Tuesday, July 5, 2011

II. GIÁC MÊ


Thiên thứ hai

GIÁC MÊ


Tài liệu tham khảo: Tài liệu Hòa Hảo Texas và ấn bản 1964
(Ấn bản 1964 từ tr.34 đến 40)

Quyển này có nội dung khuyến tu.



Audio 5A -5B Texas

1. THỪA NHÀN GẨM SỰ GIÁC-MÊ
Phàm trần thoát khỏi mọi bề mới ngoan
Nợ tiền duyên bồ đề gióng trước
Vẹn một mình mới trọn ba thân
5. Máy thoàn rộng thẩm vô phân (1)
Tri âm lãnh ngộ thấy gần chẳng xa.
Lưới phong ba mấy người chí cả
Khỏi ái hà (2) là họa tiền duyên
Tai nghe mắt thấy nhìn tường
10.Cách nhau một vách mà nên thánh phàm.

Nhờ Bắc Nam dưỡng thân tứ đại (3).
Sao tu hành nào nại thủy chung
Sắt mài đã trọng thửa công
Bửu-Sơn đã tới tay không dễ về.
15. Dốc một lòng lên non đào giếng
Kẻo lời phàm đem tiếng thị phi
Cam lồ rửa sạch tánh mê
Nước trông thì thấy nguyệt kia xa gì
Danh lợi đề đã nên tiếng sãi
20. Lạc ở mình cớ dễ chẳng tan
Súng kia nhắm đạn đề làng
Thiên cơ dễ biết ngộ duyên quân thần.
Đã cầm cân non già từng nhắc
Dạ hai lòng tráo chác đấu đong(4)

25. Lọc lừa thời đặng nước trong
Ma phật trong lòng lựa phải tầm (5) đâu
Mở cửa lầu ra vào ngày tháng
Một ngọn đèn rạng mười phương
Muốn cho thấy chúa tâm vương
30. Vào non bĩ ngạn kiết tường huê khai
Chí dồi mài công phu lừa lọc
Kết tri âm mãng đọc tâm kinh
Kiếp mình thức tử tri sanh (6)
Sá chi dế lỗ đành rành đặng mây
35. Bỏ giống kia mới rằng của lạ
Như bán hàng một giá khó chi
Nhơn nào quả nấy chẳng sai
Ai từng mặt bạc mày chì giống nhau
Bữa cháo rau đã an phận khó
40.Còn hơn người bán chó treo dê
Khát thời uống nước Tào-Khê
Đói ăn ma phạn tối về canh tân
Thiệt kim ngân sá chi lửa dục
Đặng nhiều đồng khéo đúc thời nên
45. Miễn là neo nọc ( 7) cho bền
Gió day mặc gió vững thoàn (8) thì thôi
Đã dồi mài ơn che mặc bạc
Chi cho bằng xài xạc áo tơi
Cớ chi bán lụa đầu hồi,
50. Hội lành nỡ bỏ mà vui chốn nào.


Muốn ăn cơm mận nước đào
Áo dà gậy trúc tiêu giao tháng ngày
Cám ơn Thầy lòng thờ án ná
Mấy ai hầu đặng cá nhớ nơm (9)
55. Có cây mới biết huê thơm
Thoàn chèo đến biển nỡ hiềm đò phu
Một thoàn một bạn ngao du
Làm sao đến biển diêm phù gieo câu
Bỏ sang giàu giữ ba điều khó
60. Lánh khỏi giòng ngọn cỏ mới ngoan

Ngày hằng mở cửa tam quan
Hương gìn (10) đèn đốt cho an tư bề
Nương ngụ nhờ ba căn lều mọn
Kẻo một mình nhọc dọn sửa sang
65. Đi đâu cho khó nhiều đàng
Kìa non Bửu tự nọ ngàn ma ha (11)
Kiểng nào kiểng (12) chẳng có hoa
Non nào non chẳng có tòa Thiên thai
Đất nọ liền mượn cầu ai bắc,
70. Bịnh vô căn phục dược làm chi.


Đừng nghe lời thế thị phi,
72. Làm sao mắt thấy tai nghe lời làm.

KIM CANG KỆ RẰNG
Đạo Phật cùng người chẳng bao xa
Lành làm nên Phật dữ làm ma
75. Quới tiện cũng đua theo đường danh lợi
Nào ai thoát khỏi chốn Diêm-la
Người đời chẳng khác ngựa qua cửa sổ
Thiểu niên rồi trẻ lại thấy già
Chi cho bằng an phận đường nhẫn nhục
80. Ắt là tảo ngộ chốn Di-Đà
Thọ truyền giáo đạo Thích-Ca
Màu thoàn tâm ấn phép nhà nhiệm thay
Chim cò bay trong rừng sương tuyết
Người vô tình chẳng biết dấu xưa
85. Một thoàn vượt biển vô biên
Phàm trần thoát khỏi về miền Tây-phương
Sự chẳng toan dọn đào giếng trước
Đến cơn nghèo khát nước tầm đâu
Những đời điên đảo dối nhau
90. Thiệt vàng thì ít giả thau thì nhiều.


Công đã liệu ăn sương nằm tuyết
Lên non tầm cho biết Kỳ Nam (13)
Việc chẳng làm than thân rằng khó
Của ở đời ai có cho không
95. Phật trời hà dễ tư công
Không tu mà đặng cho thông máy thuyền
Đạo Thánh hiền tầm đâu cho khó
Ai dạy mình mình lại dạy ai
Ngọc nhà luống bỏ chẳng mài

100.Tiểu tâm vì bởi cậy tài nêu xa
Giác suy xa ấy là quân tử
Xét phận mình ngày đủ ba phen
Ai đốt đèn nhà ta đặng tỏ
Kẻ gian tà đâu dám phạm xâm
105. Loài cầm thú còn hay biết ổ,
Huống chi người nỡ bỏ tứ ân.
Trách ai bụng lượng vô phân
Để theo tranh tụng giành phần thịt kia
Trong thấm chì vàng mười thì bỏ
110. Chim ham mồi mắc khó nào hay
Ai trao công quả cho dày
Đất bùn có thuở mọc rày huê sen
Đã gần miền ngắn công chèo lấy
Dại chi sao ngồi vậy chẳng toan
115. Tuy là tấn dị thối nan (14)
Trượng phu kìa hỡi cho bền chí trai
Khối sắt mài nên kim mới kể
Chí anh hùng lấp bể làm non
Sắt lia vào lửa mẻ mòn
220.Gan vàng tiếc đá lòng son mấy người
Sự nực cười nước kia chảy ngược
Bạch hạc bay lượn trước nhành hoa
Trống kia chập bảy chập ba
Trực nhìn dường thấy Bửu tòa Thiên thai
225. Chỉn lạ thay trâu cày đáy biển

Người ta cười hở miệng cùng nhau
Màu thoàn đắc ý cũng mầu
Còn hơn chen chúc công hầu vương khanh
Những đua tranh tiền ma gạo quỉ
230.Của ở đời ai có cho không
Tây phương trước mặt chẳng xa
Cách nhau vì bởi ái hà biển mê
Những chê khen cười nhau lộn xạo
Gẫm ở mình ngay thảo nỗi chi
235. Dốc lòng niệm chữ từ bi
Lấy đao trí huệ cắt đi cho rồi
Bởi giây dùng không bề khó dứt
Sao trách rằng Trời đất không binh
Chớ khen những đảng vô minh
240. Ở mình lại giác lấy mình rằng khôn.

Chốn hải môn ra vào ngày tháng
Giữ lái lèo tốt gió thời hơn
Hay buôn mới gọi nhiều tiền
Điên đầu cũng gọi rằng người làm chi
245. Chốn hải môn lánh mình khỏi trước
Giả chơn như ai đặng nước huê sen
Có công hay học thì nên
Chẳng cầu ai dễ đem quyền tới cho
Ham ăn chim mới mắc dò
250.Lưới mê thoát khỏi ngoài vòng mới ngoan.

Quyết liều mình dồi mài trí huệ
Kẻo bán đồ nhi phế (15) uổng công
Rối tơ khéo gở thời xong
Lọc lừa thời đặng nước trong khó gì
255. Há dại chi nên ai phải dạy
Tới cửa thiền thì thấy Đế-Vương

KIM CANG CÓ KỆ RẰNG
Thủy thanh nguyệt ảnh hiện tự nhiên
Tảo tận trần ai mãn thế duyên
Thủy nguyệt Quan-Âm minh cảnh chiếu
260.Danh như bổn tánh đoạn tiền khiên (16)

Ngâm thôi vào chốn tâm huyền
Nhãn quang định tánh vào thuyền sửa sang.
Lấp ba đường để thông một cửa
Thoàn ra vời mặc thửa long khơi
265. Sớm thời nam tìm dạo chơi
Tối về trước quốc gần đời ma ha
Chốn lâm tuyền ngao du cũng toại
Gẫm hai đường cũng toại vừa hai
Bạn thoàn Bát nhã (17) hôm mai
270. Chơi huê lấp kiểng dồi mài Kim cang
Ba xe lửa đỏ rõ ràng (17 b)
Nước nhà một gáo tưới an tư bề
Nhà gìn để mật ma ha
Phòng khi luyện được để hòa làm viên
275. Chiếc đơn điền dõi (18) miền địa hậu
Cõi vô thường còn để trên không
Vào non ngũ uẩn (19) mới không
Luyện nên linh dược thì lòng mới an
Việc hành thoàn (thiền, thuyền) kể đâu cho xiết
280. Người vô tình chẳng biết chèo bơi
Làm người cho biết sự đời
Tu nhơn tích đức giữ lời thảo ngay
Voi kia ai mượn thày lay
Bởi mình lại khiến lấy giây buộc mình
285. Chốn quang minh về ta hay chọn
Muốn tầm biển ái nguồn ân
Cùng nhau biển ái nguồn ân
Vui chi một phút lửa phàm cháy ram
Đầu đuôi xót lại cho cam
290.Trầm hương thời bỏ son chàm lợi đeo
Vì bỉnh thoại nói rằng thời dễ
Gẫm trong mình như thể cá ươn,
Trẻ thơ dụng lượng khá thương
Có đâu biết sự chiến trường chông gai
295. Mặc ý ai khôn ngoan chèo lấy
Tới liên trì thì thấy huê sen
Sãi mùa lỡ dở tèm hem
Chớ nên sức học dám chen khoe mình
Nôm na lộn lạo sử kinh
300. Dám chê thượng trí dám khinh sãi mùa.

Nên hư chẳng tốn tiền mua
Câu nào đắc ý thì chua vào lòng

LIÊN HUỜN
Riêng chiếm non Bồng một cảnh Tiên
Tu tri phép đạo khác màu thiền
305. Nước kinh rửa sạch lòng trần tục
Phù Phật đành vun kẻ thiện duyên
Sáu ngã quỉ tăng, nhiều chỉ bảo
Ba đường họa phước khắp răn truyền
Từ bi đã có lòng siêu độ
306. Biển khổ sông mê thấy những phiền
Thấy những phiền cho cuộc ở đời
Xa tầm non núi một phương Trời
Huê tươi trước mặt thơm tho nực
310.Thú dữ bên mình nhã nhớn chơi
Nghiêng chén bãi lan vui chốn chốn
Cụm cây trăng Sở dạo nơi nơi
Quen năm giáp tý năm nào cả
Luyện thuốc linh đơn tế độ người
315.Độ người thẳng tới cõi Thiên-Thai
Chẳng nhuộm màu đời có mấy ai
Giày cỏ tới lui Trời đất rộng
Ao sen xài xạc núi sông dài
Kiểng vui ý hiệp son dồi phấn
320.Thú lạ tình ưa đá chẳng phai
Nghiêng cửa cội lòng nghe tiếng gió
Dọc ngang mặc thích thế không hay
Thế không hay có bực người lành
Trên đảnh (đỉnh) mình ngâm chữ thái bình
325.Một tấm lòng nhàn mây sắc trắng
Trăm đường tục lợi nước màu xanh
Dạy đời hằng giữ câu vi thiện
Trường đạo vui theo dạ chí thiền
Cửa Phật trau dồi công đức lớn
330.Ngâm tầm mùi đạo rất tinh minh
Đạo rất tinh minh có dễ đâu
Một Thầy vẫn biết đạo kia mầu
Tụng kinh lạy Phật trừ loài dữ
Họa chú thư phù trị bịnh đau
335.Dụng phép về Tây nương chiếc dép (20)
Cất thân qua bến cởi dây lao
Hòa nam đã thấu công phu nọ
Nên Phật mâu ni thế ngõ hầu
Ngõ hầu trở lại chốn Trời nghe
340. Thong-thả tình dầu uống nước khe.

Mặc ảnh công danh dường dép sút,
Mắt nhìn phú quới thể mây che.
Cây cỏ dưới trên đua chào rước
Thú vật cha con thảy sợ e
345. Miệng đồng ra tay xôi nấu đá
Phật tiên ai biết tấm lòng nghe
Lòng nghe muốn ở đạo tu non
Rảnh việc nào lo nỗi mất còn
Kiểng vật có Trời dành sửa dọn
350. Giang sơn nhiều chỗ tính vuông tròn

Giàu sang cửa tía nghi thềm bực
Cây trái rừng xanh gẫm rất ngon
Đến chỗ đều vui ai tỏ đặng
Bốn mùa phơi phới phấn dồi son
355.Dồi son dồi phấn tốt chi đây
Đâu dám kheo cùng thú dị nầy
Niệm chữ Di-Đà thìn (21) dạ chánh
Soi gương trí huệ cứu người ngay
Bạn cùng nhựt nguyệt vui mùi đạo
360. Dạo khắp sơn khê nỗi dạ Thầy
Ca khúc huỳnh lương (22) thêm khoái khoái
Trên đòi tiền bạc chẳng thò tay
Thò tay lần điểm chuỗi bồ đề
Chẳng biết việc đời gẫm ngỡ quê
365. Nong nả ( 23) non Thần dồi luyện phép
Náu nương cửa Thánh sửa sang nghề.
Giấy tịnh đốt cứu người đau đớn
Nước rửa phun lành kẻ ủ ê
Linh nghiệm hạ trần ai chẳng kỉnh
370. Công ơn đạo đức sánh trùm che

Đức sanh trùm che bực Thành hiền
Đạo mầu nghĩa nhiệm tấm lòng siêng
Lánh nơi thiềng thị tình đời trải
Gặp lúc thái bình giấc ngủ yên
375. Lăng líu (24) tiếng chim kêu náo nức
Rỡ ràng huê nội trổ tiên thiên
Riêng chiếm non bồng một cảnh tiên

GIẢNG XƯA
Làm người kỉnh Phật tưởng Trời
Ơn cha nghĩa mẹ mấy lời đừng vong
380. Trung quân rày đã hết lòng
Cang thường đạo nghĩa giữ đồng đôi bên
Mai sau về đặng cõi trên
Ngàn năm bia tạc tiếng nên để đời
Tam cang dặn bảo hết lời
385. Bằng ai giữ dạ cõi Trời đặng lên.
Người đời sống cũng chẳng bền
Chí công niệm Phật thác lên Thiên-đường
Hiu hiu gió thổi bốn phương
Thầy chưa ra thế cảm thương dân trời
390. Dặn trong thiên hạ mọi nơi
Đừng quen thói dữ sợ đời gian nan
Chừng nào Phật xuất An-Giang
Nhơn dân lục tỉnh thanh nhàn tấm thân
Bảo người niệm Phật cho cần
395. Việc đời đã tới hầu gần tới đây
Mấy người chẳng giữ lời Thầy,
Tới chừng nước lụt thác đầy mọi nơi
Phải toan làm phước thấu Trời
Ai làm hành thiện nạn đời thoát qua
400. Còn người hành ác thậm đa.


Đến chừng thiên hỏa khóc la vang vầy.
Bởi mình chẳng giữ lời thầy
Bây giờ hãn hữu sự nầy hết trông
Phần thời mắc trận đại dông,
405.Đông Tây Nam Bắc đại đồng lấp thây,
Ai mà theo đặng từ bi,
Đến chừng bát loạn (25 ) can gì tới ta.
Giữ lòng niệm Phật Di-Đà,
Thời lên sơn lãnh thấy mà thời hay.
410. Lòng ta dạ dốc thảo ngay,
Lên non sơn lãnh tìm thầy Bửu Châu.
Bửu Châu có đó hết sầu,
Non tiên từ tạ khấu đầu lui ra
Nguyền xin cho đến Láng-bà.
415. Xem trong làng ấy tợ mà Bồng lai.


Lạ lùng chẳng dám hỏi ai,
Biết làm sao thấu Bồng-lai cát đằng.
Đến đây dạ dốc khăng khăng,
Rán mà tu niệm cát đằng trải qua.
420. Ra về dạ lại xót xa,
Cảm ơn người đức ví bằng thái sơn.
Giữ mình cho trọn nghĩa nhơn,
Dầu ai mua oán chác hờn mặc ai.
Đêm ngày tưởng niệm Như-lai,
425. Lòng ta dốc quyết hoài hoài đừng quên.
Hỡi người niệm Phật cho bền,
Mai sau cũng đặng gần bên Phật Thầy.
Nói cùng thiên hạ điều nầy,
Không tu việc tới lên rày đặng đâu.
430. Ngồi buồn nghĩ lại thêm sầu,
Lời Thầy răn dạy ai hầu nhớ đâu.
Trong đời nhiều nỗi cơ cầu,
Nghèo thời khinh dễ giàu thời trọng thay.
Ý người lòng ở chẳng ngay,
435. Nghĩa nhân chẳng có sa nay ngục hình.
Diêm đình lượng rộng thinh linh.
Mấy ai trung hiếu thì mình đặng siêu.
Đến chừng Phật khiến đảo điêu
Nhơn đâu thiên hạ thác nhiều khá thương.
440. Lên đường từ giả thôn hương,
Âm thinh ba tiếng bốn phương mịt mù.
Thầy răn thiên hạ không tu,
Nơi nơi khắp xứ võng dù nghinh ngang.
Đến chừng núi lở đá tan,
445. Bốn phương xao xuyến chẳng an dân Trời.
Dặn dùng bổn đạo mọi nơi,
Thầy còn ở núi tới thời mới ra.
Khuyên trong lớn nhỏ bé già,
Gắng lên cho tới kẻo mà khôn tinh.
450.Mấy người ở thế lòng khinh

Ai mà lên tới thấy linh việc đời.
Đến sau nước dẫy quá vời,
Người ta tinh sợ không lời thiệt hơn.
Hay vầy tầm chốn Thất sơn,
455.Ắt là khỏi nạn chi sờn tới ta.
Đến chừng niệm Phật bôn ba,
Phật không thấy Phật thấy ta một mình.
Bây giờ mới biết Phật linh,
Tam bành lục tặc dục mình không tu.
460.Khiến xui hồn xuống Diêm phù,
Còn nơi thiên hộ mịt mù thấy đâu.
Phần thời thương tiếc bò trâu,
Tổn hao ngại vật biết hầu làm sao!
Dân như cá cạn ở ao,
465. Biết mà tầm bực gò cao nương mình,
Nào hay Trời khiến thình lình
Nhơn sao thiên hạ gập ghình khóc than.
Bao giờ ngọc xuất An-giang,
Thái bình thiên hạ bạc tiền nhiều thay.
470. Nhà nhà no đủ bằng nay,
Nơi nơi lạc nghiệp toại thay tâm tình.
Cửa trời mở rộng thinh thinh,
Bằng ai còn lại thì mình hóa Tiên.
Trong đời thiên hạ tốt liên,
475. Lần theo Đế Thuấn Thánh hiền cũng nên.
Công đồng tam cõi dưới trên,
Những đường thiên lộ xuống lên toại lòng.
Đường Tây, Tiên kiểng song song,
Muôn dân lạc nghiệp toại lòng vui thay.
480. Bằng ai chép để ca tay,
Coi rồi thì biết thảo ngay làm lành.
Thầy còn ở ẩn non xanh,
Bảo người dương thế đành rành thì thôi.
Hạ nguơn đã cận người ôi.
485. Nay ta giáng bút để thôi cõi đời.
Thú vui thanh thủy đời hằng trải.
Ở biển lai minh cải quá giang,
Quốc thới dân khương trang điểm tiếc.
Tận ý đề thơ biết lục nhâm
490.Tâm ngoạt thiền hình tâm nhị giác.
Thập ngoạt huờn lai đáp tam nhâm.
Giáp tý giáp dần thâm quí hợi
Lục ngoạt xuân nguơn đải chánh chung
Láng bà để kiển trung quân tựu
495. Ngọc xuất An-giang hựu thú vui
____

(1).Máy thoàn rộng thẩm vô phân: Máy thiền sâu xa mình không phân rõ.
(2).ái hà: sông tham, ái, là dục vọng của con người.
(3). thân tứ đại: thân người ta cũng như vũ trụ là do bốn yếu tố tạo thành là phong, thủy, địa hỏa
( gió, nước, đất, lửa)
(4).Dạ hai lòng tráo chác đấu đong: Một dạ hai lòng là nói hay thay đổi, không chân thật. Tráo : đổi, thay đổi, tráo : thay đổi ; đấu: cái thưng, cái đấu khi đong; chác: mua , cầu mong. Nghĩa cả câu là thay đổi lòng dạ mà mua bán, hoặc làm việc gian lận.
(5).tầm: tìm.
(6).thức tử tri sanh: biết việc sống chết.
(7). neo nọc: Muốn dừng ghe lại thì phải bỏ neo.(nọc là đóng cứng, găm cứng xuống đất).
(8). thoàn :thuyền
(9). Nơm: dụng cụ bắt cá.
(10). Gìn: giữ gìn.
(11). Ma ha: tiếng phạn nghĩa là rộng lớn.Ma ha Bồ tát: đại Bồ tát.
(12). Kiểng: cảnh.
(13). Kỳ nam: một loại gỗ quý, có hương thơm như trầm.
(13b). Ba xe lửa đỏ: Xem kinh Pháp Hoa, phẩm Thí dụ " Xá Lợi Phất! Như ông Trưởng giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn, vật báu trang nghiêm, an ổn thứ nhất, song ông Trưởng giả kia không có lỗi hư dối. Đức Như Lai cũng như thế, không có hư dối, ban đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sanh sau rồi chỉ dùng đại thừa mà độ giải thoát đó. Vì sao? Như Lai có vô lượng tạng pháp trí huệ, lực, vô sở úy, có thể ban pháp đại thừa cho tất cả chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không thọ được hết.

(14). tấn dị thối nan: tiến dễ, lui khó.
(15). bán đồ nhi phế : nửa đường bỏ giở.
(16).Thủy thanh nguyệt ảnh hiện tự nhiên/Tảo tận trần ai mãn thế duyên/Thủy nguyệt Quan-Âm minh cảnh chiếu/Danh như bổn tánh đoạn tiền khiên: Nuớc trong thì bóng trăng tự nhiên hiện rõ.Đến khi chết là hết nợ trần. Quan Âm Bồ tát chính là bóng trăng sáng dưới nước. Đó là bổn tánh ( Phật tánh), hiểu được như vậy là đã giải thoát.
(17). bát nhã : trí tuệ. Ý nói sớm tối đọc kinh Bát Nhã và kinh Kim Cang, hoặc luyện tâm trí thành bát nhã kim cang.
(18) dõi: Theo dõi. Tập trung tư tưởng tại đan điền, theo dõi hơi thở đến đan điền. Đan điền là vị trí ở dưới lỗ rún khoảng một, hai đốt ngón tay.
(19). ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
(20).Về Tây nương chiếc dép: Truyện Đạt Ma sư tổ viên tịch được chôn ở Hồ Nam. Sau đó một vị tăng đi hành hương ở Ấn Độ về gặp Bồ-đề-đạt-ma trên núi Hùng Nhĩ. Bồ-đề-đạt-ma, tay cầm một chiếc dép, cho biết mình trên đường về Ấn Độ và Trung Quốc sẽ tiếp nối dòng Thiền của mình. Về tới Trung Quốc vị tăng này vội báo cho đệ tử, đệ tử mở áo quan ra thì không thấy gì cả, chỉ còn một chiếc dép.
(21).Thìn: gìn giữ
(22). Huỳnh lương: giấc mộng hoàng lương tức mộng kê vàng. Ngày xưa Lư Sinh đi thi không đỗ, vào hàng cơm nghỉ chân. Có một lão già cho mượn một cái gối nằm. Lư Sinh ngủ và chiêm bao thấy đỗ tiến sĩ, làm quan to, vinh hiển hơn 20 năm, gia đình hưng vượng, con cháu đầy đàn. Tỉnh ra mới biết ấy chỉ là một giấc mộng. Nồi kê nhà hàng còn chưa chín. Ý nói giấc mộng đẹp và ngắn ngủị.
(23). Nong nả: hăng hái, hăm hở, nôn nóng, tích cực.
(24).Lăng líu: vương víu, vương vấn, rối rắm, líu lo.
(25). bát loạn : lộn xộn, rối loạn.



No comments: