Tuesday, July 5, 2011

I. KIM CỔ KỲ QUAN 6


KIM CỔ KỲ QUAN
quyển I tập 6
Tài liệu tham khảo : Ấn bản 1957 và ấn bản 1964

(Ấn bản 1964 từ tr. 31 đến 33; cột 61-66)


61


2593. Để mà coi dạ khó không cầu (1957, 80)

Ngày sau ai thảm ai sầu cho ai

2595. Lời Phật Trời ghi để chiều mai

Làm người thời có hai tai nghe cùng

Chẳng phải ai chưng mặt anh hùng

Giác đời giác thể cho cùng mà nghe

Nghèo sắm xuồng, giàu có sắm ghe

2600. Để chờ có nước chèo te lên giồng

Sau không chuỗi mà cũng không vòng

Đàng điếm giựt lên giồng tay không

Tới đó thì hay việc gió giông

Nhà không người ở ruộng không ai làm

2605. Tiền xử tử rạng-chói mai hàm

Trung xử Đông lô hết làm hết ăn

Qua hầu xử Văn Giáo giáo văn

Thây phơi ngọn cỏ vô căn Phật Trời

Con trong nhà nói chẳng nghe lời

2610. Huống chi hàng xóm nói đời ai nghe

Xem thấy đời nhiều kẻ ( chỗ ) éo le

Tu sao như thể bụi tre mới mầu

Nhà có ngạch (vách ) rạch lại có cầu

Có thân sau chẳng lo sầu cho thân

2615. Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân

Có tang có tích có phân việc nầy

Sau có tớ trước tưởng ơn (việc )Thầy

Nằm buồn nghĩ lại việc rày minh linh

Bất tri chay , diệc bất tụng kinh

2620. Thường hành niệm Phật tâm linh nhờ Trời

Bất phân hương nay phải nghe lời

Tu tâm tu tánh hơn thời tu ngôn

Tu làm đại học lại làm khôn

Hết khôn tồn dại một môn hết hồn

2625. Có cọp đâu cọp mượn oai chồn (1)


Người tu còn xác còn hồn mới ngoan ( 1957; 81)

Con vua mà lấy thằng (kẻ) kẻ bán than

Duyên ai nấy gặp khôn ngoan nhờ Trời

Khó nỗi phân phận ( than Phật ) khó ở đời

2630.Trước thì thấy thiệt sau thì giả phi

Người khôn nghèo nhiều kẻ dễ khi

Dại (Vai) mang tuối bạc quấy chi phen (khen) đời

Nhơn tích ác nhơn hậu bại tồi

Bất như tích thiện thác hồi Tây-phương.


62

2635. Chốn giang hà đặt thủy Long-vương

Ngũ hành đặt để oan ương nhiều bề

Kim, Mộc, Thổ, Thủy, Hỏa hội tề

Dưỡng nhơn tích cốc ra bề vi ân

Lập thân phương tri nhơn khổ tân (tân khổ)

2640. Con mắt mịt mù hai lỗ tai đâu

Người đời nầy gẫm chẳng bao lâu

Lo bề giữ của lo sâu (sau) mùa (không ) màng

Có động động la xóm la làng

Kêu Trời kêu đất an nhàn tưởng ma

2645. Một người thác một đám làm ma

Nói Phật Phật giúp nói ma ma đời

Lời nói phải thời phải cho lời

Đem lời nói quấy quấy đời khổ lao

Người ở đời theo (nhiều ) bực thấp cao

2650. Quấy thời biết quấy làm sao có rầy

Việc làm quấy nói phải khổ rày

Khó suy khó xét nỗi nầy dại khôn

Sau lập lại một tổng bảy thôn

Thuận hòa không dại không khôn tranh hành

2655. Trời Phật thương vạn vật lập thành

Thú cầm đem lại vật lành người nuôi

Đường Tây-phương ít kẻ nói tới lui

Đường về địa ngục thả xuôi một bề

Cõi trung-ương sớm dựa tối kề

2660. Oan oan tương báo lập bề phi nhân.


Việc thuốc nam thuốc bắc vô ân ( 1957; 81)

Ngày sau thôi cũng vô phân thuốc rồi

Phật Trời về định chốn an ngôi

Ơn cao trả đặng định hồi sửa tâm

2665. Hoa tứ quí hưởng đắc cơ thâm

Vọng đông tưởng bắc minh tâm vững bền

Tưởng ơn sâu thập ngoạt lâm đền

Tam niên nhũ bộ cho bền chí trai

Đạo quân thần gánh nặng hai vai

2670.Trung hiếu phụ làm trai dặn lòng

Đời trở đời như thể bánh phồng

Mấy trăm mối việc giữ lòng cho siêu

Mặc ý ai lòng dạ tà yêu

Việc mình mình giữ cho siêu lòng mình

2675. Đổi tiếng nói chưa đổi tâm tình

Hội nầy khác thể như bình nước nghiêng


63

Tô nước đầy của Phật của Tiên

Đổ ngay xuống đất hốt riêng sau đầy

Trước hại Phật sau lại giết Thầy

2680.Tầm sư học đạo tội mầy bao nhiêu

Tớ phản sư tội xử tiêu

Học đòi Thạch-Hổ bao nhiêu chẳng còn (2)

Điểu thon von lòng điểu hao mòn

Cá nằm suối (giếng ) cạn dạ còn trong mưa

2685. Cửa Nam-thiên hang đá rào thưa

Tại vàm Ngả-Bát giây dưa lâu dài

Có lò gạch hai dãy mé ngoài

Xóm chài xóm lưới ở dài hai bên

Họa bản đồ ký tự sợ quên

2690.Ngã tư chợ quán cận bên chùa Thiền

Cầu bốn mặt chợ Phật lập tiền

Nam thanh nữ tú chuỗi kiềng nhỡm nha

Con mồ côi ít mẹ ít cha

Vợ chồng đều đủ xuôi gia vô tiền

2695.Không có con đeo mẹ mà phiền.

Tám mươi dỉ thượng lập tiền con đeo (1957; 82)

Đò tới bến người khá gieo neo

Chí tâm niệm Phật con đeo dắt dìu

Đánh nhiều sòng tiền bạc thua nhiều

2700. Me tới chén cụp đánh liều cầu âu

Bỏ liềm mển tới chén đánh cầu

Đi giáp bốn cửa cầu âu ba lời

Mình làm khổ đừng có than Trời

Gian nan không biết khoe thời rằng vinh

2705. Con mình đẻ rủa trẻ (lấy) yêu tinh

Tại lời bất chánh bất minh lộng tình

Chí mang cung cỡi ngựa một mình

Từ Nam chí Bắc mặc tình dạo chơi

Người còn mệt hơi mệt cho hơi

2710. Cỡi con ngựa đất thoát nơi Phiên trào

Bướm kề ong chen chúc chỗ nào

Qua Tây lấy dấu trở vào khai trương

Ngọn đèn hồng chói rạng nhà Thương

Mỏ mang đạo Phật Châu-vương ra đời

2715. Kế tương tự kế kế nguyền lời

Chừng nào sáng đất tối Trời Phật ra

Không phải Phật cũng chẳng phải ma

Khác người dương thế khác ta cõi nầy

64

Nhứt thân nhứt mã việc phải bày

2720. Để lời cho đủ hội nầy ưu tư

Khi bất túc khi lại hữu dư

Phòng cơ tích cốc lưu cư độ người

Bạc bảy hào ( nào) sánh với vàng mười

Mồ côi sao dám sánh người có cha

2725. Căm phận loài phản tặc lâu la

Giết cha chém chúa ( chú ) mới ra nỗi (đổi) nầy

Trâu của thế người lại bắt cày

Hai người Lục-tỉnh khổ rày trăm phen

Ăn của bạc trở lại ( bạc ) làm đen

2730.Thọ tài thọ tiển khá khen cho người

Trong bụng khóc ngoài miệng tức cười ( bản 1957; 84)

Vui chi ngọc lụy vàng mười kém phai

Trong hai năm còn lịch tống lai

Còn ba năm nữa kim giai của mình

2735. Chủ (Chúa ) trung tín mục khán tri bình

Câu nào thuyết nghĩa nhập tình nghiệm chơi

Đi vọng đầu có một con dơi

Ý sao để tích các nơi phượng thờ

Đường một ngày bay đến một giờ

2740. Linh chi bạch hạc phượng thờ án môn

Tôi nói dại người lại làm khôn

Linh thời tại ngã bất tôn thú cầm

Miệng niệm Phật ăn nói cho nhằm (3)

Cải tà qui chánh kẻo lầm quỉ ma

2745. Biết mở miệng niệm Phật ma ha

Phật mà không tưởng tưởng ma làm gì

Tôi thật khùng nói chuyện dị kỳ

Đặt làm một bổn biên thì ( thùy ) coi (cười ) chơi

Sợ con khóc thơ bé mệt hơi

2750. Cha mẹ già yếu một nơi không cần

Năm mười đứa cha mẹ nuôi gần

Đủ lông đủ cánh bay lần dễ khi

Phụ mẫu chi niên bất khả tri (4)

Ai ai phụ mẫu (5) sợ qui tuổi Trời

2755. Vậy mới rằng vọng tưởng lo đời

Tử sanh hữu mạng tuổi Trời biết sao

Có chữ rằng sanh ngã cù lao (6)

Âm thầm nghĩa trọng làm sao lo đền

Chữ dưỡng nhi đãi lão cho bền

2760. Nữ nam trung hiếu lo đền chỗ nao




65

Gia bần tri hiếu tử làm sao (7)

Mấy từng mấy bạc thấp cao làu làu (8)

Không cho ăn lòng ái đeo sầu

Chí tâm khẩn nguyện vọng cầu Phật Tiên

2765. Có chữ rằng hiếu chí ư thiên.


Dám khuyên nho sĩ hiếu riêng chỗ nào (1957; 85)

Chẳng lo sống ăn nói hỗn hào

Ôi lo thân thác chỗ nào chết ( ở ) êm

Ở dương gian nói láo nói thêm

2770. Thác về âm phủ sao êm thân ( phận ) mình

Chẳng xét ra hai cõi ẩn hình

Ai ai cũng ở lộng tình dễ khi

Người gian giảo sau thác ngu si

Đem về cõi Phật xử qui thú cầm

2775. Cõi dương gian nhiều kẻ mắc lầm

Coi rồi như thể trăng rằm tháng giêng

Bịnh đa (ngặt ) bịnh Phật chữa bịnh điên

Bịnh tôi chờ uống thuốc Tiên mới lành

Nói lộn ruột tức bụng no cành

2780. Ngồi buồn nhớ tới nỗi nhành quế hương

Chữ tiền tài phấn thổ ( ám nhãn ) bất lương

Nước Nam hai chữ Kỳ-Hương để đời

Lòng tham bạc chứng có ông Trời

Đời bạc dụng bạc trải đời chiều mai

2785. Có chi hơn một kiểng Thiên thai

Vui miền Thánh đạo gái trai ân cần

Gia chí khổ nhơn tắc chí bần

Đồ xa tích túc của trần phủi tay

Của người Tây trả lại người Tây

2790. Tân trào phế luật chẳng ngay tẩy tài

Kiểng Tiên nga sau đặng lâu dài

Vô cùng mưu trí phép tài mới nên

Ví cũng như Ngũ Thiệu (9) bị tên

Máy tay thãm giọng phò nên tử hoàng

2795. Nhớ tới đâu nước mắt hai hàng

Ông phò-nhị-tẩu ( 10 ) vẹn toàn đệ huynh

Chừng nào nghe một tiếng âm thinh

Lạ quê lạ kiểng bình minh lạ người

66

Lạ non núi lạ dạng nói cười

2800. Mặt mày lơ láo như người cuồng phu

Ráng chịu khó cho có công tu ( 1957; 86)

Dồi mài biển Thánh rừng Nhu mặc ( minh ) tình

Có chịu khó mới có nên mình

Khó khôn khôn khó lậu tình chánh minh

2805. Có ăn học mới biết sử kinh

Chữ đâu đem tới chánh minh cho mình

Có làm khó mới có của mình

Ở không chờ của đem tình cho ăn

Khá lo bề thượng thọ quí căng

2810. Của trần trả thế lo ăn cho trần

Quốc tri phú gia tắc tri bần

Du tri gia thảo hiếu cần mấy ai

Có chữ rằng thiên tứ hậu lai

Nương theo đức Phật chiều mai an mình

2815. Hạ bút Thần ký tự du tình

Vọng cầu đức Phật lọan bình quanh minh

Chói đền Nam tỏ rạng Đẩu-Tinh

Làu làu tuyết chói quảng thinh cửa chùa

Chí làm đền hương tích một vùa

2820. Nam mô hai chữ hội chùa Tây-An

(Đoạn dưới bản 1957 không có)

Vọng đền Nam hai chữ Trung Cang

Đặt làm một bổn tam ban để đời

Chúc đường trào thọ tuế Phật Trời

Kính dưng tuổi chúa hưởng đời trường sanh

2825. Đức Phật trời tha tội chúng tôi

Nam Mô A Di Đà Phật

Sanh tử tử sanh Trời Phật định

Vi ngôn đại đạo bịnh tồn lâm

Ất mão thiên cơ thâm nan biện

2830. Cải tử hoành sanh truyện Tây-Minh

Chúa Thánh Nam trào tinh chiếu diện Phật hiện hải đông

Nam mô quan thế âm bồ tát (tam biến)

2833. Đức Phật Trời tha tội chúng tôi.

Hết quyển thứ nhất Kim Cổ Kỳ Quan


_____

CHÚ GIẢI

(1). Bản 1964 ghi "Cọp có đầu cọp mượn oai chồn.
(2). Thạch Hổ tức Triệu Thái Tổ - Vũ hoàng đế (295 - 349),tên là Thạch Hổ, trị vì từ năm 334 - 349. Ông còn được gọi là Hậu Triệu Vũ Đế. Ông là cháu của Thạch Lặc, cuộc đời trai trẻ đi theo Thạch Lặc chinh phục các nơi, lập ra nước Hậu Triệu này. Ông từng một lần tàn sát hơn 10 vạn dân trong thành bất luận già trẻ lớn nhỏ Ông giết huynh trưởng là Triệu Vương cướp ngôi vị,
(3).Nhằm: đúng; nói cho nhằm: nói cho đúng.
(4). Phụ mẫu chi niên bất khả tri dã 子曰、父母之年、不可不知也、一則以喜、一則以懼。Khổng Tử nói " làm con phải biết tuổi cha mẹ, một là để mừng hai là để lo".
(5).Kinh Thi có câu: Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao, dục báo chi đức, hạo Thiên võng cực. 父兮生我,母兮鞠我, 哀哀父母,生我劬劳, 欲报之德,昊天罔极。(Cha thì sanh ta, mẹ thì nuôi ta, thương thay cha mẹ sinh ta nuôi dưỡng khó nhọc, muốn báo ơn sâu, ơn đức của cha mẹ mênh mông như bầu Trời.)
(6). Cửu tự cù lao:九字劬勞 Chín chữ cù lao, tức là chín điều khó nhọc của cha mẹ sanh dưỡng con cái. Chín chữ cù lao gồm: 1.Sinh: Sanh đẻ. 2.Cúc: Nâng đỡ. 3.Dục: Dạy dỗ. 4.Phủ: Vuốt ve triều mến. 5.Xúc: Cho bú sữa. 6.Trưởng: Nuôi cho khôn lớn. 7.Cố: Trông nom. 8.Phục: Ôm ấp. 9.Phúc: Bảo vệ.
(7).Gia bần tri hiếu tử : Nhà nghèo mới biết con hiếu.
(8).Mây bạc: Do chữ bạch vân mà ra . Địch Nhân Kiệt đời Đường đi làm quan xa , thường chỉ đám mây trên núi Thái Hàng mà nói . "Nhà cha mẹ ta ở đây". Nghĩa bóng là nhớ cha mẹ, quê hương.
(9).Ngũ Thiệu tức Ngũ Vân Thiệu, một nhân vật trong truyện "Thuyết Đường",là ngườiđ ẹp trai, giỏi võ nghệ.
(10). Ông Phò-nhị-Tẩu: tích Quan Công phò hai bà vợ của Lưu Bi khi cả ba bị Tào Tháo bắt.


No comments: