán giả dân” duy nhất này trở thành cái “đinh” của khán giả Công An. Đội hình đội banh buồng 5 chúng tôi với chú Đinh Vượng trong khung thành, tôi hậu vệ thòng ở giữa, hậu vệ bên phải bên trái là anh Nguyễn Đức Đào với anh Hoàng Bá Thông. Trận banh bắt đầu độ 15 phút thì tạm ngưng, vì tên võ trang mới lên phiên gác cổng bước vào hỏi cháu Phương Nga:




“Cô là ai mà vào đây?”




“Tôi đến thăm ba tôi là Nguyễn Viết Tân. Thấy đá banh vui tôi vào xem”.




Hắn nạt: “Đi ra ngoài ngay”.




Tiếng một bạn nào đó trong số khán giả tù chính trị chúng tôi:




“Với phụ nữ phải lịch sự một chút chớ”.




Hắn quay tìm hướng có tiếng nói: “Anh nào phát biểu đó?”




Đâu có bạn nào điên mà lên tiếng, thế là hắn quê. Càng quê hắn càng tức, nhưng cũng tiết ra một chút lịch sự:




Mời cô đi ra”.




Không tên Công An nào có mặt lên tiếng cả, vì đó là quyền của tên gác cổng. Lại có tiếng của một bạn tù chính trị: “Vừa phải thôi chứ”.




Hắn không lườm lườm tìm ai nói nữa mà theo cháu Phương Nga ra cổng, rồi leo lên “chuồng cu” tiếp tục nhiệm vụ gác cổng.




Những ngày Tết trôi qua… Đội 5 chúng tôi trở vào thung lũng cỏ tranh, chuẩn bị đất xuống 10.000 cọng hom khoai mì cho số lượng phải trồng trong năm 1984. Ngày đầu tiên vào thung lũng, tên Cảnh -quản giáo- và tên Minh -võ trang- đồng ý cho Đội chúng tôi nghỉ trọn ngày. Tôi ướm thử tên quản giáo:




“Nhân ngày Tết, cán bộ có thể cho một số anh em chúng tôi sang khu nghĩa trang cắm nhang cho bạn bè nằm ở đó được không cán bộ?”




Hắn suy nghĩ một lúc:




“Tôi đồng ý nhưng anh phải hết sức cẩn thận, vì mấy ổng thấy chẳng những mấy anh bị mà tôi cũng bị kiểm điểm nữa”.




“Hổ ơi! Chú lo cơm trưa cho tuị nó nghe. Chú chịu khó đi dọc theo thung lũng nhổ cải trời về luộc ăn với thịt heo kho cũng được lắm nghe chú”.




Tôi với 10 anh nữa vẹt lau sậy và nhanh chân sang chân núi, nơi có một số mộ của các bạn. Đến nơi, tôi trao mỗi anh 5 cây nhang do hôm trước chị Tân cho tôi. Chúng tôi chia ra mỗi bạn đi một hướng, cứ thấy ngôi mộ thì khấn vái cắm nhang mà không phân biệt mộ của ai. Thật ra cũng khó nhận ngôi mộ lắm, vì mấy anh tù hình sự đấp sơ sài rồi trâu bò đạp lên, nên thấy đất cao cao một chút có vẻ như ngôi mộ là cắm nhang. Trong khi một số bạn theo tên võ trang vào làng cùi, xem họ ăn Tết ra sao, và nếu có gì mua được thì mua.




Sau khi trở về chòi, tôi với anh Thống đi vòng quanh khu trồng cây “so đủa” mà họ giao chúng tôi trồng thử. Chúng tôi trồng hai bên đường mòn dọc theo dòng nước quanh co giữa thung lũng, khi nó cao ngang đầu người trông đẹp lắm. Cây “so đủa” là cây nhiệt đới, bông của nó nấu canh chua hoặc xào ngon lắm, vì trên đầu của bông có cái hộc nhỏ chứa một chút mật, còn thân cây làm củi. Mùa hè và mùa thu, cây so đủa phát triển tốt như trồng ở miền Nam vậy, nhưng mới hai tháng mùa đông nó khuỵu hết trơn.




Trồng khoai mì xong, chúng tôi phải trồng 1.200 hốc bí rợ mà họ gọi là bí đỏ, sau bí rợ là trồng bí đao mà họ gọi là bí xanh. Bí rợ trồng theo hốc cho bò lên những tảng đá, bí đao trồng theo luống và làm giàn hình chữ A, cao 8 tấc (0.8 thước), để hai hàng giây bí leo lên. Vì thung lũng này toàn đá tảng, cho nên có những giàn bí chỉ có năm bảy giây mỗi bên thôi.




Tổ Văn Hoá.




Một buổi chiều về đến cổng trại, tên Lực trực trại điểm số cho Đội vào, nhưng hắn bảo tôi:




“Anh để Đội vào, còn anh đứng lại”.




Khi Đội vào trại xong, hắn ra lệnh:




“Ngay chiều nay, anh nhận bàn giao của anh Dương Huy Nam với trách nhiệm Tổ trưởng văn hoá, vì anh Nam được tha ra trại. Nhận xong, anh dọn sang buồng 7 ngay tối nay”.




“Sao lại là tôi?”




“Thôi. Vô trại lo công việc đi, ở đó mà hỏi tại sao”.




Anh Dương Huy Nam, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng tôi không rõ anh thuộc hệ phái nào, có điều tôi thắc mắc anh là thành viên đảng chính trị mà lại được ra trại một mình.




Anh Nam hướng dẫn tôi phải làm gì, khi có đơn thăm nuôi từ trực trại đưa vào, khi có báo do bộ phận giáo dục đưa vào, cho mượn sách và đòi sách, tổ chức vài môn thể thao để anh em vui Tết, nói chung là chẳng có gì gọi là quan trọng cả, vì tên Vũ Quấc là Tổ Trưởng Giáo Dục mà Tổ văn hoá này dưới quyền hắn. Nói cho dễ hiểu là làm theo lệnh của hắn chớ có tự mình đâu. Cái công tác tham mưu có gì ghê gớm mà Vũ Quấc cứ hỏi tôi:




“Anh có nắm được không?”




“Báo cáo “ban” có”.




Ở trại tập trung này, tất cả tù chính trị chúng tôi lẫn tù hình sự, phải gọi những Công An dù là lính, hạ sĩ quan, hay sĩ quan, là “cán bộ”. Nhưng còn một “tầng lớp” nữa mà chúng tôi phải gọi là “ban”. Ban, nguyên chữ là “Ban Giám Thị” nhưng gọi tắt là ban. Khi đứng trước tên nào đó trong thành phần Ban Giám Thị mà cần báo cáo, phải nói: “báo cáo ban” …. Ban Giám Thị trại này chỉ năm ba người gì đó tôi không rõ, nhưng trường hợp Vũ Quấc mà anh em tù cũ -trước khi chúng tôi từ Yên Bái đến đây- đều gọi là “ban”. Do vậy mà khi cần nói gì với hắn, phải mở đầu: “Báo cáo ban” trở thành cái lệ không miễn trừ, dù hắn không thuộc thành phần để được gọi là “ban”, nhưng nếu gọi hắn là cán bộ thì cái mặt của hắn trở nên cau có và có chuyện ngay.




Hắn nói thêm:




“Anh có điều gì không rõ phải hỏi anh Nam để được hướng dẫn”.




“Báo cáo ban, tôi không có gì phải hỏi thêm”.




Anh Dương Huy Nam hầu hạ tên Vũ Quấc này đến nơi đến chốn lắm. Mỗi năm có một hoặc hai lần nhà bếp có làm heo thì y như rằng anh Nam xuống bếp -kể cả ban đêm- chỉ cho các bạn nhà bếp xén những phần thịt ngon cung cấp với tính cách riêng tư cho hắn. Nhiều anh em chúng tôi bất mãn với anh Nam về cái việc cắt xén quyền lợi chung của cả trại để cung phụng riêng tư cho tên Quấc .




Tôi đang muốn ra sân vì trận banh gọi là tiễn anh Dương Huy Nam đang ồn ào ngoài sân trại. Sở dĩ có trận banh giao hữu giữa Đội banh tù chính trị chúng tôi với Đội banh Công An cai tù để tiễn anh Nam, vì phong trào đá banh bắt đầu từ anh Nam nối vào anh Phước về tổ chức, và tôi phụ trách cung cấp banh do vợ tôi cho kể cả xin của các chị bạn. Cuối cùng tôi cũng vào đá hiệp hai. Đội tù chúng tôi thắng Đội Công An cai tù 4-2.




Trở lại Tổ Văn Hoá. Năm 1978, khi chúng tôi từ trại Yên Bái chuyển xuống đây, văn phòng Tổ Văn Hoá trong gian nhà ọp ẹp mà họ gọi là câu lạc bộ. Trong một cơn mưa giông đã đè cái câu lạc bộ nằm sát mặt đất nên Tổ Văn Hoá phải chuyển vào khuôn viên buồng giam số 10, sử dụng gian nhà để đồ đạc làm văn phòng, còn buồng giam làm nơi hội họp được gọi là hội trường.




Tổ Văn Hoá, ngoài Tổ trưởng, còn có cụ Hoàng Văn Úy (Việt Nam Quốc Dân Đảng), anh Đinh Tiến Dũng (Thiếu Tá An Ninh Quân Đội. Anh Dũng là em ruột của kịch sĩ Thanh Hoài), anh Khiêm (Thiếu Tá bộ binh), và bạn tù trẻ Đinh Vượng (tổ chức Phục Quốc). Đó là trong văn phòng, còn phụ trách làm vườn trong khuôn viên buồng 10 là ông Vũ Văn Vỵ (đảng chính trị). Công việc gồm có:




- Nhận đơn thăm nuôi do trực trại đưa vào, ghi vào sổ, gọi các anh có gia đình đến thăm, hướng dẫn ra cổng cho trực trại.




- Nhận báo. Vài ba ngày tên Vũ Quấc hoặc tên Dục -phụ tá tên Quấc- đem vào một lần. Chuyển đều cho các buồng (tù hình sự không có). Khi các buồng hoàn trả, cho vào tủ cất.




- Trong trại có xảy ra việc gì làm mất trật tự thì đến giảng hòa, nếu không được thì báo cho đám trực trại vào giải quyết. Các buồng giam tù hình sự đánh đấm đâm chém như cơm bữa, không đánh nhau cũng là tranh cãi ồn ào.




- Nếu có bạn nào bệnh bất ngờ, đi mời bác sĩ (cũng là bác sĩ tù) ở trạm xá lên hoặc khiêng bệnh nhân xuống trạm xá.




- Điều hành công việc cho mượn sách. Trong ngăn sách có khoảng 700 cuốn, có đến hơn phân nửa là sách dịch của Nga.




- Vài ba tháng, bộ phận giáo dục có đem phim vào chiếu ở sân trại. Thông báo các buồng đến xem. Phần lớn là phim của Nga.




- Tổ chức văn nghệ và thể thao nhân ngày Tết, do anh em chúng tôi thực hiện.




Trại trưởng mới, tù dễ thở.




Bận rộn nhiều nhất của chúng tôi là đá banh. Từ đầu năm 1984, chúng tôi được tổ chức đá banh nếu có thì giờ chớ không cần đến ngày nghỉ nữa. Thường thì các Đội làm thông tầm về trại khoảng 2 đến 3 giờ chiều, hễ “cáp độ” được là ra sân đá ngay. “Cáp độ mà tôi dùng ở đây, được hiểu là có được hai Đội thì đá chớ với nhau cho vui, chớ không mang tính chất ăn thua bằng vật chất. Xem như phụ trách cáp độ là ông Lê Phước Thưởng (đảng chính trị), tuy lớn tuổi nhưng tinh thần thể thao còn cao lắm. Ông thường đến các buồng cáp độ ra sân, có khi cáp độ ngay tại chỗ lao động nữa. Ông là cầu thủ Đội “lão tướng”, đá hậu vệ, nhưng nhớ khoảng sau 10 phút là phải đưa lão tướng khác vào thay để ổng ra ngoài đứng thở.




Đội banh lão tướng chúng tôi gồm: Anh Cao Văn Ủy thủ môn, ông Lê Phước Thưởng, ông Nguyễn Hữu Vị (Phủ Đặc Ủy Tình Báo), ông Lê Văn Sớt (Phủ Đặc Ủy Tình Báo), anh Phạm Kim Tấn góc trái (Trung Tá Cảnh Sát), anh Nguyễn Thành Long (Phủ Đặc Ủy Tình Báo), và anh Trương Đình Thăng (Đốc Sự Hành Chánh). Nhưng chỉ sau hai trận thì Đội banh “trẻ” phản đối cầu thủ Thăng dữ quá, với lý do cầu thủ lão tướng mà chưa đến 50 tuổi. Thế là phải “loại” anh Thăng ra và đưa cầu thủ Bùi Đức Tài vào. Anh Tài là cầu thủ góc mặt. Tôi phụ trách trọng tài có cái còi hẳn hòi, chỉ vào trận khi thiếu “lão cầu thủ”.




Trong khi “phong trào” đá banh -tạm gọi như vậy- giúp anh em chúng tôi không bị nhốt trong buồng giam, thỉnh thoảng tên Vũ Quấc (tên của hắn viết như vậy đó), cán bộ giáo dục trại vào kiếm chuyện. Có hôm hắn nói đá banh gây ồn ào trong trại, có hôm hắn dọa đóng cửa buồng giam, và rồi hắn yêu cầu tên Lực, cán bộ trực trại nhốt tất cả vào buồng giam, nhưng tên Lực trả lời là Ban Giám Thị cho phép. Vì đó là quyền của trực trại nên hắn im. Trong thời gian gần đây, tên Quấc tỏ ra lấn quyền Trưởng Trại A mà tiêu biểu là gần như quyết định về thời gian thăm nuôi của tù chính trị chúng tôi. Không rõ hắn với Đại Úy Lới -Trưởng Trại A- như thế nào mà mỗi khi hắn cho ý kiến “thuận” sau khi nhận tiền đút lót, thì hầu như Trưởng Trại đều chấp thuận đơn xin thăm gặp gia đình theo ý kiến của hắn. Theo tên Dục, phụ tá cho hắn thì hắn đang âm mưu “hạ bệ” tên Lới để hắn lên nắm chức Trưởng Trại A này.




Dưới nét nhìn của chúng tôi, tên Thịnh “khuỳnh” trực trại là loại ác ôn về những sinh hoạt của tù trong phạm vi quyền hạn của hắn, trong khi Vũ Quấc vừa độc vừa đểu khi hắn cho ý kiến cái gọi là “nhận xét về mức độ cải tạo” của tù. Có thể nói một cách chắc chắn rằng, không một tên Công An nào trong trại Nam Hà A này chơi với hắn cả.




Cuối cùng thì trại Nam Hà A cũng có Trưởng Trại mới, nhưng không phải Vũ Quấc mà là Đại Úy Công An Bùi Dênh. Cũng từ đó, tên Vũ Quấc mờ dần ở vị trí cán bộ giáo dục trại A. Vẫn theo tên Dục, những đơn xin thăm gặp gia đình của tù chính trị, tuy rằng Vũ Quấc vẫn có ý kiến nhưng không còn tính cách quyết định như thời tên Lới làm trại trưởng nữa. Tuy Bùi Dênh là loại vai u thịt bắp, nhưng hắn có chút ít cởi mở đối với tù chính trị chúng tôi. Tôi nhấn mạnh về “chút ít cởi mở” của Bùi Dênh, là do chính hắn sau một chuyến công tác trong Nam trở về Bắc, chớ không phải cởi mở do chính sách của Bộ Công An. Tiêu biểu cho “chút ít cởi mở” là Bùi Dênh cho phép gặp gia đình 24 tiếng đồng hồ, đôi khi được 48 tiếng, và có trường hợp bệnh hoạn cần gia đình chăm sóc sẽ được xét thăm gặp trọn tuần. Mặt khác, Bùi Dênh còn khuyến khích chúng tôi tiếp tục giữ phong trào đá banh.




Phải công nhận rằng, được thăm gặp một ngày hay hai ngày, nói chung là nhiều giờ, ngoài chuyện riêng tư còn giúp vợ chồng hiểu sâu thêm hoàn cảnh gia đình nhất là cuộc sống và học hành của các con, sau khi chúng tôi bị đẩy vào các trại tập trung. Từ đó, người chồng có cơ hội “rót” vào tai vợ những lời khen nhẹ nhàng, người cha “rót” vào tai con những lời khuyến khích nồng nhiệt cùng với những hướng dẫn cần thiết, bởi lời khuyến khích hay lời hướng dẫn của những người chồng người cha bị nhốt trong bốn bức tường trại tập trung có ảnh hưởng mạnh mẽ, nếu như khéo léo tế nhị trong cung cách xử sự với vợ với con. Và cao hơn nữa, trong một đôi ngày bên nhau có khả năng củng cố thêm tình cảm thân thương gia đình, nâng đỡ thêm nghị lực để vượt qua cuộc sống đầy bất trắc trong xã hội mà nhóm lãnh đạo cuồng tín cai trị, luôn ập lên đầu gia đình các sĩ quan viên chức và cán bộ Việt Nam Cộng Hòa cũ!




Nhìn chung, trong đầu trưởng trại Bùi Dênh có mưu định gì thâm độc đối với tù chính trị chúng tôi hay không thì không rõ, nhưng có điều trước mắt là anh ta tạo không khí giảm bớt tính cách hà khắc với chúng tôi. Nhớ lại thời trưởng trại Huy “hô”, cái không khí trong trại tập trung này lúc nào cũng nghẹt thở, bởi những gì xếp vào loại hắc ám nghiệt ngã đều có ở đây. Cho đến cuối thời tên Huy có nới lỏng đôi chút do các anh em Đội Trưởng chúng tôi tranh đấu đòi hỏi, như ban đêm đem đồ vật vào buồng giam để tránh mất trộm và nấu ăn có thêm dinh dưỡng. Thời trưởng trại Lới “lé”, sự sa ngã của đám Công An từ trực trại, quản giáo, võ trang, đến đám Công An hướng dẫn thăm nuôi rất rõ nét, chung qui do tù chính trị chúng tôi mua chuộc bằng tiền và bằng vật chất. Vì bất cứ sản phẩm gì do xã hội xã hội chủ nghĩa sản xuất với phẩm chất quá ư tồi tệ, nên những sản phẩm mà anh em chúng tôi có là từ ngoại quốc gởi về, hoặc ít nhất là do sản xuất trong miền Nam phẩm chất vẫn cao hơn, nên khả năng thu hút họ rất mạnh tong cuộc sống thiếu thốn của họ.




Thấy đám trực trại cũng như đám quản giáo buồng giam giảm bớt mức độ khắc khe, từng bước, các anh trực buồng giam xới khoảnh đất bé xíu phía sau buồng để trồng vài luống rau có thêm chất dinh dưỡng. Dần dần những bầu những mướp đậu rồng đậu đủa che kín bờ tường, bên dưới thì hành ngò cải xanh cải bắp ớt cà xanh tươi. Không thấy phản ứng của họ, nhóm chúng tôi trong tổ văn hoá cũng xới khoảnh đất phía sau hội trường trồng rau trồng đậu. Nhìn vào chẳng bao nhiêu, nhưng thật sự những hoa màu ít ỏi đó cũng góp phần đáng kể cho bữa ăn của chúng tôi, nhất là các anh bị bệnh khó trị.




Về “thư chui” mà trong suốt thời gian trong Đội trồng rau tôi gởi vào “hộp thư chết”, nhưng khi vào tổ văn hoá thì tôi rất lo là không biết phải bằng cách nào để tiếp tục gởi thư chui. Nhưng rất may có chú Đinh Vượng rất trẻ, thường giúp đám trực trại những thứ lặt vặt mà chúng nó cần, nên chú được đám trực trại cho ra vào cổng trại với nhà trực trại khi cần. Do vậy mà tôi nhờ chú lận lưng “thư chui” đưa ra cho anh tù hình sự từ nhà thăm nuôi vào trực trại, hoặc vào bếp của Công An bên ngoài trại. Một đôi khi chú Vượng ra tận nhà thăm nuôi, bằng cách len lỏi luồn lách giữa các dãy nhà lụp xụp của Công An, rồi xuống lưng chừng triền núi ra tận nhà thăm nuôi, tạt vào nhà của đám Công An phụ trách ở đây để mời chúng nó hút thuốc hay biếu gói cà phê, sau đó xin phép chúng nó chạy qua nhà thăm nuôi đưa cho các bà các chị thăm tù chính trị chúng tôi nữa. Phải có “tí hối lộ” với vài lời “giao tế” như vậy mới “thuận buồm xuôi gió”.




Công việc tương đối nguy hiểm, nhưng Đinh Vượng nhanh tay lẹ chân mà lại mau miệng nữa, nên chẳng mấy khi bị chúng nó bắt tại trận, chẳng qua là nghi ngờ thôi. Nếu bị bắt, Đinh Vượng xuống nước năn nỉ, điều mà các anh lớn tuổi như chúng tôi không thể hạ mình làm như vậy. Lại có khi Đinh Vượng mang vào trại một lúc đến mấy ngàn đồng trao lại các bạn, và hoàn toàn mang giùm chớ không nhận đồng thù lao nào cả. Trước kia Đinh Vượng là chuyên viên cơ khí phục vụ Sư Đoàn 3 Không Quân, bị bắt năm 1976 khi tham gia tổ chức Phục Quốc.




Anh em trong Tổ văn hoá chúng tôi lại dọn sang buồng giam số 1, ở chúng với tổ văn nghệ của anh Phạm Kim Qui, và tổ chăn nuôi của anh Chu Mạnh Bích (Đại Úy Không Quân).




Những màn kịch cởm.




Hạ tuần tháng 1/1985, hơn 100 anh được ra về. Trước ngày chánh thức có lệnh tha ra trại, nhiều tin đồn đãi đưa vào trại là người này có tên người kia có tên, bắt nguồn từ những Công An “tóc dài” có liên lạc buôn bán chui hoặc thường nhờ vả thuốc men của tù chính trị. Anh Huỳnh Văn Châu (Không Quân) đang trong tổ thợ điện của trại, chạy tìm tôi đang chăm sóc vườn rau “mini”:




“Anh ơi! Em có tên về rồi. Con “Hoa điện” vừa cho em hay và em đã hỏi lại thì đúng rồi”.




“Hoa điện” là tổ trưởng điện, cán bộ quản giáo của anh Châu.




“Hay quá. Vậy thì anh có thì giờ thu xếp chuyện gia đình cho ổn, chớ tình trạng của anh còn kéo dài, tôi e gảy gánh thiệt đó Châu”.




“Em cũng lo lắm anh”.




“Hãy cố lên. Đã có được thời gian, anh đừng để vấn đề vuột khỏi tầm tay nghe Châu”.




Anh Ngợi cũng tìm tôi:




“Anh ơi! Em cũng có tên về rồi Anh. Anh Châu có nói với anh chưa?”




“Có. Châu mới nói với tôi đây. Anh về là nhanh tay lẹ chân tổ chức đám cưới cô bạn gái chờ anh hơn chục năm rồi. Tình yêu như vậy tôi cho là đẹp lắm, vì thời gian thử thách quá dài với lại trong hoàn cảnh nghiệt ngã”.




“Em sẽ cố gắng nhưng phải về mới biết rõ sự việc được anh”.




Phải nhận rằng, anh em tù chính trị chúng tôi xôn xao trong ý nghĩa tốt, có thể nói vui vẻ là khác. Tối đến, anh Châu với tôi ngồi đối diện hai bên sàn gác. Châu nói:




“Anh ơi! Một trăm mấy anh em mà tụi nó chia làm hai chuyến đi, cách nhau vài ngày, và nghe đâu chuyến thứ nhì có quay phim nữa”.




“Liệu về kịp Tết hông Châu?”




“Con Hoa nó nói em về đến Sài Gòn trước giờ Giao Thừa. Thôi thì miễn về là được rồi anh, sớm muộn cũng không sao”.




Quả thật khi họ đọc danh sách thì những anh được đồn đoán đều đúng, và về Sài Gòn trong hai chuyến cũng đúng luôn. Ngay sau khi họ đọc danh sách ra trại, tổ văn hóa chúng tôi bận tíu tít, vì họ bảo viết đến mấy bản danh sách, cùng lúc gọi các anh đến hội trường làm thủ tục. Anh Khiêm trong tổ văn hoá được về trong đợt này. Anh em có tên ra về cùng với khá đông anh em không có tên cũng có mặt trong khuôn viên buồng 10, về thì vui đã đành nhưng chưa về cũng vui, vì nhắn gởi về gia đình. Tụm năm tụm ba trò chuyện khá ồn ào, pha lẫn trong tiếng của đám Công An gọi từng anh vào làm thủ tục. Chuyến thứ nhất lên xe trại ra Phủ Lý để lên Hà Nội, các bạn trong chuyến thứ nhì chuẩn bị cho đoàn quay phim dường như của Thụy Điển đang thu hình các Đội trồng rau gánh rau về trại. Cứ mỗi lần có phái đoàn đến thăm trại cho dù là cộng sản hay tư bản thân cộng, Bộ Công An từ Hà Nội xuống hướng dẫn trại trưởng tổ chức màn kịch để phô trương. Muốn phô trương phải che giấu cái tồi tệ của họ, mà chính vì che giấu lại làm cho màn kịch của họ trở nên tồi tệ hơn. Mời quí vị quí bạn theo dõi 3 màn kịch tồi.




Màn kịch thứ nhất.




Thật là vô duyên khi hai đội banh tạp nham bị bắt buộc vào sân đấu với nhau để họ quay phim. Theo lời của đám trực trại thì Bộ Công An muốn đoàn quay phim ngoại quốc thấy cảnh sinh hoạt của tù chính trị, nhưng theo chúng tôi nhận xét thì nhóm quay phim chú trọng thu hình những lối ra vào khu vực các buồng giam, vì họ đặt hai máy thu hình ở hai đầu sân thu hình sự đi lại của anh em chúng tôi ra vào các hành lang đó. Không hiểu họ khai thác góc cạnh nào trong sự đi lại của anh em chúng tôi, nhưng rõ ràng là họ chú trọng những hình ảnh đó hơn là trận banh trên sân.




Đến tổ dịch tài liệu do anh Lại Đức Chuẩn phụ trách, được chọn lọc hẳn hòi chớ không phải toàn tổ đều tham dự trình diễn tại hội trường, trong khi tổ văn nghệ do anh Phạm Kim Qui phụ trách trình diễn nhạc hòa tấu. Trong màn này có lẽ họ muốn phô trương “sinh hoạt của tù chính trị trí thức” là như vậy đó.




Màn kịch thứ hai.




Sau đoạn phim về trận banh tạp nham với hai tổ dịch thuật và văn nghệ, đến đoạn phim tù chính trị ăn cơm chiều với “thực đơn” đặc biệt. Đám trực trại cho dọn cái gọi là nhà ăn của buồng giam số 1, để ở đó một cái bàn với sáu ghế ngồi. Cả mấy trăm tù chính trị mà chỉ có một bàn ăn duy nhất, làm sao che giấu cái bản chất dối trá trước phái đoàn truyền thông quốc tế? Vậy mà họ vẫn cứ thực hiện. Sáu anh tù chính trị được chỉ định ngồi vào bàn ăn “kịch cởm” này, họ bắt phải mặc áo quần mà họ nói là đẹp nhất. Tôi với cụ Hoàng Văn Úy đến từng anh thuyết phục nên mặc đồ thường thôi, vì hy vọng đoàn quay phim này sẽ có tác dụng thuận lợi cho mình khi họ phổ biến trên hệ thống truyền thông thế giới. Các bạn đồng ý, nhưng cũng cố gắng một chút tươm tất, nếu không sẽ không yên với đám an ninh của trại.




Tôi và anh Đặng Hoàng Long đứng nhìn nhóm Thụy Điển thu hình. Anh chàng chuyên viên chỉ đưa ống kính quét một lượt phần trên bàn, rồi anh ta ngồi bệt trên sàn xi-măng, đưa ống kính vào các ống chân bàn chân của “thực khách” và thu thật chậm nên không sót bàn chân anh nào cả. Đó là những bàn chân nứt nẻ bị bùn đen bám vào, cộng với nước phèn ngấm vào da, làm cho những bàn chân trở nên sàm sở, và người quay phim khai thác một cách rất nghệ thuật về những chứng tích không thể chối cải trong trại tập trung của cộng sản Việt Nam.




Màn kịch thứ ba.




Lúc ấy trời tối hẳn, vì mùa đông nên thì giờ ban ngày ngắn hơn thì giờ ban đêm. Họ hoàn toàn thu hình mà không hỏi bất cứ ai về bất cứ điều gì. Nhóm quay phim Thụy Điển yêu cầu Công An cho mở các phên cửa sổ để có chút ánh sáng thu hình vài sinh hoạt trong buồng giam số 1. Nghe thông dịch xong, tên Công An từ Hà Nội xuống ra lệnh cho Công An trại:




“Không được. Nói với chúng nó nếu mở tấm phên thì mấy anh này chịu lạnh không nỗi”.




Thật ra không phải đám Công An Hà Nội sợ tù chính trị chúng tôi lạnh đâu, và đây là bằng chứng vẫn do tên Công An Hà nội nói:




“Bọn này ghê lắm! Chúng nó quay toàn những cảnh không như Bộ hướng dẫn chúng nó trước khi vào trại. Không cho chúng nó quay nữa”.




Sau cái lệnh không cho mở tấm phên cửa sổ, anh chàng chuyên viên thu hình Thụy Điển cao lêu nghêu, lặng lẽ ra chỗ xe của anh ta ngoài sân đem vào cái ống trắng giống ống đèn néon nhưng lớn một chút, dài khoảng 6 hay 7 tấc gì đó. Hóa ra cái ống ấy là đèn điện tử, tỏa một vùng ánh sáng thật dịu nhưng thật mạnh trong khoảng chừng một thước vuông, đủ để họ lần lượt thu hình 3 quang cảnh.




Cảnh 1 là anh Đặng Hoàng Long (họa sĩ và là thông dịch viên Anh ngữ) cùng với một bạn nữa (dường như là anh Bửu Uy) đang đánh cờ tướng.




Cảnh 2 là anh Nguyễn Hữu Vị (Trung Tá, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo) có hàm râu dài trắng phếu, đang ngồi vá chiếc áo mùa đông, trông thật là buồn!




Và cảnh 3 là anh Phạm Văn Thuần (Đại Tá, Phủ Thủ Tướng) dưới ánh đèn leo lét đang cắm cúi viết “thư tình già” gởi về cho “má bầy trẻ”. Cái gọi là bàn viết của anh Thuần chỉ là cái mền chồng lên cái gối do mấy bộ quần áo tù cuộn lại. (Mấy tháng sau đó, con gái của anh Vị từ Paris gởi về anh Vị tấm ảnh “anh ngồi vá áo” do chụp lại từ trong tivi mà cuộn phim đó trình chiếu trên hệ thống tivi nước Pháp).




Trước khi rời trại, một anh chàng trong nhóm quay phim của Thụy Điển cầm cái micro dài, đứng giữa sân áng chừng 5 phút trong khi anh chàng quay phim thu hình anh ta. Trại trưởng Bùi Dênh nói với đám trực trại đang đứng nhìn:




“Cứ để nó thu, cho nó thấy sự yên tĩnh trong trại. Điều đó tốt thôi”.




Hôm sau, các Đội xuất trại xong, tên Niệm -phụ trách giáo dục của toàn trại- vào tổ văn hoá:




“Anh Hoa. Anh Vũ Tiến Phúc có đi lao động không?”




“Tôi không biết cán bộ”.




Hắn quay sang tên Lực trực trại:




“Đồng chí Lực, cho người xuống đồng tìm anh Phúc, bảo về trại ngay”.




Nửa giờ sau, hắn nói với anh Phúc đang đứng trước mặt:




“Anh đã có tiến bộ về tư tưởng thông qua phóng sự do đài truyền hình Cần Thơ thực hiện hai tháng trước. Ông Bộ Trưởng (Công An) xem xong đoạn phim đó ra lệnh thả anh về. Anh tiến hành thủ tục ra trại ngay hôm nay để cùng về với toán kia”.




Xin nói thêm một chút. Khoảng năm 1977, lúc bị nhốt trong trại tập trung trên Yên Bái, anh Vũ Tiến Phúc có nói với tôi rằng, anh có liên hệ gia đình với cộng sản Võ Trần Chí, Bí Thư thành ủy Sài Gòn mà chúng nó lắp cái tên ông Hồ thay vào chữ Sài Gòn. Theo người nhà của anh cho biết, thì Võ Trần Chí muốn lãnh anh ra trại nhưng anh không đồng ý. Anh nói anh không muốn dính dáng tới cộng sản dù là anh em.




Về đoạn phim mà tên Niệm gọi là “phóng sự”, thật ra anh em tù chính trị chúng tôi không ai biết về cuộc phỏng vấn của đài truyền hình Cần Thơ tại trại Nam Hà A này cả. Chỉ biết là họ có thu hình anh Vũ Tiến Phúc và anh Lâm Chánh Ngôn (Đại Tá, Sư Đoàn 21 Bộ Binh). Hôm đó là buổi chiều, họ thu hình hai anh đứng cuốc đất trên khoảng đất nhỏ xíu ngay góc cái giếng lớn cạnh cổng chánh của trại. Khoảng đất “đầu thừa đuôi thẹo” chút xíu xìu xiu này chưa bao giờ trồng trọt gì cả. Còn phỏng vấn lúc nào và ở đâu, chúng tôi hoàn toàn không biết.




Nếu cho rằng đài truyền hình Cần Thơ muốn phỏng vấn những cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa từng phục vụ vùng đồng bằng Cửu Long mà đài truyền hình này xem là địa phương, thì đâu phải chỉ có anh Phúc với anh Ngôn, mà có các anh Nguyễn Văn Của, Nguyễn Văn May, Huỳnh Thanh Sơn, và nhiều nữa. Phải chăng đó chỉ là cách nói của trại như là lý do ra về của anh Phúc do ông Bộ Trưởng Bộ Công An “tử tế và rộng lượng quá”, chỉ cần lúc nhàn hạ ngồi xem một đoạn phim là đủ yếu tố để quyết định thả tù, loại tù mà ông Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố là không thể tha thứ.




Buổi trưa, tất cả các anh rời trại chuyến thứ hai, cộng thêm anh Vũ Tiến Phúc, tập trung ở khuôn viên buồng 10 chờ lên xe ra Phủ Lý. Đám trực trại không cho tiếp xúc với anh em còn ở lại. Lệnh là như vậy, nhưng giờ trưa chẳng có tên nào vào trại, thế là anh em chúng tôi tha hồ nhắn gởi về nhà.




Khi tập trung để đám trực trại điểm số, cũng là lúc nhóm quay phim Thụy Điển làm công việc thu hình. Nhóm này thu hình khi anh em ra cổng trại đi bộ lên chỗ xe buýt đậu trước nhà tên Lưu Văn Hán, trại trưởng toàn trại Nam Hà. Nghe đám trực trại nói chuyện, mới biết là nhóm quay phim Thụy Điển thu hình tại nhà ga Hà Nội, sau đó lên phi cơ vào Sài Gòn để thu hình các anh tại nhà ga Hòa Hưng.




Tháng sau đó, một anh bạn được vợ đến thăm, nhờ đó mà anh em chúng tôi biết nhóm quay phim Thụy Điển theo anh Đoàn Viết Cảnh -trong số được tha- và gia đình về đến nhà, nhưng không rõ là họ có phỏng vấn gì không.




Khoảng hai tháng sau đó, tên Lực trực trại, vào buồng giam số 1 chúng tôi nói chuyện linh tinh. Sau khi uống tách cà phê, hắn nói:




“Mấy thằng Thụy Điển đểu lắm. Nó quay phim các anh ở đây nó không hỏi ai điều gì, nhưng khi về bên đó nó thuyết minh ngược lại hết làm cho Bộ Công An bị phê bình dữ dội”.




“Họ thuyết minh thế nào vậy cán bộ?”




“Khi thu hình Đội trồng rau trên đường về trại, Ban Giám Thị bảo bó cuốc xẻng lại và vác về cho nó thấy là cẩn thận, nhưng lời thuyết minh trong phim cho rằng trại bắt các anh vác củi về cho trại sau giờ lao động. Nó nói như vậy là vì nó chỉ thu hình từ phía trước, mà phía trước chỉ là những cán cuốc cán xẻng chớ đâu thấy lưỡi cuốc lưỡi xẻng. Còn lúc nó đứng thu âm thanh ở giữa sân, nó thuyết minh là sự khắc nghiệt đến mức mà hằng ngàn tù nhân cũng không dám phát ra một âm thanh nào cả, nghĩa là một không khí im lặng đến nghẹt thở! Đểu đến thế!”




“Đúng là chúng nó đểu rồi”.




Đó là lời của cụ Hoàng Văn Úy nói theo kiểu vuốt đuôi tên Lực, nhưng trong lòng anh em chúng tôi thầm cười “cái đểu rất đểu với bọn cộng sản quá đểu”. Thế là những màn kịch tồi đã bị nhóm thu hình Thụy Điển vạch trần một cách nghệ thuật. Xin cám ơn các bạn Thụy Điển trong nhóm quay phim ấy.




Lại một cái Tết trong tù.




Sau khi các anh thuộc chuyến thứ hai ra về, tù chính trị chúng tôi còn lại vừa hơn 400, chuẩn bị “ăn Tết”. Tết đầu 1985 này có cái đặc biệt, rất đặc biệt. Đó là trại trưởng Bùi Dênh cho phép tất cả vợ con của tù chính trị đang có mặt tại nhà thăm nuôi ngày 30 Tết, được ở lại “ăn tết” với chồng. Theo cái lệnh đặc biệt đó, các anh sau đây được sống với vợ con trong 3 ngày Tết: Anh Vĩnh Thái, (Trung Tá Nhảy Dù), anh Trần Hiệp Thới, anh Nguyễn Minh Công, anh Huỳnh Quang Minh, và anh Huỳnh Chí Tài (anh Tài quốc tịch Hong Kong).




Lần đầu tiên, sáng Mồng Một, phái đoàn tù chính trị gồm các anh Đội Trưởng và Tổ Trưởng do tên Dục hướng dẫn lên nhà trại trưởng chúc Tết. Nhưng Lưu Văn Hán, trại trưởng Nam Hà đã về quê ăn Tết, giao lại cho Đại Úy Tân, phụ trách giáo dục toàn trại. Tên Niệm mở đầu:




“Nhân ngày đầu năm, Ban Giám Thị muốn tiếp xúc với đại diện trại viên (họ gọi tù chính trị chúng tôi là trại viên) và các gia đình đang được thăm gặp thân nhân, để chuyển lời thăm hỏi và chúc mừng đầu năm của Trại Trưởng. Bây giờ mời một anh đại diện phát biểu”.




Trước khi ra cổng trại, các bạn tôi giao tôi trách nhiệm đáp lời nếu như họ bảo tù chính trị chúng tôi làm việc đó. Sau khoảnh khắc im lặng, tôi đẩy ghế, đứng dậy:




“Thưa Ban Giám Thị và các cán bộ, thưa các Anh các Chị. Tôi được phép thay mặt các bạn tôi có măt trong phòng này, chúc Ban Giám Thị, chúc cán bộ và gia đình, một năm mới nhiều sức khỏe. Xin chúc các Anh Chị được vui vẻ bên nhau trong mấy ngày Tết lạnh buốt nơi đây. Tôi xin hết lời”.




Nói xong, tôi vòng qua bên kia bàn, trao cho con gái của anh chị Thới và hai con của anh chị Tài, mỗi cháu một nhánh đào bé bỏng mà tôi ngắt từ cành đào thật lớn bên cạnh, với lời chúc mừng các cháu thêm một tuổi.




Đến chị Trần Hiệp Thới thay mặt các chị, chúc Tết Ban Giám Thị và mời họ một trái dưa hấu. Trái dưa này của chị Vĩnh Thái đưa chị Thới làm quà đầu năm, xem như “có qua có lại” cho sòng phẳng.




Không phải trưởng trại A Bùi Dênh chúc Tết chúng tôi, mà là Đại Úy Tân, phụ trách giáo dục toàn trại. Cùng lúc, mấy tên Công An trong bộ phận tổ chức và kế hoạch mời chúng tôi uống trà với thuốc lá đen. Thường ngày chúng nó có việc cần là vào trại bảo chúng tôi làm việc như điên, bây giờ chúng tôi ngồi vào ghế để chúng nó mời thuốc mời trà lia lịa.




Sau đó, các anh chị được thăm gặp nhau trở ra nhà thăm nuôi, anh em chúng tôi quay vào trại. Vẫn là những trò giải trí như năm trước, cờ tướng, đá banh, đánh banh (bóng chuyền). Đó là phần nhiệm của tổ văn hoá, còn đàn hát thì buồng giam nào cũng có. Các bạn “chạy sô văn nghệ” tại các buồng giam như anh Lương Trọng Lạt (Thiếu Tá Cảnh Sát), anh Vũ Quang Tĩnh (Đại Úy Cảnh Sát), anh Phạm Duy Thanh (Thiếu Tá Cảnh Sát), anh Nguyễn Phan Đệ (Đại Úy), anh Phạm Gia Đại (viên chức cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Nha Trang), anh Bửu Uy (Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo), anh Đặng Hoàng Long (họa sĩ, thông dịch viên), và anh Nguyễn Văn Quí (Đại Tá Cảnh Sát). Thật ra thì rất nhiều anh không thuộc tổ văn nghệ, nhưng tiếng đàn giọng hát vững vàng lắm.




Ngoài các anh kể trên, còn có các anh Lâm Minh Sơn (Thiếu Tá) có biệt danh “Sơn gà tre” vì khi đá banh anh chạy nhanh lắm, Lê Thành Kỉnh (Tuyên Úy Phật Giáo), Chu Mạnh Bích (Đại Úy, lái phi cơ C130), Nguyễn Minh Chí (một trong những bạn rất trẻ), anh Phan Văn Minh (Đại Tá Không Quân), anh Vĩnh Thái (Trung Tá Nhẩy Dù), ..v..v...




Đâu đã hết, còn có các anh thuộc hàng “thợ ca” như anh Nguyễn Khoa Phước (Nghị Sĩ), anh Vĩnh Biểu (Đại Tá), anh Phạm Kim Tấn, Nguyễn Hữu Vị, anh Đinh Tiến Dũng, anh Nguyễn Dũng, anh Nguyễn Văn Năm (Đại Úy, lái khu trục phản lực), Trương Đình Thăng, Triệu Huỳnh Võ (anh Thăng với anh Võ là Đốc sự hành chánh). Trong số này có hai “thợ đàn với thợ ca” thuộc hạng siêu là anh Nguyễn Văn Năm với anh Nguyễn Dũng. Hai bạn này cạnh nhau, sau khi nằm yên trong mùng thì anh Năm đàn anh Dũng ca. Tiếng đàn với tiếng ca thật nhỏ. Nói nghe có vẻ quá lời, thật ra hai anh có thể đàn hát tới sáng cũng chưa hết bài hát thuộc lòng nữa quí vị quí bạn à!




Tối Mồng Một Tết trong buồng giam số 1, chúng tôi quân quần bên nhau trên sàn gác, uống trà uống cà phê đàn ca hát xướng. Chỉ cần một tiếng đồng hồ, anh Đặng Hoàng Long vẽ xong chân dung tôi (bên cạnh), và vẽ một hoạt cảnh bằng bút chì. Ôi thôi, “ca nhạc sĩ” đủ kiểu ngồi nằm vừa đàn vừa hát, áo quần ngổn ngang trên những giây giăng mùng, những túi những lon móc đầy trên vách, đằng sau “ban nhạc” là anh Nguyễn Văn Sảo (Đại Tá An Ninh Quân Đội) “thưởng thức văn nghệ bỏ túi” trong thế ngồi bó gối, có vẻ như anh đang buồn ngủ? Cứ sau khi đám trực trại khóa cửa buồng giam, chúng tôi tự cho mình được tự do ca hát, mà hát toàn những bài liên quan đến đời sống chiến đấu lẫn đời sống tình cảm thời chiến tranh giữ nước. Hát nhạc ngoại quốc, phải công nhận anh Lê Minh Đảo (Thiếu Tướng), anh Phạm Kim Tấn, anh Bửu Uy, anh Vĩnh Biểu, anh Phạm Gia Đại, anh Chu Mạnh Bích, thuộc nhiều mà hát hay nữa. Trong chốn riêng tư của con người, đêm đêm cái đám Công An vào đứng hay ngồi bên ngoài cửa sổ các buồng giam để nghe đàn hát. Những khi không nghe đàn hát, chúng nó yêu cầu chúng tôi hát những bài hát mà chúng nó muốn nghe cứ như “chương trình nhạc yêu cầu” vậy.




Ngày Mồng Hai Tết, anh Lại Đức Chuẩn, tổ trưởng tổ dịch thuật bên buồng giam số 2, tổ chức văn nghệ có ăn trưa hẳn hòi. Từ 9 giờ sáng đến 1 giờ trưa ngưng lại ăn cơm. Ăn xong tiếp tục phần hai, nhưng có lẽ “mở heo” (từ thịt kho) bám vào thanh quản nhiều quá nên “các ca sĩ” xuống phong độ và chấm dứt sớm.




Thưa quí vị quí bạn, đó là niềm vui trong cái đắng cay của những người thua trận chúng tôi, nhưng đó cũng là cách góp phần giúp chúng tôi giữ vững nghị lực mà tin tưởng ngày mai, dù ngày mai vẫn là niềm hy vọng chưa có câu trả lời rõ nét.




Còn lại một ngày nghỉ nữa, tôi đưa anh Đặng Hoàng Long mấy tờ giấy “bristol” mà tôi ăn gian của mấy tên Công An nhờ tổ văn hoá trang trí đám cưới của chúng nó, để anh Long vẽ chân dung cho anh nào muốn lưu lại cái kỷ niệm đắng cay trong trại tập trung!




Tưởng cũng nên kể lại quí vị quí bạn biết qua cách trang trí đám cưới của chúng nó để có khái niệm về lễ cưới của thanh niên xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc. Phần phụ trách trang trí là anh Đinh Tiến Dũng với anh Đặng Hoàng Long. Trên tờ giấy trắng dầy, anh Long vẽ hai trái tim đỏ lòm chồng lên nhau, viết hai mẫu tự đầu của cô dâu chú rể ngay giữa hai trái tim. Trên cuống hai trái tim có hai sợi giây tơ hồng quyện vào nhau do hai con chim bồ câu cắn hai đầu giây đó trong tư thế đang bay. Vẽ xong, dán lên tấm phông trắng treo trên vách sân khấu hoặc tương tự như vậy nếu ở nhà riêng. Bên trên có hàng chữ trăm năm hạnh phúc cắt giấy màu dán lên. Trong khi đó, anh Dũng dùng loại giấy xấu có màu xanh lá cây cắt thành bụi tre. Gần trên ngọn tre có mặt trăng bằng giấy màu vàng. Cạnh bụi tre, vẫn giấy màu xanh, cắt hình một nam một nữ dìu nhau dưới ánh trăng. Toàn bộ đó dán bên trái tấm phông, còn bên phải tấm phông dùng giấy màu tím màu vàng màu đỏ cắt hình một ban nhạc với đầy đủ nhạc công nhạc khí. Trên nền trắng còn lại, cắt những ngôi sao với những nốt nhạc dán lên đó. Đấy là tấm phong gọi là hoàn chỉnh cho một đám cưới.




Anh Long với anh Dũng thường phá chúng nó bằng cách, vẽ hai sợi giây vừa quấn vào nhau mà vừa đá nhau, còn anh Dũng cho chân chúng nó đá nhau dưới ánh trăng, nhưng chỉ có “phe ta” biết chớ chúng nói làm sao biết được cách chơi “xỏ lá” đó.




Đổi tiền lần thứ ba.




Trung tuần tháng 9 năm 1985, đây là lần thứ ba chúng nó đổi tiền. Lần thứ nhất vào tháng 09/1975, lúc ấy họ tự qui định 1 đồng của họ bằng 500 đồng Việt Nam Cộng Hòa cũ. Lần thứ nhì họ gọi là thống nhất hai đồng bạc miền Nam với miền Bắc theo trị giá đồng bạc miền Nam. Bây giờ họ lại tự qui định 1 đồng mới bằng 10 đồng cũ. Nói cách khác, 1 đồng bây giờ bằng 5.000 đồng Việt Nam Cộng Hòa trước.




Sáng sớm ngày đổi tiền, khi nghe cái loa của trại loan tin tôi chạy tìm tên Dục, đang là cán bộ giáo dục của trại A trong khi chờ tên khác đến thay vị trí tên Vũ Quấc buộc phải về hưu:




“Cán bộ có thể đổi giúp giùm tôi ít tiền được không?”




“Anh có nhiều không?”




“Tôi và các bạn gộp lại được 1.200 đồng”.




“Được. Anh đưa tôi”.




Đến chiều, hắn mang vào trại đưa tôi 120 đồng mới. Tôi đưa nó 20 đồng:




“Cán bộ giữ cái này uống cà phê”.




“Không. Các anh chẳng có bao nhiêu, giữ mà tiêu”.




Để sòng phẳng, sáng hôm sau tôi tặng hắn cái áo thể thao với màu sắc rất đẹp. Trông thấy là mắt hắn sáng lên trong khi miệng cám ơn lia lịa. Áo này tôi mua lại của anh Nghiêm hồi năm ngoái với giá 200 đồng. Ở đâu không biết chớ tại trại tập trung này, đám Công An mê hàng sản xuất từ Hoa Kỳ lắm, cứ thấy nhản hiệu USA là sáng mắt ngay.




Công An Dục rất trẻ, tuy đôi lúc bốc đồng nhưng chẳng mấy khi gắt gỏng. Hắn cũng “ngậm” như những tên khác, nhưng được một điều là khi có việc nhờ hắn thì hắn làm ngay. Hầu hết anh em chúng tôi chủ trương sòng phẳng dứt khoát với đám Công An để không dây dưa với chúng nó.




Về trường hợp tên Vũ Quấc ra rìa và bắt buộc phải về hưu, làm cho hắn xem những đồng chí áo vàng (đồng phục của Công An) của hắn là thù địch. Chuyện là mấy tháng trước, hắn xin đi áp tải tù chính trị duy nhất vào Nam, đó là anh Ung Ngọc Nghĩa, trước kia là đảng viên chính trị. Anh Nghĩa là em ruột của Ung Ngọc Ky, tên cộng sản tập kết ra Bắc năm 1954. Trong khi Vũ Quấc vào Nam, cái đám chi bộ đảng của hắn tại trại Nam Hà A này, đưa tên hắn vào danh sách đề nghị cưỡng bách về hưu. Vũ Quấc là tên Công An vừa tham vừa thâm lại vừa độc, ngay cả với những “đồng chí” của hắn nếu như họ không đứng trong phe cánh với hắn. Theo tên Dục nói lại thì trong một tháng ở Sài Gòn, Vũ Quấc được anh Dương Huy Nam hướng dẫn đến một số các anh tù chính trị về trước để xin tiền. Trở về trại là hắn tối tăm mặt mũi, khi biết bị đám đồng chícủa hắn chơi một đòn quá nặng.




Tôi không rõ là hắn đã gởi đơn tố cáo các đồng chí của hắn ra sao, nhưng hắn nói với tôi thế này:




“Rồi đây sẽ có phái đoàn trung ương đến đây thanh tra, nếu họ có hỏi anh thì anh nói là cả trại này chỉ có ông Quấc là có uy tín, còn thì thối nát cả”.




Thưa quí vị quí bạn, đúng là cái đám Công An trại này đều thối nát, nhưng Vũ Quấc là tên thối nát hơn tất cả, mà ăn nói cũng ngược ngạo hơn tất cả. Hắn nói như vậy, rõ ràng là hắn không hiểu tôi chút nào, và đó là sự thành công của tôi. Tôi nói “thành công”, vì tôi luôn “giữ cái tẩy” để chúng nó không nhận ra được con người thật của tôi đối với chúng nó. Lúc nào cần sòng phẳng tôi sòng phẳng, lúc nào cần xỏ lá là xỏ lá. Có lẽ nhờ vậy mà hắn hiện nguyên hình của một tên Công An ác ôn độc hại khi hắn nói với tôi câu ấy.




Điển hình cái tham cái độc của Vũ Quấc. Tháng 01/1985, khi anh Liêm (Thiếu Tá) Đội trưởng đội thợ mộc được ra trại, hắn bảo anh Liêm ăn cắp dụng cụ đồ nghề của thợ mộc gồm cưa, bào, đục, giũa, búa, khoan, đem về buồng giam, rồi lúc thuận tiện sẽ có tù hình sự đến lấy đem ra phòng hắn bên ngoài cổng trại. Đến chú Vượng có thời gian giữ kho dụng cụ, trước khi được ra trại, hắn bảo ăn cắp mai xén đất, cuốc bàn, cuốc chim, xà beng, búa tạ, dao lớn dao nhỏ dao dài dao ngắn, bao bọc lại rồi lén mang đến phòng hắn vào buổi trưa. Đâu đã hết tham, hắn xuống buồng giam số 18 thấy mấy tấm “lưới chống B40”, hắn bảo mấy anh tù hình sự tháo ra rồi gập lại cho ngắn gọn, bỏ vào giỏ rác, buổi trưa khiêng ra cổng đổ vào đống rác. Hắn lại bảo anh hình sự phục vụ khu doanh trại, chờ giờ nghỉ trưa lén mang đến phòng hắn, để hắn mang về nhà đúc cái sân thượng nho nhỏ. Nhưng cái số của hắn đã mạt càng thêm mạt, vì cuộn lưới cuối cùng trên đường đến phòng hắn thì tên Công An gác cổng kêu dừng lại xét, và bắt tại trận. Không biết hắn có bị gì không, nhưng anh hình sự bị đuổi về Đội đi lao động, không được phục vụ ngoài khu doanh trại nữa. Cái khác biệt giữa theo đội đi lao động với phục vụ khu doanh trại bên ngoài, tuy cùng là lao động nhưng lao động khu doanh trại tự do hơn, vì chỉ có một mình nên sự đi lại dễ dàng, nhưng ngược lại khi tên Công an nào bảo gì thì làm nấy.




Về hưu cũng là một vấn đề dưới chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Không phải nói về hưu là nghỉ ngay đâu. Trước khi thật sự nghỉ hưu, họ được về nhà nghỉ chơi từ hai đến năm năm tùy từng đơn vị, sau đó mới thật sự về hưu. Trong thời gian “đuổi gà cho vợ” họ vẫn hưởng những quyền lợi như đang làm việc, như tiền lương, được phân phối gạo, thịt, đường, với giá như cho không.










Trại trưởng mới, tù nghẹt thở.




Không biết có phải do “chính sách riêng” của Bùi Dênh về việc nới lỏng đối với tù chính trị chúng tôi hay không, mà sau Tết thì Đại Úy Tân, cán bộ giáo dục toàn trại Nam Hà, thay thế Bùi Dênh trong chức vụ trưởng trại Nam Hà A. Chỉ biết rằng, theo mấy “thằng chèo” biệt danh do chúng tôi đặt ra để chỉ đám Công An cai tù, trong khi người dân vùng này gọi chúng nó là “chó vàng”, nói chuyện với nhau thì nguyên nhân do Bùi Dênh “nới lỏng chúng tôi” nhưng lại “siết chặt chúng nó”. Chữ trói chặt, chúng tôi suy đoán có lẽ do Bùi Dênh nắm quyền trực tiếp quyết định những vấn đề liên quan đến sinh hoạt của tù chính trị thì phải, bởi đó là cánh cửa để chúng nó kiếm “chút cháo” từ chúng tôi.




Cũng không biết có phải vì vậy hay không, mà tên Tân “bô lô ba la” khi nắm quyền trưởng trại là bắt đầu siết chúng tôi lại, và phần thăm gặp gia đình là hắn siết chặt nhất. Điển hình là rất ít trường hợp được thăm gặp 24 tiếng đồng hồ, và tuyệt đối không có trường hợp nào quá 24 tiếng đồng hồ cả. Hạn chế gắt gao nấu nướng và trồng rau cải trong khuôn viên buồng giam. Có lần đám tù hình sự coi chúng tôi đá banh rồi đánh nhau đến đổ máu, thế là hắn cấm đá banh luôn. Từ đó, không khí trong trại trở nên nghẹt thở như lúc ban đầu. Chưa hết, hắn còn ngăn cấm những ai đến thăm thân nhân mà mang giúp quà cho người khác, nghĩa là chỉ được mang quà cho thân nhân thôi. Thường khi vợ anh Huỳnh Chí Tài mang theo rất nhiều quà của các chị bạn với ít tiền công để làm lộ phí, thế là chị Tài bị bắt buộc phải mang về. Nhưng chị ấy mang ra bưu điện Ba Sao gởi, thông thường thì bưu điện Ba Sao gọi trong trại ra lãnh, và trường hợp này thì Tổ văn nghệ của anh Phạm Kim Qui được cử đi.




Đẩy xe cải tiến ra bưu điện Ba Sao nhận bưu kiện, cũng là niềm vui nho nhỏ của tù chính trị chúng tôi. Cứ mỗi lần đi như vậy, một số anh em chúng tôi gởi tiền cho các bạn ra đó mua thức ăn, con gà con cá củ khoai bó rau hay bánh kẹo. Thường khi hướng dẫn ra bưu điện Ba Sao là tên Dục phụ trách cùng với một tên võ trang. Tổ Văn nghệ đưa tiền cho tên Dục giữ lúc ra cổng trại, trên đường ra Ba Sao thì hắn đưa lại anh em. Tất nhiên khi mua hàng thể nào cũng mua cho hắn món gì đó để gọi là sòng phẳng, thế là mọi việc đâu vào đó. Đến Ba Sao, mấy bà trong cái chợ chồm hổm này thấy tù chính trị chúng tôi là mừng lắm, có món gì cũng mời gọi vì các bà ra giá bao nhiêu chúng tôi mua bấy nhiêu, mua không cần trả giá mà lại mua nhiều nữa. Các bà bán hàng gọi chúng tôi là “tù miền Nam” trong khi đám thanh thiếu niên gọi chúng tôi là “tù áo hoa”. Cả hai tên gọi mà người dân ở đây gắn cho chúng tôi, nghe như chỗ thân tình chớ không nhằm châm chọc.




Một hôm, anh Thanh hỏi mấy cậu bé đứng xem mua hàng:




“Em học lớp mấy?”




Mấy đứa cùng trả lời, đứa lớp 5 đứa lớp 4. Anh Thanh hỏi tiếp:




“Lớn lên mấy em muốn làm gì?”




Đám trẻ như tranh nhau trả lời, tuy cách dùng chữ có khác nhau nhưng cùng chung một nghĩa:




“Em muốn làm tù áo hoa”.




Không phải riêng anh Thanh mà các anh cùng đi đều ngạc nhiên. Một anh hỏi tiếp:




“Tù áo hoa tức là như mấy anh đây phải không?”




Thằng bé tỉnh bơ, cứ như trong sự suy nghĩ non nớt của nó hình thành từ bao giờ:




“Phải”.




“Tại sao em muốn làm tù áo hoa?”




“Tại vì làm tù áo hoa sướng hơn”.




Trả lời xong là cả đám cháu ngoan của ông Hồ vừa cười vừa chạy, cứ như chúng nó bằng lòng với lời bày tỏ ước vọng tương lai của chúng nó vậy.




Thưa quí vị quí bạn, “tù áo hoa” vì những bộ đồ rằn ri tức đồ trận mà anh em chúng tôi mặc, do họ lấy trong các kho của Tiếp Vận quân lực Việt Nam Cộng Hòa và phát cho chúng tôi sử dụng, và chúng tôi thường mặc khi thời tiết vào đông. Do vậy mà các “đấng nhi đồng với thanh thiếu niên xã hội chủ nghĩa” nơi đây gọi chúng tôi là “tù áo hoa”. Nhưng tại sao các “đấng thiếu niên” đó nói như một ước vọng khi lớn lên làm tù áo hoa sướng hơn? Chữ “sướng hơn” mà cậu bé lớp 5 sử dụng, trong một mức độ nào đó, đã thể hiện rõ nét về đời sống người dân quá khổ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa 20 năm trên đất Bắc này, hay ít nhất cũng là trong khu vực nơi đây! Khổ đến mức tuổi lên mười cũng nhận ra được, và lớp tuổi này cũng nhận ra mức sống của tù chính trị chúng tôi trong trại tập trung để so sánh.




Trở lại với tên trại trưởng Đại Úy Tân. Hắn có giọng nói ngọng nghịu, cái tật hay nói nhưng sau khi nói quá nhiều thì hắn nói là hắn không muốn nói nhiều. Chúng tôi nói hắn “bô lô ba la”, vì khó khăn lắm hắn mới thoát ra khỏi một đề tài để sang đề tài khác. Vì sự hách dịch và bóp chẹt thăm gặp gia đình, bóp chẹt sinh hoạt trong trại, và cả lao động nữa, một số anh em chúng tôi, nhất là anh Qui với anh Chuẩn, thường cho hắn khi hắn ngửa tay xin thuốc tây cho vợ chồng hắn, đồng ý bóp chẹt lại hắn. Họa hoằn lắm mới nhả ra cho hắn chút chút sau vài lần xin. Đó là cách “trả đủa thụ động” mà chúng tôi có thể làm được.




Chẳng hiểu chúng nó sắp xếp ra sao, mà tên Thắng “chuột” lại được làm quản giáo nhà thăm nuôi nữa. Chúng tôi gắn cho hắn chữ “chuột” theo sau cái tên của hắn, vì “cái mỏ” của hắn dài và nhô ra trông như mỏ con chuột vậy. Tân “bô lô ba la” với Thắng “chuột” kết lại nhau, càng làm cho trại Nam Hà A này mất sinh khí.




Tháng 06/1986, sau khi vợ tôi đến thăm, cùng với các chị bạn trở lên Hà Nội đề về Sài Gòn. Lúc ấy vùng Thanh Hóa bị cơn bão tàn phá nhiều nhà cửa cầu đường, và xe lửa không lưu thông được vì một đoạn đường rầy hư hỏng. Tất cả các chị từ Sài Gòn ra thăm nuôi đều bị kẹt lại, mà theo thông báo của nhà ga Hà Nội ít nhất phải chậm lại một tuần. Vợ tôi với chị Tài và hai con của chị, mua một ít trái cây trở xuống trại tập trung Nam Hà trao cho chồng. Không phải riêng của tôi với anh Tài, mà còn vài chị bạn cũng gởi thêm chút ít. Nói nghe có vẻ nhiều lắm, nhưng thật ra mỗi người chỉ một gói vàì kí lô thôi vì sợ trại không cho gặp.




Tên Tân đi khỏi, tên Thụng trại phó không cho gặp. Tên Thung là tên đã uy hiếp tôi bằng cách dùng cây nhọn xoáy nhẹ vào lưng tôi khi phái đoàn Pháp chọn tôi để gặp họ. Tôi nhét cho tên Dục 100 đồng, hắn xoay sở thế nào với đám trực trại mà hắn dắt tôi ra nhà thăm nuôi lúc giữa trưa, và chỉ ở đó trong một tiếng đồng hồ. Khi theo tên Dục vào trại, tôi yên tâm là sáng mai vợ tôi với chị Tài mới ra Phủ Lý. Thế nhưng khi tôi vào đến nhà trực trại thì Thắng “chuột” lù lù tới. Hắn hằn học với tôi, kèm theo nụ cười lúc nào cũng nham hiểm:




“Ai cho anh ra gặp vợ anh?”




“Tôi không biết. Cán bộ gọi tôi thì tôi đi”.




“Anh có mang thư ra không?”




“Không”.




Tôi trả lời cộc lốc mà không dùng chữ báo cáo cán bộ.




“Anh có mang tiền vào không?”




“Cán bộ gọi cán bộ trực trại xét tôi đi”.




“Tôi sẽ xét vợ anh xem có thư anh thì anh biết tay tôi”.




“Cán bộ có quyền thì cán bộ cứ xét đi”.




Sau đó không biết Thắng “chuột” nói nặng nói nhẹ gì vợ tôi, mà chú hình sự tôi thường “thuê” chuyển thư “chui”, khi vào trại cho tôi biết là vợ tôi với chị Tài cùng hai con của chị ấy, đi bộ ra Ba Sao ngay lúc xế chiều. Anh ta nói thêm là đoạn đường từ trại ra Ba Sao cũng như từ Ba Sao ra Phủ Lý, từ giờ đó không có xe nào ra Phủ Lý cả.




Lần thăm nuôi sau đó, vợ tôi thuật lại chuyện hôm ấy như thế này. Hắn hạch hỏi:




“Chồng chị có đưa thư cho chị mang về không?”




“Không có thư gì cả, vì tôi đến thăm thì chồng tôi đâu cần gởi thư”.




“Bây giờ chị phải đi khỏi nhà thăm nuôi”.




Tức quá! Vợ tôi, chị Tài và hai con của chị, đi bộ ra Ba Sao, hy vọng có xe ra Phủ Lý. Người dân ở đây cho biết là không có xe nào ra Phủ Lý vào giờ này đâu, mà ở Ba Sao cũng không có nhà trọ. Thế là vợ tôi với chị Tài quyết định đi bộ, cũng nuôi chút hy vọng mong manh là dọc đường biết đâu có chuyến xe nào ra Phủ Lý quá giang. Cứ thế mà đi! Đi 17 cây số đường đồi đất đá! Không chiếc xe nào ra Phủ Lý! Không một quán nước bên đường để giảm cơn khát! Chập choạng tối mới đến Phủ Lý! Chờ xe lửa lên Hà Nội. Trở lại đến nhà trọ thì tay chân đều sưng lên, trong khi bụng đói, người mệt lả! Trong tình cảnh đó, các chị bạn giúp đỡ xoa bóp và nấu cho chén cháu đỡ lòng thay vì cơm nặng bụng. Hai ngày sau mới giảm bớt, và hai ngày sau nữa lên xe lửa về Sài Gòn.




Thật lòng mà nói, tôi không thể nào tưởng tượng được là vợ tôi đã đi bộ trên quảng đường dài đến như vậy! Và cũng không thể nào tưởng tượng được là vợ tôi chịu đựng nỗi cái tức trong lòng do tên Thắng “chuột” gây ra, dẫn đến cái khổ về thể xác đến như vậy!




Điều gì đã giúp vợ tôi vượt lên cái đau cái tức đó? “Phải chăng là tình yêu chồng cộng với tình thương con?” Vợ tôi đã xác nhận như vậy, và nói bên tai tôi rằng:




“Khi Anh vào tù, cuộc sống của Anh và tương lai các Con chính là cuộc sống của Em, như mình đã đồng ý với nhau từ những ngày đầu viết thư qua lại cho nhau”.




Ánh sáng cuối đường hầm.




Trước khi nhận ra chút ánh sáng, xin mời quí vị quí bạn đến thăm tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân một chút. Tiến sĩ Xuân một thời là Tổng Trưởng Kinh Tế, một thời là Việt Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ. Trong thời gian bị giam tại trại Nam Hà này, ông gởi mua sách học tiếng Nga để tự học. Ông nói với tôi là tiếng Nga cũng không khó như ông tưởng. Tôi quen biết với ông từ năm 1964.




Tại trạm xá có một “bác sĩ” Công An, nhưng thật sự là bác sĩ Trương Văn Quýnh điều hành. Bác sĩ Quýnh từng là Giám Đốc Bệnh Viện Sài Gòn chuyên về cấp cứu, ông có uy tín trong giới y khoa thuở ấy. Phần lớn bác sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa đều bị giam ở các trại tập trung trong Nam, nhưng bác sĩ Quýnh và một số ít bác sĩ khác bị chúng nó đưa ra giam giữ cùng chúng tôi trên đất Bắc, do là thành viên của đảng chính trị hoặc do chúng nó gắn cho cái tội trời ơi gì đó. Tuy lúc ấy bác sĩ Quýnh không thấy rõ nếu không nói là gần như bị mù, nhưng ông giúp anh em chúng tôi rất nhiều về kinh nghiệm chuyên môn của ông. Anh em chúng tôi rất quí trọng ông.




Tôi nhớ hôm ấy là buổi sáng, một anh đau răng đến trạm xá nhờ ông nhỗ, ông Quýnh vừa cười vừa nói.




“Ngồi đó đi, tôi nhổ răng không đau đâu, anh đừng sợ”.




Vì ông không thấy rõ, nên ông cho tay vào miệng bệnh nhân lắc lắc từng cái răng, và hỏi liền miệng:




“Phải cái này hông? Phải cái này hông? Phải cái này hông?” Đến cái răng thứ tư, bệnh nhân đáp vội vàng:




“Đúng rồi. Đúng rồi. Cái đó đó bác sĩ”.




Bác sĩ Quýnh cầm cái kềm, lựa thế để kẹp cái răng, và chỉ một tiếng “phựt” là cái răng ngoan ngoản theo cái kềm ra ngoài. Súc miệng xong, bệnh nhân ngậm miếng bông gòn chút xíu rồi khoan khoái trở về buồng giam. Chiều hôm ấy, anh “bệnh nhân” trở xuống trạm xá, lớn tiếng từ ngoài cửa:




“Cái răng đau của tôi còn nguyên, vậy mà ông nói ông nhổ răng không đau. Bây giờ ông nhổ lại cho tôi đi”.




Bác sĩ Quýnh tỉnh bơ:




“Tôi hỏi anh đàng hoàng, anh chỉ cái răng cho tôi nhổ chớ có phải tôi tự ý đâu”.




Ông cười cười với giọng nửa đùa nửa thiệt:




“Hồi sáng tôi có nói với anh là tôi nhổ răng không đau, anh cũng đồng ý mà”.




Rồi ông trở nên nghiêm chỉnh:




“Thôi. Ngồi xuống đây, tôi nhổ cái răng đau cho anh với điều kiện anh phải chỉ đúng cái răng đau à nghe”.




Trở lại trường hợp tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân. Sau khi khám bệnh ông Xuân trong lúc tôi đang xin miếng bông gòn thoa vết trầy ở chân, bác sĩ Quýnh kéo tay tôi bảo sờ ngực trái sát trên xương vai của ông Xuân:




“Cậu Hai có thấy gì không?” Ông thường gọi đùa tôi là “cậu Hai”.




“Không bác sĩ. Tôi không cảm thấy gì hết”.




Ông lại bảo tôi sờ lần nữa, tôi vẫn không cảm nhận gì cả. Ông nói: “Vậy hả”. Rồi im lặng. Mãi đến khi ông Xuân rời khỏi trạm xá ông mới nói:




“Sát trên xương vai trái ông Xuân có cái u nho nhỏ, phải mạnh tay một chút mới cảm thấy. Theo kinh nghiệm của tôi, đó là triệu chứng ung thư. Thông thường, cái u đau thì không nguy hiểm trong khi mấy anh thấy đau thì sợ, nhưng thật sự cái u không đau mới là đáng sợ. Ông Xuân trong trường hợp thứ hai”.




Tôi nghe vậy hay vậy chớ biết gì đâu mà bàn luận. Mấy hôm sau, ông Xuân nghe được lời chẩn đoán của bác sĩ Quýnh, ông xuống trạm xá phản đối lời chẩn đoán đó của bác sĩ Quýnh.




Sau lần thứ hai bệnh viện Phủ Lý khám nghiệm ông. Bác sĩ cộng sản tại đó hỏi bác sĩ cộng sản trạm xá Nam Hà:




“Tôi nghe nói trong trạm xá của trại có anh bác sĩ gì đó giỏi lắm, anh ấy còn trong đó không?”




“Bác sĩ cộng sản của trạm xá trả lời:




“Còn. Anh ấy vẫn còn trong trại”.




“Anh bác sĩ đó có nói anh này (tức anh Xuân) bị bệnh gì không?”




“Anh Quýnh cho biết đó là triệu chứng ung thư”.




Anh bác sĩ cộng sản ở bệnh viện Phủ Lý, buông một câu như lời khen thầm kín:




“Ít ra cũng có một bác sĩ chẩn đúng bệnh. Đúng là anh ấy giỏi”.




Và rồi sau đó bệnh ung thư của ông Xuân phát triển rất nhanh. Chỉ trong vài tháng, từ cái u còn sâu dưới lớp da lớn dần và nổi cao lên trên, nếu nhìn theo chiều dài cái trứng gà nhỏ thì nó lớn khoảng một phần ba của cái trứng úp xuống. Lúc ấy ông Xuân không ăn uống gì được nữa. Trại cho phép anh Phạm Hữu Trung (Đại Úy Cảnh Sát), từ buồng giam số 1 xuống trạm xá giúp chăm sóc ông Xuân. Anh Trung rất kiên nhẫn, cứ mỗi lần cho được một muỗng nước pha mật ong vào miệng ông Xuân, anh dùng tay liên tục vuốt ở cuống họng mãi năm bảy phút sau muỗng nước ấy mới xuống thực quản. Anh lại từ tốn cho thêm muỗng nước khác vào miệng ông Xuân, và cứ liên tục vuốt như vậy. Rồi cái u ấy di chuyển dần từ trái sang phải, vừa di chuyển vừa tụt dần xuống đến thắt lưng bên phải. Trong thời gian cái u ung thư di chuyển, cũng là thời gian ông lịm dần theo cái chết. Và khi đến thắt lưng, tiến sĩ kinh tế Nguyễn Duy Xuân chết hẳn! Lúc ấy là cuối năm 1986 do ung thư di căn.




Theo lời tên Dục phụ tá giáo dục, trại chụp tấm ảnh để hồ sơ sau này có cơ quan nào cần thì tham khảo. Đây là lần đầu tiên trong số rất nhiều anh em chúng tôi chết tại đây, nhưng có bao giờ nghe họ nói đến cái vụ chụp hình lưu hồ sơ như trường hợp này đâu. Anh em chúng tôi, mỗi người một tay gọi là tẩn liệm ông vào cái quan tài tồi tàn, nhưng không được phép chôn cất ông như hồi anh Trần Hữu Dụng chết, mà họ giao cho hai anh tù hình sự cột hai vòng giây, xỏ cây đòn dài theo quan tài và khiêng như khiêng món hàng gì đó mà ra cổng trại. Gần một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đứng trong sân trại nhìn hai anh tù hình sự từng bước leo lên đường đỉnh sau nhà thăm nuôi, đem chôn ở thung lũng bên kia trại. Đám tang ông Nguyễn Duy Xuân thật là buồn trong cái lạnh buốt của mùa Đông 1986! Thôi thì điểm đến cuối cùng của qui luật trong cuộc sống của mỗi con người, có hoàn cảnh nào giống hoàn cảnh nào đâu!




Tên Dục cho anh em chúng tôi trong tổ văn hoá xem tấm ảnh chụp trước khi để ông vào quan tài. Cứ vài hôm tôi xuống trạm xá thăm ông Xuân, nhưng khi nhìn tấm ảnh, tôi vẫn không thể tưởng tượng nỗi mức độ tàn tạ của ông. Người trong hình, chẳng qua chỉ là bộ xương bao bọc bởi lớp da nhợt nhạt, ở đôi mắt tinh anh của ông ngày nào nay là hai cái hốc sâu thẳm với màu nâu đậm, những cái xương sườn hiện lên rất rõ. Nói chung là không còn chút gì để nhận ra cái xác ấy là tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân, Viện Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ cả!




Ít lâu sau đó, cháu của ông Xuân đến trại. Với những gì còn lại đã làm biên bản ngay sau khi ông Xuân chết, trong đó thuốc tây rất nhiều, người cháu yêu cầu trại giao cho cựu Chuẩn Tướng Trực sử dụng, vì ông Trực với ông Xuân là anh em cột chèo.




Thưa quí vị quí bạn, đầu năm 1987, sau vài năm gần như im hơi lặng tiếng về những đồn đoán, nay bừng lên niềm hy vọng dù còn là mong manh, do sự kiện đại hội của cộng sản Việt Nam hồi cuối năm qua (1986) đưa ra nghị quyết “đổi mới” còn gọi là “cởi mở”. Dù họ chưa có chính sách nào rõ rệt về đổi mới, nhưng một xã hội xã hội chủ nghĩa ngày càng kiệt quệ đến mức sát bờ vực thẳm, họ phải tìm cách để tồn tại. Và từ trong cách mà họ tìm sự tồn tại đó, biết đâu vấn đề tù chính trị chúng tôi lại là một cách góp phần “giúp họ” chăng?




Những ngày đầu năm âm lịch năm nay không có cái ồn ào vui nhộn với những thi đấu thể thao, cờ tướng, văn nghệ như những năm gần đây, nhưng bù lại là cái không khí vui vẻ bàn luận về “hy vọng ngày ra trại”. Đó đây trong các buồng giam đều có cảnh tụm năm tụm ba quanh chén trà điếu thuốc, râm ran bàn luận và lần này kết thúc với lời chúc “đoàn tụ gia đình”. Nhưng trong chốn riêng tư, khá đông anh em tù chính trị chúng tôi vẫn giữ mức lạc quan dè dặt. Trong sự dè dặt đó, tôi nói với cụ Hoàng Văn Úy và ông Trương Đình Nam, cả hai cùng là đảng viên Việt Quốc:




“Cụ ơi! Tôi tin là trong đường lối mới của họ có ảnh hưởng đến mình, nhưng tôi cho rằng, nếu điều đó có thành sự thật cũng phải từ nửa cuối năm nay hay chậm hơn nữa chớ không sớm đâu, vì họ cần ổn định cơ cấu lãnh đạo mới của họ. Cụ với ông Nam nghĩ sao?”




Cụ Úy đáp:




“Tôi đồng ý là có ảnh hưởng tốt, nhưng về thời gian có thể phải sang năm (1988) chớ năm nay chưa đâu ông. Cái bọn cộng sản nó lì lợm lắm ”.




Cái không khí lạc quan có vẻ như tràn ngập trại Nam Hà A này. Nơi chốn đông bạn bè thì mức độ lạc quan theo cái lạc quan chung mà thường là lạc quan quá mức, nhưng trong chốn riêng tư thì niềm lạc quan dè dặt vẫn có, vì chẳng lẽ hơn chục năm trong các trại tập trung mà không rút ra được kinh nghiệm gì về bản chất gian trá và ngoan cố của nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam sao!




Công An tên Sáng chánh thức giữ chức cán bộ giáo dục trại Nam Hà A thay tên Vũ Quấc. Hắn đến buồng này uống cà phê đến buồng kia ăn bánh uống trà vì vẫn còn hương vị ngày Tết, trong lúc uống cà phê tại buồng giam 1, hắn nói với chúng tôi:




“Các anh có triển vọng được ra về nhờ đường lối cởi mở của đảng. Như thế nào thì tôi chưa rõ, nhưng triển vọng như vậy không phải là không thành sự thật đâu”.




Khi hắn ra khỏi phòng, anh em chúng tôi trong tổ văn nghệ, tổ chăn nuôi, với tổ văn hoá bàn luận. Câu chuyện bàn luận của chúng tôi như thế này:




“Các bạn thấy có thể tin thằng này được không?”




“Tôi nghĩ có thể tin được, vì hai điểm: Thứ nhất là tánh hắn không có cái bí hiểm như tên Quấc “đểu”, Thịnh “khuỳnh”, hay Thắng “chuột”. Chưa thấy hắn gắt gỏng với anh em mình, cho nên tôi nghĩ hắn không “nói đại” để uống tách cà phê của anh Qui đâu. Tin thì mình chưa hẳn tin, nhưng nếu nhìn qua các khía cạnh khác có thể giúp chúng ta có yếu tố để tin hắn hay không tin hắn. Thứ hai là xã hội xã hội chủ nghĩa kiệt lực nếu không nói là sắp sụp đổ, biết đâu sự kiện anh em mình ra trại lại là sự đổi chác gì đó với Hoa Kỳ cũng nên. Tôi tin lời hắn, nhưng tin trong mức dè dặt”.




“Tôi cũng có nhận xét tương tự, nhưng thêm một yếu tố nữa. Đó là anh Đàm Quang Yêu mới nhận thư nhà cho biết, dư luận trong Sài Gòn về nguồn tin anh em chúng mình ra về trong ngày gần đây, và sẽ sang Hoa Kỳ mà Mỹ với cộng sản Việt Nam thỏa thuận rồi”.




“Các anh tin thì tin, tôi chẳng tin gì chúng nó cả”.




“Chúng nó là ai mà ông nói? Ở đây chúng mình bàn chuyện giữa Hoa Kỳ với tụi cộng sản Việt Nam, chớ có phải thằng cộng sản nói đâu. Có tin hay hay thì nói ra cùng nghe, còn đúng hay không còn phải chờ chớ có gì đâu mà ông châm chích”.




“Thôi, đừng cãi nhau các anh ơi! Anh em cứ có tin gì cứ nói ra, biết đâu là từ những tin tức đó mà mình tìm ra được cái lý vững vàng, cho dẫu “cái lý vững vàng đó” có lợi hay không có lợi, nhưng ít ra niềm tin của mình cần có lý có lẽ chớ”.




Câu chuyện chưa kết thúc thì Thịnh “khuỳnh” bước vào cổng khuôn viên buồng giam, chúng tôi xoay sang chuyện bánh mứt. Hóa ra hắn vào đây tìm chú Nguyễn Minh Chí -tù chính trị trẻ nhất trong buồng giam số 1- ra dọn sạch sẽ nhà trực trại.




Đầu tháng 05/1987, vợ tôi từ Sài Gòn ra thăm mang theo đồn đoán liên quan đến tin tức làm xôn xao anh em tù chính trị chúng tôi. Thêm nữa, tin tức không chỉ đồn đoán tại Sài Gòn, mà thư các con tôi từ Hoa Kỳ cho biết, trong Cộng Đồng Việt Nam bên đó cũng có dư luận về tin tức này và tin tưởng sẽ là sự thật. Ngoài tin tức sốt dẻo nói trên, lại có tin không vui của vợ tôi. Đó là sự kiện hồi tuần trước, trong khi vợ tôi lên xe lửa tại Sài Gòn bị đám lưu manh giựt cái túi xách tay mà trong đó có một số tiền đáng kể, gồm của vợ tôi và của các chị bạn gởi ra để các anh có tiền về đường, và cái túi quần áo cũng bị giựt. Nói chung là cả áo quần lẫn tiền bạc đều mất hết. Sau khi khai báo với Công An, vợ tôi quay về gom góp trong nhà và mượn của đứa em trai để trả lại các chị và mua sắm ít đồ dùng. Dù bị mất mát khá nhiều, nhưng vợ tôi vẫn cố gắng ra thăm tôi để nói với tôi về việc anh em tù chính trị chúng tôi rất có hy vọng được ra về.





1234567

No comments: