Tuesday, July 5, 2011

III. CÁO THỊ 1




KIM CỔ KỲ QUAN
quyển III

CÁO THỊ

Ấn bản 1964
từ trang 41-89

mỗi trang 2 cột, chia thành 5 tập, mỗi tập 10 tr.

ấn bản 1964 đầy đủ còn bản Hòa Hảo Cali thiếu 500 câu đầu

CÁO THỊ 1
tr. 41-50

1


1. NẦY LỜI CÁO THỊ GIA-NGHỊ (1) LỜI RAO

Để ý thấp cao lời rao Gia-Nghị

Khuyên tình quê thị anh chị xem chơi

Tôi cũng nương hơi lập nơi cáo thị

5.Việc chưa bình trị anh chị chẳng tu

Hậu nhựt giơ khu (2) thấy tu người lấy

Tôi mà nói bậy nói vậy chẳng nghe

Sống gió bể ghe đẩy te vô cỏ

Ma ngồi cho tỏ , Phật bỏ chẳng dùng

10.Cơn đó chạy cùng không mùng mà ngủ

Ngồi khoanh tu rũ phản chủ phản quân

Phật chẳng lòng ưng xây lưng lấp mặt

Nghĩ nhiểu việc ngặt lũ giặc hãm dâm

Thấy việc cơ thâm bị đâm bị chém

15.Sức tôi nay kém việc ém để dành

Dở ra việc lành tanh bành việc dữ

Để mà coi thử ngôn ngữ người sao?

Ý thấp ý cao ở sao cho biết

Bất kỳ ngôn thuyết Phật biết dạng hình

20.Kiến thể kiến tình loạn bình đồng kiến

Trước thời nghe tiếng vận biếng nghe tai

Nghe chất lỗ tai chiều mai nghe nữa

Nước sôi nhờ lửa con giữa nhờ Trời

Tôi thiệt đôi lời Phật Trời một dạ

25.Thỉnh đồng hiệp tọa bá dạ là tôi

Ngôi nào một ngôi lòng tôi trăm tiếng

Vậy mà nguy biến Trời khiến lẽ nào

Nói trước lao xao sợ lao sợ khổ

Quốc-vương thủy thổ (3) báo bổ khôn cùng

30.Việc nay phải tùng là tùng theo buổi

Giặc đà gần đuổi giặc đuổi bên tây

Lãnh bức tờ mây trừ Tây trực khứ

Lập lời ý tứ hoặc khứ hoặc không

Nói việc minh mông dư công nói rán

35.Nói năm nói tháng hoặc tán ra ngày

Nói tớ nói thầy nói thầy nói tớ

Nói mà không nhớ thầy tớ phân ly

Nhiều việc khinh khi phân ly Thầy tớ

2

Nói mà người nhớ việc tớ như Thầy

40.Các việc tỏ bày việc thầy như tớ

Phải thời cũng nhớ quấy tớ lòng quên

Để đẹp hai bên hư nên coi thử

Của tiền tích trữ kinh sử không coi

Nghĩa lý không soi lâu coi quên hết

45.Lập đời coi kết ăn Tết coi chơi

Khi nào thành thơi khỏe hơi sẽ đọc

Sĩ thời ăn học ngang dọc sĩ ai

Đánh lộn lỗ tai hai trai một gái

Thuận tình ân ái sự trái ái ân

50.Chẳng biết cũng phân không phân chẳng biết.


Khi buồn thới thiết dạ tiếc thời thương

Bắt ngựa gò cương kéo rương mở khóa

Phật Trời nhiều giá sợ quá buổi trưa

Phải giá cũng đưa ngồi trưa nóng nực

55. Tiểu nhơn tranh thực trung trực cố vinh

Cố sách cố kinh bất minh cố oán

Nhiều lời ngao ngán phá tán gia tài

Nhơn nghĩa lâu dài của sài mấy tháng

Của tiền lai láng ở tháng ở ngày

60. Nhơn nghĩa lâu dài ở rày trong bụng

Việc nào mình dụng trong bụng phải ghi

Việc nào bất tri dầu ghi không nhớ

Lóng tai nghe bớ nghe bớ lỗ tai

Con mình nghe ai con ai không biết

65. Dầu lăm tử tiết cho biết con mình

Ăn ở khác tình bất bình hai ngã

Cơn buồn thông thả lập quả chí tu

Biết thuở ngao du không tu biển Thánh

tánh xưa Thánh mới tu

70.Nay việc thôn phu rừng mưu chí Thánh

Tu như ăn bánh xưa chí

Dạ minh tâm trí xuất ý quan phòng

cho thân làm trâu mà chịu

3

Việc nhà toan liệu làm chi

75. Nhiều việc khinh khi sầu bi tưởng

trăm con gái dạ trái không dùng

Tôi thiệt đứa lấp cánh

Người phàm tòng Thánh ngu tánh thiếu gì

Ở phải phân bì nương tùy đức Phật

80.Bằng không của ma bất bụng

Thiết tâm khẩu tụng dỉ phụng thừa ơn

Đãi sắc lịnh tân hoàng ân đạt chí

Thiên đình hội thí, Tứ hải ngao du công phu luyện tập

Nhơn tình cửa Phật dỉ lập dị đoan

85.Chư quốc bất cang dỉ sang thính bạo dĩ tạo đạo mầu

Tâm thiết vọng cầu lập lầu Nam-Diện

Phật Trời ứng hiện quốc truyện tại đồng cai chư sạ

Hội ân thỉnh tọa phi họa Hớn đường

Chư sự khá tường chúc đường trước con bước ngồi sau

90.Văn võ muôn tâu một câu thọ thọ

Trước bài trăm họ bất thọ đội ơn Thánh giáo

Lập đời tỏ cáo nguyện báo công tôi
Nhiều kẻ bạc vôi thương ôi chí thiết chúc ông

Cám tưởng minh mông lòng không xao lãng

95.Chẳng lo kiếm bản thàn nảng miệng cười

Chẳng muốn xúm nhau nói bậy nói vậy thời hơn

Thiết kẻ phi ơn Thất sơn khó tới

Nhiều người quyền quốc việc mới chèo te buôn bán

Cất lầu cất quán cho tháng cho ngày

100. Chẳng nhớ lời Thầy đố mầy nên đặng

Thầy xưa lội lặn đã nặng công lao

Sự thế lao xao nay tao lập lại

Chẳng nghe lời dạy tồi bại có khi

4

Tự ý thị phi

105.Nay tôi lội lặn cũng nặng cái lòng

Nói việc bao đồng dự phòng ông tới

Lập làng Hưng Thới người dưng đồng ưng một dạ

Mặt người coi lạ minh lý ngôn phàn

Mới thiệt là dân dỉ ân hết thuốc

110.Bây giờ nói tuốc không đuốc soi bang nan hành

Phật dạy làm lành chưa đành không

Việc đời thậm tốc dị bốc Tiên tri

Người nào khinh khi hậu ly đạo Phật chẳng kỉnh vì, phân bì theo thú

Đời ăn cháo lú miệng bú sửa ma

115. Thiệt ít người ta nói ra cải chẳng phải chỗ nào

Ăn nói ào áo như Tào dấy loạn

Ví như Kim-Đạn vây Trạng đầu sơn

Nhiều kẻ sao an sự thế

Phật Trời vong phế thiễu tế tử thi

120.Ít kẻ từ bi liễu tri Tiên Thánh Hớn bang

Hết kẻ dọc ngang hiển vang phước thọ

Tiểu thơ mặt lọ hai họ hòa duyên

Lòng người Phật Trời tích đức thậm ức đời nầy

Việc nói tỏ bày chê rày bất lực

125.Hết người trung trực thuở rã rời tời bời thân thể

Nói ngay chẳng kể Phật để chỗ nào

Ăn nói hỗn hào ra vào Trời phế chẳng cầu

Nói việc ưu sầu vô đầu vô vị

Cơn còn bình trị anh chị ỷ thân Đoạn quấy

5

130. Tôi cho người thấy việc máy thiên cơ

Người cũng ngó lơ tôi ngơ ngẩn dạ

Chê tôi nói lạ Chẳng cầu ai khen bạc đen lời nói

Giúp nhau cơn đói bằng gói khi no

Trong bụng chẳng lo khó cho phước hậu cậu sợ lậu con Thầy

135.Một lũ ăn mày không bày một đạo

Nói lo cơm gạo sáng tạo cơ đồ bồ vôi trắng

Nhiều bề cay đắng phải cắn cái răng

Nhiều kẻ lăng xăng không căn Diêm la

Đều biết cơ gia la nghị

140.Chẵng bày bia vị bi lụy tâm ai

Tự ý gái nói cười độ người bất chánh

Phật Trời trị nghĩ sự dĩ bày tường

Người chê việc thường tỏ nhà ngói

Thấy người án nói bụng đói biết no

145. Đương thuở nằm co phải lo việc thử ngôn

Thân chết chưa chôn nói khôn hơn Phật

Thương con lật đật niệm Phật không lo Thân thể ỷ

Chẳng ai tu tỷ xét nghỉ thân sau

Chẳng xét cạn sâu biết đâu mà thấy

150. Lập lời để lời Niệm Phật vái trời thương đời phi nghĩa

Dạ lo sút sĩa nhân nghĩa không tường

Thiệt kẻ ở Dạ lo cơm gạo nhơn đạo không lo

Gập thuở nằm co biết no hay đói Giả làm Thầy bói

6

chẳng biết chí sống đi đâu mất

Người nam nói xấc khó cất cái thây

155.Tôi nói việc hay ở lặng chịu nặng cái lời

Chắt lưỡi kêu trời ở đời thậm khổ

Nhiều lần xấu hổ thiệt ngỗ nghịch biết phân sao nữa

Trời mang bụng chữa sấm sửa sổ lòng

Tiêu nghệ dự phòng đạo đồng dường cử

160. Cho người xương Tới đời khó thương cái rương không khóa

Hôi cơm tanh cá vàng đá bấy chầy

Chẳng tưởng đạo

Nhiều người thông thuộc là cuộc ở đâu

Chẳng tới bực sâu cầm câu nhớ cá

165. Ngọc còn ẩn đá rồng hóa lên tới đây thời biết

Sau đừng có tiếc hung kiết tại Trời

Ăn nói nhiều lời cãi Trời châu ổi

Ra tay cầm chổi gió thổi phương đông

Lập chí giao phong quan ông xuất trận

170. Nghe nhiều người giận thế cận

Đời nầy thiệt dại hết đậy phải bày

Cám tưởng ơn Thầy vào rày lạy Phật

Niệm Trời niệm Phật mỗi tật mỗi lành

Hung dữ Phật hành chành bành thây thúi

175. Đừng mang áo túi lúi búi trong mình

Mắc áo bó hình thiên đình xử hết

Người lầm mà chết Phật hết dạy răn

Nhiều việc lăng xăng không ăn thời chết

Việc đời cận tết thấy chết mới hay

180. Tuy sống ngày nay thương thay mai thác

Việc tôi nói khác cô bác chẳng dùng

Chê nói tầm khùng dở mùng thấy chúa

Mặc tình tay múa đựng lúa hay lu

Mới hản sự tu công phu mài sắt

185. Phân nhau Nam bắc kẻ tắt người quanh

Ngó thấy thượng thanh rạng danh tổ đức

Việc này chẳng tức ở bức tại người

Nhiều việc vui cười thương người Phật khóc

7

Cao mên đánh bóc trọc lóc nhiều ngay

190. Nam việt chê tây thương thay mình vạy

Việc làm tồi bại mình hại lấy mình

Chớ trách thiên đình nhơn tình bất phách

Nói hơi kêu cách nói sách nói kinh

Mười chuyện bất minh làm thinh chịu dại

195. Nói đi nói lại thì ngại lòng người

Ngoài miệng nói cười thương người trí huệ

E sau tình tệ U, Lệ (4) đa đoan

Khiến việc nghinh ngang tang hoang nhà cửa

Người khôn khó sửa như lửa cháy đồng

200. Dứt mối tơ hòng sợ lòng nhúm lửa

Không ai dám chửa nhiều bữa loạn tâm

Sau hội bính âm cơ đa lý tự trí tự ngu

Biển Thánh rừng nhu (5) chỗ lu chỗ tỏ

Dại như con thỏ thấy cỏ thèm ăn dỡn trăng mầy giỏi

205. Ngãi điên chửa giỏi lấy chổi, đánh đầu

Hậu nhựt chư hầu vọng cầu Phật tổ

Người trong thủy thổ nghĩa nhơn lương nhà Thương mắc đọa

Mới rằng tỏ dạ việc họa việc linh

Để vậy làm thinh bất minh lập tánh dấu phàm

210. E kẻ ăn làm tiếng đàm cuồng ngữ

Thân ai nấy xử sự thủ nan tình Chẳng chắc việc hỏa

Phật còn nhồi nhã các ngả ứng thinh

Việc ở cao minh trung tinh rằng phải

Quân dụng tứ hải minh lập nghiêm Cổ-Kim hội ý

215.Việc đời đa lý ngụ trí bình phân

Lập đạo nghĩa nhân tin bực hiếu trung

Tùng ý gia thung bất khổ giáo

Nhiều người nói láo cơm áo chẳng đền

Thiệt khó vào ra người ta chẳng có

8

220. Phải như không thấy chầy bấy thì thôi

nói dại khờ bây giờ khoan chấp

Trường thi Long-ấp dạ đấp mã cao suy nghỉ sự dỉ tuyệt đoan

Ý chẳng lo toan thế sang gánh khác

Người không tờ trát chạy giác nghiêng thuyền lập hiền nhượng chánh

225. Ai đặng lòng Thánh lập tánh làm nhưng

Tôi chẳng dám xưng vi quân vi tướng Nhiều người thuê

Tôi thiết rất quâ chỉnh ê lỗ miệng

Lật tình minh truyện đi kiện cho hà

Tới chốn phổ đà minh đế dạ phế Di-Đà

230.Mậu ngũ bất hòa nước nhà mất hết

Khiến nên việc chết ăn hết hai chua phiền lắm

Cầu Trời Phật tấm tay nắm làm sao

Cho biết thấp cao lao dư nguyệt Trước còn xương

Người dễ chẳng thương oan ương một thuở

235.Vạc nghiêng nưng đỡ bao nỡ để nghiêng Thậm trách

Nước nào có trạng trách bạn không phân

Để loạn khổ dân phi ân người Trạng

Thiên tiên thấy tặc đa loạn bang họa tử

Lập đời tiền ngữ không chữ vi ngôn

240.Người thác khôn chôn nhứt môn bá quốc

Việc xem vong thất dể lời ghi hậu tri các việc

Lập đời tùng thiệt dỉ tuyệt sự nan

Chư quốc hiển vang bình an võng lãnh hiếu hạnh lễ nghi

Không kẻ ngu si dĩ tri phụ mẫu

245.Thế nầy na tẩu gia ngẫu đoạn tình Khiến sát hại

9

Việc làm nhiều dại mình lại hại mình

Các nước bất bình xác hình mới thấy

tiếng công thâu đâu đâu cũng ngủ hết

Nằm như người cà giao thây

250.Lòng ở chẳng ngay sau nay ngăn trở.

Ba năm quên thở niệm đỡ nam mô

Phật xách bỏ ra quỉ ma có vật cần kịệm chiêm nghịệm xét suy

Gập thuở loạn ly Phật tri lại độ

Bấy lâu hào ngộ giả ngộ ru niệm khổ

255. Miệng kêu Tiên Tổ nguyện bổ tông thân

Xét việc phi ân hậu thân ngậm ngặt

Đời này đại tặc cứu Thánh Tiên bình yên bình cửu

Vi nhơn trí sửu linh cửu đỡ tình

Làm việc bất bình xà kình giảo nhục Mê dục đa đoan

260.Nhiều việc chẳng an than thở chí khổ

Nhập lâm kiến hổ móc cổ phân thây

Mới biết Việc đời khó gói Phật nói không sai

Cũng mặc ý ai chiều mai không dể

Việc làm đổ bể Tây kể như Tàu về Tàu chẳng đặng.

265.Nhiều người tội nặng đều lặn sách trơn

Cây mục thoa sơn nhiều cơn phải tróc

Việc tiên sanh Hậu nhựt lập danh niên canh Phật định

Đồng tuân nhứt lịnh Gia định cựu tồn

Phật đổi phần hồn Chẳng lo còn mất cà khất còn chi

270. Quân tử vận suy đều khi hết trọi

Trời cao vọi vọi người gọi bất

10

người khi chẳng biết

Tâm hoài thiết thiết hung kiết dị nan

Tiểu nhơn bất an dọc ngang chẳng dễ

Nhơn cư ơn Chẳng những người thân chẳng phân tà chánh

275.Thấy người bạo tánh phải tranh cho xa

Bất Phật bất ma Nhiều người mọi rợ chẳng sợ Phật ta

Lòng Phật Phật a lòng ma ma buộc

Xem lòng nhiều cuộc nó không nghe trong hoe hết thấy

Đương làm sơ xảy phúc gãy phúc chưng

280.Việc lành chẳng tục sở dục thiện tâm

Nhiều chỗ ca ngâm trường bản

Gia bần tri đoản đồng quãng thới

Phật nói bất tùy còn gì nhơn nghĩa

Lòng như cùng Tiên Tổ xấu hổ song thân

285.Chẳng muốn lương khổ trương nhơn nghĩa

Rủi tay bể dĩa nhơn nghĩa lâu dài

Sao chẳng tranh tài cực tâm trực mới ngoan

Lòng kẻ giàu sang nghinh ngang thời khó

Phật Trời nói có chẳng ngó nói không tông thiếu cánh

290.Muốn cho bá tánh hiểu Thánh mới mầu

Ý sao chẳng cầu để sầu tôi chịu. Không ai bất thường

Chẳng nguyện Hớn trường can cường diện mạo

Chẳng lo lập đạo hung bạo làm chi

Vận còn suy vi phải đi cầu Phật

295. Nói chi súc vật để Phật khi Trời

Dạ chẳng lo đời theo thời chiến thắng

Chẳng e con rắn nó cắn nhức mình

11

Một mình hai gối ai thối mặc ai

Nhớ thuở rau trai chông gai cá nướng

300.Mặc người sung sướng làm tướng trào Tây

Tôi nói vạy ngay phương Tây chiếu cố

Đừng lòng ái ố thách đố làm chi hiệp tử ly làm chi cho tốt

E khi hoảng hốt ta cốt mình mang

Lúc hiếp lúc tan hỏi han chẳng tỏ

305. Tiếng la con thỏ Phật rõ con trâu

Thương thuở con trâu lo âu con chuột

Ba con một cuộc chưa thuộc đuôi đầu

Lòng có vọng cầu dạ sầu khúc giữa

Khó chi một bữa người sữa lòng tôi

310.Nhiều chuyện tha ôi! Mồ côi thiết yếu

Nói thời líu tíu kẻ níu người trì

Chẳng kỉnh trước vì Sau quì bái quỵ

Tận tình cáo thị bi lụy cá tôm

Cách trở sao hôm dạ ôm sao mọc

315. Khóe tra thuốc độc chẳng học Thánh hiền

Nhiều việc cảm phiền vong tiền phế hậu

Đều kêu bằng cậu cơ hậu không lo

Đánh lớn thua to chẳng lo cơm gạo

Tầm sư học đạo dỉ dạo giáo sư

320.Nhiều dạ cẩu trư hỏa lư phạt chí

Nhiều người vo ý miệng lý lu là

Lầm thuở rừng già bất hòa đạt vận

Yếm mang quần vận hầu cận Đế-Vương

Đơn ông càng cương khó thương văn tự

325. Lòng còn dụ dự đa sự nghi nan


Người nghỉ việc sang dạ toan bất phục

Dạ nguyền lánh đục phèn thục thời trong

Dở ổ chóm ong cuồng phong đại bại

Nói đi nói lại nhiều dại nói hoài

330. Đánh trống liền hoài chẳng tài chi trống

Gia Nghị,còn sống nhà Tống vững bền Gia Nghị

Lo bề anh chị Gia Nghị đừng lo

Dầu thác tiêu tro thác no sống đói

Cơm khô còn gói việc tối đầu, Nam lầu tây tự

12

335. Tại nhơn sanh sự hà sử hữu sanh

Nhiều việc khôn lanh đua tranh chầy bấy

Lo bề lổi nầy Dám xưng Phật Thầy lỗi ngài Gia Nghị

Thầy xưa chánh vị lập Nghị cầu cơ Bá đạo su sơ

Phật ra khó dối thầm tối bày ngay

340. Đường mực phương Tây nẻ ngay mất vạy

Gian ngay khó đậy dở xưng liền chằng huyền chẳng khảo

Từ ấu chí lảo Phật khảo phải khai

Hoặc gái hoặc trai tội ai nấy thói hung hoang

Tới cửa tam quang dọc ngang chẳng phải

345. Việc nầy thừa tải quấy phải giao tôi

Cha mẹ vậy Loạn đới lấy bậy phải đậy cho lâu

Nước mắt tay lau tay lau nước mắt

Kẻ Nam người bắc thiệt đắc một một lòng một dạ

Mình làm tá họa vu vạ cho ai

350. Việc chớ đôi hai phải ai tay nấy Ruột già nát.

Giả điếc làm câm mấy năm khô héo

Nói tròn lời Khéo việc méo tại ai

Trách Phật Như-lai quặn đau nặng teo gan

Lời nôi dọc ngang khó toan cứu cấp

355. Nghe người bộ ấp muốn đấp mả cao Bị việc rặt

Tránh đường Tây tặc thậm ngặt anh hùng

Nói việc vô cùng khi bùng khi sạch
mắt biết đâu tai trâu còn mỏng

Nhớ lời lỡ dại nghe ai Đường cũ đạp gai lòng bần trí đoản

360.Nhứt thâm lập khoản dạ quản

13

Thấy việc người khôn chư thôn e sợ

Phật lo bất phế Hớn trào

Thương nỗi anh hào ra vào vắng mặt

Nghỉ thân quá ngặt vắng bặt dè xuống dốc

365. Người tu cất cốc chẳng bốc quẻ chi

Bạch Phật cung ly thức tri cho biết

Việc đời hung kiết một hai đôi than ôi lo đạo

Phải lo cơm gạo giữ đạo lương điềm

Phải lập thơ niêm cổ kim hội trí sự lý vi hương

370.Cho biết thiện vương hay là ác đế

Chẵng dụng lập kế say thế làm sao

Cẳng thấp cẳng cao nhảy

Không ăn mắc bẩy hết thảy mắc vòng

Chẳng biết đặng lòng bánh phòng hay trở

375. Tôi ba lổ thổ bạt tai còn ai về nấy

Tôi làm có giấy chẳng thấy thời thôi

Nghỉ phận mồ côi chưa ngôi ăn người quết tối Trời

Sao chẳng lo đời thương thời con dại

Thế cường vận bại Tây lại qua Nam
380.Đát chức chẳng e bản hạ ngứa lạ cùng mình

Trách kẻ vô tình giữ mình an ổn

Ngày đêm xắn xõn thơ hòa trẻ già chẳng nghĩ

Thế suy vận bỉ năn nĩ một mình

Ngưỡng cáo Thiên Đình xét tình phàm tục E lo ăn

385. Đi tới vừng trăng không săn nai gạc

Còn mang túi bạc hết nạc mất xương Gặp thuở gở lưới

Cây khô chưa tưới héo dưới ngọn tươi

Hổ thẹn cho ngươi dám đươi lần nữa

Bụng tôi như lửa ai chửa quần yêu phi tiêu mới đáng

390. Dạ lo ngày tháng ngao ngán năm dài

14

Chưa cho phép tài nằm dài chi ai

Dầu gặp họa tai Phật khai chịu

phàm chẳng thấy chầy bấy Phật hay

Giữ đặng thảo ngay dạy khỉ

395.Dạ lo thủ thỉ tịnh dỉ quan phòng

Phật chữa định phân việc ân việc oán

Dạ lo nghị bất vị chớ khi

Một lũ ngu si Phật chi chi bậu

Cựu trào bất lậu mặc dà chi vậy

400.Quản Cơ lòng đậy quở vậy biết sao

Trời Phật còn lao phải sao chịu vậy phải dậy sửa thân


Nhiều việc phi ân dễ phân khó tỏ

Đất thời sanh cỏ cặc lỏ sanh con

Nói việc dạ sắt Việc đời nói gắt lòng bắc dạ Nam

405. Mười việc mười tham tôi đam để đó

Thấy lem lia Người chẳng phân chia chưởi lia chưởi lịa

Thấy tường Phật địa Tây rịa một bên

Các việc giỏi Con nhà thượng cõi ai hỏi đừng ừ

Phải chửa thần thừ giả từ bệnh ngặt

410.Miệng niệm nam mô Gia tô phải bỏ

Lời hay không tỏ ngọn cỏ phơi thay

Chẳng nhớ lời nhiều việc lạ chung chạ một khi

Nghe sấm cung ly các chi kỳ phận

Phật Trời mắc lận quần vận căng của ăn không hết

415.Người đừng câu kết mà chết không ngăn

15

E thác nhăn răng không ngăn lòng thảo lão tri ngôn

Mới biết lòng khôn đừng tôn trẻ dại

Dạ lo ngại ngại thiềng bại chưa xuôi Không chỗ trong dạ

Phải lo phước họa đẳng tọa phi thường

420.Nói việc đưa đường ai tường trong bụng

Ngồi thời tim lụng miệng nhớ Di-vô nhớ mô bồ tát

Nhớ ngồi chiếu lác xưng bác xưng cô

Chẳng phải nam mô giấy chẳng thấy chư dưng

Bây giờ người xưng đam quí đạo

425,Ngỗ ngang nghịch bạo qui đạo học cho xuôi

Mặc kẻ tới lui mù đui con chuột

Học hành mới thuộc bạch tuộc sao

Dầu đánh mấy roi không coi không biết

Dầu mà mắc nhiếc tai điếc trơ trơ

430.Nói việc ngẩn ngơ có ổ người có tổ tông

Chẳng phải minh mông nhà không cha mẹ

Việc quan nhậm lẹ nạnh hẹ bất kham cam chư sự

Tận tình ngôn hạ dỉ tạ thượng thân

Vi nhựt tế tân nhơn dân mỷ diệm

435. Xuất trình chiêm nghiệm mỷ diệm tỏ phân
vi nhân minh chánh
Lập nhơn tâm Thánh
lưởng lánh thuận hòa.
Hiệp dạ trẻ già
thượng hòa hạ lục Phong đồng tâm

Tam giác hội thân quan dân việc nước

440. Vi quân tử trước vi phước vi lương

Tích thiện quốc vương

Nhứt đoan Gia-Nghị lưỡng thị châu trần

16

Hữu phước hữu phần vô phần vô phước

Song đăng dưng trước việc tóm thâu xã tắc

445. Trước thời nam bắc nay chắc Hớn bang

Điềm ứng thiên nhan
hiển vang vạn tuế tâm phế thiện vương

Vô quốc thâm cương dân nương dạ bạo

Dạ xao lãng đạo hung bạo tề tề tử hậu

450. Thiên cơ tri lậu tử hậu loạn tâm

Chẳng mấy trăm năm cơ thâm xử thất

Lập đời vạn thất cõi hiển vang cư an Trời Phật

Vô tà vô vật nhơn Phật tịnh tình

Nhứt thống Trời đình tàng hình biến hóa vận hóa Thánh Tiên

455. Một cõi thượng thiên hòa viên tâm thống

Bắt còn nào sống chất đống lại nhà

Lòng dạ thuận hòa

Con nào thác yểu, Phật biểu bỏ ra

Co Phật Phật la con ma ma dắc

460. Nhiều lòng gay gắt khó vào chỗ sống nghe chi

Người dắt Phật đi từ bi để Phật

Xúm nhau mắng dại nghĩ lại chẳng khôn

Hàn Tín lòn trôn nghĩa nhơn bạc ơn con chó

Chẳng tường dễ khó con nhảy con đi

465. Thiệt chẳng biết chi khinh khi một lũ

Thiệt đồ phản chủ chỗ cũ không quen

Bay hơi thúi khét lại ghét chỗ ăn

Cả lũ không căn xích xăn không đặng

17

Dạ mong lành lặn lặn tối không trăng, ham ăn ham ngủ

470. Thiệt loài phản chủ ai rủ muốn theo

Đói nằm chèo queo thấy heo thèm thịt lệch mù mịt đôi ngươi

Cây héo mà tươi thấy tươi mà héo

Muốn ăn cho béo nợ kéo mà trừ biên thùy giỏi nữa

Thấy hư thời sửa dơ rửa cho rồi

475. Để vậy khó ngồi bồi hồi trong dạ dạ ô ma

Ai biết lòng ta con ma lòng Phật

Đừng noi thú vật cãi Phật chẳng nên

Đau mà Trời Phật Gẩm đời nhiều tật Trời Phật chẳng màng

Ăn nói đứng đàng đầu hàng cuối xóm

480. Đi thời lóm khóm dư công minh mông chẳng thiếu

Về nhà đàm tiếu tối níu chị nầy

Nói chuyện cù xầy nghe rày không lặng chê cười

Thấy vậy nhiều người chê cười sanh chuyện

Kẻ thưa người kiện sanh chuyện chối đôi

485. Lại tốn trầu vôi Chẳng bì ông Cống văn thống ông nghè

Nói chuyện sau hè không dè trước cửa

Ăn cho có bữa sấm làm xàm chàm nhàm trong bụng

Sanh tâm ăn vụng trong bụng ngu si

Chẳng biết việc chi mà suy mà nghĩ

490. Nói bát kim Thiệt khó lập nghiêm sự kim đa cải

Muốn làm cho phải đa cãi khổ

Nói thời nghe nặng lắng lặng còn nghe

Như tiếng soi khó coi của thế

Tuy là bán ế hương mấy hồi

18

495. Lo việc chưa rối ăn ngồi lặng

Hỡi chưa quá lão còn khảo còn tra trưởng kinh cầu nghinh hiền Thánh

Soi lòng bá tánh vi cánh sum vầy

Trước bước lại Thầy còn nhớ lời nghi

Đừng dạ ngu si bất tri Tiên Thánh

500. Cầu cho bá tánh tâm Thánh tri tường


Nhứt lễ cúng dường

Vạn gia bỉ dạ đáo tọa chúa công

Lễ bái vọng đông thinh không thấu bái

Cầu hồn hoàn tái miệng vái Tiên mình huờn linh hưởng thọ

505. Cầu cho hai họ thượng thọ qui căn

Cầu Trời cầu trăng thiệt căn thiệt hội mây trần

Mê Thánh mê Thần mê trần trời bỏ

Ngày sau ít cỏ thiệt rõ nhiều cây mắc tội

Nhớ ơn một hội tấm gội chúng sanh

510. Xác phàm hôi tanh nhơ đanh chầy bấy phải thương

Cứu thuở oan ương Tây-phương chí nguyện

Chí tu phương tiện dỉ biện nan công Lâm trận nảo

Chừng nào quá lão hết bảo minh mông

Người khá gắng công học trong phép luật Dỉ tình

515. Cho biết ở đời phải thời hay phải

Quấy thời biết cãi nói phải biết nghe

Có mắt cây tre gió sanh giặc việc ngặt hiểm nghèo

Phò chúa qua đèo vận nghèo Ngũ-Thiệu

Phật không để chịu người liệu đời nầy chầy quả nầy trước mắt

520. Nói ra gây gắt nước mắt gập ghình

Xem thấy cái hình cái tình khó thấy không thấy thời thôi

19

Việc Phật người bôi thương ôi khó lắm

Xương thời một nắm chịu đấm Gia Nghị

Các ngôi đồng thị Gia Nghị thành tư

525. Chú bảy phân dư an cư Gò-sặt

Lâm-cơn nguy biến vận khiến hỏa thiêu khó phân nhờ ân Trời Phật

Nhơn đồng dữ vật miệng bất nhơn

Nói chuyện phi ơn bất nhơn thất đức

Nói nhiều chuyện tức cách bức lòng Trời

530. Nghiệp tôi theo không kịp tội nghiệp đời nầy

Sống ở chờ ngày thác rầy không bữa

Nhà không đóng cửa

Ngó núi ngùi ngùi sụt sùi biển ngọt

Nước không nổi bọt Cần-Đọt muối nhiều Việc hư bỏ liều

535. Người nào gian nịnh họ Trịnh siêu thoàn

Muôn việc cảm phiền làm hiền Phật độ Chánh Thần ủng hộ

Ngư Tiều chín chiều ruột thắt

Kẻ Nam người bắc nói mắc khó nghe

Lo việc mua be đóng ghe biết thuở nào bồi

540. Khó đứng khó ngồi bồi hồi việc hậu

Cám thương thân Cậu lo hậu quốc vương nương mây bạc

Vận tề bất đạt xiêu lạc hai phương

Nhiều nỗi oan ương lưới vương cho kẻ tên

Đặt để hai bên ở trên có chúa

545. Ăn cơm phải múa việc chúa cho dàng

Bạo phát bạo tàn ngây mũi nhiếm chúm chím lắc đầu

Ba hồi mỏ hầu lầu không có Miệng thời la ó bắt nó nạp Tây vấn tội

20


Nhiều lòng phản bội lập hội lương điền

Kết sửa bạc tiền cảm phiền làng tổng

550. Bụng người khổng không dò

Dạ muốn làm trò dặn dò lòng tớ

Việc nào cũng nhớ thớ thớ ngoài môi

Trong bụng tích vôi

Thân tôi xiêu lạc hai hạt đều cười

555. Chẳng biết vàng mười thương người mắt bịt

Tâm sầu mù mịt ngang lòng toan nói phách

Nhơn ác nhơn phách bất hòa

Sao chẳng đóng ke mắt ve tầm bậy

Lòng không muốn vác mỏ cày

560.Làm tớ nghe Thầy chịu rầy lúc đọa

Phật Trời phép lạ trần hạ khó hay

Thúi hơi ngầy ngật lột trật còn non

Lòng sắt dạ son nước non vòi vọi

Đường cao vòi vọi tới chưng rừng ngó chừng nẻu tắc

565. Tôi nam chúa bắc gay gắt nhiều phen

Bạc trắng mà đen khó khen cho bạc bạch hạt biết thơ

Một mình bơ vơ ngẩn ngơ non núi

Dưới thời khe suối trên núi chang chang Nhiều thấu

Hổ trang thơ ấu miệng tấu cửu trùng

570. Nước chảy đúng đùng anh hùng thất vận

Áo mang quần vận thọ tai trách ai mính quấy

Phật Trời ngó thấy phải quấy chăng không

Đứng nói minh mông phạm trong điều luật chịu cực nói ngoan

_____

(1). Gia nghị: Quản Cơ Trần Văn Thành tổ chức quân đội chống Pháp, lực lượng khoảng 1200, binh sĩ , đa số là Phật tử Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông lập khánh chiến khu ở Láng Linh-Bảy Thưa

Thời bấy giờ, Lánh Linh - Bảy Thưa là một cánh đồng trũng phèn rộng bao la, không có kênh, rạch lớn ra vào, suốt năm chỉ gieo gặt một mùa lúa sạ. Phía Bắc giáp vùng biên giới núi Sam, Tây dựa Thất Sơn, Đông cặp sông Hậu giang, Nam giáp núi Ba Thê và Long Xuyên. Mật khu này xưng danh hiệu là “ Thiên sơn Trung tự”, kiểu chùa chiền; quân đội thì lấy tên Gia Nghị cơ hoặc Giang Nghị cơ, khiến ta liên tưởng đến những đồn điền tổ chức thời Nguyễn Tri Phương, vùng biên giới. Còn gọi là dinh Sơn Trung hay Sơn Trung doanh.Trong Kim Cổ Kỳ Quan, tác giả nhắc nhiều lần các chữ Gia Nghị, Cơ Gia, Cơ Gia Nghị, có lẽ ông cũng tham gia lực lượng kháng chiến chống Pháp.

(2). Khu: cái mông, cái đít. Giơ khu: bày mông ra. lộ mông ra cho người ta thấy.
(3). Quốc-vương thủy thổ: Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương là Phật giáo nhập thế, chủ trương báo đền Tứ Ân: Ân cha mẹ, ân thầy , ân quốc gia xã hội, ân Tam Bảo. Quốc vương thủy thổ là lo việc báo quốc, giữ đạo trung. Sau này, Ngô Lợi phát huy thành đạo Lành hay Hiếu Nghĩa..Ngô Lợi (thường được tín đồ gọi là Đức Bổn Sư) sáng lập vào năm 1867 tại Ba Chúc, huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang.
(4). U, Lệ: hai vua hoang dâm tàn ác của Trung Quốc. U Vương, vị vua thứ 12 của nhà Châu, lên ngôi năm 781 trước TL. Lệ: Lệ Vương, vị vua thứ 10 của nhà Châu, năm 878 trước TL. Đây là hai vị vua tối tăm, độc ác, bạo ngược của nhà Châu, giống như vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương.

Theo sử ký Trung quốc, vào thời thượng cổ nước Tàu, vua Di Vương nhà Châu truyền ngôi lại cho Lệ Vương. Lệ Vương hôn ám, bạo ngược, dùng kẻ tiểu nhân làm cận thần, hễ ai làm không vừa lòng thì bắt giết ngay. Dân chúng oán giận, nổi lên đánh đuổi, Lệ Vương chạy trốn vào đất Phệ huyện Hoắc tỉnh Sơn Đông và chết ở nơi đó.

Con của Lệ Vương là thái tử Tỉnh được lên nối ngôi, ấy là vua Tuyên Vương. Vua Tuyên Vương tu sửa đức hạnh, chỉnh đốn việc chánh trị, nên nước nhà trung hưng, dân chúng trở lại cảnh thái bình. Tuyên Vương ở ngôi được 46 năm, truyền ngôi lại cho con là Cung Niết, ấy là U Vương.

U Vương say mê tửu sắc, bỏ việc triều chánh, truất phế Hoàng Hậu họ Khương, đưa nàng Bao Tự lên làm Chánh cung, bị Thân hầu (vua nước Thân) là cha của Khương Hoàng Hậu, mượn quân Khuyển Nhung đánh giết được U Vương......

Trong thời cai trị của hai vua vô đạo: Lệ Vương và U Vương, dân chúng vô cùng nghèo khổ, lầm than, giặc cướp nổi lên khắp nơi. Đó là hai vua xấu xa tội lỗi nhứt của nhà Châu.

Cho nên, khi nói hôn quân vô đạo thì lấy hai vua U Vương và Lệ Vương làm điển hình; còn khi nói vua anh minh, dân chúng thái bình thạnh trị thì nói vua Nghiêu và vua Thuấn.

Đạo phục hưng là vì lòng bác ái từ bi của Đức Chí Tôn, thấy cuộc tuần hoàn hầu mãn, cơ dĩ định cận kề, không lẽ để đám con thảy phải chung chịu trong cuộc tang điền thương hải, mà bị chôn lấp cả xác hồn, nên mới giáng thế phục hưng chơn truyền, để chỉnh đốn đời U Lệ trở lại đời Nghiêu Thuấn, cho người rõ đạo đức tu hành, hầu thuận theo Thiên lý mà bỏ dữ làm lành, kềm nhơn dục để xa đường tội lỗi.

(5). Nhu: đạo nho, nho giáo


No comments: