Tuesday, July 5, 2011

I. KIM CỔ KỲ QUAN 2



Quyển I KIM CỔ KỲ QUAN tập 2
Tài liệu: ấn bản 1957 & án bản 1964
(ấn bản 1964 :từ trang 7 đến 12, cột 13-24)


Ý CHÍNH
Đoạn này tác giả nhấn mạnh về những thay đổi tại Việt Nam.

13

478.Kiết hung hung kiết xóm làng chẳng an.

Triều dĩ trị dĩ loạn hiệp tan.(1)

480. Hà đắc (2) phú quí dọc ngang sao đời.

Chim có cánh bay khắp trong Trời

Người đời sao khỏi đổi dời thạnh suy.

Phú tứ hải vương đế khả vi.(3)

Bực người sánh đặng lòng khi Phật Trời.


485. Mẹ dạy con tích thiện ở đời. (1957; 21)

Lâm cơ nguy biến Phật Trời độ cho.

Chốn Tây-phương ít kẻ âu lo.

Sa đường địa ngục nằm co (4) kêu Trời.

Sách minh tâm Phật dạy hết lời.

490.Phật sai ác thú trên trời xuống răn.

Họa phước này dấp dới lăng xăng.

Chờ ngày trả quả như trăng khuyết đầy.

Nghĩ Bắc địa lòng tưởng ơn Thầy.

Phật còn mắc nạn người rày khỏi tai.

495.Tội ai làm nấy chịu hỡi ai.

Phật Trời soi xét chiều mai dân nhờ.

Trước ai cho lập tự nhà thờ.

Bắt cha chém đạo bây giờ tội đây.

Giác cuộc đời cho tỏ vạy (5) ngay.

500.Hai đường họa phước tên bay cửa thiền.

Tội về ai nấy chịu chớ phiền.

Dương gian âm phủ qui tiền thượng thiên.

Tam giải (5b) hội xử việc bất miêng (minh).

Thay hồn đổi xác cõi tiên đem về.

505.Một cõi âm sau xử phân lìa.

Dương gian thượng cảnh đem về nhứt đoan.

Cộng tồn thập bát quốc hội an.

Xử tiêu ma quỉ dị đoan tiêu điều.

Chúa xa Tề ruột thắt chín chiều.

510. Tôi còn xa Sở càng nhiều đắng cay.

Phụ bất từ tử hiếu khó thay.

Phụ từ tử hiếu thiệt nay trọn bề.

Một lời nói kết nghĩa nguyền thề.

Báo ân báo oán trọn bề quân thân.

515. Cha lập nghĩa con phải lập nhân.

Phật trời soi xét cầm cân công bình.

Nào biết sao việc thế ép tình.

Buồn thì tưởng Phật vui mình quỉ ma.


Phật trần thế Phật ở đâu xa. (1957; 22)


14

520. Tây phương vọng Phật tại gia chứng rày.

Lòng niệm Phật niệm tháng niệm ngày.

Bình thời không biết Phật rày ở đâu.

Có biển trước lặng lẽ biển sau.

Ngàn trùng nước yếu chảy âu một bề.

525. Nghĩ thân tôi như thể thằng hề.

Vui đâu chuốc đó chưa bề nào an.

Nhiều kẻ dọc cũng nhiều người (kẻ) ngang.

Dọc ngang ngang dọc tan hoang cửa nhà.

Mặc ý ai khi trẻ dối già.

530.Đường chim dấu ngựa chắc mà ở đâu.

Vàng bao đành sánh lộn với thau.

Đúc chì sắc (6 ) bạc giả thau thời nhiều.

Của bao nhiêu (7) sung sướng Ngư-Tiều.

Quán quan (8) tạm đỡ chín chiều công danh.

535.Dò kẻ dại cho biết người lanh.

Thơm tho chẳng dụng hôi tanh sắc tài.

Đua chen chi trâm dắt lược cài.

Tốt xinh chi đó (9) được ngoài mất trong.

Người tu núi kẻ lại tu sông.

540.Tu non tu thị xét trong đạo mầu.

Đạo nào chánh thời đạo làm đầu.

Đạo nào bất chánh qua cầu Diêm-vương.

Sáu ngạ quỉ tuần hội nhà Thương.

Ba đường tội phước âm dương trung trần.

545.Thánh minh Thánh Thần tự minh Thần.

Xem trong Nam-Việt họa gần phước xa (10)

Phật hữu Phật sao lại nói ma.

Ma ma cho đó mới ra nỗi nầy.(10)

Trâu Nhựt-Bổn Nam-Việt bắt cày.

550.Gay go chó sủa ban ngày sủa dai.

Thấy người ta, ta lại tưởng ai.

Ngậm ngùi sự thế phân hai Phật Trời.


Bảy việc hại ba việc lợi đời. (tr.1957, 23)

It dư nhiều thiếu kêu trời chi dân.

555. Thuận ở đời Phật lại sanh nhân.

Hà nhân sanh Phật muôn dân chớ phiền.

Tố hà nhơn vong hậu phế tiền.

Vui chi một cuộc bạc tiền khoe khoang

Chốn Nam-triều quân thánh an bang

560.Nực cười thế sự con quan không nhà

Xiết kể chi chúa trẻ tôi già


15

Lão lai tài tận ông bà xin thương

Phụ tích tài để khổ oan ương

Tử lai phá thế nhà Thương tan tành

565. Khá thôi thôi bớt dữ làm lành

Rồi đây tới đó Phật hành khổ thay

Chim không lồng mặc sức chim bay

Hẹp hòi nước cạn không cây hiệp bầy

Giáp-Tý niên Giáp-Tý định ngày

570.Trời xui ách khổ khổ rày dân ôi!

Phấn nỡ nào phấn lộn với vôi

Sắc chì ra bạc (11) Ngụy-khôi đời nầy

Đường dương gian (12) dễ dấu khó bày

Căm hờn Tàu tặc hại rày Nam bang

575. Tiểu nhơn thắng quân tử thối nan

Quân tử đức thắng tiểu nhơn an hòa

Chí tham vui thánh đạo Di-đà

Khuyên trong bá tánh trẻ già niệm kinh

Kiểng (Cảnh) nào vui Trời Phật tinh minh

580. Tiên thần lạc chí quảng thinh tổ đường.

Chớ tham chí tánh bạo tâm cường

Ngủ mê một giấc quên đường Phật Tiên

Vui say chi việc thế chẳng yên

Ham vui một thuở sầu riêng nhiều ngày

585. Khổ thấy khổ tránh khổ mới tài.

Càng cao danh vọng càng dài gian nan.


Thấy việc khổ gở khổ mới an (tr. 1957; 24)

Bực nào bằng bực giàu sang Phật Trời

Đất rực rỡ trải ngót ( lót?) ( 13) sáng ngời

590. Đền đài cổ tự lập đời hiển vang

Đá (14) sắt mài vàng ngọc vi nan

Quyền cao lộc cả giàu sang để dành

Chẳng tích đạo giữ việc làm lành

Phật không dạy dữ tranh hành (15) dân ôi

595.Bạc bấy bạc thôi thế thế thôi

Nghĩ đời tích ác tích vôi thời nhiều

Thấy tích thiện ruột thắt chín chiều

Thương người trung hiếu Ngư tiều hóa long

Đau lòng súng, súng nổ pháo bông

600. Khác nào buổi chợ khó trông nhóm hoài

Động lòng gỗ, gỗ nọ than dài

Trường xuân lập lại nhóm hoài ngày đêm

Phật không êm nhơn thế lòng êm


16


Phật êm nhơn thế ngày đêm thảm sầu

605. Chẳng nhớ xưa Lưu-Bị đi cầu

Quân sư Gia-Cát lập cầu Kinh-Châu (16)

Thành Dã tân (16) nay ở chẳng lâu

Qua cầu Đông độ Kinh-Châu đem về

Tân Dã thành sau hiệp trước lìa

610. Mưu vương trí chúa đem về Long-Châu

Ruột ai từng cắt ruột không đau

Ngồi buồn nhớ việc trồng dâu để tằm

Người niệm Phật ngày sau ông tầm

Nhớ ơn tứ đại bữa rằm ba mươi

615. Cúng ngũ quả vật thực tốt tươi

Phật trời không dám dễ ngươi việc nào

Đời ma quỉ ăn nói hỗn hào

Phật hiền kêu bậu Phật nào nói ai

Lòng tưởng Phật có Phật Như-lai

620. Đừng đừng khi Phật chiều mai bỏ mình.


Thác không chôn kẻ dữ phơi hình ( tr.1957. 25)

Kên kên quà quạ thây sình mới ăn

Ép cái lưỡi phải cắn cái răng

Ép gan ôm dạ khó khăn giữ mình

625. Thương cho kẻ chơi quán ngủ đình

Thân ai nấy độ biết mình phải không

Chớ nói ai gây oán mất công

Ngặt tình Phật dạy ra công chỉ dùm

Đạo vợ chồng con cháu buộc chùm

630. Ngủ mê thức dậy đứt đùm không hay

Rã rời đâu không biết nỗi nầy

Ai thời cũng giỏi cũng hay xưng thầy

Phật dạy tôi trước tỏ sau bày

Bút thần ký tự để rày hậu lai

635. Mặc thế tình ai dễ ép ai

Đường huê khôn thấu ngàn mai khó tường

Ghét thời cho ăn mật ăn đường

Thương cho roi vọt mới (17) tường việc khôn.

Qua năm Mẹo tôi chết không chôn

640. Ở đời ít dại nhiều khôn não nề

Nói lắt lẻo nhiều việc vụng về

Sao bằng thanh cảnh theo bề con sang

Không dám bì kẻ phú người quan

Dân ngu thời phải lo toan phận nghèo

645. Muốn lên non xuống dốc lên đèo


17


Mắt nhìn thế sự như bèo hiệp tan

Cảnh nào vui thủy bộ cao sang

Ngàn cây muôn cụm dọc ngang muôn nhà

Tới chốn này gần nẻo Phổ-Đà

650. Ma-ha am tự cảnh bà Di De (?)

Kẻ đi bộ người lại đi ghe

Bến đò biển trước súng nghe ầm ầm

Cơn thảnh thơi no đủ ăn nằm

Thung dung trên thế ngọc cầm nỡ buông.


655. Lụy đầm đầm lụy nhỏ uông uông (tr. 1957. 26)

Thảm ưu chí thảm sầu tuôn đoạn sầu

Dạ chí làm sông rộng bắc cầu

Nào hay lâm cảnh (18) mất đầu văng đuôi

Việc thấy nghịch đỡ đặng thời xuôi

660. Cầu Trời vái Phật đem đuôi hiệp đầu

Ai đày con ô thước đội (19) cầu

Qua Phiên cứu chúa công hầu ơn đâu

Ôm dạ thầm ép thửa lòng đau

Càn khôn đại đạo ân sâu độ rày

665. Con có tội cha mẹ bắt đày

Dầu sanh dầu tử ăn mày phải cam

Hội Tân trào nhiều chức quan tham

Bạc ai nấy trả đừng ham dục lời

Đồng bạc hại nhơn nghĩa rã rời

670. Quanh co uốn khúc nhiều lời đắng cay

Sửa kẻ vạy đem lại người ngay

Kẻ ngay làm vạy khổ thay bạc đời

Chê cảnh Phật dụng bạc dạy lời

Đắng mà làm ngọt trải đời lòng riêng

675. Chữ tiền tải phấn thổ (19) đảo điên

Bất như tích đức Mục-Liên giáo lời

Chí cả trai mới đặng trên đời

Phép khuôn lễ nghĩa giữ lời chánh minh

Việc tu hành ai cấm tụng kinh

680.Tụng kinh lòng bất tinh minh tội rày

Đánh mặt trống động chuông hội này

Giác lui giác tới ngủ ngày mê tâm

Giác nỗi thế nhiều kẻ oán thâm

Nỗi sầu nỗi thảm binh âm dấy loàn

685.Sau ơn tổng trước cám ơn làng

Quan quân như hội nhứt tràng nhóm đông

Quan phế đức kẻ dữ phế công


18


Bạc trăm chẳng Phật người không hưởng phần


Ơn báo ơn dĩ đức tấn tần (1957, 27)

690. Tử giai ký tử gia bần tri ân

Tiên tề gia mới gọi tri thân

Hậu tề kỳ quốc chăn dân biên thùy

Tâm bất tri diện phục bất tùy

Du thân thế phu biên thùy đều chê

695. Tử trung cung bất tử thọ huê

Đường dài thăm thẳm ngựa dê luông tuồng

Xem Đông Tây ít kẻ lòng buồn

Nhìn tường Nam Bắc luông tuồng tâm nhơn

Trong hai ngàn xứ biến Thất-Sơn

700. Biến thiên biến địa biến nhơn thay đời

Biến hết thảo mộc lại biến lời

Rã rời thân thể cho đời khinh khi

Phật với Trời chẳng dám nói chi

Dễ ăn dễ nói dễ khi khổ người

705. Người hại người hại tới chín mười

Làm sao tiêu Phật tiêu Trời người ôi!

Gặp cơn khổ niệm Phật quên thôi

Tới cơn có của lấy vôi bôi mình

Trong mười năm dựng nghiệp Minh đình

710. Sông ( Biển ) hồ lai láng mặc tình cá đua

Khúc cay đắng , khúc chát, khúc chua

Kẻ lo bán Phật người mua tượng hình

Thương phận Phật nhiều kẻ lộng tình

Nhà thờ cha dạy thình lình không hay

715. Không nhà thờ cha dạy từ đây

Tranh tài đấu phép ai hay thì nhờ

Khá bủa câu thả lưới đợi chờ

Phật cho tài phép một giờ thoát mê

Cõi dương gian ba kiểng ba quê

720.Ba ngôi ba chúa châu chê nhứt điều

Thương cho người sống ít thác nhiều

Linh đơn Phật rưới mai chiều hóa tiên.


Thầy dạy đời đa bịnh bất khuyên (1957; 28)

Nói ra nhiều kẻ cười riêng chê thầm

725. Nhơn bất trung phi nghĩa mưu thầm

Ma thời lầm Phật Phật nào lầm ma

Một gánh thơm bán ế hôm qua

Nay đem bán nữa Phật ra độ đời (21)

Vật bán ế ngon ngọt nhiều lời


19


730. Bán nài bán tấn bán thời nhục vinh

Đáy biển đông ba hòn quảng thinh (22).

Mương Khai (23) án cửa tinh minh một hòn

Tiền Gia-định cải hậu Sài gòn

Đỉa đeo chơn hạt hao mòn muôn ( nhân) dân

735. Chẳng dạy người phế ác vi ân

Gập ghình trào quốc muôn (nhân ) dân bất hòa

Bất luật điều trẻ lộn với già

Ở ăn khác thể cửa nhà khoe khoang

Cửa Cần-thơ Phật khiến xuất sơn

740. Mỹ-Tho phát hiện ký an một hòn

Một lời thề biển cạn non mòn

Sắt thau mòn mỏi dạ còn phấn son

Đúc chuông đồng thích chí thon von

Núi kia muôn cụm lòng son một lời

745. Truyện Tây minh đèn đỏ sáng ngời

Đồng Nai đăng hỏa chữ ( giữ) lời Tiên-sư

Chớ bán cú đem dạ cầu trư

Muôn lời đổ bể tâm tư bất tùng

Đa phi ngôn chỉ xử anh hùng

750. Xưng vi tự chủ bất tùng thượng sư

Kiển huê tiếng đau dạ ưu tư

Non bồng chớn chở thượng sư cầm quyền

Căm hờn thay phản chúa vong tiền

Tán gia bại sản chùa chiền phiêu lưu

755. Tội khi quân hà hữu vô ưu

Sát tha lục tỉnh oán vu Nam-kỳ


Tác công nghiệp cho kẻ biên thùy (1957, 29)

Quang lầm tích hậu Bửu-kỳ Hương-sơn

Mạc đạo xà vô giác phi ơn

760. Thành ( Thiềng ) lòng chí để Bửu-sơn mưu Trời

Lời dặn dò vi thiện ở đời

Mãng lo thiếu kẻ đổi dời thay vương

Mạt nhà Trụ xử mất nhà Thương (24)

Qui lai Tâybá tứ phương phục tùng

765. Túc văn võ hội chiếm anh hùng

Tam du Hưng-thới tương phù trí tri

Vận bất tề chịu chữ ngu si

Phòng cơ tích đạo trí tri kiệt hào

Ba bực khôn để chỗ nào

770.Dại thời ba bực anh hào ba căn

Khi tối khi lại có trăng


20


Trường sanh nhựt nguyệt hiệp căn đêm ngày

Phần nhớ tớ phần lại nhớ thầy

Tớ an phận tớ nỗi thầy phương nao

775. Đường sanh tử đáy biển cù-lao

Sống đi hành khất thác bao nỗi thầy

Chốn du long xử tử đem đày

Tớ xa đài các sao Thầy ly môn

Dại một đứa dại hết cả phồn (25)

780. Trường đồ mã lực biết khôn sức người

Bạc thời dụng phụ rãy vàng mười

Ngửa nghiêng trong dạ tức cười ngoài môi

Nữa không nữa thôi cũng không thôi

Giữa vời sóng bổ chúa tôi nhiền nhừ

785. Quỉ xử quỉ Phật chẳng thèm trừ

Tà thần cảm chánh Phật trừ ma ra

Một kiểng Tiên niệm Phật ngân nga

Sao không tưởng Phật tưởng ma vào (nhập) tình

Lòng niệm Phật bỏ dữ trong mình

790.Bỏ ngang bỏ dọc ép tình công phu.


Gắng thường hành niệm Phật rằng tu (1957, 30)

Chí tâm mài sắt rừng nhu lờ mờ

Tu nhứt kiếp ngộ Phật nhứt giờ

Tu trì giữ đạo mờ mờ đi đêm

795. Núi biển ít sau lại nổi thêm

Đồng Nai, đất Bắc(26) không êm núi nào

Nghĩ tới đâu ruột thắt tâm (gan) bào

Mắt nhìn bá tánh hỗn hào chỉn ghê

Khổ chốn kiểng sao khổ chốn quê

800.Thoát trong trần thế chỉn ghê Diêm-đình

Tiêu tứ điện bốn nước lộng tình

Qui lai nhứt thống nước mình chăn dân

Tiên xử kỷ hậu xử bỉ thần

Ở trần bất chánh bất cân tội hoài

805. Lo việc hậu mới đặng lâu dài

Ngày sau nhiều kẻ phép tài trí tri

Đứng anh hùng vàng đá nài chi

Ngay vua lòng sắt trí tri lạc lòng

Đường tử sanh như đá chập chồng

810. Cheo leo duyên thiện nặng lòng âu lo

Ăn cơm trời bữa đói bữa no

Khó lo phận khó giàu lo phận giàu

Người không phải trái bí trái bầu


21


Công danh chi nữa nỗi sầu tới đây

815. Nắng cạn nước thấy cá mới hay

Hào sâu khó lấp nổi thây chánh tà

Lời hằng nói đừng có xưng già

Thố long xuất thị nước nhà an khương

Tiền qui Châu hậu lập nhà Thương

820. Trụ vương xuất thế xử ương nhơn trần

Tố vi vương nan thị vi thần

Bơ vơ tôi chúa cõi trần chắt chiu (27)

Đấng quân tử xử người quần yêu (28)

Tiểu nhơn tranh thực phi diêu chẳng còn.


825. Dao mài đá năng liếc năng mòn. (tr.1957, 31)

Nhiều cha nhiều chú con còn góa lâu

Trước kén rể sau lại kén dâu

Hội đồng thẩm án đâu đâu hội tề

Thượng minh lý hạ thuận một bề

830. Thuận dâu thuận rể đặng về Tây phương

Đổi nhơn vật hết oan ương

Qui tề lập hậu khó thương bạo tàn

Thấy chòm ong vỡ ổ bay tràn

Cảm thương lê thứ bạo tàn bất sanh

835. Cảm thương phụ hoàng họa thể liều tranh

Cõi trần lỗi thế bia danh hành hình

Thoát sông mê cho giỏi tu hành (29)

Rửa nhơ kẻ tục sạch mình mới ngoan

Phật tùng nho giả xuất an lòng

840. Văn nho bất Phật không ngoan bất Trời

Hiếu chí thiên ai dạy để lời

Minh tâm khắc cốt Phật Trời ở đâu

Chữ tích thiện phùng thiện mấy câu

Tích ác phùng ác ở đâu để lời

845. Ơn Thánh nhơn chỉ bảo mới đời

Mai chiều thấy đó coi lời dở hay

Kẻ tu mặn người lại tu chay

Có Trời có Phật vạy ngay mới tường

Khá bỏ lòng tánh bạo tâm cường

850. Noi theo Thánh đạo dò đường Phật Tiên

Đố ai trừ cho đặng giặc Phiên

Họa Trời gởi đó Thánh Tiên khử trừ

Đại hùng đại lực đại từ bi

Phép nào qua Phật dễ khi nhiều lời

855. Sức Tề-Thiên Đại-Thánh khi Trời


22


Phật Bà thâu phép giỏi đời bao nhiêu

Ngày bất tri thiên địa trừ yêu

Tam nhơn xuất Thánh tùng Nghiêu trị đời

Tam Thánh nhơn xuất hậu tri Trời (tr.1957, 32)

860. Tri nhơn tri vật tri lời bá gia

Tri hậu thế thi việc tà ma

Tri tiền trung-quốc tri ra Phật Trời

Tri người trung kẻ nịnh y lời

Tri trong thế giới tri thời càn khôn

865.Tri vạn quốc chi sĩ mưu tôn

Thương người trung hiếu tri khôn tiền đường

Nay Ha-ngươn soi xét minh tường

Kỳ lai cứu chúa Hớn đường qui châu

Nhìn tam châu sự thế chẳng lâu

870. Hậu tam tiền nhị qui Châu nhứt trào

Nhớ Tiên sanh quỉ cốc tâm bào

Tiền Đường hậu Hớn chỗ nào cũng thương

Người trung thần nhiều nỗi tai ương

Đắng cay chua xót nhà Thương hội nầy

875. Thương cha ghẻ con ghẻ mắc đầy

Chúc ngôn thọ giáo trước bày lời răn

Mình hại mình nói việc có căn

Nước nào hại nấy lăng xăng trở đời

Thương với nhau thương miệng thương lời

880. Tìm tâm giết thác trong Trời biết bao

Hậu nhứt thinh (30)tiêu hết cù lao

Nhị niên chí khổ đề lao (31) chen người

Nỗi sầu bi thấy việc tức cười

Họa đâu chưa có thấy người đa mang

885. Kiểng Phật Trời nay chẳng đặng an

Bá gia bá quốc tiêu tan chẳng còn

Lòng than ôi mệt mỏi hao mòn

Dấu y như dấu dạ còn hồ nghi

Nhơn hữu thịnh trào quốc dĩ suy

990. Nước nào cũng vậy lượng ( huống ?) chi nước mình

Quốc hữu suy vọng cáo thiên đình

Thời thin ( thần) vị đáo hữu tình châu minh.


Lưới Thiên cơ bủa khắp quảng thinh (32) (tr.1957, 33)

Đạo lành học đặng tinh minh dễ gì

995.Hơi Kỳ-Hương thơm nức biên thùy

Ưu quân ái quốc dỉ tùy Phật (Thánh) Tiên

Lỗi Vương đạo Thánh đạo sao yên


23


Ngôi hoàng phế quốc sầu riêng một mình

Vi nhơn nan qúy thị nhơn tình

1000. Diện tuy đối diện tâm tình cách sơn

Phật ghét Phật niệm Phật phi ơn

Phật ma ma Phật sát nhơn lao tù

Trời ghét Trời mắt sáng mà mù

Đạo Trời sao nói Phật Trời phù vân

1005. Xét chỗ nào lỗi Thánh lỗi ân

Thiên tru địa lục du thân bất tồn

Kiểng Hạ-ngươn sóng bổ đầu cồn

Giữ thân cũng khó giữ hồn cũng gay

Chua với chát mặn ngọt đắng cay

1010.Cọp tu thấy cọp, cọp bay thấy rồng

Lỗi quân ân lỗi đạo vợ chồng

Lỗi nhơn lỗi vật lỗi lòng thiên san

Lỗi phụ tử huynh đệ bất an

Chuối non dú ép sau mang thúi buồng

1015. Mối chỉ tơ rối rắm trong cuồng

Mực tàu nẻ thẳng lòng buồn sầu riêng

Lỡ dĩa mực cũng lỡ bút nghiên

Khổ thời thấy khổ sầu riêng trong lòng

Da trái bưởi ruột lại trái bòng

1020. Người dưng khác họ một lòng bà con

Sàng nhiều dần nhiều nỗi thon von

Lọc lựa gạo cội như son đỏ điều

Ít ai lo Canh-mục Ngư-Tiều

Phật Trời dạy bảo cũng nhiều nhiều hung

1025. Giác Thanh-Đế chí gái bất trung

Mục-Liên thiểu lộc Tiên cung lãnh ( giảm) phần.


Đọa xuống trần thủ chánh xử trần (tr.1957, 34)

Hội nầy Thầy dạy các (khác) phần tu riêng

Biểt khát nước đặng tắm nước Tiên

1030.Không trau (33) việc Thánh nước đen đục ngừ

Lóng tai nghe mỏn chốn thiền từ

Ngẩn ngơ cổ vảng đục ngừ kim lai

Đường thời trống mắc mỏ chông gai

Rẻ rề mắc đắng chiều mai coi đời

1035.Người cãi Phật kẻ lại cãi Trời

Gió day mặc gió mưa thời mặc mưa

Thương Phật Trời nhiều kẻ chẳng ưa

Nhà hoang vô chủ khó thưa hưởng phần

Xét nỗi xa xét lại nỗi gần


24


1040. Từ năm Tân-Hớn định phần chưa xuôi

Việc Thầy vui đệ tử mới vui

Thầy buồn đệ tử phải xuôi lòng buồn

Có vui chi đờn địch thơ tuồng

Tôi Nam chúa Bắc như guồng rối tơ

1045.Nghĩ mà coi tôi chúa bơ vơ

Chừng nào gở được mối tơ hết sầu

Chốn Tam-Châu dạ giốc bắc cầu

Vì ai kết oán gây sầu từ đây

Chim còn sầu nhớ kiểng nhớ cây

1050. Làm người bao nỡ vỗ tay reo cười

Việc oan gia nghỉ giặc làm người

Thù thâm tích oán hại người lao xao

Nuôi con khỉ khỉ múa làm sao

Rằng người trí huệ thấp cao ở đời

1055. Việc nên hư hệ ấy ở trời

Chí tâm báo bổ để lời tinh minh

Đức chúa Trời rộng lượng thinh thinh

Phật ngài đại độ mình minh cõi trần

Trước phần thơ khanh sĩ nhà Tần (34)

1060. Tiền tồn hậu thất hiệp phần Hớn gia.


Hậu Minh-hoàng đày Phật phế cha (1957, 35)

Nhà thờ phá hết cha (35) ra yếm tài

Hậu Bắc địa tứ trấn cõi ngoài

Nam-bang đại quốc lâu dài trường sanh

1065. Tội Đại-Thanh bán tự bán tranh

Họa hình bán Phật bất sanh chín phần

Đại phú-quốc phế tự hậu bần

Chữ mà chùi đít cửu phần bất sanh

Việc Nam-bang nhiều kẻ khôn lanh

1070. Thất phần dư tứ thiểu sanh tam ( ba) phần

Thấy việc xa chẳng biết việc gần

Việc Nam còn mấy việc Tần như nhau

Đất Bắc-kỳ sau lại ruộng sâu

Mười phần thác chín khó âu cho người

1075. Cận việc thế thấy khổ ( ngó thấy) chớ cười

Tài hay sức mạnh xin người thi ân

Ai có tài bổ đức chăn dân

Phước Trời soi dấu muôn dân đặng nhờ

Chữ công danh sớm đợi tối chờ

1080. Nước xao vì gió sao lờ vì mây

Trời khiến xui ách nước từ đây.


_____


CHÚ

Đoạn này tác giả nhấn mạnh về những thay đổi tại Việt Nam.

(1). Triều đình thì có lúc trị, lúc loạn. Ai mà được phú quý...

(2). Bản 1964: Huống người

(3). Giàu bốn bể có thể làm vua.

(4).Bản 1957 :cho

(5). vay: không ngay thẳng, gian tà.

(5b). Tam giới: Theo nhà Phật, tam giới là dục giới, sắc giới và vô sắc giới.

Dục giới gồm Ngạ quỷ, Địa ngục, Loài người, Súc sinh ,A-tu-la và một số cõi trời .
Sắc giới là các cõi trời cao hơn cõi trời dục giới. Vô sắc giới gồm các cõi thiền như Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ ,Vô sở hữu xứ ,Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
(6).Bản 1964: thiếc

(7).Bản 1964: lâu

(8).Bản 1964: thông

(9).Bản 1964:mấy

(10).Hai chữ "phước xa" bản 1957 xếp lộn xuống câu 548. Như vậy, đoạn này bản 1964 đúng.

(11).Bản 1964: Thiếc chì ra ngọc

(12).Bản 1964: gian nan

(13).Bản 1964: chang chang trải lót; bản 1957: đất rực rỡ chảy ngót sáng ngời.

(14).Bản 1964:Khối

(15).Bản 1964: dành

(16).Lưu Bị ở thành Tân Dã, Kinh Châu là vùng đất chiến tranh giữa Ngụy Thục Ngô.

(17).Bản 1964 : sau

(18).Bản 1964 :ném gánh

(19).Bản 1964:bắc

(20).Bản 1964 ghi: làm điên. Cả hai bản ghi "phấn khổ". Thiết tưởng "tiền tài phấn thổ" mới đúng theo thành ngữ "Tiền tài như phấn thổ , nhân nghĩa tự thiên kim ".(Phấn thổ: đất bụi)

(21).Bản 1964:Nay đem bán lại Phật ra xử đời

(22).Bản 1964: Đoái biển trước ba hòn quảng thinh

(23). Ấp Mương Khai ở Trà Vinh. Ấp Mương Khai ở đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ.

(24). Tam Đại bên Trung Quốc là Hạ, Thương, Chu. Vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương là 2 vua bạo ngược vô đạo, hoang dâm nhất trong lịch sử Trung Quốc. ..Lúc bấy giờ Cơ Xương (1090 TCN – 1050 TCN), người đất U thuộc tỉnh Thiểm Tây, cha là Cơ Quý Lịch một vị tước bá bị vua giết hại, sau Cơ Xương được nối nghiệp bá của cha, tức Tây bá, nổi lên diệt vua Trụ, lập nhà Chu, tức Chu Văn vương.

(25).Bản 1964: một môn

(26).Bản 1964: Bắc địa

(27).Bản 1964: dạt xiêu.

(28).Bản 1964:Vạn quân tử xử đắc quần yêu

(29).Bản 1964: tình

(30) Hậu nhứt thinh tiêu hết cù lao: Nhất thinh tức nhất thanh. Sau một tiếng nổ,cù lao mất

Trong KCKQ, tác giả thường dùng nhất thanh, tam thanh (thinh) là tiếng nổ lớn.

(31). đề lao : nhà lao, nhà tù, nhà giam, khám...


(32).Quảng thinh: khoảng không, không trung

(33).Bản 1964: chưa

(34). Phần thơ khanh sĩ nhà Tần: Tần Thủy hoàng đốt sách, chôn học trò.

(35).Bản 1964: Thầy








No comments: