Saturday, July 16, 2011

VIII. TIỀN GIANG 2


tr.205- 208; cột21-34

KIM CỔ KỲ QUAN QUYỂN VIII

TIỀN GIANG 2

tr.203- 211; cột 17-34


tr. 203- cột 17

665. Đường nhiều ma quỉ hôi tanh

Đi tắt cũng khó đi quanh dễ gì

Trước lo chúa khổ Bắc-Kỳ

Sau lo Nam Việt bất tuỳ nguy bang

Văn chương Bắc địa hiển vang

670.Nam-kỳ dốt nát gian nan chẳng lừa

Bấy lâu dạ ở thỏng thừa

Bây giờ xét lại lọc lừa nghĩ xa

Đừng lòng chung chạ Phật ma

Dương gia ly bạn Diêm la ly bình

675. Khuyên người cải thửa tà tình

Đem lòng minh chánh Phật nhìn chúng sanh

Muốn cho hưởng phước ngươn hanh (1)

Thời người bỏ dạ đua tranh bạo tàn

Bạo tàn là việc điếm đàng

680. Nhà tu phải tránh bạo tàn cho xa

Người ta ba thứ người ta

Người thời tưởng Phật người ma khuấy đời

Tưởng Phật thiền Phật thiền Trời

Tưởng ma đem dạ báo đời thiền ma

685. Chỉ đời Tiên Thánh Diêm la

Bữa nay đốt đuốc hôm qua sáng loà

Chớ thấy vóc ngọc mình ngà

Thời người qui chánh cải tà khó âu

Thấy cạn người chẳng lo sâu

690. Việc người người biết biết đâu việc mình

Khiến nên bất thính nhỉ tình

Việc ai nấy biết việc mình minh mông

Việc người thiệt có mà không

Tôi không mà có dạ mong chịu hoài

695. Quân xử thần tử đắc tài

Phụ xử vong tử chịu hoài tiếng nhơ

Bao gìờ minh thiện hồi sơ

Phật Trời rửa sạch bợn nhơ cho mình

Phàm nhơn lấp tội chê tình

700. Người Phật mấy tội trong mình phải khai.


Che người dương thế tội ai

Có tội che Phật mình khai tội mình

Có không chứng có thiên đình

Không mà chịu có việc mình ai hay

705. Có tôi khó dấu phương Tây

Phật tra xưng tội khổ thay phàm trần

203- 18

Bữa cơm Phiếu mẫu (2) minh thần

Thân tôi chí khổ gia bần là tôi

Thảm phiền dạ muốn nổi trôi

710. Phật Trời cảm dạ than ôi đêm ngày

Gian nan chẳng kể thân này

Cực bề ăn ở theo rày đoạ thân

Biết phải khó việc phải ăn

Biết quấy cũng khó nói phân quấy người

715. Ôm lòng bụng khóc miệng cười

Trân trân giả dại như người lảng tai

Đường thỏ thấy tỏ đuôi nai

Dậm hòe đường vắn ngày mai chen rừng

Khiến nên đeo dạ ớt gừng

720. Thương cây nhớ cội thôi chừng chiêm bao

Qua cầu ba bực thấp cao

Thượng trung hạ chí biết sao vận thời

Hạ trung chí thượng an đời

Tỏ trong ba bực tỏ lời chiêm bao

725. Than nhựt than nguyệt than sao

Ba than ba thở chiêm bao vuông tròn

Dạ tôi than thở hao mòn

Cầu trời khẩn Phật mất còn cho xuôi

Vận nghèo trở gối tạm lui

730. Cầu trời khẩn Phật gở xuôi mối sầu

Thi ơn thi đức Nam lầu

Các ban không dạ lo sầu tận lương

Các nước mắc chốn oan ương

Ngày sau không trổ tích lương độ đời

735. Khó mở miệng lớn kêu trời

Chê già đổi mặt thay lời lăng xăng

Giữ lòng mười gốc một căn

Nước nào dạ ở lăng xăng chê già

Tội oan lòng ở bất hoà

740. Nào ai có ép tới mà nhiếc thêm

Than ngày rồi lại trách đêm

Bao nhiêu tù tội lại thêm tội tà

Lạy già rồi lại chê già

Thức hùng mới biết nước nhà tiểu trung

745. Đa oán đa dạ đa hung

Thiểu nhơn tri thức chí trung đạo nhà.

Đa nhơn bất thuận bất hoà

Lâm nguy thêm đạo già bạc đen

204- 19

Cơn giàu nhiều kẻ làm quen

750. Cơn nghèo bạc trắng thoa đen hì hà.


Ở sao bữa nghịch bữa hoà

Tức mình mà nói việc nhà quên thôi

Nói hoài chưa mát dạ tôi

Phải không chưa biết thương ôi cho đời

755. Có không quấy phải nguyện trời

Dầu tôi có thác còn lời để coi

Nịnh dầu có ghét chẳng soi

Người trung có dở mà coi cho cùng

Dầu mà thượng trí chẳng dùng

760. Phải coi cho đủ lời khùng chí công

Tự ý kẻ nghe người không

Nào ai có ép việc công phủ thờ

Bá gia sớm đợi tối chờ

Thân tôi hồn phách vật vờ chưa an

765. Thương đời Phật khiến lo toan

Nhục thời trước mắt hiển vang chưa tường

Ép ai niệm Phật tầm thường

Mà người phiền Phật nhiều đường gian nan

Gian nan Phật khiến tu tan

770. Người người tưởng việc bình an làm giàu

Phật cười rồi Phật làm sầu

Nam mô bồ tát làm giàu tiếng chi

Kẻ thời mòn thịt phân ly

Người thời tiêu cốt tiếng chi minh tường

775. Ta nay như bột như đường

Tạm dùng một lễ cúng dường thanh minh

Sống thời cắt nghĩa tâm kinh

Thác rồi để chữ u minh chê cười

Nôm na quên bảy quấy mười

780.Tiếng thời nghe tiếng nghi người khùng điên

Bột đường nước mát thì yên

Đậu xanh đậu trắng như riêng mỡ dầu

Làm ơn kết oán bạc đầu

Chiếu cổ trải lót cái dầu xài chơi

785.E người nhiều nỗi hụt hơi

Người còn chiếu cổ xài chơi mới lầm

Tu tâm tu lén tu thầm

Mình lầm Trời Phật chẳng lầm nịnh trung

Việc nào sanh việc thời hung

790. Tức mình mình hại người trung của mình

204- 20

Tây dầu lòng ở bất bình

Người mình nghĩ lại thương mình thì an

Nói vậy tôi nói dọc ngang

Tức mình đạo chánh hại tan một hồi

795. Tức mình muốn chết cho rồi

Tức thôi là tức nằm ngồi chẳng an

Tức là thậm tức Nam-bang

Tức người Nam-Việt hại oan Nam-kỳ

Bắc kinh (3) xưa cũng chẳng gì

800.Nam-kỳ nay lại Nam-kỳ chớ ai.


Ngồi buồn bắt mặt trông mai

Xưa nay một lệ tại ai phụ thầy

Chi công tội phước tỏ bày

Nam-kỳ lục tỉnh việc này ai hay

805. Thiệt là cay đắng đắng cay

Như người có tội không ngay thì hành

Không tội xỉ mạ sao đành

Đụng đâu đánh đó người hành động lây

Hành tiền hành bạc khó thay

810. Nghĩ đường nhơn nghĩa không ngay trong lòng

Có tội hành tội mang còng

Không tội mà cũng bắt còng dẫn đi

Tội chi không biết tội chi

Nghe người Nam-Việt tôi gây bắt đầy

815. Có ai mà hại nước nầy

Nghề võ thời đánh trả thầy nam mô

Nào hay ngô lại hại ngô

Tây nào có biết nam mô mà tầm

Nước đục bất dục ăn nằm

820. Xả gia cầu đạo chí tầm Tây phang

Bất tù lao khổ gian nan

Cầu qua tây điện hỏi han nước nhà

Ý sao từ trẻ tới già

Nhiều người lòng muốn ở mà theo tây

825. Như vầy sợ mất nước đây

Cho nên người muốn theo tây bạc tình

Lạy cha cùng mẹ cạn tình

Ở đây nhiều việc bất bình chúa tôi

Như vầy nước mắt bịch vôi

830. Bịch vôi có chỗ chúa tôi vọng cầu

Ca ca cung chính từng lầu

Ai ai vui vẻ tôi sầu chúa tôi

205- 21

Nước còn trôi nổi nổi trôi

Trời cao tỏ rạng Phật ôi cứu kỳ

835. Mắt thời để đó làm gì

Tôi thì bán rẻ biên thuỳ mua ăn

Đừng chê lão quán nói nhăng

Măng tre dầu đắng khó ăn dụng xào

Quán đây lỡ bước thì vào

840.Bà con có chỗ quán nào thì thôi

Thương người đội mão kim khôi

Giả làm thương quán giúp tôi nạn nghèo

Thiên Luông phò chúa qua đèo

Ngũ-Thiệu còn mắc nạn nghèo giả điên

845. Phép Trời thăm thẳm trừ Phiên

Giặc này không đánh cũng yên bây giờ

Lo cho một đạo nhà thờ

Thân tôi hồn phách vật vờ bảo quan

Lo cho niệm Phật lao xao

850. Chùa Thàng rực rỡ biết sao cứu rày.


Nơi nơi huỷ hoại đạo thầy

Chẳng nghe lời Phật càng ngày tiêu hao

Nhiều bàn từng thấp từng cao

Lòng không minh chánh biết sao việc tà

855. Trẻ tu bất luận lạy già

Già tu đắc chí trẻ hoà theo tôi

Ở sao dạ đánh đu dôi

Làm sao một dạ theo tôi trọn niềm

Niệm Phật tưởng Phật Phật tìm

860. Niệm cho tận ý trọn niềm thuỷ chung

Có phần tận hiếu tận trung

Không ai mang đoạ si lung đừng phiền

Ai ai cũng có căn tiền

Luân hồi trả quả dữ hiền quả tu

865. Hoặc là tu trí tu ngu

Hoặc là ở thế công phu dữ hiền

Tại vì căn quả chớ phiền

Người tu mắc đoạ người hiền an thân

Hoặc là thủ nghĩa thủ thân

870.Không phần Phật định khổ thân già đời

Tại mình xuất khẩu nan lời

Tu xa mãn đoạ đem lời bảo ngôn

Ví như bá nhẫn hiền môn

Đời này đừng ỷ sức tôn bại đồi

205- 22

875. Việc trước ắt tích thấy rồi

Cớ sao người chẳng lo hồi thượng thiên

Cõi nầy tam giái tương liên

Hậu lai cõi thọ trung niên cõi nầy

Qui lai nhứt thống tỏ bày

880. Trường sanh bất tử có ngày không đêm

Chừng nào nhựt nguyệt nghỉ êm

Đại điềm hội Phật tỏ thêm ngời ngời

Một ngôi thinh tịnh Phật Trời

Vỏ quân dân quốc tỏ lời cạn phân

885. Bá gia lòng muốn lập thân

Tai nghe lời chánh phải phân lời tà

Ngày sau bình trị nước nhà

Chồng kêu vợ dạ thuận hoà dưới trên

Con thời thưa dạ mới nên

890. Lễ nghi phép tắc dưới trên một lòng

Sao không bông chuỗi kiềng vòng

Trâm cài lược giắt giữ lòng chánh minh

Xét rồi hậu nhựt nước linh

Sau thời trung hiếu gái trinh giữ mình

895. Trai thời thọ sắc triều đình

Mão vàng thẻ bạc minh tình trung cang

Nơi nơi nhà dọc dãy ngang

Phố phường quán xá hiển vang vui mừng

Tôi nay dạ xát ớt gừng

900. Cay co chua mặn việc rừng việc sông.


Hội này đông đảo đảo đông

Hội sao đường trống gian không lại gần

Cõi trần than thở cho trần

Giáo răn nhiều thuở thương trần trần ôi

905.Phú dầu người có phụ tôi

Bần trung bần hiếu thương ôi tôi cùng

Có đâu bần giỏi xưng hùng

Phú gia chê phận bần cùng sạch trơn

Đây tôi chẳng phải Tây-Sơn

910. Đem lòng bắt Nguỵ xưng hơn chẳng đầu

Hai bí còn có ba bầu

Có đâu đem dạ chẳng sầu tiền căn

Gặp cơm gặp cá thời ăn

Chẳng lo tội phước tiền căn rối lòng

915. Vui chi bông chuỗi kiềng vòng

Quần đôi áo mới bỏ lòng Thánh Tiên

206- 23

Nước còn xao xuyến chẳng yên

Đem lòng chê Thánh chê Tiên thương phàm

Dạ sao chữ ( giữ) dạ lo làm

920. Không lo giữ đạo xác phàm ra ma

Tại mình trở lại trách ta

Trách ta ta trách con ma hại mình

Trường sanh lưu hậu lương tình

Thiên thanh tỏ rạng coi hình không sao

925. Không mưa không gió lao xao

Không làm ruộng rẫy ngôi cao thanh nhàn

Không ăn của thế chàng ràng

Không mưa không nắng thanh nhàn một nơi

Của tiên của Phật ăn chơi

930. Có chồng có vợ thảnh thơi ngôi Trời

Tới đó người thiệt một đời

Trường sanh bất tử ngôi trời vạn gia

Một cõi Trời Phật tiên nga

Trân châu báo vật vạn gia chói ngời

935. Ở giữa có một ngôi trời

Xây quanh tiên thánh chầu trời minh linh

Cõi Phật không sách không kinh

Không chuông không mõ tâm linh ở đời

Không có thú vật nương thời

940. Không ma không quỉ thiệt đời Phật ta

Thập bát đem lại vạn gia

Nói cho các nước bỏ ma theo trời

Phật cho xét tỏ việc đời

Trong hai muôn nữa thiệt đời truờng sanh

945.Hội này chen chúc yến anh

Còn lo một nỗi hôi tanh hậu trần

Nhơn nhơn các hữu kỳ phần

Còn lo một nổi âm thầm điều binh

Thương đời cho đặng khương ninh

950. Từ nay sắp tới âm binh dấy loàn.


Nhiều người chê nói bắt quàng

Nghĩ đi nghĩ lại bắt quàng là tôi

Một mình biết đặng ba ngôi

Nghĩ đi nghĩ lại thiệt tôi con trời

955. Thương người chẳng biết độ đời

Biết độ chẳng biết vận thời làm sao

Nói biết là tiếng nói cao

Biết thời người biêt làm sao thì làm

206- 24

Tôi nay cổ vướng nhiều đàm

960. Đục ngừ tiếng nói hai hàm lở đau

Đói dùng bữa cháo bữa rau

Mình đau mà độ người đau sao tròn

Độ sao thác mất độ còn

Phật cho độ vậy vuông tròn độ lâu

965. Độ đời cho biết cạn sâu

Độ bịnh thời dễ khó âu độ lòng

Khó độ bầy cá ròng ròng

Độ mật thời dễ cái còng ai mang

Trào tây độ bịnh độ tang

970.Bịnh người mình độ sợ mang bịnh mình

Phật độ trong bụng ngoài hình

Cãi Phật mình độ sợ mình lỗi chăng

Giáng hương một góc một căn

Hai người một bụng của ăn dư hoài

975.Độ trước là độ khoe tài

Nhứt gia vi chủ con ngài sợ lâm

Thương thầy nhiều dấu cơ thâm

Mãng nghe tiếng nói sợ lâm luật hình

Trách ai tư lự một mình

980.Thầy còn ngồi đó tớ tình riêng căn

Mắt ngọc sợ mắc lo ăn

Lỗi niềm cơm áo lạc căn Võ-hoàng

Có ai cản lộ ngăn đàng

Mạnh ai nấy bước tới tràng mà thi

985. Làm tớ dạ dắt thầy đi

E là phận tớ lòng khi phần thầy

Thấy đó đời khó phân bày

Tớ trung thời dắt phận thầy bói đuôi

Tôi sợ người độ không xuôi

990.Độ xuôi tôi cũng đổ xuôi về trời

Thấy sao trâu nhỏ ngó trời

Trâu lớn của Phật cỡi thời khỉ la

Không dè đại thánh ngài ra

Ngài ra bất tử thiệt ta không dè

995. Không nếp có đâu có mè

Không vừa thì để sau hè mà coi

Phật dạy tôi thời xét soi

Có không bá đạo không coi thì tường

Bảo tôi ra dấu chỉ đường

1000. Việc đời khó dễ sao tường kiết hung.


207- 25

Mặc tình uốn éo nịnh trung

Tôi không có ép nói hung lỗi mình

Phật Trời nào có ép tình

Chẳng dùng đừng ngó biết mình đừng chê

1005. Thiệt tôi lời nói thì quê

Ai làm nấy độ không chê đạo nào

Đạo nào tự ý đạo nào

Giỏi thời độ giỏi của nào cho ai

Cho ai một vốn phải hai

1010. Phải ai tay nấy nào ai chia lời

Dục lợi là việc ở đời

Ở đời chẳng biết tội Trời Phật đâu

Mắc tội Trời Phật mới sâu

Sâu thời không thấy việc sâu thấy gò

1015. Chúa loạn có mắt theo phò

Tôi loạn cũng có tôi phò thân tôi

Người dầu chẳng nghĩ thì thôi

Nghĩ tôi tôi cũng thương tôi thương người

Lại e chút dạ chê cười

1020. Để thương khó tưởng những người lưỡng tâm

Phân vân tại quân cơ thâm

Dấu thời đổi đấu lưỡng tâm bất bình

Khiến sao khác dạng khác hình

Nhứt tâm Trời Phật bất bình phân ly

1025. Cuộc đời dạ phải hồ nghi

Chắc mà không chắc phân ly tớ Thầy

Gian nan dấu để tỏ bày

Nam mô bồ tát đạo thầy vi ngôn

Đạo thầy mưu vệ tử tôn

1030. Biết nghe lời Phật sống khôn thác càng

Chưn đi huê nở hai hàng

Tóc mây đuột đuột võ vàng âm bao

Dạ sầu thương nhớ ngôi cao

Lại e dân chúng lao xao đại điềm

1035. Lại e dân chúng khó tìm

Lại e tôi ở trọn niềm hay không

Sau còn hai hướng Tây Đông

Gió thời hai hướng thuận phong nhi hành

Anh em bền chí làm lành

1040. Đời này nhiều việc Phật hành khó phân

Nói vầy là nói dần lân

Nói đi nói lại tỏ phân dặn dò

207- 26

Thầy đà quá vãng phế đò

Lời ghi để dấu dặn dò nhớ xưa

1045. Để dành che nắng che mưa

Ai tin bến cũ đò xưa thời về

Tuy là đạo tác ngoài bìa

Lập thiền cơ nghiệp trở về cố hương

Cá không ăn muối cá ươn

1050. Người không nghe Phật khó thương để đời.


E bay mỏi cánh giữa vời

Bơ vơ cảnh cũ lỡ lời dạ thưa

E đi chậm bước tới trưa

Chớ tin bến cũ đò xưa mà lầm

1055. E là e dạ mưu thầm

Vui đâu chuốc đó không nhầm tri mưu

E là e dạ tư ưu

E người hữu dõng vô mưu phước tài

Nai kia vạt móng nằm dài

1060. May kia còn thịt rủi hoài tan xương

Chó săn cả lũ chẳng thương

Dỏng đuôi mà chạy mỏi xương nằm dài

Giỏi chi cả lũ khoe tài

Con nai trở mặt ngó hoài lũ săn

1065. Giỏi chi sủa chạy lăng xăng

Thịt đà tới miệng dở săn nhịn hoài

Con nào cao cẳng có tài

Con nào thấp cẳng cung hoài dưới trôn

Bây hư luyện tập một môn

1070.Con nai chạy khỏi hết khôn nhịn thèm

Mắc nước lông lá ướt mèm

Hụt chưn cụt mở lại thèm gò khô

Con ráy da láng mun ô

Lặn nước cũng giỏi lên khô cũng dùng

1075. Chàng ráy (Lía?) thiệt đứng anh hùng

Giỏi chi con chó chạy cùng khô khan

Tới đâu miệng sủa nghe vang

Ngoắt đưôi mà chạy lại mang hưởi lồn

Tầm bậy mà có tiếng đồn

1080. Nhiều người dị nghị như cồn phù sa

Chẳng thương ơn mẹ nghĩa cha

Thiệt đời thiểu Phật đa ma hại hoài

Vật còn nhớ nghĩa lâu dài

Ngựa linh bỏ cỏ thương tài tử du

208- 27

1085. Dậm chưn la hét rừng thu

Cứu đường Đinh-quí ai tu cho người

Nghĩ thôi nhiều việc tức cười

Vật còn nhớ nghĩa huống người quên ơn

Thương là thương đức thánh nhơn

1090. Ghét là ghét kẻ phi ơn nhiếc hoài

Thương là chưởng thực lâu dài

Ghét là ghét kẻ bất hoài lời xưa

Thương người trí huệ đẩy đưa

Ghét là ghét kẻ chẳng ưa Phật trời

1095. Thương ông Bàn-Cổ (4) lập đời

Ghét là ghét kẻ trái lời Minh-Vương

Thương thầy dạy đạo mạc Thương

Nói ra như ngựa buông cương thiếu gì

Thương đời Võ-Hậu nhà Tùy

1100.Ghét là ghét kẻ chẳng bì cổ kim.


Thương người lập đạo cơ nghiêm

Ghét là ghét kẻ phi kim chẳng dùng

Thương đời Ngũ-Hổ chẳng dùng

Ghét là ghét kẻ chẳng dùng lời ngay

1105. Thương người Triệu-Khắc bỏ thây

Ghét là thiệt ghét lũ bây cáo cầy

Thương là thương đạo có thầy

Ghét là thiệt ghét ăn mày ắc tăng

Thương là thương đạo có căn

1110. Ghét là thiệt ghét cải tăng chùa thiền

Thương là thương trước lòng hiền

Ghét là ghét kẻ vong tiền phế ngôn

Thương đời Đường thất thế tôn

Ghét là thiệt ghét chưng khôn đời này

1115. Thương người biết đạo ra bài

Ghét là thiệt ghét Tàu Thầy Annam

Thương là thất hiếu hữu tam

Ghét là thiệt ghét quan tham dấy loàn

Thương người trung hiếu lở đàng

1120. Ghét là thiệt ghét xóm làng a dua

Thương người trí huệ nhịn thua

Ghét là thiệt ghét a dua Tây Tàu

Thương là thương kẻ ưu sầu

Ghét là thiệt ghét sang giàu không phân

1125. Thương người trung hiếu bần nhân

Ghét là quan chức không phân chánh tà

208- 28

Thương là thương hết trẻ già

Ghét là thiệt ghét trẻ già không tu

Thương người chiếm bảng trung thu

1130. Ghét là thiệt ghét không tu vô tình

Thương là sĩ khó một mình

Ghét là thiệt ghét vô tình tai nghe

Thương là thương kẻ trồng tre

Ghét là ghét kẻ không nghe đồn hoài

1135. Thương đời Trần-Giảo lâu dài

Ghét đời Lữ Thị ỷ tài sát Ngô

Thương người thọ tử lăn vô

Ghét đời Võ-Hậu sát Ngô tu phần

Thương người trung hiếu chẳng gần

1140. Ghét là ghét kẻ phản thần phá gia

Thương người trung hiếu nước ta

Ghét là ghét kẻ tà ma chẳng hiền

Thương người Tây trước trung tiền

Ghét là ghét hậu chẳng hiền dạ tham

1145. Thương xưa tu chẳng cất am

Lều tranh trại muối không tham bạc tiền

Thương nay lập quốc cầu hiền

Nước thời khác nước bạc tiền thủ thân

Không có đồng bạc khó phân

1150. Bạc thời xài bạc thủ thân công bình.


Cá đâu lấy lưới vấn mình

Người đâu dạ ở việc mình sấm vang

Nỡ nào hiền lại nói ngang

Nở nào giữ đặng hiển vang đời đời

1155.Thôi thì hết Phật hết trời

Hết người trung chánh hết lời thảo ngay

Làm sao biết đặng dở hay

Làm sao biết đặng vạy ngay ở đời

Làm sao tỏ rạng Phật Trời

1160. Làm sao tỏ đặng chuyện đời hiếu trung

Còn hoài hung dữ dữ hung

Mấy người trung hiếu hiếu trung tiêu điều

Như vầy thác ít sống nhiều

Thác nhiều sống ít mai chiều chiều mai

1165. Nói có ba mặt sáu tay

Làm sao khỏi nắng đố ai trốn trời

Ra công dạy đạo lập đời

Ngôi nào dạ cải đam (đem) lời ép đâu

209- 29

Phải dò đường cạn đường sâu

1170. Không dò sao biết nẻo đâu sâu gò

Ý sao trào loạn muốn phò

Dạ sao mà dạ không dò nịnh trung

A dua múa mặt làm lung

Bất kỳ quấy phải nịnh trung không cần

1175. Thiệt là chí thiết thương trần

Sông mê trước mặt không cần giếng Tiên

Nước nhà hè ngã vạc nghiêng

Vì nói Nam-Việt hòa phiên kết thù

Hại ai bốn chữ linh phù

1180.Linh phù ai hại lao tù thương Tây

Phật Trời xem xét gian ngay

Ngả hườn hai ngả đắc Tây bói mờ

Bắc kinh mất nước Nam nhờ

Cũng như lập miễu phượng thờ người Tây

1185.Nói quấy nghe lại mới hay

Thuở xưa nhà lá trào Tây ngói nhiều

Giúp đũa như chó sủa chiều

Giúp lời mà có của nhiều ai hay

Nói bậy nghe bậy khó thay

1190.Nói phải nghe phải biết hay biết làm

Biết ngọn sao chẳng biết vàm

Biết ăn biết nói biết làm khó chi

Không biết thiệt nhiều người khi

Biết ăn biết nói biết chi thì làm

1195.Biết hết từ ngọn chí vàm

Từ vàm chí ngọn thì làm mà coi

Mình đánh mình khó cầm roi

Xuất tình cho biết không coi không cầu

Đây sầu e đó chẳng sầu

1200. Đây cầu e đó chẳng cầu Tây-Phương.


Mặt tình thương ghét ghét thương

Ghét thương thương ghét Tây phương hảng tường

Tới đây dạ giốc bán đường

Miệng ngon ruột ngọt om đường bỏ thây

1205. Vái trời phò hộ người ngay

Cho tôi không cánh mà bay mới tài

Thiếu chi kẻ bịnh nằm dài

Phần ai Phật định cho tài trừ ma

209- 30

Rạng đền đẹp đẽ đôi ta

1210. Đời này thậm khổ quỉ ma tranh hành

Ai ai khá khá làm lành

Tụng kinh nhiều tội Phật hành khó tâu

Thập vương tam bảo khó âu

Biến thiên biến vạn biến đâu không còn

1215.Nam-mô Bồ-tát chìu lòn

Trốn chui trốn nhủi dấu còn tiếng sau

Vợ chồng như thể trầu cau

Nhiều vôi phỏng miệng thuốc lau cay nồng

Xứng đôi vừa lứa đẹp lòng

1220.Cay co khúc mắc vợ chồng báo lai

Mất nước là nước mang tai

Nào hay một nước sanh hai lợi nhiều

Bán bưng mua bợ xế chiều

Lợi ít chẳng muốn lợi nhiều người ham

1225. Lợi nhiều hại nữa còn tham

Nhãn tiền nhục lợi còn ham lợi hoài

Trâu kia bỏ cỏ nằm dài

Người còn chẳng biết tích tài hại thân

Làm người quân tử phải phân

1230.Ý sau quân tử phi ân tích tài

Tích đức thì đặng lâu dài

Tích tài gây hoạ như ngoài Đại-Tây

Chừng nào hột cải lên cây

Người còn chẳng biết việc hay nói dài

1235, Xuất tình bình phú thơ bài

Đặt để ý tứ trổ ngoài một gan

Nói ngay trong bụng tích gian

Ngặt tình thậm ngặt dạ mang dê chuồng

Một trăm mối việc điều buồn

1240. Phật hành doạ tục dòm lòng song khai

Đây trai đó cũng là trai

Mặc tình em bậu đành ai thì đành

Chim khôn lựa nhánh lựa nhành

Gái khôn kiếm chốn trai lành gởi thân

1245.Phật trời lòng muốn thi ân

Dục trần là tục rửa thân lên giồng

Ai ai hiệp dạ thuận lòng

Chớ như thân gái có chồng khó phân

Con ma khó dựa gần ân

1250.Con Phật mới đặng cận thân trao lời.


210- 31

Dâm dục là tục trong đời

Hiệp nhãn mới đặng gần trời gần tiên

Kinh nguyệt nhiều kẻ chẳng yên

Rửa đường kinh nguyệt cõi tiên hiêp hoà

1255.Bất kỳ là trẻ là già

Huê tàng tuyết ngọc việc mà dính chi

Dục dâm tiếng đoạ thi phi

Hữu tà hữu chánh người khi thời lầm

Mang lời chê lén cười thầm

1260.Hữu ma hữu Phật phải lầm dạ dân

Chánh tà tà chánh khó phân

Phật ma ma Phật phàm dân bất tường

Dục dâm là việc giữa đường

Chánh ma không chánh Phật tường người ôi

1265. Dục dâm là việc tanh hôi

Nghĩ đi nghĩ lại có ngôi phật trời

Chẳng ai ép dạ người đời

Việc dâm là thiệt nhơ đời quá nhơ

E sạch chẳng sạch mà dơ

1270. E dơ mà sạch lòng dơ dơ mình

Nên hư trên có thiên đình

Việc người người biết việc mình mình hay

Việc lạ mắt lạ khó thay

Việc quen mà sợ không hay việc người

1275.Việc lạ mặt sức người cười

Dựa thân cận Phật thương người biết đâu

Cười người chẳng khá cười lâu

Cười ta tháng trước tháng sau cười mình

Thân ma dựa đặng Phật hình

1280.Tưởng đâu là dễ đem tình cười chê

Chia bề kết nghĩa phu thê

Việc là trần tục rửa mê cho người

Đờn ông nhiều kẻ chê cười

Một ngàn còn lại thiếu người một trăm

1285.Đờn bà chịu tiếng dục dâm

Một ngàn còn lại năm trăm dư ngoài

Phật trời ra trước độ dài

Tam thinh chiếu thế thiểu dài thiểu sanh

Một trăm dư bảy phế canh

1290.Thương đời nhiều kẻ khôn tranh bất tài

Bất ưu đảng hậu cười hoài

Nhơn ưu hậu hữu lâu dài phải lo

210- 32

Tam thinh xuất hiện tiêu tro

Chớ đừng thấy vậy ăn no vui cười

1295. Vui cười thiệt chẳng phải người

Người ma người quỉ vui cười chẳng lo

Chẳng xem việc thế đói no

Làm người lo bụng bụng lo cho mình

Phải lo gói gấm tình hình

1300. Chẳng lo mắc đoạ tại mình biết đâu.


Âm binh làm việc cao sâu

Ngày sau Phật khiến thấy đâu thấy tường

Biết thì chữ ( giữ) dạ độ đường

Minh mông như biển khó lường bao nhiêu

1305.Không tiêu thế cũng như tiêu

Hồn ma bóng quỉ phi diêu chẳng còn

Đổi sông đổi biển đổi hòn

Đổi trời đổi đất núi còn nổi thêm

Đổi người hồn Phật mới êm

1310.Đổi ngày rồi lại đổi đêm sáng ngời

Gom biển rồi lại gom trời

Gom mười tám nước gần thời một bên

Gom tuổi rồi lại gom tên

Các nơi đều đủ không nên đặt trùng

1315. Âm tác lâu lớn mới dùng

Nước Nam dân thứ anh hùng các nơi

Lội qua lội lại mà chơi

Người đồn nhiều chỗ nhiều nơi chẳng vừa

Lòng ai thì nấy lo lừa

1320.Chê tôi tôi cũng lo vừa thân tôi

Xác phàm ai cũng tanh hôi

Sợ lầm lòng thánh nên tôi sợ thầm

Sợ e lỗi dạ mà lầm

Khó xem kiếng Phật tay cầm tay coi

1325.Xử mình thọ tội ba roi

Người đều ngó thấy khó soi chánh tà

Việc nhà xem thấy bất hoà

Dụng tâm ra đấu bình hoà vận thi

Tâm đạo vấn đạo thức tri

1330.Tầm đạo bất vấn bất tri khoe tài

Chẳng phải thiếu việc kêu nài

Nhiều người bất trí bất tài khoe khôn

Ỹ mình trí ngữ đa ngôn

Chẳng dò dạ Phật khoe khôn dạ phàm

211- 33

1335.Đạo nào xem cũng chàm nhàm

Thua người ruộng rẫy ăn làm lòng ngay

Khổ chưng thì phải khổ tay

Biết đường trung hiếu giữ ngay khổ lòng

Khá ngay lai láng tràn đồng

1340. Biết thời gom lại vào lòng hai phân

Tuy là ăn nói vang rân

Biết đều quấy phải hai phân thời vừa

Việc nào đừng nói thiếu thừa

Nói sao nói vậy phải chừa nói thêm

1345. Đừng có nói bớt nói thêm

Tội ai nấy chịu thì êm ở đời

Thêm bớt mắc tội nơi trời

Nói ngay khỏi tội gian đời tội đa

Ngó thấy người sống hôm qua

1350.Bữa nay người thác người ma làm trời.


Phải xét ngay vạy ở đời

Sống mà cũng phải thác thời cũng hay

Lẩn thẩn ngày tối không hay

Lụi hụi thảng mản năm nay hết rồi

1355. Lao xao lo bạc một hồi

Lãnh bài điểm chỉ gói rổi việc Tây

Lo ăn mà chẳng đủ thay

Kẻ đủ người thiếu đời này lo hoài

Không ai lo trí lo tài

1360. Lo ăn tới chết nằm dài hết lo

Người còn lo đói lo no

Đời này thác lạ lại lo làm giàu

Ý sao người chẳng ưu sầu

Ngồi đâu nói chuyện làm giàu thiệt hay

1365. Đường sanh đường tử tên bay

Cực là thiệt cực thương thay hai đường

Chẳng lo quân nhược thần cường

Người nào dạ muốn một đường theo tây

Thác rồi cũng nắm hai tay

1370. Của tiền để lại con tây nó xài

Con nam lo việc lâu dài

Vọng đông tứ đại cầu tài giỏi thay

Chữ miệng liệu biện theo tay

Miệng đâu chữ đó như tây bây giờ

1375. Hai họ có một bàn thờ

Ngày sau bá tánh vật vờ xử tiêu

211- 34

Phật Trời cõi thọ thăng siêu

Hườn phàm tác sự tâm Nghiêu Thuấn tình

Vị đoan vị thị tạo hình

1380.Khai tâm xuất khẩu ác tình thiện thâm

Khai khẩu phá thạch phá lâm

Khai khẩu chánh sự loạn tâm nan hình

Nhơn bất chánh gia bất hình

Tâm nhi bất chánh sự hình bất an

1385. Vi lương nan vi thiện nan

Vi nhơn ác vị vị nan loạn tình

Minh chánh đắc vị gia bình

Quốc vương an trị dân tình thuận ngay

Của muôn luồng gió cũng bay

1390. Thác rồi cũng để hai tay xuôi mình

Để đâu cũng chẳng cải hình

Sống thì tranh đấu thác tình đem theo

Dầu mà cúng kiếng mấy heo

Hồn không ăn uống còn theo Diêm đình

1395. Vong tồn hiếu nghĩa tưởng tình

Hai ngôi còn xử việc mình dương gian

Phước thời hồn phách đặng an

Tội thì chừa lại dương gian hưởng phần

Noi theo thánh đạo dò lần

1400. Phàm trần nói việc Phong thần ít tin.


1401. Mấy khi có Phật giảng kinh

Linh thời tại ngã bất linh tại tình

Anh em xét lại trong mình

Việc nào tôi để bất bình hỏi tôi

1405.Phật trời thì ở cao ngôi

Cõi trung tôi ở biết tôi tầm khùng

Ngày sau các nước không mùng

Nghĩ ngơi có chỗ chung cùng có nơi

Nam nữ bất đồng ăn chơi

1410.Bất cọng nhứt tịch phạm nơi loạn tình

Thất tuế bất cọng sự bình

Đời này loạn ngữ loạn tình loạn tâm

Nam nữ bất đắc loạn dâm

Di đà thánh giáo minh tâm kế truyền

1415. Bây giờ nói vậy người phiền

Nói theo đàng điếm bạc tình người ưa

Người nay muốn ở theo xưa

Theo nay thì thiệt người ưa mới vầy.

(còn nữa)

_______

(1). Nguyên hanh: tốt đẹp ( chữ trong kinh Dịch)
(2). Phiếu mẫu:Hàn Tín người đất Hoài Âm nước Sở đời Tây Hán, thuở hàn vi thường câu cá ở sông Hoài. Có khi cả ngày tìm không được một bữa cơm. Phiếu mẫu thương thình thường cho cơm ăn. Tín tạ ơn, nói:
- Tôi ngày sau được đắc đạo sẽ xin báo đáp.
Một hôm, Hàn Tín đem cá ra chợ bán, gặp đứa tiểu nhân tên Ác Thiểu đón đường làm nhục, bảo:
- Chà, bán cá mà còn đeo gươm cho oai, nhưng có dám đâm ta không?
Tín ngẩn ngơ. Tên Ác Thiểu lại tiếp:
- Nếu không dám thì hãy chui dưới trôn của ta đây mà qua ...
Tín không do dự, cúi mình chui dưới trôn của nó mà đi. Người ở chợ đều cười ồ lên, cho Tín quá hèn nhát. Có người tên Hứa Phụ vốn xem tướng giỏi, nói với Tín:
- Tướng ngươi sang lắm, hưởng đến tước vương hầu, oai danh thiên hạ.
Hàn Tín phì cười:
- Một ngày chẳng có một bữa cơm no, còn trông giàu sang sao được.
Khi Hạng Lương khởi binh đánh Tần Thủy Hoàng, Hàn Tín đến đầu mong lập công, nhưng Lương khinh Tín, chỉ cho làm chức Chấp kích lang để dùng hầu hạ nơi trướng mà thôi. Sau Hạng Lương chết, cháu là Hạng Võ lên thay cầm quân, vẫn khinh thường Tín, cho Tín là tên "lòn trôn", hèn nhát nên không dùng vào việc lớn.
Trương Lương là quân sư của Hán Lưu Bang, biết Hàn Tín là người có tài kinh bang tế thế nên tìm đến, yêu cầu Tín bỏ Sở sang giúp Hán. Tín bằng lòng.
Hàn Tín được Hán Lưu Bang đăng đàn bái tướng phong chức Nguyên nhung, cầm quân đánh Sở. Đánh được nhiều trận thắng lợi to, cuối cùng hạ được Sở Hạng Võ, gồm thâu thiên hạ, thống nhứt đất nước, giúp Lưu Bang lập nên cơ nghiệp Hán triều, Tín được phong làm Sở vương.
Về quê cũ cai trị, Hàn Tín cho người tìm Phiếu mẫu và Ác Thiểu đến. Cả hai phủ phục, gầm đầu không dám nhìn lên. Hàn Tín sai người lấy ngàn vàng thưởng cho Phiếu mẫu gọi là đền đáp ơn ngày xưa. Phiếu mẫu lạy tạ ra về. Đoạn Tín lại phong cho Ác Thiểu làm chức Trung húy.
Ác Thiểu cực kỳ ngạc nhiên, thờ thẫn một lúc mới nói:
- Lúc trước tôi ngu lậu thô bỉ, chẳng biết đại nhân mà xúc phạm uy nghiêm, nay tội ấy được tha chết là may, còn dám mong đâu được ban chức tước.
Hàn Tín ôn hòa bảo:
- Ta chẳng phải là kẻ tiểu nhân hay cố chấp, đem lòng cừu hận. Hành động đối xử của nhà ngươi ngày xưa xem qua tuy có vẻ quá đáng nhưng cũng là một bài học luyện chí cho ta. Vậy nhà ngươi đừng tị hiềm, mà hãy nhận lấy chức ta ban.
Ác Thiểu cảm mến lạy tạ ra về. Hàn Tín lại nói với kẻ tả hữu:
- Tráng sĩ đó trước kia làm nhục ta. Lúc ta còn hàn vi, không thế lực gì, nếu ta chống cự, giết nó đi thì chưa chắc ta được như ngày hôm nay. Nhờ ta biết nhẫn nhục nên mới yên thân mà giúp được nước lập nên công danh. Nó giúp ta đấy, nên ta mới phong thưởng chớ không phải là việc vô cớ.
(3). Bắc kinh: nói Bắc kỳ cai trị Nam Kỳ sau 1975.
(4). Bàn Cổ 盤古 được coi là vị thần khai thiên lập địa, sáng tạo ra vũ trụ trong thần thoại Trung Quốc. Đây cũng là vị thần đầu tiên trong Tam Thanh của Đạo giáo. Theo Lão giáo, Bàn Cổ là thủy tổ của loài người, do Trời sanh ra, cũng giống như bên Thiên Chúa Giáo là Adam.






No comments: