Tuesday, July 5, 2011

I. KIM CỔ KỲ QUAN 1



KIM CỔ KỲ QUAN

Quyển I, tập I

Tài liệu tham khảo: ấn bản 1957 & ấn bản 1964


(KIM CỔ Kỳ QUAN ấn bản 1964 ghi
"soạn giả giữ bản quyền
"Trần - Quang - Trâm
"LÁNG LINH (Ông Thế)

"CỦA XƯA ĐỂ LẠI"

Đạo Thiện đánh máy toàn bộ

tập I, từ tr.1 đến tr.6.
Mỗi trang hai cột đánh số 1-12)

CHÚ GIẢI :

Trong đoạn này, tác giả khuyến tu, khuyến thiện


1


1.Trời muốn cho thảo thuận một lòng.

Tây phương (1) giáo (2) đạo chập chồng tại ai.

Phật riêng hờn lòng gái lòng trai.

Thung dung chi đó chiều mai soi đời.

5.Chẳng nhớ khi thầy dạy muôn lời.

Lời nào không có khi trời cũng ưng.

Lòng luống trông tới tiết (3) mùa xuân.

Trung thu niên Phật cầu quân hữu thần.(4)

Lòng chẳng phải thì chẳng có phần.

10. Ai tham sao đặng Mẹo Dần Thánh ra.

Chẳng tưởng Phật đem lòng tưởng ma.

Ngồi buồn nghĩ lại việc ta ưu phiền.

Tam tứ sanh lập hậu y tiền.

Chữ (5) lời cha dạy khấn nguyền Phật Tiên.

15. Tam tứ tử (6) thời thế mới yên.

Sống làm tôi Phật Kim phiên giao hòa.

Đức Chúa Trời giáng thế Phật bà.

Đức thầy lập đạo nối mà ngày sau.

Đường sanh tử gẫm (7) chẳng bao lâu.

20. Sao không giữ đạo ruộng sâu rèn lòng.

Bất cải tà sao đặng gần trong (8)

Khả tua (9) qui chánh giữ lòng Tây phương.

Đồng bạc trắng tích để mấy rương.

Bạc thời tiêu bạc khó thương con trời.

25. Đá cheo leo lời phải giữ lời.

Nhứt thinh rửa sạch lập đời thanh tân.


Thời lao xao quan lộn với dân. ( Bản 1957. tr.7)

Ai ai cũng vậy khó phân quới quyền.

Lo đói rách kẻ dữ người hiền.

30. Hiền còn dữ mất chớ phiền Phật tiên.

Trải ngậm ngùi kẻ dại người điên.

Trắc bình đâu vận Thánh Tiên ra đời.

Chẳng lo chi buôn lỗ bán lời.

Một trăm việc lỗ (10) rã rời tiêu diêu.

35. Người hình người lòng dạ quần yêu (11).

Thiên đình sai sứ xử tiêu quỉ tà.

Có hổ lang ác thú tới nhà.

Hùm tha sấu bắt trẻ già thương ôi!

Buồm gặp gió thoản (thuyền) chạy quên thôi.

40. Gẫm đời đen bạc chúa tôi không màng.


2

Thuận ăn muối nghịch khó ăn vàng.

Chim kêu lăng líu trên ngàn khó âu.

Sông thời cạn biển rộng thời sâu.

Một trăm thứ cá biết đâu hoá Rồng.

45. Người hình người lòng lại trăm lòng.

Chanh chua khế ngọt bưởi bòng khác nhau.

Thang mười hai nấc khó biết bao

Từ tí chí hợi biết đâu mai chiều.

Giận con hư mẹ lại đánh liều.

50.Qua năm Giáp Tý Ngư Tiều hoá long.

Mấy ai tường Rồng ẩn vực sông.

Nằm co khúc vịnh vội trông phụ hoàng.

Khó giữ thay Thạnh Mỹ rốt làng.

Giày da buộc chặt tầm đàng đi xa.

55. Trong nước nào có chúa có cha.

Quân Thần Phu tử kết ra vợ chồng.

Đua chen chi khôn dại cái lòng.

Phật Trời chẳng tưởng tưởng còng Diêm Vương.

Hạ Nam trào xứ mạt nhà Thương.(12)

60. Trung trần mắt thịt oan ương lụy mình.


Cõi dương gian ăn ở bất bình. (Bản 1957, tr.8)

Qui tà cải chánh lộng (13) tình đọa thân.

Ai nghĩ ai cũng gốc là dân.

Thượng thiên hạ địạ xử phân dương trần.

65. Sao chẳng xét có Thánh có Thần.

Có Trời có Phật sau lần có dân.

Ở làm sao nhân nghĩa chẳng phân.

Làm lành niệm Phật muôn dân thanh nhàn.

Trước có tổng sau mới có làng.

70. Có Vua có tướng có hàng bá quan.

Có thượng phẩm, hạ phẩm mới an.

Cõi trung tận thế nghinh ngang tiêu điều.

Sống thời ít thác thấy thời nhiều.

Phật Trời soi xét chín chiều ruột đau.

75. Mấy ai từng vạch lá tìm sâu.

Chim Trời cá nước đâu đâu bất hoà.

Kẻ chửi vịt, người lại chửi gà.

Chửi trâu, chửi chó, việc nhà bất minh.

Có Phật ra mới thấy việc linh.

80. Giặc Trời loạn động âm binh dấy loàn.


3


Con Mèo ngồi sợ Rắn sa đàng.

Dê thời ghét khỉ xóm làng sạch trơn.

Thập bát quốc làm hội đầu sơn.

Thăng thiên độn thổ nhờ ơn Phật Trời.

85. Nói làm chi khôn dại cái lời.

Di sơn đảo hải con Trời quang thiên.

Bầu linh dược Phật rưới bịnh điên.

Cõi trần giả dại giáo khuyên qua ngày.

Nỗi buồn riêng xuất ý tỏ bày.

90. Bút sa để dấu nhớ lời thầy ghi.

Người ở đời nhiều kẻ dễ khi.

Mặc tình thế sự làm chi thì làm.

Thân tôi nay như kẻ bán vàm.

Mỏi tay đậu nghĩ dễ làm khó ăn.


95. Mặt trời tròn nguyệt khuyết là trăng. ( Bản 1957, tr.9)

Âm dương day trở lăng xăng ba thùng.

Kẻ mất chiếu người lại mất mùng.

Trở về chốn cũ chung cùng Tây An.

Vận còn nghèo phải chịu gian nan.

100. Nam kỳ lục tỉnh thọ an chỗ này.

Trước làm tớ sau đặng làm thầy.

Ngồi buồn nhớ việc ăn mày Lý Công.(14)

Trông cuộc đời như biển như sông.

Đạo nào giữ đạo tôi không chê rày.

105. Cám thân tôi như thể ăn mày.

Cõi trần từ đặng theo Thầy an thân.

Lo đền Nghĩa thủ phận đền Nhân.

Sống thời làm tướng thác thân vẹn toàn.

Nhìn Kiểng–Tiên nước mắt hai hàng.

110. Biết sao đặng gặp bạn vàng hội ân.

Dồi mặt phấn da ngọc khó phân.

Tưởng niềm cốt nhục phụ thân độ đời.

Xuất đại điềm lồng lộng giữa trời

Có tên có họ để đời coi chơi.

115. Gặp hội đó Tiên Phật thảnh thơi.

Người lành cũng đặng một nơi an hoà.

Đất Đồng Nai đèn đỏ một nhà.

Độ trong bá tánh thượng hoà hạ an.

Dạy niệm Phật bỏ dạ dọc ngang.

120. Cải tà qui chánh kẻo mang khổ nàn.

Lập bá tánh thờ phượng một bàn.

Hội đồng Trời Phật nhứt tràng thánh tiên.


4


Cầu tiên vãng (14b) cứu độ bình yên.

Vọng cầu hậu vãng thánh tiên trung thần.

125.Chí cầu may niệm Phật lần lần.

Lập đông mãn tiết Phong thần ứng khoa.

Phật cõi trần Phật lộn với ma.

Dương gian mắt bịt thời xa Phật Trời.


Chốn đền Nam ngửa (15) trị để lời.( 1957, 10)

130. Gió day thương gió mưa trời thương mưa.

Trận thiên cơ như thể lưới thưa.

Một giờ ngó thấy đám mưa ngọc thuần.

Chưa thấy biển cũng chưa hết rừng.

Phép tài bậc hạ ngó chừng chu châu

135. Qua bực trung xã tắc tóm thâu.

Soi thập bát quốc việc đâu dữ lành.

Còn bực thượng Trời Phật để dành.

Kiếng soi ngó thấy dạ đành tây phương.

Thấy cõi trần nhiều nỗi tai ương.

140. Ghét thời lỡ ghét lỡ thương nỗi người.

Lỡ nỗi khóc cùng lỡ nỗi cười.

Một trăm việc lỡ như người chết khô.

Lỡ niệm Phật cũng lỡ nam mô.

Thấy sao những đạo Gia-tô thời nhiều.

145. Chẳng xét thương cho kẻ ngư tiều.

Công danh chẳng tưởng chín chiều trung quân.

Đền ngọn rau tấc đất mới ưng.

Thờ cha kính mẹ vạn xuân tuổi trời.

Khá noi theo Nghiêu Thuấn ở đời.

150. Nhà không đóng cửa lập đời thanh nghiêm.

Hạn tam niên lập hội phi liêm.

Tiêu nhơn tiêu vật thanh nghiêm lập đời.

Qui khôn cấn nhựt nguyệt trở trời.

Nhựt xuất khôn điện như lời không sai.

155. Mặt nguyệt xuất cấn điện qui lai.

Đông khôn Tây cấn chiều mai tròn vình.

Quốc dĩ dân ai muốn một mình.

Tây suy nam thịnh Thiên đình định phân.

Cõi lao xao quan lộn với dân.

160. Tam thinh xuất hiện phi ân bắc cầu.

Một cù lao sụp trước làm đầu.

Mã long ứng ngữ ra hầu quan thiên.


Thay mặt hồng ấn sĩ tu Tiên.(1957, 11)

Môi son má phấn hòa Phiên dạy đời.


5


165. Phật thương dân dạy bảo hết lời.

Giác mê cho kẻ ở đời trường sanh.

Tranh làm chi sự thế khôn lanh.

Hai hồn biến đổi hôi tanh xác phàm.

Chẳng phải ai cấm việc lo làm.

170. Lòng Trời lòng Phật lòng phàm khác nhau.

Có dò thánh mới biết cạn sâu.

Không dò thánh đạo biết đâu tâm tình

Con cá không ăn muối cá sình.

Không nghe cha mẹ lộng tình đọa thân.

175. Phải Phật ghét thì Phật không phân.

Phật trời ra dạy các lân nhiều lần.

Dạy niệm Phật tưởng thánh tưởng thần.

Ai dạy làm dữ tranh phần làm hung.

Lời giảng dụ dạy hiếu dạy trung.

180. Nhơn từ đức hạnh tiên cung hội đồng.

Trở việc thế như trở bánh phồng.

Lo cho dân chúng sa lồng âm cung.

Thác ( 16 ) âm phủ chẳng đặng lòng trung.

Tội hành địa ngục gian hung khổ nhiều.

185. Sống dương gian như ngựa không kiều.

Thác thời nhắm mặt đánh liều khóe thân.

Vậy cho nên nhơn nghĩa khó phân.

Như ghe bị sóng muôn dân khỏi nhàn

Có khai kinh đấp lộ nước tràn.

190. Các nơi đi tới tổng làng bình an.

Học đạo vô ưu học đạo nan.

Mặc tình thế sự dọc ngang ai phiền.

Bửu hương tự trở lại lập liền.

Khai kinh đấp lộ gởi phiền tứ phương.

195. Bộ bài cào nhiều kẻ lòng thương.

Giác mê giáo đạo oan ương chê cười.


Me bốn cửa thương hại nhiều người. ( bản 1957,tr.12)

Đấu kê đồ bác (17) hết cười lo toan.

Đề ba sáu thai vững lòng an.

200. Cửa nhà vườn đất tiêu tan còn ghiền (18) .

Lời Phật dạy niệm phật làm hiền.

Không tốn xu cắc lòng phiền nỗi chi.

Người làm dữ ta lại từ bi.

Nhẫn tâm định tánh có khi khỏe lòng.

205. Tu quốc vương có vợ có chồng.

Thuận con thuận cháu thuận lòng thì nên.

6

Chẳng nhớ khi bá nhẫn (18b) vội quên.

Trăm năm đọ lại hư nên nhờ trời.

Biết làm sao tỏ hết việc đời.

210. Thấy đâu nói đó để lời coi chơi.

Có mấy khi mà gặp vàng rơi.

Ngọc trầm kiếm đặng cho hơi thở dài.

Biết làm sao thấu đặng lòng ngài.

Con ai nấy dắt ra bài đối thi.

215. Gia nghiệp lại Tàu đến dĩ qui.

Châu thiên xét đạo dỉ tri Nam kỳ.

Nỗi lo đời xao xác biên thùy.

Tử sanh vô số dị kỳ chớ khi.

Máy thiên cơ trần thế bất tri.

220. Dương gian lộng ngữ kể chi Phật trời.

Trước chữ mực dạy bảo hết lời.

Làm lành niệm Phật theo trời chữ son.

Đem tiền bạc mua lấy miếng ngon.

Ai từng mua thúi thon von tấm lòng.

225. Buộc vạt áo không chắc vợ chồng.

Ngủ mê thức dậy khác lòng phân hai.

Người có phước họa khứ phước lai.(19)

Vô tình phước viễn họa lai khó phiền.

Phật chẳng dụng bạc cũng chẳng tiền.

230. Dụng lòng lòng chẳng ưu phiền thiện dươn.


Đời dụng bạc lấy làm ơn. (1957,13)

Sao bằng tích đức keo sơn giữ mình.

Của bá gia ( 20) thọ thực bất bình.

Phi ân bạc nghĩa thì hình mạng vong.

235. Kể từ xa Khương-Thượng đạo ông.(20b)

Bốn mùa tám tiết vội trong thơ nhàn.

Phận ở đây như kẻ lỡ đàng.

Trông nam đợi Bắc dạ càng quặn đau

Lòng thở than than thở rộng sâu

240. Gặp cơn lửa đỏ buông câu công hầu.

Tuổi hai lăm tưởng chúa vọng cầu

Hườn lai tráng kiệu công hầu danh nêu.

Thấy cuộc đời nhiều nỗi trớ trêu.

Xây lưng sấp mặt khó kêu Phật Trời.

245. Bất hiệp gia khiến nỗi rã rời.

Hiệp tan tan hiệp cuộc đời ly gia.

Miệng nam mô bồ-tát ma ha.


7


Tát vô thời ít tát ra thời nhiều.

Chốn sông sâu ngựa lội ngập kiều.

250. Dầu đây có phụ cũng nhiều nơi thương.

Dạ giốc lòng trồng Cửu-Ly-Hương

Chờ khi gió độc người thương tới nhiều.

Thương ba năm không chợ nhóm chiều.

Nhà không người ở niệm nhiều nam mô.

255. Thây không đắp mả để phơi khô.

Không nước mà uống nam mô đạo nào?

Gặp trận gió niệm Phật ào ào.

Chừng tan giông gió Phật nào thấy đâu.

Khả chí tâm mài sắt bền lâu (21)

260. Nên kim mới giỏi Phật đâu tức thời.

Tu nhứt kiếp ngộ Phật nhứt thời.

Thìn lòng niệm phật một đời gặp Tiên.

Mỏng như giấy ngó thấy việc yên.

Đừng lòng xao lãng Phật Tiên xa mình.


265. Chỉ đường trống nhiều kẻ vô tình.(1957,14)

Đường rừng thầm tối một mình dò ra.

Sợ ngày sau nhiều kẻ khóc la.

Nằm co nhịn đói Phật ma mới tường.

Đạo Phật nay gặp hội thái bường.

270. Tuy thời luân lộn (22) cang cường quốc-gia.

Khá gắng lòng niệm Phật Thích ca.

Di-đà lục (23) tự quốc gia yêu dùng.

Phật Di Lặc xuất thế anh hùng.

Quan âm ứng hiện tương phùng bá gia.

275. Đời không sợ Phật lại sợ ma.

Khuyên lòng bá tánh Diêm la gần rồi.

Thoàn ( Thuyền) linh đinh sống dập gió dồi.

Rày non mai biển mấy hồi gian nan.

Thở khó thở, than cũng khó than.

280. Vận nghèo phải chịu chưa an thửa (24) lời.

Của bá gia của Phật của trời.

Việc công lo sợ đổi đời xử tiêu.

Qua thỉnh kinh Đông-Độ trừ yêu.

Hiền lương nghĩa sĩ lời siêu để đời.

285. Việc chẳng qua số hệ ở trời.

Nên hư có một chữ thời mà thôi.

Lòng thở than dạ rối (25) trời ơi!

Đất bằng sấm dậy chúa tôi phân lìa.


8


Lo Tống-trào cơ nghiệp đem về.

290. Cầu cho Nguyễn chúa chớ lìa ngôi nhân.

Bất tùng nhuận ngoạt hồi tế tân.

Từ năm Kỷ-Dậu tỏ phân lại rày.

Thương chúng sanh Phật mới tỏ bày.

Chẳng nghe lời Phật hội này rã thây.

295. Chẳng xét vạy sao chẳng xét ngay.

Cẩn ngôn cẩn hạnh thời hay việc lành.

Phật tức tâm tâm tức Phật hành.

Vui say chi bấy việc lành vội quên.


Kẻ hái rau bắt ốc mà nên. (1957,tr. 15)

300. Nhà ngói nhiều bạc nhiều quên tu hành (26)

Nỡ lòng nào dứt cội bẻ nhành.

Phật thương dân chúng dạ đành lo toan.

Chẳng luận giàu cũng chẳng luận sang.

Bạc muôn thấy đó dọc ngang chẳng còn.

305. Tiếng vui nay là xứ Sài gòn

Ngày sau chốn cũ nổi cồn ( 27) vui hơn.

Giàu làm chi nhiều kẻ bất nhơn.

Bịnh quan khó cứu ơn dân độ rày.

Ghe vàng trôi mé biển dẫy đầy.

310.Thoàn chèo mát nước tới rày Kiến-An.

Nhà cột vuông kèo bảng sửa sang.

Nhà thờ Tấn-Đức cha toan lo rày.

Tổng Định-Hòa người tới dẫy đầy.

Tứ phương tùng phục hội nầy thảnh thơi.

315. Chữ phàm hí vô ích chớ chơi.

Đời này chưa được thảnh thơi vui cười.

Ai nghĩ ai người cũng là người.

Dân như cá cạn vui cười đắng cay.

Chim nghĩ cánh khỏe cánh chim bay.

320. Giặc đà bốn phía phủ vây bịt bùng.

Nước một chung chửa lửa an lòng.

Bịnh người thâm ngặt đèo bòng làm hung.

Gay gắt người kẻ nịnh ghét trung.

Muối kia xát dạ nhiều hung khổ hoài.

325. Chen chúc thay việc quấy nói dài.

Đường vương khát nước mắm chài dở coi

Uốn éo đời mở mắt khó soi.

Trừng chim bát hướng như roi Quấc-Trì.(Uất Trì Cung trong Thuyết Đường?)

Vàng vội bỏ chen chút thiếc chì.


9


330. Nhờ ơn Trời Phật thương vì sãi tăng.

Người lâm cơ phải chịu khó khăn.

Gia bần trí đoản như măng nữa lừng.


Chốn thị thiềng sau lại hóa rừng.(1957, tr.16)

Chát chua trong dạ ớt gừng xát tâm.

335. Chẳng vọng thất không tưởng mười lăm.

Dở hay hay dở cơ thâm tại trời.

Chữ quân xử thần tử trọn đời.

Sống thơm danh tướng thác thời rạng phong.

Phụ xử tử vong tử thọ vong.

340. Mới rằng phụ hổ tử long trọn niềm.

Người niệm Phật thì để Phật tìm.

Vọng cầu khẩn nguyện trọn niềm quốc vương.

Chốn lưới mê nhiều kẻ vấn vương.

Lõa lồ thân thể oan ương nhiều người.

345. Mê tiếng nói ham lẫn tiếng cười.

Xem sau xét trước ít người vọng đông.

Nên mình nhờ Phật thuyết đại công.

Ý sao nhiều ghét lòng mong oán thầm.

Trách Hồ-nhung miệng súng ầm ầm.

350. Phép nào qua Phật mưu thầm oán tha.

Người trách người ta lại trách ta.

Hồ đồ hỗn độn theo ma một đàng.

Giận lũ cáo quấy rối xóm làng.

Người ngay mắc nạn bạo tàn hân hoan.

355. Mặc thế tình kẻ dọc người ngang.

Rồi đây tới đó ngay gian thời tường.

Kẻ thị phi niệm Phật đưa đường.

Qua lộ Văn-giáo ( 27b ) vô thường huyết lưu.

Mặc thế tình bất trí bất ưu

340. Oán ân ân oán huyết lưu Nam-Kỳ.

E thân thác chẳng đặng bỏ bì.

Bây giờ quan quách cô dì chế tang.

Bất cải tà qui chánh bất an.

Cái ác tùng thiện khỏi mang nạn nghèo.

345. Sớm mai cơm chiều cháo qua đèo.

Tứ phương bảy bữa nạn nghèo không cơm.


Sao chẳng lo sớm quảy tối đơm.(1957, 17)

Bàn linh phượng tự cúng cơm vong hồn.

Tưởng sự vong như thể sự tồn.(28)

350. Bưng lên để xuống cầu hồn minh linh.

Tu thời giữ nam trung nữ trinh.


10


Tần vương làm hội đao binh nhộn nhàng.

Chớ bắt chước theo kẻ điếm đàng.

Qua Tây cầu Phật về làng niệm kinh.

355. Chớ chê rằng Trời Phật không linh.

Linh thời tại ngã bất linh tại tình.

Chớ ỷ tài tu dạng tu hình.

Tu tâm tu tánh tu tình thời nên.

Tu làm sao thấy Phật mà quên.

360. Tu trung quên chúa sao nên ở đời.

Thế ( Đời ) còn suy ngao ngán cái lời.

Muối dưa hẩm hút coi đời Hạ-ngươn.

Người ghét Phật Phật cũng ra ơn.

Chừng nào thủy kiệt băng sơn thì rồi.

365. Đá cheo leo câu chẳng móc mồi.

Chừng nào đặng cá phủi rồi gian nan.

Phụng sánh rồng phụng lại lìa loan.

Con còn dạ mẹ cưu mang tháng nào.

Đẻ giờ tý ruột thắt gan đào

370. Âm dương tương hội đầu vào đít ra.

Phật đẻ Phật hay Phật đẻ ma. (29)

Ma ma Phật Phật tại ta chánh lòng.

Con của vợ sao họ bên (30) chồng.

Đồng sanh đồng dưỡng cái lòng nào đau.

375. Ý làm sao chàng rể nàng dâu.

Người dưng đem lại lòng đau một lòng.

Ý làm sao bên vợ bên chồng.

Tương tề nội ngoại đèo bòng chửi nhau.

Thấy cuộc đời đau cũng còn đau.

380. Giác mê trái dạ trái nhau cái lòng.

Giác bát giác nói việc bao đồng.

Giác thời hết giác cái lòng hết trơn.


Giác hết giác ơn chẳng thấy ơn. (1957, 18)

Oán thời thấy oán nhiều hơn bảy phần.

385. Kể từ năm Kỷ-Dậu lần lần.

Tiểu khê qua khỏi sau lần đại giang.

Chí lâm đền bịnh hoạn cầu an.

Hết cơn bỉ cực giàu sang hầu gần.

Lời nói ra có Thánh có Thần.

390. Thiên tri địa chiếu gia bần nhứt tâm.

Chữ cơ thâm thì họa diệc thâm.(31)

Trí mưu quân tử minh tâm để lời.

Chữ tử sanh phú quí tại Trời.


11


Hết cơn bỉ cực tới thời thới lai.

395. Tích oán chi ai hại đặng ai.

Quả lai báo quả chiều mai đến rồi.

Nhớ cha mẹ khó đứng khó ngồi.

Xem trời ngó đất bồi hồi ruột gan.

Từ Tạ thị sanh dạ dọc ngang.

400. Mượn đao Thần-Huệ xử tan phản thần.

Tội phản chúa khó hưởng huê phần.

Vong sư phản đạo một lần này tiêu.

Gió mùa đông thổi mát hiu hiu.

Nhờ hồi Đế-Thuấn vua Nghiêu lập đời.

405. Sao chẳng kiêng có Phật có Trời (32)

Soi trong bá quốc thay đời Đế-vương

Tổn thập bát quốc tổng An-lương.

Xử tiêu một hội nhà Thương tẩy trần.

Trời ngài khiến hậu phú tiền bần.

410. Nam-bang Tấn-quốc Thánh Thần hội an.

Ăn cháo bí sau đặng làm quan.

Trà phê thuốc bịt (33) không an xác phàm.

Xanh như chàm há dễ hơn chàm.

Nghe quan lớn thượng lại vàm Long-Xuyên

415. Xưa bất thủ nay lại đầu Phiên.(34)

Bình thời mới có Phật Tiên ra đời.


Bất úy tử dầu tử tại Trời. (1957,19)

Tham sanh dầu sống ở đời làm chi.

Sống rạng tiết sống dại nhiều khi.

420. Con Trời cháu Phật khả vi châu trần.

Phật thương ai thời Phật định phần.

Tây thời cận Phật người gần đi xa.

Lòng tưởng Phật Phật độ lòng ta.

Lòng nào tưởng quỉ quỉ ma lộn vào.

425. Sống làm chi nhơ ( dơ) tiết anh hào.

Thác nương theo Phật cõi nào hội ân.

Cổ hà nhơn kim diệc hà nhơn (35) .

Quân thần đạo lý tối tân đại tình.

Ép gan son vọng cáo Thiên-đình.

430. Đèn (36) gương thấy mẹ con hình bỏ thây.

Nằm tưởng Phật thấy Phật phương tây.

Kinh ( Cành ) dương cứu khổ đổi thây con mèo.

Của ai giàu đem đổi người nghèo (37)

Khác nào bông bí đám bèo gió đưa.

435. Tình mặc dầu bữa sớm bữa trưa.


12


Xà lâm trận hỏa chuột mưa lên gò.

Chốn rừng nho biển Thánh khó dò.

Dễ mà chẳng học khó mò sao ra.

Ra mé biển ngó thấy ba ba.

440.Con Phật Phật biết con ma ma tường.

Cảnh nhị ngươn lập lại vi thường.

Thượng kim trung cổ cang cường nhơn dân.

Bất bịnh hoạn hồn bất ly thân.

Ngày đêm không ngủ nhơn dân minh tình.

445. Tôi thác trước đổi sửa dạng hình.

Còn y như thế bất bình bá gia.

Cầu hội lành nhờ lịnh mẹ cha.

Phước ai nấy gặp Diêm-la Thiên-đình.

Cõi trung thiên đa ngữ tâm tình.

450. Gian nan nhiều thuở Thiên đình xét soi.


Đời nhiều dụng bạc đúc vàng thoi.(1957, 20)

Nghĩa nhân chẳng xét chẳng soi chỗ nào.

Nghĩ tới đâu ruột thắt gan bào.

Trời thời thấy đó Phật nào thấy đâu.

455. Ngồi nghĩ nghị việc thế khó âu.

Đứt đầu đứt đít con trâu sổ chuồng.

Hết cơn vui ngó thấy cơn buồn.

Người đời khác thể tơ cuồn ( guồng) rối thêm.

Nhiều chỗ động chỗ Phật thì êm.

460. Phú tạo tật đố gây thêm oán thù.

Dĩ bất dĩ thì lại ở tù.

Hư nên thần khẩu oán thù hạ sanh.

Người nói lành lành lại khôn lanh.

Người nào nói dữ dữ đoanh vào lòng.

465. Giục dương gian cho kẻ mang còng.

Thác về âm phủ đổi lòng quỉ ma.

Trên phưởng phất lòng thiệt Phật ta.

Cõi âm phưởng phất quỉ ma báo đời.

Đời bất chánh mà chẳng sợ Trời.

470. Khiến xui việc thế rã rời tiêu tan.

Khổ thậm khổ chớ khá kêu oan.

Người nào luận việc khôn ngoan ở đời.

Lòng muốn cho tứ hải thuận lời.

Chư châu chư quốc gặp thời chiều mai.

475. Của hoạch tài bất phú hoạnh tai.(38)

Bất như tích đức chiều mai thanh nhàn.

Sợ chòm ong vở ổ bay tràn.

(còn nữa)


____

CHÚ GIẢI

(1). Tây phương: cõi Phật, nói về đạo Phật. Cũng chỗ tác giả nói Tây phương, hay Phiên bang là nói về Âu Mỹ.

(2). bản 1964 ghi chỉ đạo

(3). Bản 1964 ghi kiếp. Bản 1957 ghi tuyết. Có lẽ là tiết.

(4). Cầu có vua, tôi. Bửu Sơn Kỳ thờ Phật nhưng cũng theo Khổng, trọng lễ vua tôi, trung hiếu.

(5). Chữ: tiếng xưa, nghĩa là giữ gìn. Tiếng Trung nói là chữ, chự, giự

(6). Tam tứ sanh ... Tam tứ tử: ba bốn lần sanh...Ba bốn lần chết.

(7). gẫm: suy gẫm, suy nghĩ.

(8). Bản 1964 ghi lên giồng.

(9).Tua: do chữ Hán Tu là nên. Khá tua là khá nên, phải nên...

(10).Bản 1964: lợi

(11).Bản 1957 ghi còn yêu . Chữ nôm viết giống nhau nhưng đọc hai cách đều được. song bản 1964 đúng hơn vì quần yêu là lũ yêu ma, bọn yêu quỷ.

(12).Bên Trung quốc ngày xưa Tam Đại gồm ba triều Hạ Thương Chu, nhà Thương diệt nhà Hạ, nhà Chu thay nhà Thương. Câu trên không rõ nghĩa.

(13) lộng : làm quá, làm sai (lộng hành, lộng quyền). Tác giả hay dùng từ lộng.

(14). Truyện Lý Công Cúc Hoa. Lý công phải dắt mẹ đi ăn mày.

(14b. Tiên vãng: vãng là đi qua, là quá khứ. Tiên vãng là những bậc chết đã lâu; hậu vãng: là những bậc chết sau đó.

(15).Bản 1964 : in trí

(16).Bản 1964: sống

(17).Đấu kê đổ bác : chọi gà, cờ bạc.

(18).Bản 1957 : còn phiền.

(18B). Bá nhẫn: trăm điều nhẫn nhục ( nhịn nhục)

(19). Người có phước họa khứ phước lai/Vô tình phước viễn họa lai khó phiền: người có phúc thì phúc đến, họa tiêu tan; người vô phúc thì phúc tránh xa mà họa giáng xuống.

(20). Bá gia: trăm nhà, cũng như bá tánh (trăm họ) nói chung là dân chúng.

(20b). Khương-Thượng: Khương Tử Nhà giúp nhà Chu lập nghiệp.

(20).Bản 1964

(21).Bản 1964: dò sau. Chữ nôm có thể đọc hai cách. Bản này có lẽ là do một người khác phiên âm chữ nôm rồi in năm 1964, không phải là in lại bản 1957.

(22) . Bản 1964 :lừng lựng . Hai cách đọc đều được, chứng tỏ bản 1964 do phiên âm từ bản nôm, không phải sao lại các bản trước đó.

(23). Bản đánh máy 1964 ghi thập tự. Sách thường ghi " Di đà lục tự : Nam mô A Di Đà Phật.

(24). Sở, thửa, sơ, chưng: các tiếng đệm ngày xưa, không có nghĩa.

(25). bản đánh máy 1964 ghi : gở rối.

(26). bản đánh máy 1964 ghi: việc lành.

(27).bản đánh máy 1964 ghi: nổi hòn.

(27b).Văn giáo là một làng xã ở huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

(28).Sách Luận ngữ, Khổng tử dạy" nên thờ người chếtnhư người còn sống."

(29).bản 1957 thiếu hai câu 371-372.

(30). Bản 1964 ghi :của chồng

(31). Mưu sâu thì họa sâu.

(32). Bản 1964 ghi: có lịnh ông Trời.

(33).Trà phe, thuốc bịt: cà phê, thuốc điếu trong bao. Nói về cách sống theo Tây.

(34). Phiên : Pháp. Đầu Phiên là theo Tây.

(35). Cổ hà nhơn kim diệc hà nhơn: xưa người nào, nay người nào.

(36). Bản 1964 ghi: Soi

(37). Bản 1964 ghi: Có ai giàu đem đổi việc nghèo

(38). Của hoạnh tài bất phú hoạnh tai: gặp của hoạnh tài ( lượm của rơi, của vô chủ) thì không giàu mà còn mang họa.




No comments: