Tuesday, July 12, 2011

IV. NGỒI BUỒN 1



KIM CỔ KỲ QUAN
Thiên thứ năm
(tr.107-117)
NGỒI BUỒN TẬP 1

Đoạn này tác giả tố cáo Pháp sưu cao thuế nặng





NGỒI BUỒN

1.Ngồi buồn gẫm sự thế gian
Cõi trần nhiều nỗi gian nan cốt hài
Nhứt tâm tưởng Phật lâu dài
Dầu ai hủy hoại ta hoài thiện tâm
5. Cuộc đời trời khiến cơ thâm
Niệm sao nhứt tánh nhứt tâm trọn niềm
Hữu công trời Phật lại tìm
Nam mô nhớ Phật trọn niềm thủy chung.
Vẹn toàn hai chữ hiếu trung
10. Chữ tà chữ nịnh chữ hung làm gì
Thế gian ăn nói dị kỳ
Bất tùng Trời Phật bất tùy Thánh Tiên
Xem tường sự thế lòng riêng
Bất tri thiên địa phương viên cao dày
15. Cõi trung Trời Phật lưu đày
Chẳng lo chẳng sợ tội nầy đọa kia
Thiếu thời lỗ miệng nói lia
Trong lòng chẳng nhớ lời kia Phật hằng
Thương dân trời Phật dạy rằng
20. Nghĩ đi xét lại không bằng lời dâng.

Sao bằng chả phụng khô lân
Trà thơm rượu cúc của dâng mỹ miều
Ít ai nói dạ ngư tiều
Ngược xuôi thừa thiếu gẫm nhiều người ưa
25. Nhiều người đem giọng đẩy đưa
Lời nay bất dụng lời xưa bất hoài
Ỷ mình khôn quỉ sắc tài
Địa ngục rủ loạn nằm dài thở than
Thiểu nhơn nghĩa khí trung cang
30. Những người hung dữ tham gian thiếu gì
Người chê lời Phật nói kỳ
Phật trời còn quấy huống gì là tôi.
Bó tre chẳng giữ bỏ trôi
Phật ngồi dương thế thương ôi dân hoành
35. Chẳng ai noi việc làm lành
Mê chi trần tục bỏ đành tây phương (1)


Trung thần phản chí Trụ vương
Qui lai Tây bá nhà Thương mạt rồi (2)
Linh đinh sóng dập gió dồi
40.Thương non nhớ biển đứng ngồi không an
Phật mang tám nạn dương gian
Người ba tai họa chẳng han trong mình
Đứt cương ngựa chạy thình lình
Gà con vỡ ổ giựt mình chắt chiu
45.Noi đời Thuấn nhựt thiên Nghiêu
Cõi trần hung bạo xử tiêu xác hồn
Sự vong như thể sự tồn
Để mười hai tháng tế hồn ma vong
Bàn linh ngày tháng vắng không
50.Bốn mùa tám tiết chẳng công ngó ngàng

Ví như thương khách qua đàng
Đến ngày tính cúng kêu giường thờ thân
Cải tà qui chánh khó phân
Phật trời thường dạy nhơn dân bất tùng
55. Lời ngay sao kẻ chẳng dùng
Lời tà a ý khúc tùng nhứt tâm
Ít người mưu trí kế thâm
Trung quân ái quốc nhứt tâm thuận hòa.

Tôn sư giáo chánh phế tà (3)
60.Nay tôi rõ thế bất hòa vong ngôn
Xem trong thế giái càn khôn
Tam tài tứ thánh nhứt môn lập đời
Mặc ai lòng dạ đổi dời
Làm sao mé biển chưn trời xa nhau
65.Nhựt viên nguyệt khuyết bấy lâu
Anh hùng thất vận ngồi câu công hầu
Đố ai lập đặng Nam-lầu
Giỏi chi phàm tục không cầu Thánh tiên
Chữ rằng thiên lý vị nhiên (4)
70.Sơ nhi bất hậu võng thiên bủa vòng
Phật ma niệm nghĩ trong lòng
Ngày sau chi khỏi vợ chồng phân ly.


Tu tình mặc chốn khinh khi
Tu tài tu sắc thế nghi thuận tùng
75.Xứ xứ tất hữu anh hùng
Chữ tài chữ sắc khó dùng chữ ân
Lập thân hành đạo lập thân
Dương danh hậu thế trung phân chánh tà
Nam-mô tảo ngộ Di-Đà
80.Biết sao Phật ái việc tà chúng sanh
Hỡi còn khôn quỉ đua tranh
Đua tranh khôn quỉ đục thanh bất tường
Nam mô dạ bảo tâm cường
Mấy mô cũng lỡ ra đường dất chay
85. Bao giờ kiến Phật Như-Lai
Thời dân hãn hữu họa tai tới mình
Phiên-bang nhiều việc bất bình
Sưu cao thuế nặng khổ tình dân ôi
Bao giở cho gặp chúa tôi
90. Cho tôi thấy chúa trời ôi phật trời.


Thế gian ăn nói nhiều lời
Khi tiên khi phật khi trời khi quân
Từ khi mắc quả trầm luân
Tội người trăm tội từ chưn chí đầu
95. Nói ra dạ thảm lòng sầu
Thân sao để tội từ đầu chí chưn
Hai thân hiệp lại một lưng
Hai vai chẳng gánh sự quân trung thần
Gia bần chí đoản chơn bần
100. Bần tiên bần thánh bần thần mới ngoan

Bần đừng tích cực tham gian
Bần trung bần hiếu bần mang quả tiền
Gia bần mạng lý chớ phiền
Bần nhơn bần đức bần hiền mới ngoan.

105. Đừng ham nhà dọc dãy ngang
A tùng sự ác sau mang tội nhiều
Sông sâu ngựa lội ngập kiều
Con hư cha mẹ bỏ liều con hư
Đừng nói dạ cẩu lòng trư
110.Mua tôm bán cá nói dư thỏng thừa
Thú tu lòng Phật còn vừa
Huống chi nhơn thế thiếu thừa không tu
Làm sao nguyệt chói trăng thu
Rừng già hiếm kẻ ngồi tu thạch bàn
115. Tu sao trốn chúa trốn làng
Tu nhơn tu nghĩa giữa đàng mới hay
Đừng chê tu mặn khen chay
Thượng thanh hạ trược dở hay tại lòng
Tu sao không vợ không chồng
120. Không con không cháu tuyệt dòng quốc gia
Tu tà tu quỉ tu ma
Lòng nào tu chánh Diêm la tương phò.

Ham chi đồng bạc con cò
Bạc hình bạc giấy lần dò đi xa
125. Tị trần lộn xuống Diêm la
Địa ngục vấn tội khảo tra đêm ngày
Gian nan luống chịu bấy chầy
Nhờ ơn trời Phật độ rày chúa tôi
Đừng lòng giết óc hầm vôi
130. Làm người cho biết chúa tôi mới rằng
Gái trai giữ vẹn đạo hằng
Vàng thoi bạc nén chẳng bằng nghĩa nhân
Làm sao cho khỏi căn dân
Vua quan chẳng xét sự nhân cơ hàn
135. Có phước làm đặng tiên hoàng
Có phần làm đặng tổng làng hiển vang
Đừng làm tích ác tham gian
Thời người mới đặng hiển vang thọ trường
Dĩ oai phế đức cang cường
140. Ngày sau mắc chốn chiến trường đao binh
Hành hình sự thế bất minh
Tông môn tổ đức bất minh linh hồn
Ít ai cầu sự vong tồn
Cầu trời vái Phật vong hồn siêu thăng
145. Lo làm nhiều việc lăng xăng
Chẳng lo nhân nghĩa qui căn Phật trời
Gió đưa thủy liễu đổi dời
Nào ai cãi Phật cải trời thuận tâm
Trào đình mưu trí kỳ thâm
150. Thiên cơ một lúc loạn xâm tơi bời

Ở sau chẳng tưởng Phật trời
Một vai mười trả nợ đời không lo
Thác rồi hồn xác ra tro
Chẳng làm chi tốt không lo làm lành
155. Huệ thơm trời Phật để dành
Cõi trần ai tích sự lành Phật cho
Khó lo những việc đói no
Thiên cơ họa phước biết lo sao toàn
Đi đâu cho khổ nhiều đàng
160. Kìa non Bửu tự nọ ngàn Ma ha
Cảnh nào cảnh chẳng có hoa
Non nào non chẳng có tòa thiên thai.


Lẽ nào trước chẳng hiệp mai
Lẽ nào gái chẳng hiệp trai trinh tường
165. Riêng than quê thị phố phường
Ở sao chẳng biết nẻo đường ma ha
Làm sao khỏi xuống Diêm la
Muốn tìm thấy Phật Thích Ca làm lành
Chim khôn léo luống trên nhành
170. Hưởng huê nếm mật công thành danh vinh
Đừng nghe ngũ truyện sử kinh
Ngủ mà ngủ mất tà tinh lộn vào
Bởi nghe ngạn ngữ lời Tàu
Nam bang vong Phật ma vào làm gương
175. Đăng trà quả thực chưng hương
Không lòng mắc chữ oan ương cửu trường.

Gió đưa phưởng phất huê hường
Huê sen chậm trổ nan tường tây phương
Phật trời nỡ hại hiền lương
180. Nỡ chôn hào kiệt oan ương vận thời
Phép nào hơn Phật hơn trời
Làm tôi giữ đạo nghe lời Tôn sư
Bắc cầu thiếu ván sông dư
Đau lòng tưởng Phật nhớ sư sự tồn
185.Để coi ai giỏi tiếng đồn
Thân tôi như rác tấp cồn sóng xao
Biết nghe lời nói thấp cao
Vận nghèo tiểu khẩu biết sao mở lời
Nên hư chứng có Phật trời
190. Thương non nhớ biển đổi dời thủy lưu
Xa cầu biết sự tâm ưu
Thiểu tài thiểu trí thiểu mưu dưới đời
Bại, thành, thành, bại tại thời
Việc sao nay đổi mai dời thiện đoan.


195. Đạo nào bằng đạo tam cang
Ngũ thường giáo thế hung hoang hư minh
Cầu cao ván yếu gập ghình
Bước qua bước lại dụng tình sửa sang
Một lo sự thế chưa an
200. Hai lo lúc hiệp lúc tan đổi dời.


Thầy ôi trở lại độ đời
Hạ-ngươn ăn nói nhiều lời đắng cay
Tài chi người lại xưng hay
Phép nào chẳng có múa tay nói ngầy
225. Vong ngôn phản đạo phụ Thầy
Nắm tro Phật bỏ chỗ nầy phải tiêu
Cuộc đời chẳng khỏi hỏa thiêu
Trùng trùng lửa dậy quần yêu tan tành
Thây trôi mé biển đầu gành
230. Hùm tha sấu bắt làm lành khỏi tai
Mặc tình già trẻ gái trai
Phật trời nào có ép ai mà phiền
Hiếu trung xa cách lương tiền
Biết làm sao đặng xỏ liền một dây
235. Nên rừng há dễ một cây
Muốn cho có đó cùng đây hiệp hòa
Sâm soi ý lý đạo nhà
Đường đi viễn vọng hương trà trải qua
Tiêu tà tiêu quỉ tiêu ma
240. Tiêu tham tiêu thú người ta thì còn
Càng ngày càng thác càng mòn
Xem đi xét lại chẳng còn bao nhiêu
Chừng nào Phật khiến đảo điên
Hoàng thiên lượng định thân siêu thì nhờ
245. Làm con phải chịu dại khờ
Thân nay như thể nước cờ bị vây
Lưới mê Trời Phật giăng ngay
Làm sao cho khỏi bỏ thây mới mầu
Chẳng ai vác ván thêm cầu
250. Lóng nghe trống điểm trên lầu sang ba.

Phật trời lộn lạo quỉ ma
Âm-dương tương tội Diêm la hiện trần
Đao binh khởi loạn rần rần
Quan quân phú quí cơ bần như nhau
255. Bây giờ người chẳng thấy đâu
Chừng nào ngó thấy lo âu sao rồi
Bôn chôn khó đứng khó ngồi
Ra đi chẳng tiện khổ rồi ở ăn
Miễu đình am tự sãi tăng
260.Bất tùng sư giáo vô căn điêu tàn
Cốt đồng cốt gỗ cốt vàng
Cốt chì cốt bạc tội ngàn nhơn sanh
Họa hình tiếc thể tượng tranh
Bán cho Lục tỉnh bia danh hành hình
265. Trách ai ăn ở lộng tình
Hà nhơn sanh Phật hành hình chung thân
Trách ai vô lượng vô phân
Trung thần dối thế giáo dân lấy tiền
Tu đâu tu bạc tu tiền
270. Tu hung tu dữ tu hiền vốn không
Tu nào tham của tham công
Tiền ma gạo quỉ nó không ở đời
Tu đâu chẳng biết Phật trời
Nằm đêm tính việc lỗ lời hơn thua
275. Theo người thành thị tranh đua
Ngọn rau tấc đất ơn vua không đền
Làm trai chí cả cho bền
Trung quân ái quốc cận nền Phật vương
Đừng lòng lỡ ghét lỡ thương
280. Lỡ trung lỡ nịnh oan ương hại mình
Cá không ăn muối cá sình
Người không trung hiếu bất bình tâm can
Nửa ngay lòng ở nửa gian
Chẳng suy chẳng nghĩ đa mang trí cuồng.


285. Ở đây dạ khiến thua buồn
Xuân qua hè lại luông tuồng gian ngay
Chim đậu không bắt nó bay
Tài chi ra sức theo đây vầy đoàn
Thầy xưa nổi giận la làng
290. Không ai ứng tiếp vầy đoàn tây phương
Cá không ăn muối cá ươn
Con không nghe mẹ vi lương hư rồi
Gánh thơm để xuống bèn ngồi
Xem sau ngó trước nhớ hồi thơm ngon
295. Nhớ hồi mẹ lại dạy con
Trái nào nở mắt mật son già lòng
Ở sao như bưởi với bòng
Ngọt chua một dạ một lòng mới nên
Mấy lời mẹ dạy đừng quên
300. Dầu mà sống thác hư nên để lòng.


Ngày sau may đặng lên vồng ( giống)
Cãi lời mẹ dạy trái lòng con hư
Lửa vùi nóng nảy lòng lư
Gánh thơm bán ế tính chư sự nào
305.Chẳng mua mắng nhiếc hỗn hào
Hàng tôm hàng cá ra vào quen thân
Trái thơm trăm mắt bớ dân
Người phàm hai mắt khó phân việc nầy
Gian nan sau tớ trước thầy
310. Đố ai rõ đặng việc nầy mới ngoan
Tiểu khê còn sợ đại giang
Bắc cầu trăm nhịp cầu an thuận hòa.



Lên non cám cảnh rừng già
Làm con làm cháu tưởng bà tưởng ông
315.Tu trần như buổi chợ đông
Chiều tan mai hiệp nghĩ không thường hành
Việc nào thua việc làm lành
Tu nhơn tích đức để dành ngày sau
Khó thời bắt ốc hái rau
320.Xả gia cầu đạo ngày sau hưởng phần
Xả ác xá phú xả bần
Xả bá sự quấy cõi trần mới nên
Tây phương dầu chẳng đặng lên
Diêm đình dầu xuống chớ quên lời thầy
325. Người tu trời Phật bắt đày
Có đâu ỷ sức vui vầy chưng cơ
Chẳng rằng quí tại hồ sơ
Dầu sau rõ sự thiên cơ bất cầu
Lòng người sớm đánh tối đầu
330. Phật trời dạ thảm lòng sầu héo hon
Phật cho bốn chữ ngoài son
Trong lòng thiệt giấy nước non vuông tròn.


Thầy ghi đạo Phật hao mòn
Sơn băng thủy kiệt dạ còn nhớ ghi
335. Quên lời là lẽ mình khi
Phật trời chí sứ từ bi phải phiền
Ở sau mười việc chẳng hiền
Làm sao trời Phật không phiền lòng dân
Có thân người phải xét thân
340. Việc nào tà chánh lượng phân dữ hiền
E sau hóa hải tang điền
Tích tồn phước đức chữ hiền lương trương
Bạc vàng dầu để mấy rương
Lòng không đặng chữ hiền lương chẳng còn
345. Tỷ như phố ngói Sàigòn
Lâm cơn nguy biến biết còn hay không
Sang giàu như buổi chợ đông
Thác rồi cũng nắm tay không mà đời
Dữ lành hai việc để dời
350. Thác đem theo dõi Phật trời xử phân.


Có thân thời khổ với thân
Thân ơi thân biết lượng phân dữ lành
Phật trời dạy bảo tu hành
Nhứt tâm thiện niệm chẳng thành cũng ưng.

355. Phải lo gở tội trầm luân
Dầu mà chẳng khỏi cũng ưng thân trần
Bất kỳ đạo tặc phú bần
Nhơn nhơn các hữu ký phần phật phân
Phật trời nhắc trái cầm cân
360. Hai đường tội phước định phân dương trần
Nói ra có thánh có thần
Hai vai biên chép lời trần hiền hung
Ngay gian quấy phải nịnh trung
Phật trời soi thế hiền hung tỏ tường
365. Tranh đua theo việc phố phường
Có đâu biết việc chiến trường chông gai
Xét lòng già trẻ gái trai
Một năm chẳng nhắc Phật lai một lời
Lại thêm mắng gió chưởi trời
370. Ghét mưa giận nắng ở đời làm sao
Kêu trời kêu Phật lao xao
Phật còn thiếu nợ xiết bao tội người
Nói ra nhiều lẽ tức cười
Hai vừng nước mắt thương người bất tri
375. Hẹp hòi khó bước dễ đi
Bưng khuân nhớ Phật cung ly dấu đoài
Giỏi chi dụ vãn thơ bài
Công danh phú quí vẹn tài tân quan
Nước đục phèn lóng đục tan
380. Sút chùi cặn cáo mới an tâm thần
Nước trong ngó mặt thấy gần
Xem sao điểm nguyệt cỏi trần lưng vơi
Sanh giàu thong thả ăn chơi
Ngủ trưa ngủ sớm an nơi cõi trần
385.Bất ưu vinh nhục quân thần
Bất ưu lao khổ cõi trần tân toan
Nước lộn bực lở An giang
Châu đốc tỉnh hạt tân quan đặt rày
Mán trâu ví thá cầm cày
390. Đáy sông mặt biển chữ thầy ghi sau
Người giận ỷ trí đánh trâu
Đánh rồi lại nghĩ dạ đau dại khờ
Lung lăng lấn lướt nước cờ
Ngựa ba pháo bảy vật vờ chích xe
395. Chẳng ai vun bén bụi tre
Lại thêm năm chốt chẳng nghe lướt vào.
Tượng sĩ đi mất hồi nào
Một mình tướng quốc ra vào trống trơn.

Ngó lên cấm điện Thất sơn
400. Ngùi ngùi nhớ Phật từ cơn hiểm nghèo.


Gian nan xuống dốc lên đèo
Người khôn mắc chốn hiểm nghèo hết khôn
Quyết lòng ra ngoại càn khôn
Người hiền bao nỡ Phật chôn trí tài
405. Biết ai đặt đặng thơ bài
Đậu câu trúng vận nói dài nghe chơi
Người hiền khó nỗi thảnh thơi
Anh hùng thất vận nhiều nơi phụ phàng
Ở đâu khỏi xóm làng
410. Trốn trời sao khỏi nắng hàn sương vương
Đền đài Bắc chúa nương Thương
Chữ rằng nhứt nhựt vô vương đảo huyền (5)
Gia Long Thiệu Trị xuất tiền (6)
Minh Mạng Tự Đức thảm phiền Tây qua.

415. Nhà thờ bái thánh có cha
Chào nhân chúng tử vào ra lễ mừng
Phật ta thương nhớ cảnh rừng
Am vân Quỉ cốc theo vừng núi non
Thị thiền ý Phật thon don
420. Phàm trần lỗi đạo làm con Phật trời
Bán buôn một vốn mười lời
Lợi đa đa hại thương đời tham lam
Chữ rằng thất hiếu hữu tam
Ngũ hình phạm tội lòng tham loạn đời
425. Linh đinh thuyền bá giữa vời
Buồm đà gặp gió xuôi thời thả xuôi
Nước mắt còn dựa mắt đui
Buồm đà gặp gió thả xuôi một bề
Thân tôi như thể thằng hề
430. Gió day mấy hướng mấy bề cũng theo.


Nực cười tấm đá cheo leo
Con khỉ người nói con heo khó bàn
Đánh đau chẳng dám la làng
Dân như gỗ mục lót đàng người đi
435. Đối đáp là lý sân si
Người hiền nhẫn nhẫn từ bi mới hiền
Anh em bao nỡ trách phiền
Bởi chưng ăn nói chẳng hiền ghét nhau
Sào vắn khó chống sông sâu
440. Ở ăn việc trước như sau chớ sờn.
Nói ra kẻ giận người hờn
Lòng tôi ở thẳng như đờn lên dây
. . . . . . . . . . . .
Tre tàn măng mọc gốc cây đâm chồi
445. . . . . . . . . . . .
Dương gian âm phủ lành rồi mới ngoan
. . . . . . . . . . . .
Việc nào khổ khổ kêu van Phật Trời
. . . . . . . . . . . .
450. Kể từ chưn tóc chỉ đời kẻ răng
. . . . . . . . . . . .
Thường hành bình đẳng nhỉ văn nhập tình
. . . . . . . . . . . .
Trung tâm xuất khẩu bất bình bất văn
.455 . . . . . . . . . . .
Phật tâm tâm phật căn độ mình
. . . . . . . . . . . .
Bội quân Nguyệt kiểu tức mình đi tu
. . . . . . . . . . . .
460. Trào nào người có công tu thời thành
. . . . . . . . . . . .
Tu sao bằng bạc bằng tiền thung dung
. . . . . . . . . . . .
Nhớ nguyên từ trước Tiên cung tị trần
465. . . . . . . . . . . . .
Nương theo đức Phật tị trần mới vui
. . . . . . . . . . . .
Ngặt nghèo hai mắt mù đui thấy gì
. . . . . . . . . . . .
470. Vàng rơi khó kiếm ngọc lỳ dễ lau
. . . . . . . . . . . .
Răng nào cắn lưởi dấu sao răng người
. . . . . . . . . . . . .
Lòng sầu khô héo chín mười năm dư
475. . . . . . . . . . . . . .
Bất cung bất nể bất tư Hớn trào
. . . . . . . . . . . . .
Bửu sơn đã tới chỗ nào Kỳ Hương
. . . . . . . . . . . . .
480. Sông mê bể khổ nhà Thương phong thần
. . . . . . . . . . . . .
Nói lui nói tới cõi trần lao đao
. . . . . . . . . . . . .
Biết là chắc sống đặng sao hỡi người
485.. . . . . . . . . . . . .
Ham ăn ham nói ham cười lao xao
. . . . . . . . . . . . .
Rủi tay té nặng khổ lao cốt hài
. . . . . . . . . . . . .
490. Hai đường tội phước sách ngoài khảo tra
. . . . . . . . . . . . .
Nhiều người đi xuống Diêm la đọa hình
. . . . . . . . . . . . .
Anh em đừng có ỷ mình dọc ngang
.495. . . . . . . . . . . . .
Nuớc ai mấy trị đời an thái bình
. . . . . . . . . . . . .
Nhà ai nấy chọn dỉ tình tương liên
. . . . . . . . . . . . .
500.Bồng lai sơn thủy cảnh tiên chỗ nào
. . . . . . . . . . . . .
Quỉ trần trước mặt hổn hào chỉn khôn
. . . . . . . . . . . . .
Ai từng dại nói với khôn sao bằng
505. . . . . . . . . . . . . .
Tam cang thường ngũ đạo hằng mới yên

(mất mấy tờ)
_____

(1). Tây phương: cõi Phật
(2). Chu Văn Vương (周文王, 1090 TCN – 1050 TCN), họ Cơ, tên Xương, người đất U (nay thuộc ấp Tuần, huyện Bân, tỉnh Thiểm Tây), là người đã xây nền móng triều đại nhà Chu Trung Quốc. Khi cha Cơ Xương là Cơ Quý Lịch còn ở ngôi, Chu chỉ là một nước nhỏ thuộc vương triều nhà Thương. Về sau, Quý Lịch bị vua nhà Thương giết hại, Cơ Xương nối ngôi cha làm tước bá. Tây bá Cơ Xương ghi nhớ mối thù giết cha, quyết tâm cai trị tốt đất nước của mình, từ đó lật đổ ách thống trị của triều Thương Ông luôn luôn mặc quần áo của người bình thường ra đồng ruộng đốc thúc nông phu khai khẩn đất đai, quan tâm đến bệnh tật, nỗi khốn khổ của trăm họ lớp dưới và những người cô quả già yếu. Ông ra lệnh: một người có tội, không được để liên luỵ đến người khác. Những chính sách ấy tạo nên sự đối nghịch rõ rệt với sự thống trị tàn bạo của nhà Thương, khiến nước láng giềng có không ít người bồng bế con cái chạy sang nước Chu nương nhờ. Ngoài ra, để thực hiện nghiệp lớn diệt Thương, Cơ Xương đã thực hiện nhiều biện pháp thu hút nhân tài. Một ví dụ điển hình là đích thân đến mời Lã Vọng (Khương Tử Nha) là một ông già câu cá bên sông Vị Thủy khi đó đã hơn sáu mươi tuổi, và phong ông làm tướng soái cầm quân đội đánh nhà Thương, Thực hiện chính sách mở mang của Cơ Xương, nước Chu trở thành một nước lớn mạnh ở phía tây, khiến vua Trụ lo ngại. Trụ vương ngoài mặt phong Cơ Xương làm Tây Bá, thống soái một phương, nhưng lại tìm cách vờ mời Cơ Xương đến kinh đô Triều Ca, rồi bịa đặt ra tội danh để bắt giam Cơ Xương ở ngục Dữu Lý. Sau nhờ bầy tôi của Tây Bá dâng mỹ nữ, vật lạ cho vua Trụ, Trụ mới tha cho Cơ Xương. Sau khi trở về đất Chu, Cơ Xương tăng cường gấp rút diệt Thương. Đang lúc Cơ Xương chuẩn bị phát động cuộc tiến công cuối cùng diệt Thương, thì không may ông bị bệnh mất. Trước khi lâm chung, ông dặn dò người sau phải hoàn thành nghiệp lớn diệt Thương. Về sau con ông là Cơ Phát kế nghiệp, thực hiện được ý nguyện của ông, diệt vua Trụ nhà Thương, xây dựng lên nhà Chu, trở thành vua Chu Vũ Vương, truy tôn ông là Văn Vương.
(3). Tôn sư giáo chánh phế tà: tôn sư dạy ta phải theo chánh đạo, bỏ tà đạo.
(4).Thiên lý vị nhiên .. .Sơ nhi bất hậu võng thiên bũa vòng: Đạo trời rõ ràng, lưới trời thưa mà không lọt.
(5). đảo huyền: treo ngược
(6). Gia Long Thiệu Trị xuất tiền : Đời Gia Long, Thiệu Trị đã mất trước khi Tây đến.


No comments: