Saturday, July 16, 2011

VII.THỪA NHÀN 1



KIM CỔ KỲ QUAN
Quyển thứ bảy

THỪA NHÀN
tập 1
tr.141-193; cột 1-22.
Tài liệu tham khảo
audio 6A Texas, và ấn bản quốc ngữ 1964




THỪA NHÀN

1

1. Thừa nhàn dạy kẻ còn thơ
Đến chừng đầu bạc ngẩn ngơ trong lòng

Ta đâu phụ rãy con rồng
Trạng quân hiếu phụ trong lòng vốn không

5. Tu thời dưng của trợ công
Lôi ra mà phá người không biết gì

Ham ăn ham ngủ li bì
Nói ra chẳng kỉnh chẳng vì đại nhân

Là người chẳng xét chẳng phân
10. Ba đời tám kiếp phi ân luân hồi

Chẳng biết chỗ ăn chỗ ngồi
Càng ngang càng dọc có rồi chẳng không

Đem lòng kể của kể công
Kể từ sinh trấp (1) theo Ông mấy đời

15. Có dân có Phật có Trời
Không dân không Phật không Trời không vua

Trái đời rẻ bán mắt mua
Nói người nghĩ lại phải thua thiệt thà

Có cháu mới có ông bà
20. Không con ai lại kêu mà mẹ cha

Chữ dân là ruột quốc gia
Có dân mới có làm ra Phật Trời

Ăn theo thuở ở theo thời
Cẩn ngôn cẩn hạnh giữ lời mới tu

25. Chớ kể công trận đa thu (2)
Mà lòng chẳng có chí tu chút nào

Có chí ăn nói hỗn hào
Tầm sư học đạo chỗ nào hiếu trung

Thầy xưa không dạy việc hung
30. Dạy lòng nhơn nghĩa hiếu trung ở đời

Giác mê cạn lẽ cạn lời
Phụng ân tứ đại để đời cho ai

Lập đề ba sáu ra thai
Tầm sư phát nguyện đố ai trúng đề

35. Thôn sơn bạch hổ trở về
Chỉ dắt may gặp trúng đề bằng ba

Lãnh nguyện người phải bàn ra
Mỗi đề môi trật tận da tận hình

2

Đề nầy đề chí trung bình
40. Ai mà bàn trúng đắc tình quả tu

Đề treo biển thánh rừng nhu
Ngao đầu chiếm bảng trung thu lập đời

Cẩn ngôn cho vẹn thửa lời
Khá tua cẩn hạnh ở đời mới nên

45.Phiền người văn học vội quên
Đạo lý tối đại rất nên nhiệm mầu

Vi thiện tối lạc nan cầu
Chớ lo nghèo khổ đem sầu giúp nhau

Chẳng lo minh chánh cao sâu
50. Tang du lâm địa (3) khó âu nhơn trần.

Hoàng thiên sanh ngã đại thần
Giáng lai địa hậu hưởng phần lộc cao

Bất tề phải chịu lao đao
Nhứt tâm hành đạo khổ lao chi sờn

55. Vi phú kiến nan dạ hờn (4)
Vi lương kiến ác chẳng sờn dạ tôi

Xá phú cầu bần mà thôi (5)
Xá gia cầu đạo lòng tôi tôi tường

Thấy người ăn ở phi thường
60. Giàu ham giàu nữa bỏ đường cao sâu

Lòng người niệm Phật chí câu
Bất ưu bần tiện mới âu đạo mầu

Niệm Phật lòng muốn làm giàu
Tây phương Phật thấy âu sầu nhơn nan

65.Thần minh ám sát nhơn gian
Thần mục như điển ngọc ngang kên trời

Chư Tiên tuần vãng dưới đời
Xem đường tội phước người thời ngay gian

Vì nhơn nan cá nhơn nan
70. Biết đường vinh nhục lo toan nỗi mình

Miễu linh chẳng dám lộng tình
Chùa hư nhiều tiếng bất bình dọc ngang

Niệm Phật đói rách đừng than
Đói rách mà trách nhơn gian Phật phiền

75.Thân tôi lâm tử huỳnh tuyền
Vì chưng ân oán kết phiền còn đây

3

Dương gian chê Phật chẳng hay
Để tôi ở lại đầu tây báo thù

Hàm oan không tội ở tù
80.Thiệt gian khỏi hại võng dù nghinh ngang

Kẻ thời không tội chịu oan
Thiệt gian khỏi hại chưa an lòng phiền

Niệm Phật ham bạc ham tiền
Niệm sao tiêu quỉ tiêu phiền tiêu ma

85.Niệm sao tiêu ách nạn ta
Niệm sao khỏi chốn Diêm la thăng đường

Bỏ lòng nghịch bạo cang cường
Tùng tâm Tiên Thánh mới tường chữ dân

Việc đời ai biết thời phân
90. Tôi nay như thể đứa dân tầm khùng

Nói ra ai cũng chẳng dùng
Ai ai đều cũng xưng hùng biết hơn

Ra lời chỉ nẻo làm ơn
Người đều nói việc biệt hơn phận mình

95.Đây không ép đó ngặt tình
Đó hay đó biết thời mình nhịn thua

Lo đền ơn chúa nghĩa vua
Mặc tình thế sự tranh đua cang cường

Tuy người niệm Phật thường thường
100.Lòng không qui chánh khó tường Phật ma.

Tiêu Trời biến Phật thiết tha
Làm người không mẹ không cha dễ gì

Xem trong Lục tỉnh Nam kỳ
Lòng không tưởng Phật tâm tuỳ quỉ ma

105. Niệm Phật cải ác xét ra
Cải tà qui chánh Phật ma tri tình

Nghĩ thôi thảm thiết việc mình
Châu rơi lả chả động tình sầu riêng

Tiếng đời thọ nhục khùng điên
110.Minh tâm tiên Thánh thiên Tiên cho mình

Chẳng nghe Lương Võ (6) tu hình
Làm sao Phật cứu bất bình như đây

Tích đức thì đặng ra tay
Ai mà tích ác dữ nay đến mình

115.Cõi trung cũng có thiên đình
Trì mưu quân tử ẩn hình Phật trao

Phụ hề sanh hề ngã cù lao (7)
Mẫu hề cúc ngã thâm cao tâm hình

4

Hiệu thiên võng cực ân tình
120. Ân thâm dục báo thời mình mới hay .

Xuất ngôn vô độ khó thay
Nói sao mười chuyện không sai một lời

Chớ than chớ trách Phật Trời
Bụng làm dạ chịu đừng lời trách ai

125. Tích thiện phùng thiện huờn lai
Tích ai phùng ác nào ai hại mình

Cường tâm làm dữ bất bình
Hại người mình lại hại mình không hay

Chí bằng lòng ở thảo ngay
130. Gian tham tà nịnh khó nay phận mình

Người ngay Trời Phật chứng tình
Người gian trời Phật xử hình khó phân

Thương người khác thể thương thân
Ghét người khác thể vun phân cho người

135.Chuyện ai mình lại nói cười
Chuyện mình biết sạch đủ mười hay không

Chẳng xét thiếu việc dư công
Công đâu nói chuyện mình mông uổng lời

Mất chín chuyện phải ở đời
140.Giữ sao cho vẹn mười lời thảo ngay

Sợ Phật tiêu dạ tiêu thây
Nhiều lần thức chí lời ngay ở đời

Ở sao chẳng chánh một lời
Thinh không Phật hiện phép Trời mây mưa

145. Miệng lằn lưỡi mối liền ưa
Hoàng thiên hữu nhãn lưới thưa bủa vòng

Xét sao nói Phật dụng lòng
Xung xăng mặt khỉ đèo bòng con dê

Năm canh hồn thả về quế
150. Ngày mang sáu khắc phu thê lo làm .

Chẳng dụng đức Phật dụng phàm
Huênh tay múa miệng lo làm lo ăn

Chẳng lo tích thiện qui căn
Chúa Trời mắc tội lăng xăng nêu đời

155.Chẳng nghe chớ trách Phật Trời
Nay đà cạn lẽ cạn lời tỏ phân

Tả mạng hữu mạng hộ thân
Chánh thời ghi chánh tà phân ghi tà

Phật thần đại độ hải hà
160. Chánh mà độ chánh gian mà độ gian

5

Phật tri tâm phúc trung can
Tâm trung xuất khẩu tà gian chiếu thần

Bất kỳ gia phú gia bần
Vu thân tà chánh Thánh Thần cầm cân

165. Ba lần dạy đủ nhơn dân
Chẳng nghe thì đọa tỏ phân tận tình

Thương dân kẻ khó cơ bình
Giàu sang phú quí ngặt tình về đâu

Một năm chẳng niệm một câu
170.Làm sao thấy Phật ở đâu độ mình

Thảm thương nhơn tánh nhơn hình
Cho nên mới dạy nhơn tình ở ăn

Đừng lòng tham đó bỏ đăng
Chơi lê quên lựu chơi trăng quên đèn

175.Chẳng chê kẻ khó nguời hèn
Chê người sớm phụ tối đèn lăng xăng

Có làm thì mới có ăn
Không làm thời nhịn cắn răng mà nhìn

Có công người mới gọi tình
180. Không công không tích không hình không ăn.

Khó người mộc bổn qui căn (8)
Đời nầy người thiệt lo ăn lo làm

Quân kia vô tướng tiếng đàm
Hổ vô đầu hổ ai làm nấy ăn

185.Chẳng lo búa nhựt rìu trăng
Thú tùng nhơn xuất thủ căn xác hồn

Lâm nguy bốn phía ép dồn
Thân như cây mục mé cồn sóng xao

Bao nài vạn khổ thiên lao
190. Chừng nào gặp nước cá ao vẫy vùng

Nghĩa nhân phải xét cho cùng
Ngày sau mang tiếng nằm mùng lo ăn

Muốn cho tứ hải nhứt căn
Nhứt tâm mới được hưởng ăn cơm Trời

195.Tức tối cho kẻ ở đời
Nói ngay chẳng dụng dụng lời nói gian

Gặp khổ mắt khóc miệng than
Hết cơn đói khó dọc ngang kêu Trời

Trăm dạ dỉ đoạ trăm lời
200. Làm sao theo đặng cảnh Trời thanh minh.

Đức trọng thì quỉ thần kinh
Làm người giữ đặng chánh minh theo Trời

6

Thượng giái mắc đoạ xuống đời
Làm người tưởng Phật tưởng Trời đức tin

205.Anh hùng hội chí tâm linh
Thánh xưa để sách để kinh làm gì

Chữ thương Nhân Nghĩa nan kỳ
Chữ thương nô bộc biên thùy thiếu chi

Tích đức kiến nghĩa bất vi
210. Tích tài kiến ác khả khi bất tùy

Thương nhau chữ vị là vì
Ai thì như nấy biên thùy thiếu chi

Phật suy tám nạn người khi
Đất vua tứ hải vận suy nan kỳ

215.Dạo đi dạo lại biên thùy
Đủ ba lần dạo nhơn tùy thân an

Chẳng nghe lời giáo tiêu tan
Việc lành mà bỏ sao an thân người

Phật lo cứu thế độ người
220.Người không độ Phật chê cười dại ngây

Vọng cầu Trời Phật phương Tây
Đáo lai Nam-việt đời nay độ người

Việc dữ dư chín dư mười
Việc lành chẳng đặng một người vẹn thân

225.Một dữ làm được mười ân
Mười ân sợ hết giữ thân còn hoài

Thân con lao khổ chớ nài
Thân cha mắc đọa nằm dài khó than

Chừng nào Trời Phật định an
230. Mặc tình bá tánh dọc ngang ở ngoài

Chớ ham chơn hớn chơn hài
Đời nầy khổ tới khổ hoài dân ôi?

Chúa Trời tha tội chúng tôi
Nam-mô bồ-Tát thương ôi đức Thầy

235.Gian nan Kỷ-dậu lại rày
Nhị ban nhẫn nhục lầm Thầy thương ôi!

Một nước cai trị ba ngôi
Tàu, Tây không ngặt ngặt thôi Chà-và

Phật Trời rộng lượng hải hà
240. Lưới thưa bủa khắp chánh tà hậu tri

Đáo đầu thiện ác một khi
Chỉ tranh trì tảo thức tri chánh tà

Tai nghe mắt thấy án tòa
Phải lời sao khẩu người mà phiền riêng

7

245. Vận nghèo mối nước đảo điên
Thấy nhiều chỗ ngặt sầu riêng một mình

Lại đây trả quả ngặt tình
Thương người chẳng nghỉ việc mình lâm nguy

Biết mà ỷ thế mới khi
250. Không biết chẳng ngặt sầu chi phận mình.

Thở than thân khổ tâm tình
Mãng lo hoạn nạn việc mình tới đây

Nói lạ là lạ đời nay
Thuở xưa ở cũng như đây ra lời

255.Tùng tâm Tiên thánh Phật Trời
Không ai ở lạ như người đời nay

Nói vạy người lại chê ngay
Sau còn để tiếng lập nay xưa tà

Mãn cổ lập kim thiệt thà
260. Nhơn hoà thiên địa thuận hoà an khương .

Châu Đường qui Tống Hớn vương
Cang cường chi mạo tứ phương phục tùng

Bá quan văn võ anh hùng
Không ai nói chuyện tầm khùng như đây

265. Sau có đạo núi tài hay
Xuống [trần, độ] thiệt may phép tài

Mặc tình quan thứ trong ngoài
Ai giỏi có phép có tài thì theo

Sơn lâm điểu tích quạnh queo
270.E người lâm dạ mang eo sụt sùi

Tay tôi có ngón như cùi
Nghĩ thôi như thể trái mùi trên cây

May mà trôi nổi đến đây
Lấy chi báo đáp thương thay như cùi

275. Giỏi chi đao sắt chém ruồi
Gươm linh buộc chỉ ngậm ngùi cheo leo

Cọp thiệt bất úy hùm beo
Sợ vương lưới nhện mang eo chỉ mành

Chẳng xem đạo đức tu hành
280. Trung ngôn lễ nghĩa làm lành khôn lanh.

Có đục mới có việc thanh
Có trong có đục có lanh có khờ

Tôi nay túng tiếu nước cờ
Nhìn tường nước bí vật vờ lòng lo

285. Nào hay đường ngựa quanh co
Pháo xe chẳng đỡ sĩ lo quân hành

8

Sợ việc làm dữ chẳng lành
Đời đầy như thể chỉ mành treo chuông

Diện ái tâm ố lụy tuôn
290. Oán người đón núi, đón truông hại người .

Phúc (7) đau lụy mắt miệng cười
Nhiều người mắc kế nhiều người trúng mưu

Hạ nguơn tồn tích oan ưu
Vô ân bạc đạo toan mưu điếm đàng

295. Chẳng thèm gia đạo xóm làng
Bội phu phản chúa gọi chàng Thiên luông

Thoại Khanh (8) dắt mẹ qua truông

Ít người xử nghĩa lụy tuôn mẹ chồng

Làm người cho biết đạo đồng

300. Tương tề nội ngoại đừng lòng phụ vong.


Làm trai chí cả đờn ông

Đừng phụ bên vợ cũng không nên người

Vọng thân vạn đợi vàng mười

Vàng mười vọng đợi kế người quới ban

305. Có nội có ngoại hiển vang

Đừng khinh đừng trọng mới an đạo nhà

Ở sao thảo thuận trẻ già
Phu thê nhứt tánh hiệp hoà nước non

Đời hằng bán cháu nuôi con

310.Có ai nuôi cháu bán con mà rằng.

Máu ai thịt nấy thời bằng

Kẻ đôi ba vợ người cằn không ra

Gọi rằng đời quỉ đời ma

Bất thuần nhân vật lý ca nói cười

315. Giác đời nhiều nỗi tức cười

Chưởi con chưởi cháu thiệt người không suy

Thương đời tử biệt phân ly

Xác phàm nhãn nhục khinh khi xác phàm

An giang vinh nhục tiếng đàm

320.Để coi trần thế nhơn phàm hóa Tiên

Thiên cơ vậu thế lưu liên

Nhiều người dễ Phật khi Tiên mới lầm

Bất ưu tam thập than thầm

Bất ưu thập ngũ ăn nằm chẳng suy

325. Phụ từ tử diệc hiếu chi

Phụ mẫu bất thiện con đi đường nào

Cha dữ sanh con hỗn hào

Cha lành con dữ khác nào ít hơi

9

Nghĩ đời chưa đặng thảnh thơi
330. Tai nghe mắt thấy thì hơi đặng dài

Gắng công hoà vận thơ bài
Lập thành chí cả sách ngoài gia công

Có mắt thời cũng như không
Lỗ tai không điếc cũng không nghe gì

335.Nói chơi nhiều tiếng lạ kỳ
Tai nghe mắt thấy biên thùy mệt hơi

Ngồi buồn giác thế mà chơi
Đời này nghĩ cũng mệt hơi nói đời

Đời chẳng kiêng Phật kiêng Trời
340.Giác lành sao đặng nói đời sao khuyên

Khi nhơn tất tự khi thiên
Đời này khi Thánh khi Tiên dễ gì

Nhóm nhau rượu thịt li bì
Nói ma nói quỉ có gì mà lo

345.Nghỉ thôi nhiều nỗi cay co
Đêm khuya tuôn lụy sầu lo việc đời

Mất mối trời tối rã rời
Lần lần nẻo tắt dò thời đường quanh

Cám phiền phận chị nỗi anh
350. Nhà trống không thức mà canh mất đồ

Mắc mưu chú Nhẫn chú Hồ
Truông mây chiếm cứ giật đồ ăn no

Giàu nghèo chưa chắc đừng lo
Hội nầy nhà ngói của kho chẳng còn

355. Gian nhơn liếc mắt chìều lòn
Cơ thâm đạo tặc phải mòn khó lo

Giác đói giác tới việc no
Làm người sao chẳng âu lo lại hờn

Xuân ai như đọc bản đờn
360. Đứt dây sập ngựa ( 11 ) dạ hờn tòng hương.

Đờn rao xây lá Nam-phương
Văn cung đức tốc oan ương tiếng đờn

Da trăng bịt mặt chớ hờn
Cây cò hai trục óng đờn tòa la

365. Hiệp đủ các việc tay ca
Bằng không đủ việc khó ra tiếng đờn

Một thương chín ghét mười hờn
Dạ tôi ở thẳng như đờn lên giây

Thiệt lòng ghét vạy thương ngay
370. Dầu lâm tử trận bỏ thây chẳng phiền

10


Nhứt tâm lập hậu qui tiền
Dầu xa Nhơn Nghĩa chớ phiền nam mô

Lẽ nào đất Thuấn hại Ngô
Trời Nghiêu bao nỡ tuyệt vô đoạn từ

375. Hươi tiên xách mã niệm trừ
Mượn gươm trì huệ nhơn từ gởi thân

Thương vì cách nghĩa xa nhân
Thấy đời ly loạn nan phân thảm phiền

Niệm Phật cũng chẳng tốn tiền
380. Dầu mà sa đoạ chẳng thiền cũng ưng.

Nói trước phải ngó sau lưng
Thấy người tôi dửng dừng dưng dữ hiền

Tu theo đồng bạc đồng tiền
Tu hung tu dữ tu hiền vốn không

385.Tu ngoài ít kẻ tu trong
Tu nhân tu nghĩa khó không dám phiền

Cực lòng kế hậu lập tiền
Quới quyền mặc kẻ chẳng phiền lao đao

Vơi vơi đất rộng Trời cao
390.Đoái nhìn chư quốc chiêm bao quới quyền.

Bấy lâu lộng tánh bất hiền
Hạ ngươn tận thế đừng phiền thấp cao

Giữ lòng niệm Phật chí lao
Thường hành bình đẳng chớ xao lảng tình

395.Tưởng Phật Phật tưởng lòng mình
Tưởng Trời Trời cũng độ tình thông minh

Tưởng ma ma cũng ứng thinh
Ma tiêu quỉ táng hết linh khổ mình

Nha môn việc mảng bất bình
400. Huyện di việc mảng thế tình bất suy.

Bất tri hậu nhựt sự phi
Đa nhơn bất thức bất tri tu thiền

Tu hậu bất thức tu tiền
Tu theo đồng bạc việc hiền nan tri

405.Tu nhiều nhiều tội một khi
Không tu không tội thức tri tâm thành

Phạm Phật tu chẳng làm lành
Phạm tăng dị giản chẳng đành thức tri

Tích ác kiến thiện bất vi
410.Tích tài kiến đức bất suy tội tàng.

Nào hay gãy gánh giữa đàng
Trong truông khó liệu ra làng khó phân

11

Lâm chung thất thế chữ dân
Sát tha Hạng Võ khó phân họ hàng

415.Lo bề suy nhục trăm đàng
Hiển vinh một thuở chẳng toàn khổ thân

Chữ phú chữ quới chữ ân
Ba ngôi đồng đẳng thương dân chữ nào?

Nhớ ơn Thánh đức cổ trào
420.Hạ nguơn thậm trách anh hào phi ân

Có câu đáo xứ tùy duyên
Nhập gia tùy khúc nghĩa nhân giữ lòng

Khó phen Gia Cát phế đồng
Khuôn phò Hớn thất dặng lòng chánh minh

425.Sự tích Tam-Quốc giao chinh
Chí kim hà đắc quản thinh Nam trào

Thấy đường khoái lạc tâm bào
Phế oai dỉ đức anh hào trí tri

Tam từng thượng hạ ứng thi
430.Khai khoa diển thí thức tri văn tài

Niệm linh ứng hiện độ hoài
Chớ xao trí dõng phụ ngài Tiên tri

Phật Trời ngồi thế từ bi
Thấy trong thiên hạ loạn ly thảm sầu

435. Nhắm mắt mà đi qua cầu
Chừng nào đến đó đụng đầu sẽ hay

Sổ lồng mặc sức chim bay
Thoát nơi la võng thương thay ngư trầm

Mấy khi thơ họa sắt cầm
440.Ca ngâm quốc truyện thâm trầm gian tâm

Cơ thâm thì họa diệc thâm
Ngũ kinh ngủ mất minh tâm đau sầu

Lòng thương chí dốc vọng cầu
Thảm lòng bá tánh thiểu sầu oán đa

445.Đem lòng ghét Phật thương ma
Ghét Phật Phật ghét thương ma ma phò

Ăn no mổ mắt như cò
Vui đâu chúc đó đưa đò khó thay

Biết thời suy lý biết hay
450. Không biết như thể gốc cây không chồi.

Trơ trơ bất định tâm hồi
Linh đinh sống dập gió dồi rả thây

Nực cười nhiều kẻ ghét đây
Phải mà nói quỉ lời ngay nói hoài

12

455.Nói cho tận ý lâu dài
Hậu phân nghĩa lý biết tài dở hay

Xác phàm chịu tiếng đắng cay
Biết ai giỏi nữa thiệt hay mà phò

Tu hành nói việc đưa đò
460.Một hai năm nữa ra phò Thánh Tiên

Nói chi nhiều tiếng đảo điên
Làm lành niệm Phật tu riêng tấm lòng

Chữ rằng hậu hữu sở phòng
Thương Thầy khó nhọc hết lòng cùng ta

465.Nào khi tràng ốc vào ra
Bây giờ hiu quạnh xót xa trong lòng

Trào khổ lộn rắn lộn rồng
Lộn rồng lộn rắn lộn rồng minh mông

Thấy đời ngán cổ tức hông
470.Đau lòng tức dạ trào không chánh lời

Nhiều việc oan ức ở đời
Lao xao dân chúng Phật Trời chiếu tri

Tham tham lợi lợi loạn ly
Không người tôn trọng thức tri Thánh hiền

475.Đau lòng nhiều nỗi ưu phiền
Chẳng ai nhớ Thánh tưởng Hiền minh mông

Tu chùa không Phật khó trông
Tu gia tích đạo phải không tại tình

Nỗi lo thân thể bất bình
480.Âu lo việc chúa một mình đa đoan

Tu cất am tự sửa sang
Chúa đâu không biết Phật mang nạn nghèo

Nay tan mai hiệp như bèo
Trời cao đất rộng nạn nghèo gởi đâu

485.Phật Trời để máy cao sâu
Họa lai phước chí biết đâu nỗi mình

Tu cất am tự tu hình
Không Tiên không Phật thiệt tình chẳng sai

Tu tâm vọng Phật Như-Lai
490.Tu giữ tánh hạnh đừng sai tiếng phàm

Đừng noi theo kẻ bán vàm
Bến nào cũng ghé dạ phàm tâm phu

Tu hối Phật chẳng hối tu
Tiếng chay tiếng mặn lỡ thu lỡ hè

495.Lỡ lợ lỡ cháo lỡ chè
Lỡ xuân Nam-Việt mãn hè qua thu

13

Chẳng ai ép dạ người tu
Nay không mai niệm chê phu khi phàm

Lòng người lo việc ăn làm
500. Không lòng lo đạo xác phàm đọa vong.


Bạc muôn dầu có chẳng trông
Thác thời cũng nắm tay không làm gì

Biết thân tích thiện tu trì
Xác dầu nhập địa hồn tùy Tây-phương

505.Sanh lại dương thế oan ương
Phải tu lập hậu Tây-phương trở về

Đố ai dương thế phân lìa
Mê trần lộng ngữ thác về âm cung

Hạ giái xử kẻ bất trung
510.Phật Trời dạy bỏ gian hung mà nhờ

Thân nay như thể ngọn cờ
Phất phơ phất phưởng sợ giờ gió giông

Cầu hồn cho được hóa long
Sa về địa ngục hồn vong thiên đường

515.Vọng cầu cổ tích minh tường
Như-lai Phật hiện gia đường biến kim

Phật đường tắc chí kỳ nghiêm
Lục nghi cúng kiến cổ kim độ đời

Cúng trung cúng hiếu phò Trời
520.Lục lễ thủ nghĩa Phật Trời chứng tri

Nhơn thiện nhơn tất tùng chi
Nhơn ác thiên tất hứa chi bất hòa

Phật Trời bất đụng quỉ tà
Làm người suy xét việc nhà Tiên tri

525.Thuở nầy phải chịu ngu si
Ngu lời ăn nói ngu đi xóm giềng

Cám thân dật sĩ qui điền
Lo trung lo hiếu lo hiền chưa xuôi

Lo bề tấn thối không nguôi
530.Lo nề thành bại chưa xuôi cảm phiền

Ngu không đồng bạc đồng tiền
Ngu không nói dữ nói hiền phải ngu

Niệm Phật hẳng dạ chí tu
Mới rằng quân tử trượng phu trên đời

535.Ở sao chẳng kể Phật Trời
Suy đi xét lại thiệt đời bất nhơn

Tạm dùng Hứa sử vi ơn
Thông thương ba cõi keo sơn để lòng

14

Phật đam trở lại rặt giòng
540. Người nào khác dạ khác lòng bỏ rơi

Người chê tôi đặt nói chơi
Người phàm sao biết đặng nơi việc đời

Giữ lòng nương náu Phật Trời
Thủ thân vi chánh nương đời khổ lao

545.Lâm nguy sỉ nhục xiết bao
Gian nan bất cập lao đao bất kỳ

Dị đoan tri dị khả tùy
Tri lai kim cổ vô thì tri lao

Đừng lời nói thấp nói cao
550.Lòng hiền thời đặng khỏi lao đời nầy.


Ra trước ba bổn tỏ bày
Người chê nói vạy lời nầy nói ngay

Chữ ỷ là chữ khổ thay
Vô nghì vô lễ phương Tây khó gần

555.Vị phú vị quới là phần
Ý sao nhơn nghĩa gia bần không kiên

Lập làm các bổn nói điên
Bắt quàng bắt niểng nói thiên nói ngàn

Chỗ quấy chỗ phải sang đàng
560.Khuyên lòng bá tánh xóm làng chớ chê

Người khùng phải nói việc quê
Ai tu giỏi mấy tu tê không cầu

Tại gia Phật thuyết ưu sầu
Như-lai chỉ bảo vọng cầu lời ngay

565.Có cội thì mới nên cây
Không gốc không ngọn khó thay lên chồi

Chí lâm cơ nghiệp trau dồi
Mượn gươm thần huệ dứt rồi trái oan

Mới rằng thiện đạo đạt an
570. Tứ phương tùng phục hàm oan tiệc rồi

Có đất có chỗ ăn ngồi
Có cơm không cá khó rày bữa ăn

Nhơn từ giã thọ qui căn
Hung bạo ấy mất bất thăng thiên đường

575.Ở chi dạ bạo tâm cường
Chẳng suy chẳng xét mê đường phi ân

Đáo miền tà mị Hạ-nguơn
Mười người không thấy tâm ơn một người

Tham sanh úy tử về mười
580. Khôn lanh nghịch bạo việc người phần hơn

15

Người dầu làm đặng chút ơn
Kể thôi là kể hải sơn khó lường

Thuận thiên tồn giả nan tường
Nghịch thiên vong giả thiên đường bất thăng

585.Căm hờn Vệ-luật lý lăng
Làm cho lỗi thửa lạc căn Võ-hoàng

Trách ai đem dạ lăng loàn
Làm cho miễu võ khói tàn tro bay

Lưỡi. . . uốn éo khó thay
590. Trớ trêu ngồi nghỉ cội cây mé chồi

Tu sao tu có một hồi
Khi vui tu hối buồn rồi hết tu

Chẳng xét kẻ trí người ngu
Làm cho tồi bại việc tu điêu tàn

595. Đi đâu lấp ngõ ngăn đàng
Đem lòng phá xóm phá làng sát tha

Thiên tử chúc Thánh trào ca
Vong sư phản chúa sát tha tử hoàng

Chẳng thà cho nhau ăn vàng
600. Chẳng thà dắt nẻo đem đàng đi tu.


Nên thời theo Phật ngao du
Chẳng nên lầm khổ khi tu khi trời

Trách ai thuở trước đa lời
Đến sau dạ đổi lòng dời bất minh

605.Không lòng niệm Phật tưởng kinh
Lâm-nguy người trách lộng thinh dạ tràng

Tội lại chẳng dám chỉ đàng
Không lo niệm Phật trách tràng chiều mai

Có câu bỉ cực thới lai
610.Giữ mình cho vẹn việc ai chớ sờn

Để coi dạ đó oán hờn
Lòng đây bất úy chẳng sờn lời phân

Nam trào quân chánh dân ân
Chừng nào gặp hội tuế tân an hòa

615.Hoàng thiên đại lượng hải hà
Hạ sanh dân chúng bất hoà tiêu tan

Dạ đừng sa dậm dương gian
Nào hay mất chốn gian nan cõi trần

Hạ sanh dân chúng rần rần
620.Phật còn để lại cõi trần tỏ phân

Thủ nghĩa giữ vẹn mười ân
Thanh nghiêm thinh tịnh muôn dân thái bình

16

Nghĩ thôi càng áo não tình
Rưng rưng lụy thảm như bình nước nghiêng

625.Họa lai Nam-việt tây phiên
Thiên cơ Thánh chiếu bình yên nước nhà

Song-thiên lưỡng quốc giao hòa
Trả vay vay trả việc mà không sai

Khám tường nhựt nguyệt quảng khai
630. Ngày sau hội hiệp kim giai nước mình

Đinh-tỵ ra sấm thình lình
Nhơn dân xao xuyến nước mình có vua

Khuyên người bớt bớt tranh đua
Khá nghe lời Phật thấy vua Thiên đình

635.E khi mưa gió thình lình
Trong truông khó liệu một mình khó phân

Kiếm người kết nghĩa làm thân
Nào hay khuất lấp nghĩa nhân chẳng màng

Tới đây trái bước lỡ đàng
640.Than thân trách phận ngỡ ngàng công danh

Nào hay chịu tiếng hôi tanh
Bao giờ rõ đặng công danh Thiên đình

Hoàng-thiên lượng định cho mình
Phước tài có thuở Thiên đình định cho

645.Nhà ngói thấy đói không lo
Lều tranh có đạo của kho dám bì

Thiện nam tín nữ biên thùy
Nghe lời ngay vạy nương tùy phải lo

Lần hồi bữa đói bữa no
650. Giữ lòng trung chánh Phật cho duyên lành.


Đừng chê việc cũ tầm phành
Rách mà khéo vá hơn lành vụng may

Cuộc đời như thể sợi giây
Đứt đi nối lại liền nay mới lành

655. Việc dữ lòng dạ chớ đành
Thời người mới biết việc lành chát chua

Việc lành sao chẳng tranh đua
Việc dữ lại dụng hơn thua phân bì

Thấy đời ăn ở dị kỳ
660.Trăm đường hung dữ biên thùy tựu đông

Lận lường kẻ của người công
Nói thừa nói thiếu dạ không ơn thầm

Tham chi của thế mà lầm
Tiểu nhơn lao lực mưu thầm tham công

17

665. Đùm cơm một bữa minh mông
Bắt làm đói bụng dạ không cho về

Hai đường thiện ác phân lìa
Trí mưu Gia-Nghị ngoài bìa gia-công

Công-hầu chánh thị là Ông
670. Điêu-Thuyền lưỡng dạ Lữ Mông gây thù

Thiện nam chớ khá võng dù
Khuyên cùng tín nữ chớ thù oán vua

Cựu trào có đặt thơ cua
Đờn bà nhiều việc phế vua giết chồng

675.Thân riêng lòng động như lòng
Chẳng trang quân quốc phụng rồng sánh đôi

Riêng lòng khác dạ thế thôi
Ly quân ly quốc ly đôi vợ chồng

Ly thân bằng hữu bất đồng
680. Bất ly huynh đệ khác lòng thời xa

Tử tôn bất hiệp mẹ cha
Gạn trong lóng đục cách xa tại lòng

Người dưng sao hiệp đạo đồng
Thiên căn Phật định một lòng hiếu trung

685. Nhữ tác ưng huờn sự hung
Xét thời đặng phước chánh chung đạo đồng

Độc tâm phản dạ lạc lòng
Suy nhơn suy vật đạo đồng tri thiên

Khi nhơn tất tự khi thiên
690. Đem lòng khi mấy người điên ở tù

Chưa chắc mình có ông phù
Không lòng tưởng Phật ở tù cho than

Thầy xem bổn đạo dọc ngang
Ngày sau chi khỏi hiệp tan như bèo

695. Giúp cho đồ đệ vận nghèo
Qua truông cũng vững lên đèo cũng an

Tuy là trước chịu gian nan
Ngày sau cũng đặng hiển vang quới quyền

Lên đèo xuống dốc chớ phiền
700. Miễn cho cơ nghiệp xuất hiền đạt an.


Động tâm niệm Phật ưu bang
Chấp tay tưởng chúa cầu an quân thần

Phật trời bất thực của trần
Có lòng cúng kiếng du thần chép biên

705. Hữu tâm hoài vọng Thánh Tiên
Khẩn nguyền cứu khổ cho khuyên tội người

18

Cúng nhiều rượu thịt vui cười
Gẫm thêm tội nữa thương người vô tâm

Việc đời thiển thiển thâm thâm
710.Minh minh phước tội tại tâm nhơ trần

Trước đà cách tiếc ly trần
Sau hòa đậu vận Tiên Thần chiếu tri

Đậu câu trúng lý nghiệm suy
Kim lai cổ vãng luận tri Phật Trời

715.Thuở xưa giặc mọi tơi bời
Cũng vì tham sắc như đời trào nay

Cổ kim loạn quốc Nam Tây
Cựu thù tích oán thương thay đời này

Dị đoan nhiều việc lạ rày
720. Muôn dân xao xuyến đời này đắng cay

Nói vạy nói lại việc ngay
Nói chợ nói xóm tới đây nói rừng

Con heo con chó có chừng
Người ta dâm dục không chừng nào thôi

725.Mới rằng đầu thú người ôi
Huờn lai Tiên cảnh mới thôi thú người

Éo le túc tích nói cười
Lâm tâm lý bạc thú người ít ngay

Mượn hình mượn lốt mượn thây
730. Bá tâm bá dạ vạy ngay hội nầy

Tri ân tứ đại lời Thầy
Chí công khối sắt thét ngày nên kim

Trái đời mực giấy thơ niêm
Giáp lại ấn dấu cổ kim một bề

735.Phú quới đa nhơn hội tề
Bần cùng như thể đứa hề diễu chơi

Khôn một chốn dại một nơi
Phú đa bằng hữu tã tơi cho hề

Nỗi lo cha sợ con tề
740. Nhị bang đại tiểu đem về nhứt bang

Cuồng nhơn chi bấy Nam-bang
Mãn đài mới đặng hiển vang quới quyền

Câm hờn thất thập Nhị hiền
Chế văn chế thế vong tiền phế xuân

745.Nghĩ nào mà giận người dưng
Mà hờn con đỉ xây lưng chẳng nhìn

Bất tri đạo đức vô tình
Bất tri lễ nghĩa gọi mình rằng ngoan

19

Ỷ mình khôn quỉ dọc ngang
750. Ỷ tài đắc thế giàu sang phận mình.


Mặc ai phản dạ lộng tình
Lòng ai nấy biết dạ mình mình hay

May dầu danh chiếm đài mây
Ơn người trả đặng thương nay nghĩa Thầy

755.Gian nan mấy lớp khó bày
Tớ ly phận tớ thương Thầy gởi thây

Thương trong bá tánh đời nay
Một năm không nói lời ngay tiếng nào

Thiết yếu lời dữ ngọt ngào
760. Lời lành nói đạo người nào thấy đâu

Bất tri sự thế khó âu
Việc trung việc hiếu thấy đâu nhãn tiền

Người trung tầm nghĩa tầm hiền
Tận tâm kiệt lực chẳng phiền đói no

765.Thần hôn nay để ai lo
Làm người bao nỡ ăn no đưa đò

Quốc loạn ít kẻ khuông phò
Gia bần nhớ mặt giả đò ngơ ngơ

Nghĩ càng áo não su sơ
770.Người nghèo thì thiệt bơ vơ nhãn tiền

Xiết bao nỗi thảm đoạn phiền
Giúp nhau khi đói chớ phiền khi no

Thường hành tưởng tưởng lo lo
Nhơn nhơn đức đức ấm no lâu dài

775.Sống thơm danh tướng mới tài
Thác theo Trời Phật bia bài danh hương

Trung quân ái quốc cần vương
Trí ngu ngu trí bất đương vi thần

Trí trí đắc lộc an phần
780.Ngu ngu thôi ngã bất thần khó no

Bây giờ hí hởn chẳng lo
Gặp cơn bát loạn nằm co kêu Trời

Lo sang ít kẻ lo đời
Gặp cơn bát loạn kêu Trời thấu đâu

785.Làm phước giữ đạo thâm sâu
Làm lành tích đức thấy đâu bây giờ

Sanh đời bình trị thời nhờ
Gặp đời dấy loạn dại khờ phải cam

Xem trong lục giáp nam nhâm
790.Đáo đầu Mậu – ngũ quan tham hết phần

20

Nương theo Rồng Rắn lần lần
Cọp trâu linh tánh hoá thần thăng thiên

Mắt xem điềm ứng Thánh Tiên
Đâu đâu đều thấy chiêu yên huỳnh cờ

795.Biết sao đủ lẽ phượng thờ
Vọng không bá bái đọi chờ Thánh Tiên

Đầm đầm lụy nhỏ sầu riêng
Ngùi ngùi thương nhớ Thánh Tiên thuở nào

Xót gan đau ruột tâm bào.

800. Nhớ hồi lập địa thuở nào lại đây.


Giốc lòng chí tử qui Tây
Trời chiều ác lặn vận may đỏ đèn

Liều thân chịu chốn khó hèn
Dạ nguyền nước đục lóng phèn cho trong

805. Bao giờ vận Thới hoá long
Ngồi buồn nghĩ việc minh mông tức cười

Nỗi sầu dạ quấy cho người
Nỗi lo cho kẻ vui cười từ đây

Trách ai lập vạy bỏ ngay
810. Tạo thiên chánh lý lại đây cải đời

Cơm Tây ăn nói nhiều lời
Gạo châu củi quế hết đời quỉ ma

Đời nầy cắt cổ lột da
Lường công cướp việc người ta thời nhiều

815.Chẳng noi theo dạ Ngư Tiều
So tài sóng sắc nàng Kiêu dối ma

Tầm hiền Đường-thất ngựa ma
Minh hoàng lầm Phật mới ra đổi nầy

Sớ ban thí phát đầu Sài (Thầy)
820.Tội quá thập tự Phật đày lại đây

Đời nay thời nói việc nay
Vạy thời nói vạy ngay thời nói ngay

Việc nào chẳng biết thời hay
Việc Phật không biết bỏ thây tiêu hồn

825.Con ma gần biển xa cồn
Giữ thân chẳng dễ giữ hồn khó thay

Hành Phật vua thiệt quá hay
Phật hành trước mặt thương thay không tường

Chữ tham hại chánh trăm đường
830. Trí mưu vô hữu minh tường nhứt nhân

Bất ưu tội phước cân phân
Dụng mưu hàm oán thâm ân bịt đường

833. Đắc thế bất luận tâm cường
Vô phân tội hậu xa đường quan vua

835.Thương trào minh chánh xót chua
Trào nào bất chánh quan vua sa đà

Trào xưa nhiều kẻ thiệt thà
Trào nay tu niệm cũng đà tranh đua

Tu hành nhịn thiếu nhịn thua
840. Tu hành lấn thế tranh đua sao lành

Minh minh y cẩm dạ hành
Việc dữ thấy trước việc lành thấy sau

Nhà giàu đói trước khó âu
Nhà nghèo thậm ngặt đói sau cũng đành

845. Buổi chợ như việc đạo lành
Chiều tan mai nhóm lộ hành lao xao

Mặc tình giá thấp giá cao
Giá nào phải giá chuộng trau mối hàng

Chợ xuân thiên hạ chật đàng
850. Lao xao lũ bảy chàng ràng đàng ba.


Chờ khi Đại-thánh ngài ra
Người mới giữ dạ âu ca việc lành

Tác thiện y cẩm dạ hành (12)
Chừng nào y cẩm nhựt hành thì no

855.Người nào làm dữ nấy lo
Muốn dại thì nhịn đôi co thì rầy

Quả trần trả tháng trả ngày
Nhãn tiền chi sự lựa bày đói no

Giàu nghèo chưa chắc đừng lo
860. Chí tâm niệm Phật trời cho duyên lành

Một cây gẫm biết mấy nhành
Đạo nào bằng đạo làm lành tiếng thơm

Nhiều đạo không gạo không cơm
Lỡ bề trầm tốc lỡ đơm quảy rày

865.Lỡ cha xét lại lỡ thầy
Vui chi một lũ ăn mày mang bao

Vận nghèo phải chịu biết sao
Trên trăng dưới nước ước ao thề nguyền

Tu đâu gánh bạc gánh tiền
870. Chùa dây để sãi chịu phiền ngồi không

Giả làm thưong quán trợ công
Đải trang văn học quán không dục lời

Nên hư trên có Phật Trời
Giả làm lão quán xem đời quỉ ma

22

875. Khai trương thương khách vào ra
Hoặc người hoặc quỉ hoặc ma không chừng

Có ngọt có lạt có gừng
Nhứt tâm ít kẻ nhớ chừng Kỳ-hương

Tóc trầm mai quế chẳng thương
880. Não nề cây mục xưng hương người dùng

Trước phân chư quốc xưng hùng
Nay đem hiệp lại phục tùng nhứt bang

Phật Trời ở đậu chẳng an
Tá điền mục kiến vô quan ngôn từ

885.Trúng đề hành vi văn từ
Tiền sư hậu đệ ngôn từ bất an

Trị Thập-bát-quốc sửa sang
Hậu biến chư quốc lập đoan Phật Trời

Nguyện cho Thánh chúa trị đời
890.Tây phương bửu điện cảnh Trời thanh tân

Thuyết khẩu thành trái trung phân
Chúc lai Thánh thọ tuế tăng thanh nhàn

Môi son má phấn đầu đàng
Đức tinh đức cậy thanh nhàn chúa tôi

895. Đời nầy chết yểu người ôi
Làm sao thấy chúa cao ngôi trung thần

Nương ma noi quỉ rần rần
Hạ sanh dân chúng vô phần thế thôi

Đức tinh xuất trước than ôi
900. Trách lòng chẳng nghĩ chúa tôi bịt bòng.


Phật ôi cứu độ giúp lòng
Trời ôi soi xét tràng đồng vạn dân

Nỗi lo nước yếu phân vân
Thảm sầu thiên hạ không phân chánh tà

905. Hè nghiêng vật ngã là đà
Phật ái như tử chúng mà chẳng thương

A tùng tân chánh bất lương
Ngã nhơn hại ngã tan xương bất tình

Chúng sanh thân tử Thiên-đình
910. Trung làm con Phật tà tình con ma

Mậu ngũ khiến mất nước nhà
Thay Trời đổi đất Phật ra trị vì

Phật ra ma bắt biên thùy
Đa tham đa oán khổ kỳ muôn dân

915.Thiên sanh ư Tý tỏ phân
Địa sanh ư Sửu vạn ân quân thần (13)

917. Kế hậu nhơn sanh ư Dần
Ba ngôi đồng đẳng quân thần quan dân

________

CHÚ THíCH

Nội dung đoạn này là khuyến thiện, khuyến tu:

(1). sinh trấp : trấp: nằm sấp, mới sinh ra trẻ thường nằm sấp.
(2). đa thu: nhiều mùa thu, nhiều năm.
(3).Tang du lâm địa: cũng như thành ngữ"Nhật lạc tang du" nói về chiều tà, cảnh chiều, lúc suy thoái.
(4). Vi phú kiến nan dạ hờn ./Vi lương kiến ác chẳng sờn dạ tôi : Làm giàu thì gặp khó khăn, làm lành lại gặp điều ác.
(5). Xá phú cầu bần /Xá gia cầu đạo : bỏ giàu cqầu nghèo, bỏ nhà cầu đạo.
(6) .Lương Vũ Đế: Tích hỏi Đạt Ma sư tổ về Phật.Tác giả chỉ trích Lương Vũ Đế tu hình thức.Lương vương là vua nước Lương, hiệu là Võ Đế, nên thường gọi là Lương Võ Đế (502-549). Theo Trung quốc sử lược, vua nhà Tề là Phế Đế Bảo Quyên chơi bời vô độ, bỏ bê triều chánh, ngược đãi đại thần. Tôn thất nhà Tề tên Tiêu Diễn đang làm Thứ Sử Ung Châu, hợp binh với em của vua Tề là Bảo Dung, dấy lên ở Giang Lăng, chống lại Phế Đế Bảo Quyên. Bảo Dung tự lập làm vua, hiệu là Hòa Đế. Tiêu Diễn đánh lấy Quách Thành, phá Tầm Dương, vây Kiến Nghiệp, Hòa Đế bị giết. Tiêu Diễn vào kinh đô, buộc vua Tề nhường ngôi cho. Tiêu Diễn lên làm vua, đổi quốc hiệu là Lương, xưng là Lương Võ Đế, năm 502. Lương Võ Đế giết hại tôn thất nhà Tề. Tôn thất nhà Tề cầu cứu nước Ngụy. Hai nước Lương và Ngụy đánh nhau, tướng của Ngụy là Hầu Cảnh chạy sang đầu Lương Võ Đế, được Lương Võ Đế trọng dụng, phong làm Hà Nam Vương. Lương Võ Đế có tài kiêm văn võ, nên đã làm nước Lương một thời hùng mạnh. Nhưng nhà vua rất hâm mộ Đạo Phật, và qui y Phật pháp vào năm 517. Năm 527, Lương Võ Đế vào chùa làm sư tu hành. Các quan yêu cầu dữ lắm, vua mới trở lại ngôi. Năm 529, vua lại vào chùa tu hành lần nữa. Năm 538, có sứ đưa về nước xá lợi của Phật. Vua Lương Võ Đế dạy lập đền thờ. Trong dịp nầy, vua bố thí cho dân chúngvà ra lịnh ân xá các tội nhân bị cầm ngục. Nhà vua lấy của kho cho xây dựng rất nhiều chùa chiền ở khắp nơi trong nước, ủng hộ Tam bảo, được các tín đồ Phật giáo tôn nhà vua là Phật Tâm Thiên Tử. Năm 547, Lương Võ Đế lại vào chùa tu nữa. Lương Võ Đế có người vợ tên là Hy Thị, tánh tình rất ác độc, ghen tương, hành hạ các cung phi. Một hôm bà tức giận quá, đâm đầu xuống giếng chết, bị đọa làm một con rắn mãng xà. Rắn ấy thường vào cung tác quái, có báo mộng cho Lương Võ Đế biết, xin vua làm phép giải cứu. Nhà vua thỉnh một vị Thánh tăng là Thích Bảo Chí làm sám chủ, nhờ Ngài cùng chư tăng soạn ra bộ kinh Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp, rồi nhờ chư tăng trì tụng kinh Sám Hối ấy mà cầu siêu cho Bà Hi Thị. Con mãng xà nhờ nghe Kinh Sám Hối ấy mà được siêu thăng, thoát xác hiện hình ra là Bà Hy Thị, mặc Thiên y, bái tạ vua và chư tăng, rồi bay lên Trời. Phép sám hối đó, còn truyền tụng đến ngày nay, gọi tắt là Lương Hoàng Sám. Tên Hầu Cảnh, trước đây đầu Lương Võ Đế, được phong làm Hà Nam Vương, thấy Lương Võ Đế mê theo việc tu hành, bỏ bê triều chánh, thế lực suy yếu, nên cất binh làm phản, chiếm Kiến Nghiệp, Đài thành, vây Lương Võ Đế trong cung, tuyệt hết lương thực, khiến Lương Võ Đế phải bị chết đói. Năm đó là 549. Lương Võ Đế làm vua 48 năm, từ năm 502 đến 549, hưởng thọ 86 tuổi. Đạt Ma Tổ Sư của Phật giáo Ấn Độ, vâng lịnh Tổ Sư đời trước, đi thuyền từ Ấn Độ qua nước Trung Hoa để hoằng dương Phật pháp tại đây. Ngài đến Quảng Đông nước Trung hoa vào năm 520 dưới thời vua Lương Võ Đế. Thứ Sử tại Quảng Châu là Tiêu Ngang nghinh tiếp Đạt Ma Tổ Sư và làm biểu tâu cho Lương Võ Đế rõ. Nhà vua sai sứ xuống thỉnh Đạt Ma Tổ Sư về Kim Lăng. Đạt Ma Tổ Sư vào yết kiến Lương Võ Đế. Nhà vua hỏi Tổ Sư: - Từ ngày tức vị đến nay, trẫm cất chùa, đúc tượng, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể, có công đức gì không? Đạt Ma Tổ Sư khảng khái đáp: - Đều không công đức. - Sao không có công đức? - Đó chỉ là nhân hữu lậu, chỉ đem đến quả nhỏ trong cõi Trời, Người, như bóng theo hình, tuy có nhưng không thực. - Vậy công đức chơn thật là gì? - Trí phải thanh tịnh, thể phải lắng không, đó là chân công đức. Công đức ấy không phải lấy việc thế gian mà cầu được. - Chân lý cùng tột của Đạo Thánh là gì? - Trống rỗng, hồn nhiên, không gì là Thánh. - Trước mặt trẫm là ai? - Không biết. Vua Lương Võ Đế nghe mấy câu trả lời của Đạt Ma Tổ Sư, nhà vua không lãnh ngộ được chỗ huyền diệu của Phật pháp, nên có ý không thích. Tổ Sư nhận thấy không độ được nhà vua, nên lén bỏ nước Lương, đi qua nước Ngụy, ẩn vào chùa Thiếu Lâm trong núi Tung sơn, ngồi tu Cửu niên diện bích, chờ người đại căn có duyên phần.
(7). Cù: nhọc nhằn. Lao: khó nhọc. Cù lao là công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi dưỡng con cái cho khôn lớn. Kinh Thi có câu: Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hạo Thiên võng cực. Nghĩa là: Cha thì sanh ta, mẹ thì nuôi ta, thương thay cha mẹ sinh ta nuôi dưỡng khó nhọc, muốn báo ơn sâu, ơn đức của cha mẹ mênh mông như bầu Trời. Cửu tự cù lao: Chín chữ cù lao, tức là chín điều khó nhọc của cha mẹ sanh dưỡng con cái. Chín chữ cù lao gồm: 1.Sinh: Sanh đẻ. 2.Cúc: Nâng đỡ. 3.Dục: Dạy dỗ. 4.Phủ: Vuốt ve triều mến. 5.Xúc: Cho bú sữa.6.Trưởng: Nuôi cho khôn lớn. 7.Cố: Trông nom. 8.Phục: Ôm ấp. 9.Phúc: Bảo vệ.
(8).mộc bổn qui căn : cây có gốc ý nói khi chết con người trở về nguồn gốc cát bụi
(9).Phúc: bụng.
(10).
Thoại Khanh : tích Thoại Khanh Châu Tuấn. Thoại Khanh là vợ hiền, con dâu hiếu thảo.
(11). Ngựa: bộ phận làm dây đờn nâng lên.
(12)
.Tác thiện y cẩm dạ hành /Chừng nào y cẩm nhựt hành thì no: Làm thiện thì như người mang áo gấm đi đêm nghĩa là quý mà không ai biết.
(13). Sách cổ Trung Quốc viết về vũ trụ như sau: "Thiên khai vu Tý, Địa tịch vu Sửu, Nhân sinh vu Dần".“天开于子,地辟于丑, 人生于寅.Nghĩa là vũ trụ ban đầu là một khối hơi, tạo ra trời; sau sinh ra thể đặc đông lại, làm thành đất. Sau nữa mới sinh ra loài người.




No comments: