Friday, February 25, 2011

LUẬN NGỮ IV


鄉黨第十

NGUYÊN VĂN

[10.1].孔子於鄉黨,恂恂如也,似不能言者。其在宗廟朝廷,便便然唯謹爾;
[10.2]. 朝與下大夫言,侃侃如也與上大夫言,誾誾如也;。君在,踧踖如也,與與如也。
[10.3].君召使擯,色勃如也。足躩如也,揖所與立,左右手,衣前後,檐如也。趨進,翼如也。賓退,必復命,曰:「賓不顧矣。」

PHIÊN ÂM

Chương X

HƯƠNG ĐẢNG

10.1.Khổng tử ư hương đảng , tuân tuân như dã , tự bất năng ngôn giả . kỳ tại tông miếu triều đình, tiện tiện nhiên , duy cẩn nhĩ .
10.2. Triều , dữ hạ đại phu ngôn , khản khản như dã , dữ thượng đại phu ngôn , ngân ngân như dã . quân tại , địch tích như dã , dữ dữ như dã .
10.3
.Quân triệu sử tẫn , sắc bột như dã , túc khước như dã , Âp sở dữ lập, tả hữu thủ , y tiền hậu , diêm như dã . Xu tiến , dực như dã . Tân thối , tất phục mệnh viết , tân bất cố hĩ.

DỊCH NGHĨA

Chương X

Ở XÓM LÀNG

10.1. Khi ở trong làng xóm, Khổng tử là người thật thà, dường như chẳng biết nói năng. Nhưng khi ra nơi triều đình, tông miếu, ngài biện luận rất rõ ràng và thận trọng.
10.2.Ở triều, nói với bấc dưới, ngài tỏ vẻ nghiêm nghị, với bậc trên thì giữ hoà khí. Khi vua ra, ngài tỏ vẻ kính sợ, luôn lo lắng sao cho khỏi thất lễ!
10.3.Khi vua giao ngài tiếp khách, sắc diện ngài hơi đổi, ngài bước hơi run. Đứng chào khách, ngài đưa tay bên tả maá xá khách bên tả, đưa tay về bên hữu, xá khách bên hữu. Còn ngài phía trước, phiá sau đều tề chỉnh. Khi khách vào, Ngài đi mau, đưa thẳng hai cánh tay, tựa như chim duỗi cánh bay. Đến khi khách về rồi, Ngài trở vào tâu vua: "Khách không còn quay mặt lại nữa."


NGUYÊN VĂN

[10.4].入公門,鞠躬如也,如不容。立不中門,行不履閾。過位,色勃如也,足躩如也,其言似不足者。攝齊升堂,鞠躬如也,屏氣似不息者。出降一等,逞顏色,怡怡如也沒階趨進,翼如也復其位,踧踖如也.
[10.5].執圭,鞠躬如也如不勝;。上如揖,下如授,勃如戰色,足蹜蹜如有循。享禮,有容色私覿,愉愉如也。
[10.6].君子不以紺緅飾,紅紫不以爲褻服當暑,袗絺綌,必表而出之;。緇衣羔裘,素衣麑裘,黃衣狐裘。褻裘長,短右袂。(必有寢衣,長一身有半。)厚以居去。喪無所不佩。非帷裳,必殺之。羔裘玄冠,不以弔。吉月,必朝服而朝。

PHIÊN ÂM

10.4. Nhập công môn , cúc cung như dã , như bất dung. Lập bất trung môn , hành bất lý quắc . Quá vị, sắc bột như dã , túc khước như dã , kỳ ngôn tự bất túc giả . Nhiếp thăng đường , cúc cung như dã , bình khí tự bất tức giả . Xuất , hàng nhất đẳng , sính nhan sắc , di di như dã , một giai , xu tiến , dực như dã , phục kỳ vị , địch tích như dã .
10.5. Chấp khuê , cúc cung như dã , như bất thắng , thượng như ấp, hạ như thụ, bột như chiến sắc , túc súc súc như hữu tuần. Hưởng lễ , hữu dung sắc .Tư địch , du du như dã.
10.6. Quân tử bất dĩ cám tưu sức . Hồng tử bất dĩ vi tiết phục . Đương thử chẩn hi khích , tất biểu nhi xuất chi .Truy y cao cừu , tố y nghê cừu , hoàng y hồ cừu. Tiết cừu trường , đoản hữu mệ . Tất hữu tẩm y , trường nhất thân hữu bán .Hồ hạc chi hậu dĩ cư . khứ tang , vô sở bất bội . Phi duy thường , tất sát chi. Cao cừu huyền quan bất dĩ điếu .Cát nguyệt , tất triều phục nhi triều .

DỊCH NGHĨA

10.4. Khi vào công môn ( cung điện vua Lỗ), ngài cúi thấp xuống dường như là cổng quá thấp, ngài chẳng đứng giữa cổng, và khi vào ra, không đạp lên ngạch cửa, khi ngài đi qua ngai vua, dầu là ngai trống, sắc mặt ngài cũng hơi đổi, chân rung, tiếng nói chẳng ra hơi. Khi ngài vén áo bước vào công đường, thì ngài cúi mình, nín hơi, dường như không thở được. Đến khi lui ra, bước xuống thềm, khí sắc mới hòa hoãn,ngài mới được thư thái.Khi xuống đến bực chót, ngài đi mau, hai tay duỗi như chim sải cánh. Khi ngài trở lại chỗ ngồi thì lại tỏ vẻ kinh sợ.

10.5. Khi Khổng Tử vâng mệnh đi sứ, hai tay cầm thẻ ngọc khuê, cúi mình như cái thẻ nặng quá. Ngài nâng cái thẻ lên tới đầu dường như vái chào, rồi đưa xuống ngực như trao ra, gương mặt đổi sắc, như sợ hãi. Ngài bước ren rén, như giấu diếm vật gì. Đến khi dâng lễ vật vua tặng nước ngoài, thì dung mạo ôn hòa. Khi dâng lễ vật của riêng mình , nét mặt ngài rất vui vẻ.

10.6.Quân tử chẳng dùng y phục trang trí màu tím thẩm hay màu tím nâu ( màu tím thẩm dùng trong tế tự, màu tím nâu tang chế ). Bình thường, ngài không dùng đồ màu hường và màu tía( hai màu này không phải là chính sắc, và là màu phụ nữ thường dùng). Mùa hè, ngài mặc áo đơn, bằng vải mỏng ở ngoài, áo cừu lông cao (dê con màu đen) ở trong; hoặc áo dài trắng ở ngoài, áo cừu lông nghê ( lộc con màu trắng) ở trong; hoặc áo dài vàng ở ngoài, áo cừu lông hồ ( chồn màu vàng) ở trong.

Áo cừu mà ngài thường mặc thì dài nhưng tay áo bên mặt ngắn hơn tay áo bên trái một chút ( cho tiện làm việc). Ở tại nhà, ngài hay mặc áo dày bằng lông hồ, lông lạc cho ấm. Lúc không tang chế, ngài mang theo giây lưng và những vật dụng lặt vặt. Áo xiêm ngài mặc để đ chầu, hoặc dự lễ thì dài rộng, còn đồ bình thường thì hẹp hơn. Ngài không mặc áo cừu lông cao (dê con màu đen), và đội mão đen mà đi phúng điếu ( vì đó là cát phục). Ngày mồng một mỗi tháng, ngài mặc triều phục đi chầu vua ; lúc về hưu thì quay về hướng bắc mà triều bái.


BÌNH:
Xem (10.4 đến 10.6), chúng ta thấy Khổng Tử quá khiêm tốn, cung kính vua và cấp trên, thế mà làm quan cũng không được lâu bền ! Thế mới biết khiêm cung chưa đủ, muốn ăn lộc dài lâu thì phải biết "im lặng là vàng", đừng phê bình vua làm gì!Không vua chúa nào thích mình chỉ trích đâu! Tuy nhiên, Khổng Tử chỉ trich vua Lỗ mà vua Lỗ không làm tội ông thì cũng là phúc bảy mươi đời nhà Khổng Tử! Vua như thế cũng kể là nhân từ hơn chán vạn bậc "cách mạng," dân chủ", và " đại trí đại minh" thời sau này!

NGUYÊN VĂN

[10.7]. 齊,必有明衣,布必有寢衣,長一身有半;。
[10.8]. 食不厭精,膾不厭細。食饐而餲魚餒而肉敗,不食。色惡不食,臭惡不食。失飪不食,不時不食。割不正不食,不得其醬不食。肉雖多,不使勝食氣唯酒無量,不; 及亂。沽酒,市脯,不食。不撤薑食。不多食。祭於公,不宿肉。祭肉,不出三日出三日,不食之矣;食不語,寢不言.雖疏食,菜羹,瓜祭,必齊如也。
[10.9]. 席不正不坐。

PHIÊN ÂM

10.7. Trai, tất hữu minh y , bố . Tất biến thực , cư tất thiên tọa .
10.8. Tự bất yếm tinh , quái bất yếm tế . Thực ý nhi ế , ngư nỗi nhi nhục bại, bất thực , sắc ác bất thực , xú ác bất thực , thất nhẫm bất thực , bất thời bất thực .Cát bất chánh bất thực, bất đắc kỳ tương bất thực . Nhục tuy đa , bất sử thắng thực khí , duy tửu vô lượng , bất cập loạn . Cô tửu thị bô bất thực .Bất triệt khương thực . Bất đa thực . Tế ư công , bất túc nhục .Tế nhục bất xuất tam nhật , xuất tam nhật , bất thực chi hĩ . Thực bất ngữ , tẩm bất ngôn . Tuy sơ thực thái canh , qua tế , tất như dã .
10.9. Tịch bất chánh bất tọa

DỊCH NGHĨA

10.7. Đến kỳ trai giới thì ngài mặc áo vải trắng, khi đi ngủ, ngài mặc áo khác dài một thân rưởi dể che kín mình. Trong kỳ trai giới, ngài đổi đồ ăn và chỗ ngủ ( nghĩa là ăn chay, ngủ chỗ thanh tịnh).
10.8. Ngài thích ăn gạo giã trắng tinh, gỏi thái nhỏ.Ngài chẳng ăn cơm thiu, cá ươn, thịt bở nát. Ngài không ưa món gì có màu xấu, mùi hôi. Thức ăn nấu không đúng ( chưa chín, hay quá chín, quá mặn hay quá nhạt, quá chua ), hoa quả trái mùa, thực phẩm cắt không đều, thiếu đồ chấm thì ngài không ăn.

Bữa ăn có nhiều thịt, không bao giờ ngài ăn thịt nhiều hơn cơm. Rượu thì không hạn lượng nhưng không uống say. Rượu ngoài hàng, nem trong chợ thì không dùng. Hằng bữa ngài hay ăn gừng. Ngài ăn vừa độ, không ăn nhiều.Trong khi làm quan dự cuộc tế, ngài được chia phần thì ngài không để thịt qua đêm. Khi cúng giỗ tổ tiên nhà ngài, ngài không để thịt qua ba hôm; quá ba hôm thì ngài chẳng ăn.Khi ăn, ngài chẳng bàn luận;khi nằm ngủ, ngài chẳng nói chuyện. Dẫu cơm thô, canh rau, trước khi ăn, ngài luôn cúng vái thành kính.
10.9. Chiếu trải không ngay ngắn, ngài chẳng ngồi.

NGUYÊN VĂN

10.10. 鄉人飮酒,杖者出,斯出矣。 鄉人儺,朝服而立於阼階。
[10.11] 問人於他邦,再拜而送之。康子饋藥,拜而受之,曰:「丘未達,不敢嘗。」
[10.12].廄焚,子退朝,曰:「傷人乎?」不問馬。


PHIÊN ÂM
10.10. Hương nhân ẩm tửu , trượng giả xuất , tư xuất hĩ . Hương nhân na , triều phục nhi lập ư tộ giai .
10.11. Vấn nhân ư tha bang , tái bái nhi tống chi . Khang tử quỹ dược , bái nhi thụ chi , viết , khâu vị đạt , bất cảm thường .
10.12. Khải phần , Tử thối triều , viết , thương nhân hồ , bất vấn mã .

DỊCH NGHĨA

[10.10].Khi đến dự tiệc rượu với người làng, ngài chờ mấy cụ già chống gậy đi trước, rồi ngài mới theo sau. Khi người làng làm lễ Na ( lễ tống ôn dịch) thì ngài mặc triều phục đứng bậc thềm phía đông mà tiếp lễ.(Ngài đã về hưu, vẫn tham gia tế lễ với dân làng).
[10.11]. Khi đức Khổng sai ai đi đến nước khác hỏi thăm bà con, hay bằng hữu thì ngài lễ hai lạy khi tiễn hành.
Ông Quý Khương Tử ( đại phu nước Lỗ) sai người tặng thuốc cho Khổng Tử, ngài lễ bái mà nhận thuốc, rồi nói với sứ giả rằng: "Khâu này không rõ tánh thuốc nên không dám nếm thử."
[10.12]. Tàu ngựa của Khổng Tử bị cháy, Khổng Tử ở triều về, hỏi: " Có ai bị thiệt hại không?"Ngài chỉ hỏi thăm người, không hỏi thăm ngựa.

NGUYÊN VĂN

[10.13]. 君賜食,必正席先嘗之。君賜腥,必熟而薦之。君賜生,必畜之。侍食於君君;祭,先飯。
疾,君視之,東首加朝服拖紳。 君命召,不俟駕行矣。
[10.14].入大廟,每事問。朋友死,無所歸,曰:「於我殯。」.朋友之饋,雖車馬,非祭肉,不拜。
[10. 15]. 寢不尸,居不容。 見齊衰者,雖狎必變。見冕者與瞽者,雖褻必以貌。凶服者式之式負版者,有盛;饌,必變色而作。迅雷、風烈必變。

PHIÊN ÂM

10.13. Quân tứ thực , tất chính tịch , tiên thường chi , quân tứ tinh , tất thục nhi tiến chi , quân tứ sinh , tất súc chi . Thị thực ư quân , quân tế , tiên phạn. Tật , quân thị chi , đông thủ , gia triều phục tha thân . Quân mệnh triệu , bất sĩ giá hành hĩ
10.14. Nhập đại miếu mỗi sự vấn (1) . Bằng hữu tử , vô sở quy , viết , ư ngã tấn . Bằng hữu chi quỹ , tuy xa mã , phi tế nhục bất bái
10.15. Tẩm bất thi , cư bất dung . Kiến suy giả , tuy hiệp tất biến , kiến miện giả , dữ cổ giả , tuy tiết tất dĩ mạo .Hung phục giả thức chi , thức phụ bản giả . Hữu thịnh soạn , tất biến sắc nhi tác. Tấn lôi, phong liệt , tất biến .

DỊCH NGHĨA

10.13.Khi vua ban thức ăn đã nấu chín, ngài bèn ngồi giữa chiếu mà ăn thử . Khi vua ban thịt tươi, ngài cho nấu chín, kế dâng cúng tổ tiên rồi mới ăn. Khi vua ban con vật sống, thì ngài đem nuôi, không làm thịt. Khi ngài ăn cơm trong đền gần vua, lúc vua rót rượu cúng tổ tiên, thì ngài nếm thử đồ ăn (2)
Khi ngài có bệnh, vua đến viếng, Ngài day đầu phía đông, mặt ngó cửa sổ bắc, trên mình có bộ triều phục với đai thắt lưng ở trên. Khi có lệnh vua gọi vào chầu, ngài liền đi bộ, chẳng đợi xe.

10.14.Vào triều, gặp việc gì cũng hỏi. Khi bằng hữu của ngài mất mà không có thân nhân đưa thi hài về quê, đức Khổng nói: " Để ta lo việc chôn cất." Bằng hữu tặng lễ vật cho ngài, nếu chẳng phải thịt cúng tổ tiên, dẫu cho thứ quý trọng như xe và ngựa thì ngài chẳng vái tạ.
10.15. Khi nằm, ngài không duỗi tay chân ra như người chết. Ở nhà, ngài không làm dáng Khi thấy người.mặc tang phục, dẫu quen biết, ngài củng biến đổi sắc mặt để tỏ lòng thương xót.
Khi gặp người mặc triều phục, hay kẻ đui mù, ngài đều thay đổi sắc mặt. Thấy người bận tang phục, ngài ngồi trên xe cũng vịn xe, cúi đầu chào. Khi gặp người lo việc sổ đinh, ngài cũng vịn xe mà cúi đầu chào. Khi chủ nhà dọn mâm cao cỗ đầy thết đãi ngài, thì ngài đứng dậy trịnh trọng cảm tạ gia chủ. Khi có sấm to gió lớn, ngài biến sắc vì trọng mạng lịnh của Trời.


___
(1). Một số bản không có câu này. Câu này đã có ở chương Bát dật (3.15)
(2). Đoạn này khó hiểu. Khi vua cúng, lẽ nào Khổng Tử bình thản ngồi xơi cơm? Như thế là vô lễ. Trong cung điện, có quan trông lo việc nếm thử đồ ăn, sao Khổng Tử lại nếm trước ( nếm đồ cúng của vua hay thức ăn của Khổng Tử). Nếu Khổng Tử nếm đồ cúng là khi quân, phạm thượng!)

NGUYÊN VĂN

【10.16】.升車、必正立、執綏。車中、不內顧、不疾言、不親指。
【10.17】.色斯舉矣、翔而後集。曰、山梁雌雉、時哉時哉。子路共之、三嗅而作。

PHIÊN ÂM

[10.16 ]. Thăng xa , tất chánh lập , chấp tuy . Xa trung , bất nội cố , bất tật ngôn , bất thân chỉ .
[10.17]. Sắc tư cử hĩ , tường nhi hậu tập . Viết , san lương thư trĩ , thời tai thời tai . Tử Lộ cộng chi , tam khiếu nhi tác .

DỊCH NGHĨA

10.16. Khi lên xe, ngài đứng vững vàng, tay vịn sợi dây mà bước lên. Khi ngồi xe, ngài chẳng quay đầu ra sau, ngài chẳng nói năng, chẳng đưa tay chỉ trỏ.
10.17. Con chim khi thấy người có khí sắc dữ tợn thì cất cánh bay. Khi đáp xuống, nó liệng vòng quan sát rồi mới đậu. Thấy vậy, đức Khổng nói: " Kìa con chim trĩ mái đang đậu trên cầu trong núi, nó biết thời cơ lắm thay! Nó biết thời cơ lắm thay!" Tử Lộ chực vồ bắt, nó bèn kêu ba tiếng mà bay đi.




先進第十一

NGUYÊN VĂN

[11.1] 子曰:「先進於禮樂,野人也後進於禮樂,君子也;。如用之,則吾從先進。」
[11.2] 子曰:「從我於陳蔡者,皆不及門也。」
[11.3] 德行:顏淵、閔子騫、冉伯牛、仲弓言語:宰我;、子貢政事:冉有;、李路文;學:子游、子夏。

PHIÊN ÂM

Chương XI

TIÊN TIẾN

[ 11.1 ]. Tử viết , tiên tiến ư lễ nhạc , dã nhân dã , hậu tiến ư lễ nhạc , quân tử dã. Như dụng chi , tắc ngô tòng tiên tiến .
[11.2】.Tử viết: Tòng ngã ư Trần, Thái giả , giai bất cập môn dã .
[11.3].Đức hạnh : Nhan Uyên , Mẫn Tử Khiên , Nhiễm Bá Ngưu , Trọng Cung . Ngôn ngữ : Tể Ngã , Tử Cống . Chánh sự , Nhiễm Hữu , Quý Lộ . Văn học , Tử Du , Tử Hạ.

DỊCH NGHĨA
Chương XI
TIÊN TIẾN

11.1.Khổng Tử nói: " Về lễ nhạc, người xưa bị chê là quê mùa; còn nay được khen là quân tử.Ta đây nếu dùng lễ nhạc cũng chỉ theo xưa thôi.
11.2. Những đệ tử theo ta qua nước Trần, nước Thái, đến nay chẳng còn ai theo ta nữa ( vì một số ra làm quan, đi buôn bán hoặc đã chết).
11.3. (Học trò ta nổi tiếng ) Về đức hạnh có Nhan Uyên , Mẫn Tử Khiên , Nhiễm Bá Ngưu , Trọng Cung . Ngôn ngữ có Tể Ngã , Tử Cống . Chánh sự có Nhiễm Hữu , Quý Lộ . Văn học có Tử Du , Tử Hạ.

NGUYÊN VĂN

[11.4] 子曰:「回也,非助我者也!於吾言,無所不說。」
[11.5] 子曰:「孝哉閔子騫,人不間於其父母皆弟之言。」
[11.6] 南容三復白圭,孔子以其兄之子妻之。

PHIÊN ÂM

[11.4]. Tử viết : Hồi dã , phi trợ ngã giả dã , ư ngô ngôn , vô sở bất thuyết .
[11.5]. Tử viết: hiếu tai Mẫn Tử Khiên , nhân bất gian ư kỳ phụ mẫu côn đệ chi ngôn .
[11.6]. Nam Dung tam phục Bạch khuê , Khổng tử dĩ kỳ huynh chi tử thê chi .

DỊCH NGHĨA

[11.4]. Khổng Tử khen: "Trò Hồi chẳng giúp gì cho ta vậy. Những điều ta giảng dạy, trò đều vui lòng.
[11.5].Khổng tử nói: " Mẫn Tử Khiên thật là người con hiếu. Cha mẹ, anh em đều khen ngợi, mà người ngoài cũng ca tụng.
[11.6]. Nam Dung, học trò đức Khổng, thường đọc thơ Bạch Khuê. Đức Khổng đem con người anh gả cho.

___

(1). Thơ Bạch Khuê 白圭: Kinh Thi, thiên Đại Nhã có bài Bạch Khuê như sau:
Bạch Khuê chi điếm,
Thượng khả ma dã.
Tư ngôn chi điếm,
Bất khả vi giả.
“白圭之玷,尚可磨也,斯言之玷,不可为也"
Ngọc có tỳ vết,
Có thể mài bỏ đi.
Lời nói có tỳ vết,
Làm sao xóa cho hết?

NGUYÊN VĂN

[11.7] 李(1) 康子問:「弟子孰爲好學?」孔子對曰:「有顏回者好學,不幸短命死矣!今也則亡。」
[11.8] 顏淵死,顏路請子之車以爲之椁。子曰:「才不才,亦各言其子也。鯉也死,有棺而無椁吾不徒行,以爲之椁,以吾從大夫之;後,不可徒行也。」
[11.9] 顏淵死,子曰:「噫!天喪豫!天喪豫!」

PHIÊN ÂM

[11.7]. Quý Khang tử vấn : "Đệ tử thục vi hiếu học ?" Khổng tử đối viết: Hữu Nhan hồi giả hiếu học, bất hạnh đoản mệnh tử hĩ , kim dã tắc vong .
[ 11,8]. Nhan Uyên tử , Nhan lộ thỉnh tử chi xa dĩ vị chi quách. Tử viết , tài bất tài , diệc các ngôn kỳ tử dã , lý dã tử , hữu quan nhi vô quách. Ngô bất đồ hành dĩ vi chi quách, dĩ ngô tòng đại phu chi hậu , bất khả đồ hành dã .
[ 11.9]. Nhan Uyên tử , Tử viết : " y , thiên táng dư , thiên táng dư!". DỊCH NGHĨA

[11.7].Quý Khang Tử hỏi đức Khổng: "Trong hàng đệ tử ai là người hiếu học? "Ngài đáp:" Có Nhan Hồi hiếu học nhưng chẳng may mất sớm rồi.Ngày nay không còn ai là người hiếu học."
[11.8]. Nhan Uyên chết, ông Nhan Lộ ( cha Nhan Uyên ) đến xin chiếc xe của đức Khổng để làm quách chôn con. Đức Khổng quở: "Dù nó có tài hay bất tài, cũng chỉ là con. Con ruột của ta (Bá Ngư) đã thác, ta chỉ tẩm liệm bằng áo quan, chẳng cần cái quách bao ngoài. Không lẽ ta đi bộ, bán cỗ xe mua quách sao? Bởi ta đi sau hàng đại phu, không lẽ đi bộ sao?
[11.9]. Nhan Uyên chết, đức Khổng than: " Ôi! Trời chôn ta! Trời hại ta rồi!"
____
(1). Có sách ghi Lý李, sách ghi Quý季 nhưng các bản Việt cũng như các thầy Việt Nam xưa ghi và đọc là Quý.



NGUYÊN VĂN


[11.10]. 顏淵死,子哭之慟。從者曰:「子慟矣!」曰:「有慟乎!非夫人之爲慟而誰爲!」
[11.11]. 顏淵死,門人欲厚葬之,子曰:「不可。」門人厚葬之。子曰:「回也,視豫猶父也,豫不得視猶子也。非我也,夫二三子也。」
[11.12]. 李 路問事鬼神。子曰:「未能事人,焉能事鬼?」「敢問死?」曰:「未知生,焉知死?」

PHIÊN ÂM

[ 11.10] . Nhan Uyên tử , tử khốc chi đỗng , tòng giả viết , tử đỗng hĩ . Viết: hữu đỗng hồ . Phi phu nhân chi vi đỗng nhi thùy vi .
[ 11.11]. Nhan Uyên tử , môn nhân dục hậu táng chi . Tử viết: bất khả . Môn nhân hậu táng chi . Tử viết : Hồi dã , thị dư Do phụ dã , dư bất đắc thị Do tử dã , phi ngã dã , phu nhị tam tử dã .
[ 11.12]. Quý Lộ vấn sự quỷ thần . Tử viết: vị năng sự nhân , yên năng sự quỷ . Cảm vấn tử . Viết: vị tri sanh , yên tri tử.

DỊCH NGHĨA

[11.10]. Nhan Uyên chết, Khổng Tử khóc ai oán. Các đệ tử thưa: Thầy khóc bi ai quá! Ngài đáp rằng : Ta bi ai lắm à? Ta chẳng vì người ấy mà bi ai thì há vì ai?"

[11.11].Nhan Uyên chết, các đệ tử của đức Khổng muốn làm lễ mai táng trọng hậu. Ngài bảo: "Không nên" nhưng các đệ tử vẫn chôn cất trọng thể. Sau đức Khổng nói rằng: " Trò Hồi coi ta như cha, nhưng theo lễ, ta chẳng được coi trò như con. Việc chôn cất long trọng không phải do ta mà do mấy đứa học trò ta.

[11.12].Quý Lộ hỏi về sự thờ phượng thần linh. Khổng Tử đáp: " Đạo thờ người còn chưa biết, sao biết việc thờ thần linh?- Dám hỏi về sự chết. Ngài đáp: " Chưa biết sự sống sao biết sự chết?

NGUYÊN VĂN

[11.13]. 閔子侍側,誾誾如也子路,行行如也冉有;子貢,侃侃如也。子樂。「若由也,不得其死然。」
[11.14]. 魯人爲長府。閔子騫曰:「仍舊貫,如之何?何必改作!」子曰:「夫人不言,言必有中。」
[11.15]. 子曰:「由之瑟,奚爲於丘之門?」門人不敬子路。子曰:「由也升堂矣!未入於室也!」

PHIÊN ÂM

[ 11.13]. Mẫn Tử thị trắc , ngân ngân như dã , Tử Lộ hành hành như dã , Nhiễm Hữu , Tử Cống , khản khản như dã . Tử lạc . Nhược Do dã , bất đắc kỳ tử nhiên .
[ 11.14].Lỗ nhân vi Trường phủ . Mẫn Tử Khiên viết: nhưng cựu quán , như chi hà , hà tất cải tác . Tử viết : phù nhân bất ngôn , ngôn tất hữu trúng .
[11.15]. Tử viết: Do chi sắt , hề vi ư Khâu chi môn . Môn nhân bất kính Tử Lộ .Tử viết , Do dã , thăng đường hỉ, vị nhập ư thất dã .

DỊCH NGHĨA

[11.13]. Ngày nọ, Mẫn Tử Khiên đứng hầu đức Khổng Tử, nét mặt hòa ái, Tử Lộ cang cường, còn Nhiệm Hữu và Tử Cống nghiêm nghị. Đức Khổng Tử lấy làm vui vẻ, nhưng ngài khuyên Tử Lộ nên cẩn thận kẻo bất đắc kỳ tử (1).

[11.14]. Người nước Lỗ định xây kho Trường Phủ mới. Mẫn Tử Khiên nói: Nên sửa lại cái cũ, cần gì phải xây cái mới ! Đức Khổng khen: "Ôi chao! Ngươi it nói, mà đã nói thì trúng.

[11.15]. Khổng Tử nói": Trọng Do sao lại gảy đàn sắt ở cửa ta? Các học trò Khổng Tử lấy làm khinh khi Tử Lộ. Khổng Tử nói: " Trò Do (học lực cao lắm rồi như người ) đã lên đến thềm mà chưa bước vào nhà thôi!":

___

(1). Bất đắc kỳ tử là chết trẻ, chết vì tai nạn, chết bất ngờ.


NGUYÊN VĂN

[11.16] . 子貢問:「師與商也孰賢?」子曰:「師也過,商也不及。」曰:「然則師愈與?」子曰:「過猶不及。」
[11.17] . 李氏富於周公,而求也爲之聚斂而附益之。子曰:「非吾徒也,小子鳴鼓而攻之可也!」
[11.18] .柴也愚,參也魯,師也辟,由也喭。

PHIÊN ÂM

[ 11.16]. Tử Cống vấn : Sư dữ Thương dã thục hiền . Tử viết: Sư dã quá , Thương dã bất cập . Viết: nhiên tắc sư dũ dữ . Tử viết , quá do bất cập .
[11. 17]. Quý thị phú ư Chu công , nhi cầu dã vi chi tụ liễm nhi phụ ích chi . Tử viết: phi ngô đồ dã , tiểu tử , minh cổ nhi công chi khả dã .
[11.18]. Sài dã ngu . Tham dã lỗ . Sư dã tích . Do dã ngạn .

DỊCH NGHĨA

[11.16]. Tử Cống hỏi ( Khổng Tử ): Sư ( Tử Trương ) và Thương (Tử Hạ) ai là kẻ hiền tài?"Khổng Tử đáp: " Sư thì thái quá, còn Thương bất cập. " Như vậy là Sư giỏi hơn phải không? Người quá dáng và người chẳng kịp đều giống nhau."

[11.17]. Họ Quý giàu hơn Châu công, thế mà trò Cầu (Nhiễm Hữu) lại làm tôi họ Quý, thâu thuế bóp chẹn dân, thu của cho nhà giàu. Đức Khổng truyền : "Kẻ ấy chẳng phải học trò ta nữa. Các người nên công kích y.

[11.18]. (Đức Khổng Tử phê phán bốn học trò của ngài rằng) Sài (Cao Sài, tự Tử Cao) ngu, Sâm (Tăng Tử) đần độn, Sư (Tử Trương) chưng diện, Do (Tử Lộ ) quê mùa.

NGUYÊN VĂN

[11.19]. 子曰:「回也奇庶乎!屢空賜不受命,而貨殖焉億則屢中。」
[11.20]. 子張問善人之道。子曰:「不踐迹,亦不入於室。」
[11.21]. 子曰:「論篤是與,君子者乎?色莊者乎?」

PHIÊN ÂM

[11.19]. Tử viết , Hồi dã kì thứ hồ lũ không .Tứ bất thụ mệnh , nhi hóa thực yên , ức tắc lũ trung
[11.20]. Tử Trương vấn thiện nhân chi đạo . Tử viết , bất tiễn tích, diệc bất nhập ư thất .
[11.21]. Tử viết , luận đốc thị dữ , quân tử giả hồ , sắc trang giả hồ .

DỊCH NGHĨA

[11.19]. Trò Hồi rất hoàn hảo ( trung thứ) , gần đạt đạo, vì luôn an phận nghèo. Trò Tứ chẳng tuân mạnh Trời, nên đi buôn bán làm giàu nhưng suy nghĩ điều gì cũng trúng.
[11.20]. Tử Trương hỏi: " Người có tính thiện tự nhiên là người như thế nào? Khổng tử nói: "Đấy là người chẳng học cổ nhân cũng trở nên người lành, nhưng không vào được thánh thất.
[19.21]. Nếu ai bàn luận đạo lý rõ ràng, mình khoan cho họ là người đạo đức.Hãy quan sát kỹ, xem họ là quân tử hay chỉ là ngụy quân tử.

NGUYÊN VĂN

[11.22]. 子路問:「聞斯行諸?」 子曰:「有父兄在,如之何其聞斯行之!」 冉有問:「聞斯行諸?」 子曰:「聞斯行之!」公西華曰:「由也問『聞斯行諸?』,子曰:『有父兄在』求也問,;『聞斯行諸?』子曰:『聞斯行之』。赤也感,敢問?」子曰:「求也 退,故進之由也兼人,故退之;。」
[11.23] . 子畏於匡,顏淵後。子曰:「吾以女爲死矣!」曰:「子在,回何敢死!」
[11.24] . 李子然問:「仲由、冉求,可謂大臣與?」 子曰:「吾以子爲異之問,曾由與求之問?所謂大臣者,以道事君,不可則止今;由與求也,可謂具臣矣。」 曰:「然則從之者與?」 子曰:「弒父與君,亦不從也。」

PHIÊN ÂM

[11.22].Tử Lộ vấn văn tư hành chư . Tử viết , hữu phụ huynh tại , như chi hà kỳ văn tư hành chi . Nhiễm Hữu vấn văn tư hành chư .Tử viết , văn tư hành chi . Công Tây Hoa viết , do dã vấn văn tư hành chư , tử viết , hữu phụ huynh tại , cầu dã vấn văn tư hành chư , tử viết , văn tư hành chi , xích dã cảm , cảm vấn . Tử viết , Cầu dã thối , cố tiến chi , Do dã kiêm nhân , cố thối chi .
[11.23]. Tử úy ư Khuông , Nhan Uyên hậu , Tử viết : ngô dĩ nhữ vi tử hĩ . Viết: tử tại , Hồi hà cảm tử . [11.24]. Quý tử nhiên vấn Trọng Do, Nhiễm Cầu , khả vị đại thần dữ . Tử viết , ngô dĩ Tử vi dị chi vấn , tằng do dữ cầu chi vấn .Sở vị đại thần giả , dĩ đạo sự quân , bất khả tắc chỉ . Kim Do dữ Cầu dã , khả vị cụ thần hĩ. Viết , nhiên tắc tòng chi giả dữ . Tử viết , thí phụ dữ quân , diệc bất tòng dã .

DỊCH NGHĨA

[11.22].Tử Lộ hỏi: "Nếu như tôi nghe, học được điều thiện thì tôi nên thực hành ngay chăng? Khổng Tử đáp: " Ngươi còn cha anh, phải hỏi lại đã, lẽ nào nghe rồi làm ngay.
Nhiễm Hữu hỏi rằng: "Nếu tôi nghe đuợc điều lành, tôi nên làm liền không?"
Đức Khổng Tử bảo: "Nên làm liền."
Công Tây Hoa hỏi: "Anh Do hỏi: ""Nếu như tôi nghe, học được điều thiện thì tôi nên thực hành ngay chăng? Thầy đáp: " Ngươi còn cha anh, phải hỏi lại đã, lẽ nào nghe rồi làm ngay.
Nhiễm Hữu hỏi rằng: "Nếu tôi nghe đuợc điều lành, tôi nên làm liền không?" Thầy bảo: "Nên làm liền." Đệ tử rất thắc mắc. Xin thầy cho đệ tử biết tại sao một câu hỏi mà thầy trả lời khác nhau vậy?"
Đức Khổng đáp: " Tính Cầu ưa thoái thì phải đốc cho tiến. Còn tính Do hiếu thắng nên hãm bớt lại.
[11.23]. Đức Khổng Tử bị một phen sợ hãi ở đất Khuông ( Đã nói ở Chương IX), Nhan Uyên lạc ở phía sau. Khi gặp lại Nhan Uyên, Không Tử nói: "Ta tưởng ngươi đã chết rồi!" Nhan Uyên đáp: "Thầy còn sống , Hồi này sao dám chết!"
[11.24]. Ông Quý Tử Nhiên hỏi đức Khổng: " Ông Trọng Do và Nhiễm Cầu có xứng làm đại thần không?"
Khổng Tử đáp: " Tưởng là hỏi ai, chẳng dè hỏi hai người ấy. Kẻ làm đại thần phải đem đạo lý thờ vua, nếu không được như thế thì phải thôi. Do và Cầu đủ đức hạnh để làm đại thần.
-Như họ Quý dùng hai ông ấy, hai ông ấy có theo không?
-Nếu quyền thần thí vua, giết cha thì hai người ấy không theo.

NGUYÊN VĂN

[11.25]. 子路使子羔爲費宰。子曰:「賊夫人之子!」子路曰:「有民人焉!有社稷焉,何必讀書,然後爲學?」 子曰:「是故惡夫佞者。」
[11.26]. 子路、曾晳、冉有、公西華侍坐。子曰:「以吾一日長乎爾,毋吾以也。居則曰:『不吾知也!』如或知爾,則何以哉?」 子路率爾而對,曰:「千乘之國,攝乎大國之間閒,加之以師旅,因之以饑饉,由也爲之,比及三年,可使有勇,且知方也。」 夫子哂之。「求,爾何如?」 對曰:「方六七十,如五六十,求也爲之,比及三年,可使足民如其禮樂,以俟;君子。」 「赤,爾何如?」 對曰:「非曰能之,願學焉!宗廟之事,如會同,端章甫,願爲小相焉。」 「點,爾何如?」鼓瑟希,鏗爾,舍瑟而作。 對曰:「異乎三子者之撰。」 子曰:「何傷乎?赤各言其志也。」 曰:「莫春者,春服旣成冠者五六人,童子六七人,浴乎沂,風乎舞雩,詠而;歸。」 夫子喟然歎曰:「吾與點也!」三子者出,曾晳後。 曾晳曰:「夫三子者之言何如?」 子曰:「亦各言其志也已矣!」 曰:「夫子何哂由也?」 曰:「爲國以禮,其言不讓,是故哂之。」「唯求則非邦也與?」「安見方六七十,如五六十,而非邦也者。」「唯赤非邦也與?」「宗廟會同,非諸侯而何?赤也 爲之小,孰能爲之大!」

PHIÊN ÂM
[11.25]. Tử Lộ sử Tử Cao vi phí tể . Tử viết: tặc phu nhân chi tử . Tử Lộ viết , hữu dân nhân yên , hữu xã tắc yên , hà tất độc thư , nhiên hậu vi học . Tử viết , thị cố ác phu nịnh giả .
[11.26]. Tử Lộ , tằng ( thượng tích , hạ nhật , dữ tích đồng ) , Nhiễm Hữu , Công Tây Hoa , thị tọa . Tử viết: dĩ ngô nhất nhật trường hồ nhĩ , vô ngô dĩ dã. Cư tắc viết , bất ngô tri dã , như hoặc tri nhĩ , tắc hà dĩ tai . Tử Lộ suất nhĩ nhi đối viết , thiên thừa chi quốc , nhiếp hồ đại quốc chi gian , gia chi dĩ sư lữ (1), nhân chi dĩ cơ cận ,Do dã vi chi , bỉ cập tam niên , khả sử hữu dũng , thả tri phương dã . Phu tử sẩn chi . Cầu , nhĩ hà như ? Đối viết , phương lục thất thập , như ngũ lục thập , Cầu dã vi chi , bỉ cập tam niên , khả sử túc dân , như kỳ lễ nhạc , dĩ sĩ quân tử . Xích , nhĩ hà như ? Đối viết , phi viết năng chi , nguyện học yên , tông miếu chi sự , như hội đồng , đoan chương phủ , nguyện vi tiểu tương yên . Điểm , nhĩ hà như ? Cổ sắt hy khanh nhĩ , xá sắt nhi tác , đối viết: dị hồ tam tử giả chi soạn . Tử viết: hà thương hồ ! Xích các ngôn kỳ chí dã . Viết : mạc xuân giả , xuân phục ký thành , quán (2) giả ngũ lục nhân , đồng tử lục thất nhân , dục hồ nghi , phong hồ vũ vu , vịnh nhi quy . Phu tử vị nhiên thán viết : ngô dữ Điểm dã . Tam tử giả xuất , tằng tích hậu , tằng tích viết : phu tam tử giả chi ngôn hà như . Tử viết: diệc các ngôn kỳ chí dã dĩ hĩ . Viết : phu tử hà sẩn do dã . Viết : vi quốc dĩ lễ , kỳ ngôn bất nhượng , thị cố sẩn chi.Duy Cầu tắc phi bang dã dữ . An kiến phương lục thất thập , như ngũ lục thập , nhi phi bang dã giả . Duy xích tắc phi bang dã dữ . Tông miếu hội đồng , phi chư hầu nhi hà , xích dã vi chi tiểu , thục năng vi chi đại .

DỊCH NGHĨA

[11.25]. Ông Tử Lộ (làm gia thần họ Quý) bổ nhiệm Tử Cao làm quan Tể đất Phí. Đức Khổng Tử trách Tử Lộ:" Ngươi làm như vậy là hại người." Tử Lộ thưa: " Làm quan Tể thì lo cai trị dân và sĩ phu, lo cúng tế thổ thần, thần mùa màng, cần gì đọc thơ văn, cần gì học thức." Khổng Tử quở" "Ta ghét những kẻ bẽm mép, cường ngôn đoạt lý."
[11.26]. Tử Lộ, Tăng Tích, Nhiễm Hữu, Công Tây Hoa ngồi hầu đức Khổng nói: "Các người đừng ngại ta lớn tuổi , cứ việc nói rõ chí hướng của mình. Ở nhà các ngươi thường nói: "Thiên hạ chẳng ai biết ta." Nếu thiên hạ biết các ngươi, dùng các ngươi thì các ngươi sẽ làm gì?"

Tử Lộ vội đứng dậy nói: " Ví như một nước có một ngàn cỗ binh xa, bị ép giữa hai nước lớn, thêm thêm có chiến tranh, dân chúng rất đói khổ. Nếu Do này cai trị nước ấy, trong ba năm sẽ làm cho dân chúng trở nên anh dũng và biết nghĩa vụ".
Khổng Tử mỉm cười, hỏi Nhiễm Cầu:" Trò Cầu, trò sẽ làm gì?
"Nếu đệ tử cai trị một vùng vuông sáu, bảy chục dặm,hay năm, sáu chục dặm, trong ba năm , Cầu sẽ làm cho dân no đủ. Còn về lễ nhạc thì tôi kém tài, phải đợi người quân tử.
Đức Khổng hỏi Công Tây Hoa:" Trò Xich, trò sẽ làm gì?"
Công Tây Hoa thưa:
" Tôi không có tài về lễ nhạc, tôi muốn học hỏi. Trong những cuộc tế tự nơi tông miếu, hoặc trong các buổi hội chư hầu, tôi sẽ mặc áo "huyền đoan" (3), đội mũ " chương phủ" (4), xin làm tiểu tướng (5) thôi!"
Đức Khổng hỏi Tăng Tích:
"Trò Điểm sẽ làm gì?"
Tăng Tích đương gảy đàn sắt nghe thầy hỏi thì ngưng gảy đàn nhưng tiếng đàn còn vang, liền bỏ đàn xuống, đứng dậy đáp:" Chí tôi khác ba bạn kia.
Đức Khổng bảo:" Không hề gì.Mỗi người đều nói chí hướng của mình.
Tăng Tích thưa: " Về cuối mùa xuân tiết tháng ba, áo mùa xuân đã may xong, cùng năm sáu người bạn cỡ hai mươi, cùng sáu bảy cậu trai trạc 16 tuổi, dẫn nhau đi tắm ở sông Nghi (6), hứng gió ở đàn Vũ Vu (7). , rồi trên đường về cùng nhau ca vịnh."
Khổng Tử than: " Ta không bằng trò Điểm vậy."
Khi ba đệ tử kia lui rồi, Tăng Tích còn ở lại, bèn hỏi thầy:
"Thầy nghĩ gì về ý kiến của ba anh kia?"
Khổng Tử đáp: " Ai cũng nói chí hướng của mình thôi."
-Thế sao thầy mỉm cười khi nghe anh Do nói?"
-Bực trị quốc cần có lễ nhượng, mà lời trò Do lại thiếu lễ nhượng. Vì vậy mà ta mỉm cười.
-Cònh anh Cầu chẳng phải nói việc trị nước ư?
-Một địa phương sáu, bảy chục dặm,hay năm, sáu chục dặm, chẳng phải là một nước nhỏ.
-Còn anh Xich chẳng phải nói việc trị nước, thưa thầy?
-Việc tế tông miếu và hội chư hầu là việc của các vua chư hầu. TRò Xích xin làm tiểu tướng thì ai làm đại tướng? (8)

___
Chú thích :
(1). Sư:Đơn vị quân đội có 2.500 lính là một sư. Lữ: đơn vị có 500 lính. Sư lữ ở đây nghĩa là chiến trận.
(2). Quán: Tục Trung Quốc con trai đến 20 tuổi thì làm lễ đội mũ (gia quán), cho nên hạng 20 là quán, nhược quán, gia quán.
(3)."huyền đoan: áo đen
(4).Chương phủ : Mũ lụa màu đen.
(5).Tiểu tướng: người phụ tế.
(6). Sông Nghi: con sông ở nước Lỗ, phía tây Nam Thành.
(7).Nền Vũ Vu: một cái đàn tế trời, cầu mưa của nước Lỗ.
(8).đại tướng: ở đây là chủ tế, tức vua chư hầu.


顏淵第十二

NGUYÊN VĂN

[12.1]. 顏淵問「仁」。子曰:「克己復禮,爲仁。一日克己復禮,天下歸仁焉。爲仁由己,而由仁乎哉?」顏淵曰:「請問其目?」子曰:「非禮勿視,非禮勿聽,非禮勿言,非禮勿動。」顏淵曰:「回雖不敏,請事斯語矣!」
[12.2]. 仲弓問「仁」。子曰:「出門如見大賓使民如承大祭己所不欲,勿施於人在;;;邦無怨,在家無怨。」仲弓曰:「雍雖不敏,請事斯語矣!」
[12.3]. 司馬牛問「仁」。子曰:「仁者,其言也訒。」曰:「斯言也訒,其謂之仁矣乎?」子曰:「爲之難,言之得無訒乎?」

PHIÊN ÂM

Chương XII

NHAN UYÊN

[12.1].Nhan Uyên vấn nhân . Tử viết , khắc kỷ phục lễ vi nhân , nhất nhật khắc kỷ phục lễ , thiên hạ quy nhân yên , vi nhân do kỷ , nhi do nhân hồ tai .Nhan Uyên viết , thỉnh vấn kỳ mục . Tử viết : phi lễ vật thị , phi lễ vật thính , phi lễ vật ngôn , phi lễ vật động . Nhan Uyên viết: Hồi tuy bất mẫn , thỉnh sự tư ngữ hĩ .

[12.2].Trọng Cung vấn nhân . Tử viết: xuất môn như kiến đại tân , sử dân như thừa đại tế , kỷ sở bất dục , vật thi ư nhân , tại bang vô oán , tại gia vô oán . Trọng Cung viết: Ung tuy bất mẫn , thỉnh sự tư ngữ hĩ .
[ 12.3]. Tư Mã Ngưu vấn nhân . Tử viết: nhân giả kỳ ngôn dã nhẫn . Viết : kỳ ngôn dã nhẫn , tư vị chi nhân hĩ hồ ? Tử viết : vi chi nan , ngôn chi đắc vô nhẫn hồ !

DỊCH NGHĨA
Chương XII
NHAN UYÊN

[12.1].Nhan Uyên hỏi về nhân. Khổng Tử đáp: " Nhân tức khắc kỷ, phục lễ. Nếu khắc kỷ phục lễ trong một ngày thì mọi người quay về điều nhân. Nhan Uyên nói: " Xin thầy nói rõ vài điều mục."
Khổng Tử nói: "Sắc không hạp lễ thì đừng xem. Âm thanh không hạp lễ thì đừng nghe.Lời không hạp lễ thì đừng nói. Việc chẳng hợp lễ thì đừng làm. Bốn điểm đó là điều mục của nhân.
Nhan Uyên nói : "Hồi này dù không minh mẫn cũng xin tuân theo lời thầy dạy."
[12.2]. Trọng Cung hỏi về Nhân. Khổng Tử đáp: " Khi ra khỏi nhà phải nghiêm trang như gặp khách quý. Khi khiến dân làm việc công cũng nên coi như tế lễ. Trong nước, không ai oán mình, trong nhà không ai trách mình.
Trọng Cung thưa: "Cung tuy ngu dốt, cũng xin tuân lời thầy dạy.
[12.3]. Tư mã Ngưu hỏi về nhân. Khổng Tử đáp: " Người có nhân phải nhịn nói." Tư Mã Ngưu hỏi: "Nhịn nói mà là người nhân sao?"
Khổng Tử đáp: "( Nói dễ ) làm khó. Vậy há chằng nên nhịn nhục khi muốn nói sao?"

NGUYÊN VĂN

[12.4] .司馬牛問「君子」。子曰:「君子不憂不懼。」曰:「不憂不懼,斯謂之君子矣乎?」子曰:「內省不疚,夫何憂何懼?」
[12.5]. 司馬牛憂曰:「人皆有兄弟,我獨亡!」子夏曰:「商聞之矣:『死生有命,富貴在天』。君子敬而無失,與人恭而有禮四海之內,皆兄弟也;。君子何患乎無兄弟也?」
[12.6]. 子張問「明」。子曰:「浸潤之譖,膚受之愬,不行焉,可謂明也已矣。浸潤之譖,膚受之愬,不行焉,可謂遠也已矣。」

PHIÊN ÂM

[12.4]. Tư Mã Ngưu vấn quân tử . Tử viết: Quân tử bất ưu bất cụ .Viết: bất ưu bất cụ , tư vị chi quân tử hĩ hồ? Tử viết: nội tỉnh bất cứu , phu hà ưu hà cụ .
[12.5]. Tư Mã Ngưu ưu viết: nhân giai hữu huynh đệ , ngã độc vong . Tử Hạ viết : thương văn chi hĩ " Tử sanh hữu mệnh , phú quý tại thiên . Quân tử kính nhi vô thất , dữ nhân cung nhi hữu lễ ,。 Tứ hải chi nội , giai huynh đệ dã , quân tử hà hoạn hồ vô huynh đệ dã .
[12.6]. Tử Trương vấn minh . Tử viết: tẩm nhuận chi trấm , phu thụ chi tố , bất hành yên , khả vị minh dã dĩ hĩ 。 Tẩm nhuận chi trấm , phu thụ chi tố , bất hành yên , khả vị viễn dã dĩ hĩ .

DỊCH NGHĨA

[12.4]. Tư Mã Ngưu hỏi về quân tử.Khổng Tử nói: Bậc quân tử chẳng lo, chẳng sợ. Tư Mã Ngưu hỏi lại: Chẳng lo, chẳng sợ mà đủ làm quân tử ư? Khổng Tử đáp: Tự xét mình chẳng có điều gian tà thì không lo sợ điều gì!
[12.5]. Tư Mã Ngưu (1) buồn rầu, lo lắng mà than: " Người ta có anh, có em, còn tôi thì không.Tử Hạ nói: "Thương này từng nghe thầy nói:" Sống chết có số, giàu sang tại Trời." Bậc quân tử lúc nào cũng thành kính, không phạm lỗi lầm, đối với người thì khiêm cung, lễ nhượng. Bốn bêểđếu là anhem. Bậc quân tử lo gì không có anh em."
[12.6
]. Tử Trương hỏi về minh. Đức Khổng đáp: " Người có trí sáng (Thông minh, Minh mẫn) là người không nghe lời dèm pha nó thấm thía về lâu, không tin những lời vu cáo nó làm đau đớn tâm can. Không nghe lời dèm pha nó thấm thía về lâu, không tin những lời vu cáo nó làm đau đớn tâm can, không những là người sáng suốt mà còn là người nhìn xa thấy rộng nữa.


____
CHÚ THÍCH
(1). Chương Thuật nhi (VII, 12), có nói việc Khổng Tử đến nước Tống bị Hoàn Khôi, anh của Tư Mã Ngưu mưu hại.

NGUYÊN VĂN

[12.7] 子貢問「政」。子曰:「足食,足兵,民信之矣。」子貢曰:「必不得已而去,於斯三者何先?」曰:「去兵。」子貢曰:「必不得已而去,於斯二者何先?」曰:「去食自古皆有死民無信不立;;。」
[12.8]. 棘子成曰:「君子質而已矣,何以文爲?」子貢曰:「惜乎,夫子之說君子也,駟不及舌!文猶質也,質猶文也虎豹之鞟,猶犬羊之鞟;。」
[12.9] 哀公問於有若曰:「年饑,用不足,如之何?」有若對曰:「盍徹乎!」曰:「二,吾猶不足如之何其徹也?;」對曰:「百姓足,君孰不足?百姓不足,君孰與足?」

PHIÊN ÂM

[12.7]. Tử Cống vấn chánh . Tử viết túc thực , túc binh , dân tín chi hĩ . Tử Cống viết: Tất bất đắc dĩ nhi khứ , ư tư tam giả hà tiên? Viết , khứ binh . Tử Cống viết : Tất bất đắc dĩ nhi khứ , ư tư nhị giả hà tiên ? Viết: Khứ thực , tự cổ giai hữu tử , dân vô tín bất lập .
[12.8}. Cức Tử Thành viết: Quân tử chất nhi dĩ hĩ , hà dĩ văn vi ? Tử Cống viết : tích hồ phu tử chi thuyết , quân tử dã , tứ bất cập thiệt . Văn do chất dã , chất do văn dã , hổ báo chi khuếch , do khuyển dương chi khuếch . Ai công vấn ư hữu nhược viết niên cơ , dụng bất túc , như chi hà . Hữu Nhược đối viết:Hạp triệt hồ ?Viết: nhị , ngô do bất túc , như chi hà kỳ triệt dã . Đối viết : Bá tánh túc, quân thục dữ bất túc? Bá tánh bất túc, quân thục dữ túc?

DỊCH NGHĨA

[12.7]. Tử Cống hỏi về cách cai trị nước. Đức Khổng đáp: " Người trị nước phải có ba điều kiện:" lương thực đủ ( nuôi dân); binh lực mạnh (để bảo vê dân); và lòng tin của dân (đối với mình).
Tử Trương hỏi: "Trong ba điều ấy, nếu cần bỏ thì bỏ điều nào trước?"
-Bỏ binh lực.
-Còn hai điều, nếu phải bỏ thì bỏ điều nào?"
-Bỏ lương thực. Thiếu lương thực thì xưa nay sinh ra nạn chết đói. Còn dân không tin thì chế độ phải sụp đổ.
[12.8]. Cức Tử Thành nói : Bậc quân tử cần cái chất là đủ, không cần cái văn. Tử Cống đáp: "Tiếc thay, ngài có bụng quân tử mà nói vậy. Nhưng một lời đã nói, bốn ngựa khó theo. Văn cũng như chất chất cũng như văn. Nếu bỏ cái lông (văn) thì da chó, da dê cũng như nhau thôi!
[12.9]. Ai Công nước Lỗ hỏi Hữu Nhược (Hữu Tử):"Năm nay thất mùa, thu thuế chẳng đủ thì làm sao?"Hữu Nhược đáp: " Tại sao không dùng phép Triệt, tức là thâu một phần mười?
-Ta đã thâu 2/10 mà chẳng đủ huống 1/10?
Hữu Nhược đáp: " Dân no thì vua sao thiếu? Nếu dân đói thì vua no với ai?

____

(1). Văn chất: Chương VI Ung Dã (VI,16), Khổng Tử đã nói về văn chất.


NGUYÊN VĂN

[12.10] 子張問「崇德,辨惑。」子曰:「主忠信,徒義崇德也。愛之欲其生,惡之欲其死旣欲其生又欲其死,是惑也!;」(誠不以富,亦祇以異。)
[12.11] 齊景公問政於孔子。孔子對曰:「君,君臣,臣父,父子,子。」公曰:「善哉!信如君不君,臣不臣,父不父,子不子,雖有粟,吾得而食諸?」
[12.12] .子曰:「片言可以折獄者,其由也與!」子路無宿諾。


PHIÊN ÂM
[12.10]. Tử Trương vấn sùng đức , biện hoặc . Tử viết : chủ trung tín , đồ nghĩa , sùng đức dã . Ái chi dục kỳ sanh , ác chi dục kỳ tử , ký dục kỳ sanh , hựu dục kỳ tử , thị hoặc dã . Thành bất dĩ phú diệc kì dĩ dị .
[12. 11]. Cảnh công vấn chánh ư Khổng tử . Khổng tử đối viết , quân quân , thần thần , Phụ phụ , tử tử . Công viết: thiện tai , tín như quân bất quân , thần bất thần , phụ bất phụ , tử bất tử , tuy hữu túc , ngô đắc nhi thực chư . Tử viết , phiến ngôn khả dĩ chiết ngục giả , kỳ do dã dữ . Tử Lộ vô túc nặc .

DỊCH NGHĨA

[12.10]. Tử Trương hỏi cách tôn sùng đức hạnh, và xét đoán những sai lầm, giả trá. Đức Khổng đáp: "Nên giữ tín nghĩa, ấy là tôn trọng đức hạnh. Thương thì muốn cho người ta sống, ghét thì muốn cho người ta chết. Trước muốn người ta sống, sau lại muốn người ta chết, đó là sai lầm.
[12.11].Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử về cách trị nước.(Mọi người phải làm tròn chức vụ mình) Vua phải làm tròn bổn phận vua, bề tôi làm tròn bổn phận của bề tôi; cha làm tròn bổn phận của cha, con làm tròn bổn phận của con."Vua khen: " Ngài nói đúng lắm. Nếu vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi; cha chẳng ra của cha, con chẳng ra con con thì dầu ta có thóc lúa đầy kho cũng không thể ngồi yên mà ăn được!"
[12.12]. Đức Khổng khen: " Với nửa câu nói, trò Do có thể giải quyết xong vụ kiện. Tử Lộ hứa là làm ngay.


NGUYÊN VĂN

[12.13] 子曰:「聽訟,吾猶人也。必也,使無訟乎!」
[12.14] 子張問「政」。子曰:「居之無倦行之以忠;。」
[12.15] .子曰:「博學於文,約之以禮,亦可以弗畔矣夫。」 子曰:「君子成人之美,不成人之惡小人反是;。」
PHIÊN ÂM
[12.13]. Tử viết: "Thính tụng. Ngô du nhân dã, tất dã, sử vô tụng hồ?
[12.14].Tử Trương vấn chánh . Tử viết , cư chi vô quyện , hành chi dĩ trung .
[12.15].Tử viết:" Bác học ư văn, ước chi dĩ lễ, diệc khả dĩ phất (1) .Tử viết: Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhơn chi ác, tiểu nhân phản thị.

DỊCH NGHĨA[12.13]. Khổng Tử nói: "Ta xử kiện cũng giống người ta. Nếu dạy dân đừng kiện tụng chẳng hay hôn sao?
[12.14].Tử Trương hỏi về cách cai trị. Khổng Tử đáp: "Trong tâm mình lúc nào cũng lo cho dân, cho nước mà không biết mệt, còn hành động thì giữ lòng trung hậu.
[12.15].Người quân tử học văn chương sâu rộng, rồi dùng lễ mà thúc ước, nhờ vậy khỏi trái đạo. Quân tử giúp người làm thiện, chẳng giúp người làm ác. Còn tiểu nhân thì ngược lại.
____

(1) .Nhiều sách không có câu này .


NGUYÊN VĂN

[12.16]. 康子問政於孔子,孔子對曰:「政者,正也,子帥以正,孰敢不正?」
[12.17]. 李康子患盜,問於孔子。孔子對曰:「苟子之不欲,雖賞之不竊。」
【12.18]. 李康子問政於孔子、曰、如殺無道、以就有道、何如。

PHIÊN ÂM

[12.16]. Quý Khang tử vấn chánh ư Khổng tử . Khổng tử đối viết: chánh giả chánh dã , tử suất dĩ chánh , thục cảm bất chánh .
[12.17]. Quý Khang tử hoạn đạo , vấn ư Khổng tử . Khổng tử đối viết , cẩu tử chi bất dục , tuy thưởng chi bất thiết .
[12.18]. Quý Khang tử vấn chánh ư Khổng tử , viết : như sát vô đạo , dĩ tựu hữu đạo , hà như .

DỊCH NGHĨA

[12.16]. Quý Khang Tử hỏi đức Khổng về việc trị dân. Đức Khổng nói" Chính 政 (trong chính trị) do chữ chính 正 là ngay thẳng mà ra. (Vậy cai trị là dùng chính sách ngay thẳng, tâm ngay thẳng để làm cho dân sống ngay thẳng). Nếu đại phu tự mình ngay thẳng thì dân chúng ai dám không ngay thẳng?
[12.17]. Quý Khang tử buồn rầu, lo lắng, vì nước Lỗ có nhiều kẻ trộm, bèn hỏi Khổng Tử. Khổng Tử đáp: " Nếu nhà đương quyền không tham dục, dù các vàng, dân cũng không ăn trộm."
[12.18]. Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử về cách cai trị: Tôi muốn giết mấy đứa độc ác đặng chúng sợ mà sống lương thiện. Ngài nghĩ sao?
Khổng Tử đáp: "Ông muốn làm chính trị, cần gì phải giết? Nếu ông muốn làm lành thì dân chúng sẽ làm lành . Đức của quân tử như gió, đức tiểu nhân như cỏ. Gió thổi qua thì cỏ rạp xuống.

NGUYÊN VĂN


[12.19]. 子張問士:「何如斯可謂之達矣?」子曰:「何哉?爾所謂達者!」子張對曰:「在邦必聞,在家必聞。」子曰:「是聞也,非達也。夫達也者:質直而好義,察言 而觀色,慮以下人在邦必達,在家必達;。夫聞也者:色取仁而行違,居之不疑在邦必聞,在家必聞;。」
[12.20]. 樊遲從遊於舞雩之下。曰:「敢問崇德、脩慝、辨惑?」子曰:「善哉問!先事後得,非崇德與?攻其惡,無攻人之惡,非脩慝與?一朝之忿,忘其身以及其親,非惑與?」

PHIÊN ÂM

[12.19]. Tử Trương vấn sĩ hà như , tư khả vị chi đạt hĩ? Tử viết: Hà tai? Nhĩ sở vị đạt giả . Tử Trương đối viết : tại bang tất văn , tại gia tất văn . Tử viết: thị văn dã , phi đạt dã. Phù đạt dã giả , chất trực nhi hiếu nghĩa , sát ngôn nhi quan sắc , lự dĩ hạ nhân , tại bang tất đạt , tại gia tất đạt . Phù văn dã giả , sắc thủ nhân nhi hành vi , cư chi bất nghi , tại bang tất văn , tại gia tất văn.
[12.20]. Phàn Trì tùng du vu Vũ Vu chi hạ, viết: " Cảm vấn sùng đức, tu thắc, biện hoặc."(1) Tử viết: " Thiện tai vấn! Tiên sự, hậu đắc, phi sùng đức dư? Nhất triêu chi phẫn, vong kỳ thân dĩ cập kỳ thân, phi hoặc dư?
[12.21].Phàn Trì vấn nhân. Tử viết: "Ái nhân". Vấn trí. Tử viết: Tri nhân. Phàn Trì vị đạt. Tử viết: Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực. Phàn Trì thối: " Phàn Trì thối, hiện Tử Hạ, viết: Hương dã ngô hiện ư phu tử nhi vấn trí. Tử viết:"Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực. Hà vị dã? Tử Hạ viết: " Phí tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao, bất nhân giả viễn hỉ. Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doãn, bất nhân giả viễn hỷ!


DỊCH NGHĨA



[12.19]. Tử Trương hỏi: "Kẻ sĩ phải làm gì mới đạt đạo? Đức Khổng hỏi:"Đạt là thế nào? Đạt là trong nước được tiếng khen, trong nhà được tiếng khen. Đức Khổng nói: "Như thế là văn chẳng phải đạt. Này, người đạt thì chất phác, ngay thẳng, mà ưa làm việc nghĩa; biết lắng nghe người ta nói, mà xem sắc mặt; biết liệu định mà nhường nhịn người. Người như vậy trong nước,trong nhà đều đạt. Còn người văn (có danh tiếng), bề ngoài làm ra vẻ nhân mà hành động thì trái với điều nhân mà vẫn cho rằng mình nhân. Người như vậy trong nước,trong nhà đều được khen ngợi!

[12.20]. Phàn Trì theo đức Khổng dạo chơi dưới dàn Vũ Vu ( nước Lỗ), hỏi đức Khổng:" Đệ tử xin hỏi thầy về tôn sùng đạo đức, sửa điều lỗi và tìm ra sự mê lầm. Đức Khổng nói: " Câu hỏi của trò rất hay! Trước tiên phải làm điều thiện thì sau mới có thể nói mình đã được điều thiện. Đó chẳng phải là cách tôn sùng đạo đức ư? Mình phải tấn công điều ác của mình, đừng công kích điều xấu xa của người. Đó chẳng phải là cách sửa lỗi sao? Trong một phút tức giận, mình hại mình, lại hại luôn cha mẹ mình, đó chẳng phải là lầm sao?

[12.21]. Phàn Trì hỏi về nhân. Đức Khổng đáp: Nhân là thương người. Hỏi về trí, Ngài đáp:" Trí là biết người. Phàn Trì chưa hiểu, Ngài nói: Đề cử người chính trực, loại bỏ kẻ gian tà, có thể dạy kẻ gian tà thành ngay thẳng. Phàn Trì lui ra, đến thăm Tử Hạ, nói: Trước đây, tôi đến thăm thầy hỏi về trí, thầy đáp: cất nhắc người ngay thẳng, loại trừ kẻ gian tà, khiến kẻ gian thành người ngay. Thầy nói như vậy có ý gì?
Tử Hạ đáp: Lời ấy sâu rộng lắm. Vua Thuấn (2.255 AC-2205AC) khi lấy được thiên hạ tuyển chọn hiền tài trong dân chúng, cất nhắc ông Cao Dao, bọn bất nhân đều tránh xa. Kế vua Thành Thang (1766AC-1753AC) được thiên hạ, tuyển chọn (hiền tài) trong dân chúng, được Y Doãn , bọn bất nhân đều tránh xa.

___
(1) Ý này đã nói ở câu 12.10.


NGUYÊN VĂN


[12.22] 子貢問「友」。子曰:「忠吿而善道之,不可則止,毋自辱焉。」
[12.23] 曾子曰:「君子以文會友以友輔仁;。」

PHIÊN ÂM
[12.22]. Tử Cống vấn hữu. Tử viết:" Trung cáo nhi thiện đáo chi. Bất khả, tắc chỉ; vô tự nhục yên.
[12.23]. Tăng Tử viết: Quân tử dĩ văn hội hữu, dĩ hữu hội nhân.

DỊCH NGHĨA

[12.22]. Tử Cống hỏi về tình bạn. Khổng Tử đáp: (Nếu bạn sai lầm), mình nên khuyên can, mà phải dùng lời khéo léo, dịu ngọt. Nếu bạn không nghe thì thôi, đừng nói nữa mà mang nhục.
[12.23]. Tăng Tử nói: " Bậc quân tử nhờ văn chương mà họp bạn, rồi nhờ bạn bè mà làm điều nhân.


No comments: