Tuesday, July 5, 2011

I. KIM CỔ KỲ QUAN 4

KIM CỔ KỲ QUAN

Quyển I tập 4

Tài liệu tham khảo: ấn bản 1957 và ấn bản 1964
Ấn bản 1964 từ trang 19 đến 24, cột 37-48)

Ý CHÁNH:
TƯƠNG LAI RỰC RỠ
những đổi thay trên thế giới và Việt Nam.


37



1585. Kiểng hoài kiểng lòng dạ mới an (BẢN 1957, tr.50)

Thương người xa xứ gian nan nhiều bề

Lòng muốn cho quốc trị gia tề

Liều mình như thể Lý-Hề (1) thuở xưa

Giốc làm thơ mà gởi cho mưa

1590.Mưa đưa cho gió đưa Phật Trời

Cõi dương gian trung nịnh mấy đời

Sớ tâu Hoàng-Thượng xử thời oán ân

Tức lòng nghĩa động thửa (1b) lòng nhân

Cầu Trời khẩn Phật xử phân dương trần

1595. Gia trí đoản quốc loạn trí bần (1c)

Hội ân Tiên Thánh âm thần chiếu tri

Cầu Tiền giảng trở lại một khi

Vọng cầu Hậu vãng chiếu tri chánh tà

Lòng vọng cầu Phật Tổ ông bà

1600. Như-Lai cứu thế chánh tà Hạ-ngươn

Cửa Ngã-Bác có nổi nhị sơn

Núi-Sam tiêu mất Thất-sơn điện đền

Chí anh hùng lập chí cho bền

Sông ngang ngay thẳng vô đền Bửu-sơn

1605. Oán đa oán, ơn kiến thiểu ơn (1d) (Bản 1957, tr,51)

Hội lành nỡ bỏ Thất-Sơn sao đành

Chim khôn thời lựa cội lựa nhành

Gái khôn kiếm chốn trai lành nương thân

Gái trâm dắt mới gọi gái ân

1610. Trai thời trí huệ gọi thân trai lành

Người niệm Phật lòng Phật để dành

Cải tà qui chánh dạ đành bao lâu

Con cá lớn nằm ẩn vực sâu

Khỉ thời ra khỉ tu lâu mới thiềng (thành).

1615. Dám khuyên lòng bá tánh chớ phiền

Lời ngu nói dại nhị tiền nhứt căn

Chim chìa vôi học nói líu lăng

Chánh thời thủ chánh phế căn quỉ tà

Mặc ý ai phụ bạc lòng già

1620. Cây đắng trái ngọt gói trà Bửu hương

Nghĩ đời nầy như ngựa buông cương

Thiết tình chí để Đường-vương tầm hiền

Thuở cựu trào (đô) tạc chữ vi tiền

Muôn dân xài xể chớ phiền nhục vinh

1625. Phải xét ra tỏ lẽ chánh minh

Việc nào tà vạy âm binh chứng rày


38


Trên Phật Trời cứu độ hội nầy

Dương gian nhẫn (2) nhục khổ Thầy gian nan

Người ta sao mình vậy khó an

1630. Đời nầy nhiều kẻ dọc ngang phân bì

Có sông dọc nhiều chỗ dị kỳ

Đường rầy xe lửa chạy thì Bạc-Liêu

Núi lao xao lập hậu Thời Nghiêu

Cao diền đất Thuấn tiêu diêu độc trùng

1635. Sau vật nào Trời Phật cho dùng

Phật đem trở lại dưỡng cùng vạn dân ( gia)

Tồn nhị thú phạm luật quốc gia

Con trâu con chó cõi ta không về.(2b)


Lòng trách ai ăn giấy bỏ bìa (bản 1957, tr.52)

1640. Khi thương thương vội khi lìa lìa xa

Ruột không ruột Phật xách bỏ ra

Ai mà chữ tín (3) ngoài da đem vào

Thiệt huyết khí cốt nhục đồng bào

Người dưng lạ mặt đem vào lòng thương

1645. Phật dụng lòng lòng Phật Phật thương

Dụng tâm dụng tánh oan ương bạc tiền

Khổ mấy năm khổ mấy không phiền

Khổ bao nhiêu khổ bạc khổ tiền nhọc lo

Chẳng thà đói nhịn đói nằm co

1650. Của người thọ thực ăn no tức lòng

Cái đồng bạc vẽ đủ giáp vòng

Vẽ phải vẽ quấy vẽ lòng vạy ngay

Vẽ Nam-Việt vẽ tới người (Đại) Tây

Bạc thời tiêu bạc bằng nay chẳng còn (3)

1655. Nhiều đồng bạc gửi ra (cải lại ) Sàigòn

Chừng nào hết bạc không còn một manh

Ngày sáu khắc đêm lại năm canh

Cải quê cải dại khôn lanh nỗi nầy

Cãi lời tớ cũng cãi lời Thầy

1660. Cãi bao nhiêu cãi quá ngày hết trơn

Trải biển khổ báo bổ người ơn

Chừng nào pháo nổ thoa sơn mặt điều

Ơn Tây trước trả bạc cũng nhiều

Tàu man kết oán mặt điều khó theo

1665. Mắt ngó ngơ xem thấy cheo leo

Đồng ngân lấp oán dụng heo lấp lòng

Dụng đồng bạc trải việc bao đồng

Ơn đều nghĩa trả tội (phỉ ) lòng bá gia

39

Phật hội đồng dạy bảo thuyết ( thốt ) ra

1670. Người đời hằng nói rằng ma nực cười

Buồn thời khóc vui vẻ thời cười

Tôi loà con mắt ngó người yêu ma.


Sau trở lại người Tây sợ ta (bản 1957, tr.53)

Chừng nào tới đó quỉ ma thác nhiều

1675. Lại chùa công che trại cất lều

Tam niên giáo đạo phá kiều huê rơi

Huê tàn rồi đây đó thảnh thơi

Ngủ mê thức dậy hai nơi biết gì

Tiếng cười nói là tiếng biên thùy

1680. Vô duyên cho đạo lấy gì có con

Chữ Bửu-Sơn sau thiệt chữ son

Chánh vì vương tướng tám con trị vi.

Có chữ rằng phu xướng phụ tùy

Chồng làm anh vợ trị vì mới hay

1685.Có ai mà nghịch mạng như Tây

Em mà dễ chị trái tai hai bề

Sao chẳng nhớ tiển thổ (tổ tiên ) hội thề

Lầu son sớm dựa tối kề xinh xang

Bởi dính mỡ mèo mới ăn tham

1690.Con sãi mà đặng làm quan mấy đời

Tu bên Phật sao bỏ bên Trời

Tu Trời bỏ Phật trái đời không (sao) nên

Non tuân lãnh (Ơn Cao-Lãnh) người chớ vội quên

Rừng nho phụ bạc không nên một người

1695. Biển Thánh minh như thể vàng mười

Ân ngôn giáo đạo mặc người khen chê.

Trước xem đèn gần hiệp kiểng huê

Đạo mầu chánh lý phu thê thuận hòa

Lỡ ruột non cũng lỡ ruột già

1700. Lỡ trung lỡ nịnh lỡ mà nghĩa nhân

Lỡ báo hiếu cũng lỡ lập thân

Lỡ buôn lỡ bán lỡ phận cấy cày

Lỡ phú quí cũng lỡ ăn mày

Lỡ quan lỡ tướng lỡ rày làm dân

1705.Lỡ ăn lỡ nói mà cũng lỡ phân

Lỡ bề ruộng rẫy lỡ ăn của người


Lỡ ngồi nói cũng lỡ đi cười (bản 1957, 54)

Lỡ ngủ lỡ thức lỡ người vào ra

Lỡ việc Phật cũng lỡ việc ma

1710.Lỡ bà con ruột cũng lỡ cha hai bề

40

Lỡ làm tướng cũng lỡ làm hề

Lỡ đi cho dứt lỡ về cho an

Lỡ đói khó cũng lỡ giàu sang

Lỡ qua Tây-Trúc (quốc)(3b) lỡ an Nam kỳ

1715. Lỡ bó vác cũng lỡ bó bì

Lỡ sanh lỡ tử lỡ thì người ta

Lỡ con Phật cũng lỡ con ma

Con Trời cháu Phật lỡ ra hội nầy

Lỡ làm tớ cũng lỡ làm thầy

1720. Lỡ về Cấm-Điện lỡ rày ở sông

Lỡ nói thiệt lỡ nói minh mông

Lỡ người ăn học lỡ công quê mùa

Lỡ tu gia cũng lỡ tu chùa

Lỡ người giữ đạo lỡ vùa hương Tiên

1725. Lỡ việc loạn cũng lỡ việc yên

Lỡ Trời lỡ Phật lỡ Tiên lỡ phàm

Lỡ ở không cũng lỡ đi làm

Lỡ sông lỡ rạch lỡ vàm Đồng-nai

Lỡ con gái cũng lỡ con trai

1730. Lỡ chiều của Phật lỡ mai của Trời

Lỡ nói dại cũng lỡ khôn lời

Lỡ nằm lỡ ngủ lỡ thời công danh

Lỡ quỉ quái cũng lỡ đua tranh

Lỡ người sạch sẽ hôi tanh là mình

1735. Nghĩ càng đau mấy đoạn tâm tình

Vô duyên chi bấy phận mình mình ôi

Tưởng son phấn ai dè bạc vôi

Hại chi đến đổi chúa (Trời ) tôi rã rời

Đường gian nan Trời xét hỡi Trời

1740. Phật ôi hỏi Phật thương người chúng sanh.


Xác phàm trần đày đọa hôi tanh (bản 1957,55)

Chí làm mài sắt giá canh chuyên nghề

Lòng dặn lòng thảo thuận một bề

Dựa nương đức Phật đặng về Tây phương

1745. Độ bá gia khỏi chốn tai ương

Miệng lằn lưỡi mối cám thương dân Trời

Đổ mồ hôi cho kẻ ở đời

Một năm chẳng niệm Phật Trời một câu

Miệng chưởi lộn muốn chưởi cho lâu

1750. Niệm Phật niệm có một câu không dùng

Tôi cuồng trí nói việc tầm khùng

Niệm Phật cũng phải không dùng cũng hay.


41

Kẻ tu mặn ghét người tu chay

Tu chay ghét mặn không ngay tu nào

1755.Tu uống nước niệm Phật uống vào

Ăn cơm niệm Phật chỗ nào cũng tu

Lòng niệm Phật hẵng dạ chí tu

Ngày sau tu tập lại xuân thu hai mùa.

Một nước thời tu có một chùa

1760. Nhà không phượng tự hai mùa xem minh

Có hai ngày lễ bái tưởng kinh

Ba mươi mùng một chánh minh nhứt trường

Ngày mười lăm mười sáu lập thường

Niệm Trời niệm Phật nhị trường an khương

1765. Lễ ngươn đán gia nhựt xuân vương

Chánh ngoạt tháng tý an khương nước nhà

Ngoài muôn dân niệm Phật Di-Đà

Thất ngoạt sơ nhứt lễ mà chánh chung

Nhơn bất ác tích thiện vi trung

1770. Lễ xuân ngươn dân chánh chung hai mùa

Lễ thượng ngươn gia kiết tại chùa

Trung ngươn thu nhựt thủ vùa hương rơi

Nơi nơi điều ngợi (nghị) tự (chữ ) thảnh thơi

Ca ngâm xứ xứ vui chơi thanh nhàn.


1775. Lập chí trai tới chốn Nhà-Bàn(3c) (bản 1957,56)

Võ văn luyện tập diễn tràng ứng khoa

Vậy mới rằng tưởng Phật bỏ ma

Mê chi theo chốn Diêm-la bỏ Trời

Chớ đem lòng than trách vận thời

1780.Bấy lâu chẳng tưởng Phật Trời trách ai

Nhơn hữu tài người mới hữu tai

Trào nào cũng vậy có ai sướng đời

Người hữu trí năng đổi năng dời

Nhiều tai nhiều họa nhiều thời hiển vang

1785.Kẻ gian nịnh một thuở dọc ngang

Hết thời ngang dọc tan hoang cửa nhà

Vinh một thuở nhục hạ tới già

Ngược xuôi thừa thiếu vinh mà bao lâu

Trâu mãn đời trâu cũng là trâu

1790.Chẳng bì theo sấu biển sâu hóa rồng

Khác với nhau có một cái ( tấm ) lòng

Lòng ma hườn thú lòng rồng hườn tăng

Phật thi đức trào quốc thi văn

Nhơn tùng thi chánh nhơn tăng thi lòng


42


1795. Kiểng nào vui bằng kiểng đất đồng

Ở đây đổi dạng đổi lòng thi ân

Đổi người nghĩa đổi sửa người nhân

Đổi qua đổi lại nhứt thân tu trì

Lỡ đức cậu cũng lỡ đức dì

1800. Lỡ bề đức cố lỡ thì đức cha

Lỡ bà phước cũng lỡ ma ha

Lỡ hết sức lỡ Phật ra mới bồi

Lỡ bề đứng cũng lỡ bề ngồi

Lỡ trao má phấn lỡ dồi mặt son

1805. Lỡ bề vợ cũng lỡ bề con

Lỡ hoài lỡ hủy thon von tấm lòng

Người quân sư bảo hộ bao đồng

Tam thập thê thiếp giữ lòng trường sanh.


Gái dồi lòng trinh tiết khôn lanh (bản 1957, tr.57)

1810. Gặp trai chí cả tương tranh tương phùng

Người khôn lanh lòng Phật bất tùng

Ngày sau như thể đứa khùng chăn trâu

Việc thấy đó người phải lo âu

Nước đà tới cổ ngập sâu hụt dò

1815. Chớ ham chi đồng bạc con cò

Vàng mười thấy có giả đò ngó ngơ

Xem cuộc đời bảng lảng bơ lơ

Người không tưởng Phật ngẩn ngơ nỗi sầu

Một cái sông biết bắc mấy cầu

1820. Kẻ qua Tây-tự người hầu Diêm-vương

Thấy việc đời ương hỡi (lụy) còn ương

Làm sao Phật độ Phật thương đặng người

Ái chúng sanh ái tử chí mười

Tử giai kỳ tử con người quỉ ma

1825. Con của Phật niệm Phật Thích-ca

Con ma chẳng tưởng mẹ cha lời nào

Tưởng khôn quỉ ăn nói hỗn hào

Chọc trai chọc gái chỗ nào chánh minh

Con của Phật sao chẳng niệm kinh

1830. Con Trời cháu Phật tinh minh tấm lòng

Điểm nhan sắc noi việc bao đồng

Việc mình trống lỏng không phòng một ngăn

Thấy con Rắn đều nói con Trăn

Gặp Mèo nói Chuột không ăn chỗ nào

1835. Liếc mắt xem nhiều kẻ hỗn hào

Từ bi tưởng Phật người nào vốn không


43

Đất còn đặc Phật biến nên sông

Làm người lo việc minh mông sợ kỳ

Sợ động Phật lòng Phật chẳng tùy

1840. Động Trời Trời chẳng thương vì thời hư

Lòng niệm Phật lòng phải ưu tư

Sợ Trời sợ Phật sợ dư mười phần

Có đâu kêu Trời Phật rần rần ( bản 1957, tr.58)

Khi Trời ngạo Phật âm thầm dậy răn

1845. Bịnh đa dược đa bệnh khó phân (4)

Từ nay sắp tới khổ thân hoài hoài

Có đời nào Trời Phật đem xài

Không mắc nợ thế réo hoài không ( chẳng ) căn

Đừng thấy dễ mà dễ lo ăn

1850.Tới chừng thấy việc lăng xăng không quần

Tôi nói láo dạy thế làm chừng

Chừng nào thấy việc tưng bừng ngẩn ngơ

Học mình thiện dĩ phục kỳ sơ

Đời nầy chỉ thị cổ nhơ khổ đời

1855. Lạy ông Phật tưởng lạy ông Trời

Làm sao đến đổi việc đời loạn ly

Nhơn dĩ khi Trời Phật dỉ tri

Dĩ khi Trời Phật dĩ ly cho mình

Phụ tử tử tắc ly tình

1860. Huynh đệ ly biệt phu hình ly thê

Ly bá quốc ly hiệp chỉn ghê

Mèo ngồi ngó chuột ngoài dê xổ chuồng

Trong mấy năm giặc đánh đầu tuồng

Lăng xăng chư quốc như guồng rối tơ

1865. Tới nỗi nhà phụ tử bơ vơ

Lao xao triều quốc ngẩn ngơ quân thần.

Lỡ ở xa cũng lỡ ở gần

Lỡ bề quân quốc lỡ phần quan dân

Lỡ phí nghĩa cũng lỡ báo ân

1870.Lỡ người ra mặt lỡ thân của mình

Lỡ ngủ quán cũng lỡ ngủ đình

Lỡ chùa lỡ miễu lỡ mình trơ trơ

Đứt mối chỉ tịnh thủy mối tơ

Theo gian đạo sĩ trơ trơ đứt đầu

1875. Cõi (Cảnh ) Tây Phương dạ dốc bắc cầu

Vì ai lấp ngỏ lắc đầu chê đây

Lòng tưởng Phật mới biết việc hay (bản 1957, 59)

Ngồi buồn nghĩ lại sợ Tây hồi nào

44

Nhớ cá lươn đất rạng tâm bào

1880. Ngùi ngùi kiểng cũ chỗ nào xót đau

Đất ruộng mẫu sau lập bờ dâu

Đàn bà tơ lụa cùng nhau một nghề

Sau nước Nam ít kẻ vụng về

Thông minh trí huệ nhiều người giỏi hay

1885. Không có cánh đi đặng trên mây

Phép tài văn võ hay hơn nước nào

Hữu quân sư thượng trí anh hào

Dạy mười tám nước chỗ nào văn thơ

Mười tám nước tài phép trơ trơ

1890. Phật thâu trả quả ngẩn ngơ chư hầu

Mười tám nước lai giáng hàng đầu

Thưởng năm cống lễ ứng hầu Hớn-bang

Phật thâu hết các chữ đa đoan

Chỉ tồn nhứt tự Nam-bang tiếng mình

1895. Người khác người ăn nói một tình

Binh thơ đổ trận nước mình tài năng

Quí nhứt thống hiệp lại nhứt căn

Thượng thiên giáng thế tài năng trung thần.

Đến ngày sau có Thánh có Thần

1900. Ai lòng tà vạy âm thầm xử thân

Chớ biết sao việc phải mà phân

Thân ai nấy độ cho thân vẹn toàn.

Đi khỏi rừng ra tới đầu đàng

Bảng văn chiếm đặng bảng vàng rạng danh

1905. Trống sang ba nhặt thúc trở canh

Hội lành may gặp yến anh sum vầy

Nhớ nỗi cha lại cám nỗi Thầy

Ứng khoa dầu trúng ơn nầy đền xong

Chí làm đền hai chữ hóa long

1910. Vong tiền vọng hậu gắng công xác phàm.


Gặp hội lành ít kẻ lo làm (Bản 1957, 60)

Khỏi vòng ngọn cỏ xác phàm bỏ rơi

Người lo hậu hậu đặng thảnh thơi

Lo tiền tiền mất sợ hơi bất bình

1915.Sợ cho kẻ sợ nỗi cho mình

Phật không dụng thịt dụng tình khó toan

Nay dụng bạc sợ bạc không an

Dụng tiền tiền hết tật mang cũng còn

Nổi thú cầm súc vật hao mòn

1920. Tẩy trần thảm (thậm) khổ chẳng còn vật chi


45

Loài cầm thú nhiều vật dễ khi

Lưới trời bủa khắp trốn ( kẽo) đi đường nào

Đứng trượng phu trí thức anh hào

Trung tâm xuất khẩu lời nào đâu xa

1925. Lời nói thời trong bụng đem ra

Oán thù ẩn chí (sĩ ) gần xa trí tài

Người khôn trong kẻ dại khôn ngoài

Giận người đừng biết trí tài đừng khi

Tới ngày sau Tý-ngọ bất di

1930. Thìn thời ông mọc bất tri giờ nào

Đêm giờ tý ngày ngọ hiệp vào

Tý ngọ đứng bóng giờ nào lại tranh

Ngày sáu giờ đếm sáu giờ canh

Nguyệt xuất giờ tuất không tranh giờ nào

1935. Thời bất minh phong võ ào ào

Gió vay khi gió mưa nào kể mưa

Phép Phật Trời như thể lưới thưa

Gặp cơn phú quí gió đưa ngọc thuần

Tới ngày sau phong võ có chừng

1940. Năm mười hai tháng không nhuần như nay

Đời bất thuận chịu khổ từ đây

Bởi đời cảãi Phật chê ngay qui tà

Trẻ khoe tài ngoan trí hơn già

Đời sau ngó trước chê mà việc sau.


1945. Chốn cõi trần không kẻ sớ tâu (bản 1957, tr.61)

Hàm oan sở lĩễu (ức ) việc đâu để rày

Tôi có chúa làm tớ có Thầy

Làm tôi không chúa ở rày với ai

Nhứt ngoạt tam thập nhựt chiều mai

1950. Không dư không thiếu khỏi tai khỏi nàn

Muốn xuống biển phải biết trên ngàn

Vui say Thánh đạo cho toàn chí trai

Có ai từng ăn ốc không gai

Ăn cơm không đũa đại lai nước Tần

1955. Mãn năm Sửu gần đến (mãn ) năm Dần

Đắng cay trong dạ bần thần đa đoan

Mắc mỏ thời mắc mỏ trong gan

Mắc chi ngoài miệng phá tan nước nhà

Oán làm chi má oán ông bà

1960. Ai sanh con cháu cơm nhà ai ăn

Trời sấm chớp thiết tỏa bủa giăng

Lo đường sanh tử khó ngăn gian tà

46

Khéo líu lo bối rối việc nhà

Tay mà bao nỡ cắt mà đứt tay

1965. Lỗi đạo nhà tại bởi dao phay

Ly miêu tráo chúa (6) lầm tay trái chùy

Làm việc dại hại kẻ biên thùy

Khổ si phóng hỏa dị kỳ cho ngươi

Thấy cày héo tưới nước cho tươi

1970. Nào đành cây héo tay bươi phân bồi

Nỡ nào đành đốn gốc mẻ chồi

Thân ai nấy nghĩ cho rồi cái thân

Thử tiếng chuông cho biết chuông ngân

Thử người cho biết rằng phân tiếng người

1975. Chẳng muốn nói cũng chẳng muốn cười

Náu nương theo thế dựa người giải khuây

Mười việc vạy có một chút ngay

Xem đời trần hạ khổ thay vô hồi.

Thấy việc khổ nói trước cho rồi (bản1957, 62)

1980. Chừng không có khổ lần hồi làm ăn

Chẳng phải lời nói láo không căn

Chừng nào trổ láo không ăn cơm Trời

Nói thời nói sợ tiếng cười đời

Nói thời phải nói nhớ Trời năm sau

1985. Bạc bảy nén gởi lại ruộng sâu

Vàng thoi vàng lượng mua trâu trước rồi

Chẳng chước chi hai chữ bại tồi

Thấy đời tồi bại luân hồi báo oan

Có sông dọc lên khỏi Nam Vang

1990. Lên đèo xuống dốc nhà sang giẫy đầy

Từ Lèo Hạ sấp xuống dưới nầy

Kiểng vui Nam-Quốc lời thầy di ngôn

Thân thuở nầy như chết chưa chôn

Sao không nhớ lại chúc ngôn tiếng Thầy

1995. Đường gian nan lời trước tỏ bày

Lèo hạ giáp cõi trần rày ải quan

Có một mình nhiều việc lo toan

Trông ơn Trời Phật sửa sang tôi nhờ

Biển thời rộng trông mau tới bờ

2000. Kẻo đoàn ghe khẩm dật dờ sóng xao

Đi lộn vòng mé biển cù lao

Lộn đi lội lại cũng tao với mầy

Mắc nợ đời phải nói cù nhầy

Đánh Dần đánh Mẹo nói rày nói mai


47

2005. Mặc ý ai mười hai người thế

Chí cả anh hùng lập kế làm sao

Chín phương Trời mấy bực thấp cao

Thập phương hội Phật soi sao cõi trần

Rắn lộn đầu chuyển động âm thầm

2010. Nhật nguyệt biến mất Phong Thần (7) khởi ra

Tội bao nhiêu quan cũng thứ tha

Ngặt tình ma bắt con ma chẳng còn

Lỡ nhà ngói lỡ quán Sàigòn

Lỡ chồng lỡ vợ con còn góa lâu

2015. Lỡ ông xã cũng lỡ ông câu

Lỡ trang trí huệ lỡ đâu lỡ hoài

Lỡ rạch hẹp cũng lỡ sông dài

Lỡ qua Tây – Điện lỡ tài trí mưu

Hại nhơn nhơn hại kỷ thời hưu (4b)

2020. Hai đường thiện ác oan ưu đáo đầu

Nhơn trí kỷ hà tất trí cầu (4c)

Cớ sao đem dạ lập lầu treo chuông

Nghĩ càng đau tụy úa uông uông

Thiết tha trong dạ lụy tuôn ra ngoài

2025.Bại bất bại tài bất hữu tài

Thắng như bất thắng cõi ngoài làm ăn

Tấn dã nan thối diệc dã làm nan (8)

Biết sao cãi loạn làm an ra bề

Lưỡng bàn minh hai họ hội thề

2030. Nhứt tâm vọng Phật hội tề cầu an

Vậy mới rằng tế hiểm phò an (9)

Nhà nhà thịnh trị hiển vang quí quyền

Chớ khen chi đồng bạc đồng tiền

Của Trời vô số Phật phiền chưa cho

2035. Người làm lành hết đói tới no

Người nào làm dữ tiêu tro thấy hồn

Sao chẳng lo lưu hậu tích tồn (10)

Thoát mê thoát khổ linh hồn chánh minh

Thượng sớ cầu Bắc quốc Nam-kinh

2040. Phật Trời soi xét tâm trinh vọng cầu

Tại vì ai sớm dứt Nam-lầu

Nhơn tình đại nghĩa vọng cầu Đế cung

Dạ nào hay phân rẻ cội thung

Chừng nào sum hiệp Tiên cung an hòa

2045. Vội vàng chí quyền tước án tòa

Sống trung để tiếng thác già để danh.


48

Chẳng phải lời chê dại nói lanh (bản 1957, 64)

Phật cho giác tắt giác quanh cuộc đời

Giác bề ở giác thửa bề lời

2050. Giác người ngang dọc giác đời dọc ngang

Giác bần tiện giác việc giàu sang

Hồng – Ngự sau có sông ngang Sơn – Chà

Giác lời ví việc chánh việc tà

Sông dọc Cầu – lố khỏi mà Mỹ - Tho

2055. Việc làm người người phải âu lo

Chẳng thà thác đói sống no khỏe lòng

Ngặt sống đói thây rã chập chồng

Ngồi buồn nói việc bao đồng nhiều khi

Hành tàng hư thiệt tự gia tri

2060. Nói thì nói vậy dễ khi mặc tình

Mình trách mình bạc phận nỗi mình

Vô duyên chi bấy tâm tình từ đây

Lòng tưởng Phật niệm Phật thiệt hay

Dầu sanh dầu tử không ngay bạc chì

2065. Chỉ tranh lai tảo dữ lai tri

Than ôi! cho kẻ phụ chì dụng ngân

Tham quyền quí mà phụ chữ dân

Ở đời biết phải cầm cân cải lòng

Cõi dương gian xích khóa xiềng còng

2070. Cũng là ngục rạc không lòng sợ lo

Chí độ đời kẻ đói người no

Kẻ hiền người dữ biết lo sao đều

Phải thả trôi theo nước như rều

Chờ khi gió độc độ đều chúng sanh

2075. Người chẳng học chẳng biết khôn lanh

Thương người văn học tương tranh việc gì

Học dã hảo bất học dã tùy

Ngày sau để tội biên thùy nho văn

Làm không làm ăn cũng không ăn

2080. Ý sao nho đạo Thánh căn chỗ nào

Nho thuyết đạo thiên địa tâm bào (11) (Bản 1957, 65)

Ý sao không biết Phật nào ở đâu

Biển lai láng chỗ cạn chỗ sâu

Đất bằng chỗ thấp biết đâu chỗ gò

2085. Sông không cầu tạm giả đưa đò

Độ phu rước khách giọng hò ngâm nga

Rước bộ hành lại chợ Ma-ha

2088. Chợ ma có Phật chợ ta không người

(còn nữa)


_____

CHÚ GIẢI

(Chữ trong ngoặc đơn là chữ bản 1964)

(1). Bách Lý Hề người nước Ngu . Nước Ngu bị Tần diệt . Bách Lý Hề bỏ trốn bị người nhà quê đất Kinh (đất Sở) bắt . Tần Mục Công nghe nói Bách Lý Hề là người hiền, nên lấy năm tấm da dê mà đổi , vì vậy Bách Lý Hề cũng gọi là “ông đại phu năm tấm da dê” (Ngũ Cổ đại phu).
(1b). Thửa: Tiếng đệm, do chữ Hán là sở nghĩa là ấy, thuở lòng nhân là động cái lòng nhân.
(1c). Câu trên rút ngắn từ hai câu: Gia bần trí đoản: nhà nghèo nên trí óc kém cỏi. Quốc loạn tri trung thần: lúc nước loạn mới biết ai trung thần.
(1d). Oán đa oán, ơn kiến thiểu ơn: Mình làm người ta giận thì người ta thù lắm, còn mình làm nơn cho ai thì it thấy người trả ơn.
(2). các bản ghi là nhãn.
(2b). Sau này không còn hai thú vật là trâu chó nữa.
(3). Bản 1964: Vẻ viên các món vẻ thây không còn.
(3b). Tây Trúc: tức Ấn Dộ
(3c).Nhà Bàn: thị trấn Nhà Ban, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. ...
(4). Các bản ghi là "Chỉ tín". Có lẽ là chữ tín.
(4b).Hại nhơn nhơn hại kỷ thời hưu : Mình hại người, người hại mình, cứ như thế mãi bao giờ dứt! Hai đường thiện ác oan ưu đáo đầu: thiện ác đều có quả báo.
(4c).
Nhơn trí kỷ hà tất trí cầu : Mình có tài có đức thì thiên hạ sẽ biết, cần gì phải cầu cạnh,lo ngại!
5). Bản 1964: bịnh khắc dược đa bịnh khó phân.
(6). Ly miêu hoán chúa: Vào thời Bắc Tống, quân Liêu tấn công, Thiền Châu bị uy hiếp. Hoàng đế Chân Tông dẫn quân đến chi viện, đại quân đến bờ Hoàng Hà, Chân Tông lo sợ không dám vượt sông. Khấu Chuẩn, đại diện phái “Chủ chiến” và Đinh Vị, đại diện phái “Chủ hòa”, hai bên tranh cãi gay gắt, do nóng giận Khấu Chuẩn đã kéo tay áo hoàng đế, khiến tình hình vô cùng căng thẳng, hỗn loạn. Trong lúc nguy cấp ấy, Lý Ngọc can đảm bước ra, bằng trí tuệ của mình, nàng đã dẹp được căng thẳng, giúp Chân Tông can đảm vượt sông, giữ vững giang sơn Tống thất.
Nhan sắc và trí tuệ của Lý Ngọc đã làm hoàng đế Chân Tông yêu mến, cảm phục. Chân Tông quyết định nghênh đón nàng vào cung. Đức Phi Lưu Nga được Chân Tông sủng ái, là người lắm mưu nhiều kế, lòng dạ hẹp hòi. Từ khi Lý Ngọc nhập cung, Lưu Nga tìm đủ mọi cách đẩy Lý Ngọc vào chỗ chết. May nhờ có sự bảo vệ của Chân Tông, Khấu Chuẩn và Trần Lâm, Lý Ngọc thoát chết hết lần này đến lần khác. Tuy nhiên với bản tính bao dung, nàng luôn tha thứ cho Lưu Nga.
Lý Ngọc mang thai, Lưu Nga ngoài mặt luôn miệng chị chị em em với Lý Ngọc, bên trong lại âm thầm cấu kết với Đinh Vị, bày kế “ly miêu hoán chúa”. Ngọc Thần cung bốc cháy, Lý Ngọc lưu lạc dân gian.
Mười mấy năm sau, tình hình đất nước vô cùng hỗn loạn, sức khỏe nhà vua ngày càng suy yếu, lúc này thế lực của Bao Chửng đã khá vững vàng, khi tìm được Lý Thần Phi trước kia, Bao Chửng quyết định phản công, đánh gục thế lực của Lưu Nga, đem lại những ngày tháng thanh bình cho thiên hạ.
(7). Phong Thần : truyện Phong Thần viết về các trận so tài giữa các thần tiên, đạo sĩ.
(8). Tấn dã nan thoái diệc dã nan : Tiến thoái đều khó.
(9).tế hiểm phò an: giúp qua nguy hiểm, phù trợ cho được bình an
(10). lưu hậu tích tồn : lo tương lai mai sau, tích trữ cho được tồn tại lâu dài
(11). Nho thuyết đạo thiên địa tâm bào:Nho giáo dạy rằng trời đất như là gan ruột liên lạc với nhau.


No comments: