Tuesday, July 12, 2011

IV. VÂN TIÊN 4

KIM CỔ KỲ QUAN QUYỂN IV
VÂN TIÊN TẬP 3




PHẦN THỨ BA
(tiếp theo)

915. Đừng ngó thấy Trời còn cao rộng
Mà đem lòng phản chúa lộng ngôn
Một đứa hư hư hết cả môn
Đời hằng nói hết khôn tồn dại
Mãn căn trước nay đà trở lại
920. Con một nhà khôn dại thời khó
Đất ruộng Thuấn năm dây cày ló
Trời ruộng Nghiêu thấy lo có nhiều
Cám thương nỗi Ngư Tiều canh mục
Lòng làm lành phàm tục lánh xa
925. Thế nói rằng gà ở một nhà
Mà bôi mặt đánh nhau mới lạ
Mê trần tục càng ngày mắc đọa
Chốn thiên đường chê lạ chẳng lên
Người ở đời ai cũng muốn nên
930. Phần chẳng có vội quên hiếu nghĩa
Của cha mẹ con đừng rút rĩa
Mình xử mình trung nghĩa thời nên
Căm hờn thay Lưu Khởi (21 ) vội quên
Thậm trách bấy Mao Diên ( 22) hậu hận
935. Tôi phản chúa phi ân dĩ tận
Ăn cơm nào lo tận phiên trào
Nước thời trong cá lội ở ao
Ngồi miệng giếng coi sao bắc đẩu
Thương nghĩa Quan Công phò nhị tẩu (23 )
940. Lòng thảm sầu lo Hớn cạn sâu
Ai ai đừng sớm đánh tối đầu
Mà lo đạo ruộng sâu câu cá
Sao chẳng xét hổ trang nằm giá
Mà không bì thẹn kẻ khóc măng (24)
945. Đừng thấy trăng lòng muốn phụ đèn
Đồ yêu quỉ nó khen rằng giỏi
Miền địa ngục âu lo cho khỏi
Chốn thiên đường ai giỏi đặng lên
Con trong nhà chẳng biết hư nên
950. Người thiên hạ mắc tình quên nhớ


Đạo làm vợ là căn là nợ
Đời bây giờ chẳng biết nợ căn
Của mình làm mình cùng mình ăn
Đừng khoét vách bẻ măng mà tội
955. Chớ bắt chước theo chàng Dương Bội (?)
Tận gia tài mắc tội hồn ma
Khó nỗi người xét tới chỉ ra
Đời ít kẻ cải tà qui chánh
Thấy niệm Phật ăn no lòng tránh
960. Người làm lành nhứt tánh nhứt tâm
Trụ hôn dâm thời Trụ lại lầm
Tù Tây Bá cam tâm phải chịu (25)
Nghĩ nhơn nghĩa nên con lịu địu
Tưởng vì cha con chịu võ vàng
965. Để cho mà thiên hạ dọc ngang
Nguyền chứng có hoàng thiên hậu thổ
Nay trở lại lo đền thủy thổ
Người ở đời có tổ có tông
Thấy những loài lũ kiến chòm ong
970. Sao không sợ lỗi trong điều luật
Chưa khổ mấy mà than tiếng cực
Chẳng coi người trung thực làm sao
Thấy Thiên Luông (26) lận đận lao đao
Phò Hoàng tử biết sao bắt chước
975. Đời bây giờ khó bước lên thang
Cảm thương chàng Ngũ Thiệu ( 27) ải quan
Mà giả dại qua đàng một thuở
Nghĩ hồi trước xét nay mắc cở
Nói ít lời than thở hả hơi
980. Biết làm sao cho đặng sống đời
Chừng nào đặng thảnh thơi mà đợi
Công danh lợi trải đời một thuở
Chớ biết rằng than thở về đâu
Ví cũng như lục thị thảm sầu
985. Nương linh tự vọng cầu trời Phật
Cảm thương gã Lang Châu ? tàn tật
Người trung thần niệm Phật cũng tiêu
Câm hờn thay một lũ quần yêu
Hoàng phi Hổ, Tỷ Can thiêu đốt (28)
990. Người trung nghĩa dầu vong cũng tốt
Kẻ nịnh thần chẳng mốt thời mai
Căm giận loài phân cõi chia hai
Tô bửu thị ? chiều mai cũng chết
Chớ ngó thấy nói ra câu kết
995. Con một nhà giữ nết mà ở
Người niệm Phật nghèo thời nghèo thuở
Kẻ bạo tàn bao thuở làm nên
Cây mọc đâu dưới đất mọc lên
Cây dầu héo có người lại tưới
1000.Làm người ở có trên có dưới


Người làm lành gặp nước thời tươi
Ví cũng như Thiên tuế tức cười
Thời Lý Đán (28b) nên người nối nghiệp
Ví thuở trước nay theo sao kịp
1005.Vái với trời cơ nghiệp đặng nên
Tưởng một lòng an phận bề trên
Ngày sau thấy hư nên thời biết
Theo đầu ngụy là không khí tiết
Sa một đàng thác biết bao nhiêu
1010.Giác với đời ít kẻ thương yêu
Gặp một đám mưa chiều mới thấy
Lòng chí dốc lo bề cày cấy
Đặng chờ ngày cắt gặt đựng trong bồ
Đạo nam mô ít kẻ ra vô
1015. Đường đạo tặc nhiều người lai vãng
Tên Đặng sanh xưng con Tổng quản
Chàng làm ngang bắt gái qua đàng
Bị Hớn Minh xử gã điêu tàn (29)
Đừng học thói dọc ngang cận địa
1020. Thương mấy kẻ nói lia nói lịa
Đời nhiều người cận địa viển thiên
Noi theo đời Nghiêu Thuấn thời yên
Chẳng nhớ thuở Mục Liên (30) giáng thế
Con vì mẹ nên con thiểu kế
1025. Tại nơi Trời biết kể làm sao
Có nước thời cá mới ở ao
Bằng khô hạn làm sao mà uống
Đường địa ngục nhiều người đi xuống
Chốn Thiên đường như ruộng bỏ hoang
1030. Một ngàn người cũng muốn giàu sang
Ai lại muốn chi đàng nghèo khổ
Đạo niệm Phật thì lao thì khổ
Phải làm giàu nhiều kẻ nam mô
Mặc ý ai ăn cướp giựt đồ
1035. Mà học thói Gia Tô trối kệ
Đời nay khác chi đời U, Lệ (31)
Mà gọi rằng mưu vệ tử tôn
Thân thể nầy như thác chưa chôn
Giữ sao đặng tích tồn tại hậu
1040. Đạo niệm Phật kêu cô kêu cậu
Người chê rằng đạo lậu quốc gia
Đạo nhà thờ kêu cố kêu cha
Nhà mà lại một lòng một dạ
Thấy những người ở đời khác lạ
1045. Người làm lành vạn họa xảy qua
Khó biết đời tôi nghỉ chẳng ra
Làm sao khỏi Diêm la hành tội
Nhớ tích trước Lý Thông (32) vong bội
Nghỉa kim bằng gởi tội hoàng thiên
1050. Mình trách mình thời vận đảo điên


Ai đen bạc hoàng thiên chứng chiếu
Đừng dối thế nhơn dân đàm tiếu
Xuống hạ trần giả chiếu Phật sai
Tay bồ đề miệng niệm Như Lai
1055. Đặng kiếm bắp kiếm khoai về độ
Ra khỏi cửa xưng vi bá hộ
Giả chước mầu cứu độ người ta
Mà đem lòng dối Phật Thích Ca
Sau thác xuống Diêm la đừng trách
1060. Vương tử Trực trông anh xa cách
Giận trong lòng thậm trách Võ Công
Mả còn vun đem dạ bắc đông
Đồ vô loại sao không biết hổ
Thương Thoại Khanh ( 31 ) lo đền thủy thổ
1065. Ép tấm lòng dụ dỗ Nguyệt Nga (32)
Đạo làm tôi sợ lỗi quốc gia
Bởi nịnh thị mới ra chuyện đó
Loài săng cỏ ăn no lo báo
Khỉ dòm nhà tay áo ong sanh
1070. Để cho mà thọc chuộc khôn tranh
Thác có bữa mong tranh trào chánh
Trần thống chế thương người đồng tánh
Ở ải ngoài chẳng tránh gươm đao
Lòng kiệt hào bảy lược sáu thao
1075. Trải trần thế xiết bao khó nhọc
Người ngay thảo tấm lòng vàng ngọc
Mắc thế tình kẻ dọc người ngang
Thấy từ quân chánh vị thiên nhan
Mà sanh dạ lăng loàn lấy tớ
1080. Tề bội ước Trần gia căn nợ
Nỡ lòng nào nghe tớ giứt tơ
Trách Phan Châu (?) đem dạ lấp ngơ
Vong cựu nghĩa vò tơ làm rối
Rối nợ nước đây già gở rối
1085. Đó đem lòng dứt cội bẻ nhành
Đó gần ngai múa mỏ khôn lanh
Đây cũng chẳng tương tranh lấn lướt
Ăn cơm chúa quên sau nhớ trước
Hưởng bề trào quên trước ngó sau
1090. Đừng đem lòng bụng phản miệng đầu.

Mà chẳng sợ đao hầu rút vỏ
Nói chuyện quấy ít nguời nghe rõ
Trâu thả lan không cỏ mà ăn
Thấy đời nầy như thỏ ẩn trăng
1095. Mưa một đám thời măng mới mọc
Tưởng ái quốc đêm nằm trằn trọc
Oán Thiên Lăng (33) đem dạ dọc ngang
Sai Ôn Đình binh mã dấy loàn
Bắt đổng mẩu lập đàng tiểu kế
1100.Thương Đổng trị (?) lòng không vong phế

Tưởng cơm trào chẳng kể đồ gian
Chẳng hổ người quần vận yếm mang
Sao không thẹn với trang mang tượng
Đền nợ nước công dày nghĩa trượng
1105.Giữ lòng ngay treo tượng dối trần
Mặc ý ai ghét nghĩa oán nhân
Lòng đây cũng vỉ ân bất oán
Mẹ nuôi con kể năm kể tháng
Con nuôi mẹ kể tháng kể ngày
1110. Nợ ở đời chưa trả lại vay
Chẳng xét vạy xét ngay thời khó
Chẳng nhớ thuở nằm co đồng cỏ
Mà quên nơi đất đỏ ở đâu
Ngàn cho đời bỏ thảm bỏ sầu
1115. Mà đem dạ vui đâu không biết
Của mình sao mất sao mình không biết
Lại thấy người trực tiết mà ghét
Nghe súng nổ kiếm đường mở bét
Hồi bình thời nói quét dể nghe
1120.Muốn ở đời thì phải trồng tre
Người ngay thẳng đừng nghe lời quấy
Ngheò Trần Minh (31) nghèo thời nghèo thấy
Tới diễn trường không giấy mà học
Thương Lý-công (32) lòng vàng dạ ngọc
1125. Chốn thị thiềng cực nhọc chẳng nài
Miễn là cho cơ nghiệp lâu dài
Người giả dạy nào ai có biết
Con mình đẻ trung quân nỡ giết
Đứa gian tà mà tiếc làm chi
1130. Vận thời suy đúc bạc ra chì

Đời mấy thuở thác đi sống lại
Than danh lợi mới nằm chờ đợi
Sách nói rằng dục lợi hại nhơn
Nợ mười ân chưa trả chưa đền
1135. Sao cho đặng ăn trên ngồi trước
Liếc mắt thấy chân dùn khó bước
Mãn lo nghèo việc trước quên sao
Lỗi cùng cha con lại cúi đầu
Ơn nghĩa ấy để sau Phật định
1140. Căm Hờn ấy Trịnh –Hâm là nịnh
Lo mưu dùng Gia-định Đồng nai
Mặc ý người muốn mốt hay mai
Người ngay thảo nằm dài mà chịu
Mở miệng nói phải toan phải liệu
1145.Thương cũng nhiều ghét chẳng bao nhiêu
Thương trung quân ruột thắt chín chìều
Ghét tà nịnh không quên trong dạ
Lòng những nghĩ việc nhà khác lạ
Mấy ai mà vạch lá tìm sâu
1150.Vận còn nghèo nên phải cầm câu


Thời giàu có kẻ cầu người lạy
Đây không biểu đó mà che đậy
Vỡ ra thời mới biết vạy ngay
Để nằm đây nhiều kẻ giày bừa (33)
1155.Mưa gần tới sau chưa ngâm giống
Người ngay thác thác rồi lại sống
Kẻ gian tà biết thuở nào trông
Đừng đem lòng dạ bướm kề ông
Thác có bữa không trông trở lại
1160. Thấy thiệt thà bây chê rằng dại
Nghỉ phận mình xét lại chẳng khôn
Tần-Thủy-Hoàng đốt sách mà chôn
Nên Phật khiến tiền tồn hậu thất
Người trung nghĩa phải lo còn mất
1165. Đừng học đồ cà khất điếm đàng
Mà phá xóm phá làng cả lũ
Đạo làm lành nào ai có rủ
Mặc ý người tu đặng thì tu
Khó biết bề biển Thánh rừng Nhu
1170. Ai rõ đặng trung thu danh chiếm
Đạo đàng điếm thấy thời cũng hiếm
Người làm lành dễ kiếm đặng dâu
Ít có ai đào rạch bắc cầu
Mà kết thảm mua sầu trong dạ
1175. Thấy đời ở ở đời cũng lạ
Nói ma ma phần Phật ít người
Khen cho người người chẳng có khen
Ghét cho kẻ kẻ thời không ghét
Người nói chánh một thương chín ghét
1180.Kẻ nói tà một ghét chín thương
Cám thương chàng Lương-Ngọc lụy ương
Đi hành khất sa đường ngục thất
Bởi nghèo khó ra thân cù bất
Gởi thơ về thung thất đặng coi
1185.Người có lòng thơ gói vàng thoi
Trình sư phụ xem coi cho rõ
Noi chiến địa thây đầu phơi cỏ
Vái Phật trời soi tỏ lòng ngay
Bởi có non có nước có cây
1190. Đời có vạy có ngay khó ở
Một cuộc đất chỗ bồi chỗ lỡ
Mình thở than than thở một mình
Chớ có ai đem dạ hữu tình
Mà lo đạo với mình một thuở
1195. Nói cà vơ lâu ngày mắc cỡ
Phải lo bề dìu bỡ hè nghiêng
Căm hờn thay Bùi-Kiệm đảo điên
Vong tiền nguyện lòng riêng một thế
Mắt thấy chị lòng dùng mưu kế
1120. Loài súc sanh còn để làm chi


Lại biểu rằng tượng rách bỏ đi
Chùa đóng cửa tu chi hương lạnh
Căm hờn bấy những loài ngang ngạnh
Vào quán trung chưng mặt khôn tranh
1125.Người làm lành dù lạnh cũng thanh
Kẻ hung bạo hôi tanh thời bỏ
Thây đã gởi muôn ngàn ngọn cỏ
Sao chẳng lo nói nhỏ nói to
Cơm của trời nó muốn ăn no
1130. Đất của Phật ở lo sanh giặc
Thương tiểu đồng (34) trông tin vắng bặt
Đạo tớ thầy gay gắt nhiều phen
Lòng người ngay giữ phận khó hèn
Lều bên mả tối đèn sáng tỏ
1135. Cơm bá tánh lo đền ngọn cỏ
Vậy mới rằng thỏ ẩn chờ trăng
Người có lòng sau có cơm ăn
Đừng làm chuyện lăng xăng mà đói
Cơm phơi khô để dành một gói
1140. Muốn mắm thời coi để có ngăn
Khá lo bề giữ việc làm ăn
Ngỏ chờ thuở cung trăng nhành quế
Đời nhà Hớn Khổng Minh mưu kế
Lo ngày sau tế thế Nam trào
1145. Chớ đem lòng vội lý phụ đào
Mà chẳng đặng ra vào dinh thất
Chẳng nhớ thuở vì sao hướng bắc
Đến bây giờ nhị vị rất linh
Ngó thấy sao Cửu diệu thất tinh
1150. Coi như thể lượng hình gần tỏ.

Lo đạo đức khỏi vòng ngọn cỏ
Lo làm giàu cũng khó nỗi lo
Vận còn nghèo hốt cát ra tro
Tới thời khá ăn no nằm ngủ
1155. Phải gắng lòng mà trồng đu đủ
Để ăn nằm tu rủ mà hư
Dạ cẩu trư thì hư gia thế
Phải lo dùm mưu kế thời nên
Quan Tư-Đồ ( 35) lập kế bề trên
1160. Mà sao lại không nên tại vận
Cũng mắc chữ tiền cừu hậu hận
Xét phận mình gởi vận hoàng thiên
Giặc kim-phiên đánh khỏi tốn tiền
1165. Tốn lỗ miệng mà an nhà nước
Con đẻ trước kêu rằng Hai Cả
Con đẻ sau kêu gã thứ ba
Con một nhà hai ngã người ta
Phật ngài nói con ma ma dắt
1170. Giận Thạch Hổ (36) lòng nam dạ bắc
Đuổi Hồ văn chạy tắt đông tây
Thấy việc đời mà ngán vạy ngay
Trong rừng vắng không thây mà bỏ
Nói chuyện vậy ai tường ngoài ngõ
1175. Khen cho người không rõ về đâu
Chốn Tam Châu dạ dốc bắc cầu
Nơi san lãnh đem sầu gởi đó
Đường thanh vắng không cho ai biết
Cơn dấy loàn còn tiếc làm chi
1180. Mặc ý ai đem bạc đồi chì
Thời đi tới trường thi mà học
Giận Dương Ngọc nói ngang nói dọc
Mình giỏi gì mà học khinh khi
Chữ phụ nhơn dạ bất tùng qui
1185. Sách hằng nói nhứt vương vi chủ
Đừng học thói con nhà không chủ
Cơm của trời ăn ngủ thời hư
Người trung quân tưởng đạo ưu tư
Mà lo chỗ lưu cư tại hậu
1190. Công danh ấy sang giàu mặc kẻ
Lo nỗi nầy Phật đẻ lần sau
Đừng tương rau mà dối đạo mầu
Người ngay thảo vọng cầu trời phật
Quả đời nầy nhơn vật dữ đồng
1195. Ai tu đặng giữ lòng thời khỏi
Châu Thiên Đức chăn dân một cõi
Ai có tài cho dõi thời theo
Lòng cho bền xích chó đuổi theo
Thời mới thấy khổ nghèo thiên hạ
1200. Châu công Cẩn (37) dùng mưu kế lạ

Ngô Tôn Quyền (38) giả dạ cầu hôn
Chẳng sá chi một nắm đất cồn
Mà chẳng dễ lưu tồn tại hậu
Thương nhơn nghĩa mới bay cơ lậu
1205. Đặng cho người lo hậu về sau
Giữ cái đầu chẳng đứt thời lâu
Đứng ngó thấy con trâu mà cỡi
Bạc bảy nén lòng đây đem gởi
Vàng mười thoi dạ giốc cho người
1210.Mặc ý ai muốn khóc hay cười
Mặc ý kẻ muốn tươi hay héo
Người quân tử ăn khôn nói khéo
Thấy người giàu nở héo mà thương
Nghĩ Trương Phi (39) trung liệt nhứt trường
1215.Chơn thơ đạo không tường mật kế
Cù (40 ) dậy lở hay rằng sự thế
Dạ tình cờ kế tại quân sư
Trời còn thương nhơn nghĩa tồn dư
Phật đại độ công tư tại sở
1215. Đời ít đặng đời nầy một thuở
Sao không tu mà đỡ cái thân
Chớ chê nhơn nhơn lại ăn tiền
Đừng chê nghĩa nghĩa mà ngồi trước
Cá gặp nước thời lội trước
1220. Chim túng lồng khó nỗi bước theo
Vận còn nghèo thấy thế cheo leo
Gà vỡ ổ con heo thức dậy
Dao của mình cầm gần trông cậy
Dám đem lòng sửa vạy sửa ngay
1225. Chim sổ lồng thời để nó bay
Cá gặp nước lội ngay thời rộng
Xủ quẻ Diệc quẻ nầy giao động
Đại quốc gia vạn vọng cửu trùng
Thời Hưng Thới anh hùng lai chiếm
1230. Khán bát quái đoài ly tầm kiếm
Nhìn lưỡng nghi tứ tượng xem tường
Thấy Châu Vương về phục nghiệp đường
1233. Đời Hậu Hớn cang tường chi mạo

CHUNG
Vòng Hoàng ân vạn tuế
Nam mô A Di Đà Phật
Chép xong ngày 19 tháng 2 (nhuần)
Năm Đinh Hợi
CHÂU ĐỐC

____

(21). Chưa tìm ra Lưu Khởi là ai. Phải chăng là Ngô Khởi giết vợ để cầu công danh?
(22).Mao Diên : Chiêu Quân là một cung nữ trong cung Hán Hiến Đế,vua sai Mao Diên Thọ vẽ hình các cung nữ để lựa chọn, Chiêu Quân không hối lộ cho Mao Diên Thọ nên Mao không vẽ hình nàng đẹp. Sau nghe tiếng đàn của nàng, vua tìm đến thì thấy nàng rất đẹp. Vua quở phạt Mao Diên Thọ. Y tìm cách trả thù, bèn gửi hình nàng cho vua Hung Nô. Quân Hung Nô tiến đánh, đòi nộp Chiêu Quân, vua phải đem Chiêu Quân sang Hồ.
(23). Tào Tháo đem binh đánh Tiểu Bái, Lưu Bị thua chạy sang nương náu với Viên Thiệu. Quan Võ ở Hạ Bì cũng chịu thất thủ, bỏ chạy lên đỉnh núi Thổ San đóng binh. Trương Liêu, tướng của Tào Tháo, đến gặp Quan Võ khuyên Quan Võ đầu Tào để bảo vệ gia quyến Lưu Bị.
Hôm sau, Tào Tháo truyền lịnh thâu binh về Hứa Xương. Quan Võ thỉnh nhị tẩu lên xe, tự mình đi theo hộ vệ. Khi quân đến trạm dịch, Tào Tháo truyền quân đóng lại nghỉ ngơi, lại truyền Quan Võ ở chung một nhà với nhị tẩu : Cam Phu nhân và My Phu nhân, hai bà vợ của Lưu Bị, tức là 2 chị dâu của Quan Võ.
Đêm ấy, Quan Võ cầm đuốc đứng trước cửa nhà suốt đêm để canh cho 2 chị dâu an giấc, đồng thời lấy Thanh Long đao chém sạt một góc tường để người ngoài nhìn vào thấy rõ lòng quang minh chánh đại của Quan Võ. Tào Tháo biết được đem lòng kính phục vô cùng. Tào Tháo dắt Quan Võ vào triều yết kiến vua Hán Hiến Đế, được vua phong cho chức Thiên Tướng Quân. Sau Quan Vũ phò hai bà chị về gặp Lưu Bị.
(24). Nằm giá, khóc măng: hai tích này nói về lòng hiếu thảo. Vương Tường, đời Tần, mồ côi mẹ, phải sống với dì ghẻ. Bà dì ghẻ rất độc ác, tuy vậy, Vương Tường vẫn một lòng hiếu thảọ Có một mùa Đông tuyết giá, bà dì ghẻ thèm ăn cá tươi, Vương Tường bèn cởi trần nằm trên băng tuyết để chờ bắt cá. Bỗng nhiên tảng băng bị nức làm đôi, có hai con cá chép nhảy lên. Vương Tường bắt hai con cá về cho dì ghẻ ăn, nhờ vậy mà cảm hóa được lòng bà dì ghẻ.
Mạnh Tông, đời Tam Quốc, mồ côi cha, sống chí hiếu với mẹ. Đang mùa măng khan hiếm mà mẹ bị bịnh, thèm ăn măng. Không biết làm sao, Mạnh Tông ra bụi tre sau vườn ngồi khóc. Bỗng chốc có mụt măng dưới đất mọc lên, Mạnh Tông bèn hái về nấu cháo cho mẹ ăn, nhờ đó mà mẹ khỏi bệnh.
(25). Tây Bá là Cơ Xương: vua Trụ nhà Thương tàn ác, ngoài mặt phong Cơ Xương làm Tây Bá, thống soái một phương, nhưng lại tìm cách vờ mời Cơ Xương đến kinh đô Triều Ca, rồi bịa đặt ra tội danh để bắt giam Cơ Xương ở ngục Dữu Lý. Sau nhờ bầy tôi của Tây Bá dâng mỹ nữ, vật lạ cho vua Trụ, Trụ mới tha cho Cơ Xương. Sau Cơ Xương được trở về đất Chu, Cơ Xương tăng cường gấp rút diệt Thương. Sau Cơ Xương mất, con ông là Cơ Phát kế nghiệp, thực hiện được ý nguyện của ông, diệt vua Trụ nhà Thương, xây dựng lên nhà Chu, trở thành vua Chu Vũ Vương, truy tôn ông là Văn Vương.
(26).Thiên Luông: Lý Thiên Luông đỗ trạng nguyên đời Tống. Quan Thái sư Tạ Thiên Thành dùng con gái là Thể Loan để lôi kéo Thiên Luông. Thiên Luông theo lời mẹ giữ lòng trung hiếu. Quan thái sư khởi loạn, bắt giam Lý Thiên Luông may nhờ con của Thái Sơn là Tạ Qui Sơn cứu ra khỏi ngục, bắt Thiên Thành cứu nhà Tống. (Tuồng Lý Thiên Luông).
(27). Đời Tùy, Tùy Văn Quảng giết cha và anh để cướp ngôi. Tại Nam dương thành cha của Ngũ Vân Thiệu trấn thủ liền trở về kinh thành để khuyên vua nào ngờ bị vua giết chết ! Ông hiện hồn về khuyên con Ngũ Vân Thiệu nên chống lại triều đình phất cờ khởi nghĩa nhưng vì sức yếu thế cô nên Ngũ Vân Thiệu đành thất bại đành cùng phải gia đình dân chúng ...chạy trốn . Mẹ Ngũ Vân Thiệu không chịu đi đã bị quân triều đình thiêu chết ! Giả thị lúc đó đang có mang - sinh giữa sa trường mà qua đời ! Hồn nàng dẫn đường cho Vân Thiệu gặp người em kết nghĩa để tìm lối thoát

(28).Hoàng Phi Hổ sống dưới thời vua Trụ Vương (Ân Thọ), làm quan tới chức Trấn Quốc Vũ Thành Vương, cha là Hoàng Cổn - tổng trấn ải Giới Bài, em gái là Hoàng Thị - vương phi của Trụ Vương. Phu nhân là Giả thị đến mừng thọ Đắc Kỷ, bị Trụ Vương sàm sở, nhảy xuống Lộc đài mà chết. Hoàng Phi Hổ đem gia quyến bỏ sang nhà Chu. Tỷ Can là một người trong hàng chú bác của bạo chúa là vua Trụ. Ông thường can gián Trụ nên bị Trụ giết.
(28b).
Đường Duệ Tông, vua thứ 5 nhà Đường. Ông là con thứ tư của Võ Tắc Thiên. Thời Đường TrungTông, kế hoạch của Vi hậu đã bị thất bại và bà bị giết, và vào ngày 25 tháng 7 năm đó Trung Tông buộc phải thoái vị cho cha của Lý Long Cơ là An Quốc Tương vương Lý Đán, một cựu hoàng đế (tức Đường Duệ Tông). Ông bị giáng xuống làm Ôn vương như trước đó.

(29). Truyện Lục Vân Tiên: Đặng Sanh bắt gái nhà lành bị Hớn Minh trừng phạt.

(30). Mục Liên: Mục Kiền Liên, đệ tử đức Phật, có phép thần thông, xuống địa ngục cứu mẹ.

(31). U, Lệ: U Vương và Lệ Vương làm nhiều điều bạo ngược, vô đạo. Vua Di Vương nhà Châu truyền ngôi lại cho Lệ Vương. Lệ Vương hôn ám, bạo ngược, dùng kẻ tiểu nhân làm cận thần, hễ ai làm không vừa lòng thì bắt giết ngay. Dân chúng oán giận, nổi lên đánh đuổi, Lệ Vương chạy trốn vào đất Phệ huyện Hoắc tỉnh Sơn Đông và chết ở nơi đó. Con của Lệ Vương là Tuyên Vương tu sửa đức hạnh. Tuyên Vương ở ngôi được 46 năm, truyền ngôi lại cho con là Cung Niết, ấy là U Vương. U Vương say đắm Bao Tự, tìm đủ mọi cách để chiều nàng. Bao Tự thích nghe tiếng xé lụa, U Vương bèn truyền cho quân giữ kho mỗi ngày đem trăm tấm lụa, sai bọn cung nữ khoẻ mạnh đứng xé cho Bao Tự nghe. Bao Tự không hay cười. U Vương tìm mọi cách cho nàng cười mà không được. Có kẻ nịnh thần tâu rằng nhà vua muốn cho Vương hậu cười thì xin nhà vua cùng Vương hậu ra chơi Ly Sơn (Nay thuộc Thiểm Tây) đốt lửa lên để chư hầu kéo quân đến, rồi đến mà không có giặc thì tất nhiên Vương hậu trông thấy phải bật cười." U Vương cho là phải bèn cùng Bao Tự ra chơi Ly Sơn rồi cùng đốt lửa. Các nước Chu hầu thấy lửa tưởng là có biến bèn bôn ba đem quân kéo về Ly Sơn. Bao Tự đứng trên lầu trông thấy các nước chư hầu kéo đến mà chẳng có gì cả, thích chí vỗ tay cười ầm lên,. Về sau, khi kinh đô có biến thực, đốt lửa, chư hầu sợ bị lừa nên không ai đến cứu cả. U Vương bị giết chết ở chân núi Ly Sơn. (Thông chí, quyển 3, Liệt Nữ truyện, Đông Chu liệt quốc)

(32). Lý Thông phản bạn (truyện Thạch Sanh Lý Thông)

(31).Thoại Khanh: nguyên bản viết Thái Khanh, Phải chăng Thoại Khanh. Thoại Khanh lấy Châu Tuấn, Châu Tuấn bĩ gian thần hãm hại, Thoại Khanh dắt mẹ chồng đi ăn mày.

(32). Võ công, Nguyệt Nga : Truyện Lục Vân Tiên

(33). Thiên Lăng: Vua Tề già yếu, sắp qua đời, thái sư Tạ Thiên Lăng cùng anh em âm mưu chiếm ngôi, tống giam Phàn thứ hậu đang có mang. Bà Nguyệt Hạo là chị cả của các anh em họ Tạ, vốn cũng là một thứ hậu của vua Tề, đau đớn vì các em mình phản bội, đã cùng thái giám Tử Trình, Đổng Kim Lân và Khương Linh Tá lập mưu cứu thứ hậu và hoàng tử mới sinh thoát khỏi ngục tối. Chuyện bại lộ, Tạ Thiên Lăng sai Ôn Đình đem quân đuổi theo, Khương Linh Tá ở lại cản đường để Đổng Kim Lân đưa thứ phi và hoàng tử mới sinh chạy trốn. Khương Linh Tá bị giết . (Tuồng San Hậu)

(33).Để nằm đây nhiều kẻ giày bừa: Đoạn này nói về thực dân Pháp tàn sát nghĩa quân. Dân chúng và nghĩa quân như bị nằm xuống đất mặc cho quân thù giày xéo, dẫm đạp.

(34). tiểu đồng: Tiểu đồng của Lục Vân Tiên trung thành.

(35). Tư đồ: Quan tư đồ bày kế mỹ nhân giết Đỗng Trác cứu nhà Hán.

(36). Triệu Thái Tổ - Vũ hoàng đế (295 - 349),tên là Thạch Hổ, trị vì từ năm 334 - 349. Thời Tây Tấn, anh Thạch Hổ là Thạch Lặc cùng Thạch Hổ làm tướng, đánh giết nhiều nơi, bắt họ Đoàn, diệt họ Vũ Văn ở Liêu Đông.

(37).Châu công Cẩn : Quân sư của Tôn Quyền.
(38). Ngô Tôn Quyền: chúa Đông Ngô. Lưu Bi mươn kế cầu hôn với em gái của Tôn Quyền để thoát vòng vây của Ngô Tôn Quyền.

(39). Trương Phi: em kết nghĩa của Lưu BỊ, tính nóng. (Xem Tam Quốc Chí.

(40). Cù: con rồng. Mỗi khi có nơi nào đất chuyển động, người ta bảo rằng con cù dưới đất nổi dậy. Quấc Âm Tự vị định nghĩa cù Loài rồng không sừng; tục hiểu nó thường nằm dưới đất, chỗ nó dậy thành sông.Cũng có thuyết nói cù là con cá sầu.


No comments: